Jour : 14 juillet 2021

Thí sinh Phạm Lê Tri Thức – 016: CHÚT TẢN MẠN VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP BẢO TỒN PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ÂM NHẠC DÂN TỘC VIỆT NAM CỦA GS.TS. TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

1h  · 💧♥️Thí sinh Phạm Lê Tri Thức – 016

💧♥️CHÚT TẢN MẠN VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP BẢO TỒN PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ÂM NHẠC DÂN TỘC VIỆT NAM CỦA GS.TS. TRẦN VĂN KHÊ

“Có người gọi công việc tôi đã làm có tánh tiếp thị âm nhạc Việt Nam đến bạn bè thế giới. Thực ra tôi chỉ muốn mọi người biết về nét đẹp của đất nước mình” – GS.TS Trần Văn Khê

HDV Phạm Lê Tri Thức1.Tp. Hồ Chí Minh, ngày…tháng 7 năm 2021,

Trước tiên hết, tôi xin vinh danh những giá trị hiển lộ cũng như ẩn tàng lớn lao của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Đã cùng đồng bào ta đi qua 4000 ngàn năm thăng trầm, sẵn sàng xoa dịu nỗi đau dân tộc trong thời kỳ đen tối. Nhưng hơn 100 năm trước, đương là lúc công cuộc xâm lấn tài nguyên đất đai đang diễn ra hối hả giữa những nước được cho là văn minh với những nước “kém” văn minh hơn, chủ nghĩa thực dân lên ngôi, cũng là lúc các giá trị truyền thống suýt bị quên lãng và coi thường đặc biệt là âm nhạc dân tộc Việt Nam – đang cần lắm một hiền tài gìn giữ và quảng bá đến thế giới. Đúng ngày 24 tháng 7 năm 1921, tận miệt vườn Châu Thành, Tiền Giang, có người con ra đời với niềm đam mê âm nhạc truyền thống Việt Nam bất tận được hun đún bởi gia đình cốt cách nhà Nho và hoạt động nghệ thuật Đờn ca Tài tử.

Để rồi những năm sau đó của cuộc đời, người thanh niên đón nhận sứ mệnh gìn giữ, phát triển tinh túy văn hóa nghệ thuật âm nhạc dân tộc Việt Nam vươn ra thế giới. Người tôi muốn nhắc đến, trân trọng gọi tên Cố GS.TS Trần Văn Khê.

Với những đóng góp của Ngài, cho dù viết thêm 20.000 từ, tốn thêm bao nhiêu giấy mực nữa vẫn chẳng đủ. Riêng tôi, xin trân trọng được khơi gợi một vài vụn nhỏ trong cuộc đời huy hoàng của ông khiến tôi ấn tượng và tôn kính mãi.

Trở lại với tuổi thơ của giáo sư tôi nghĩ có 2 giai đoạn khác nhau hình thành nên những tư tưởng lớn lao và niềm hăng say với âm nhạc sau này:

Từ lúc lọt lòng đến trước năm 9 tuổi: Là chuỗi ngày êm đềm được sống trong sự yêu thương và giáo dục kỹ lưỡng của gia đình, 1 trong những người ảnh hưởng nhiều đến ông trong giai đoạn này có lẽ là ông nội khi Giáo sư nhắc lại ông với lòng thương mến tột cùng, chính ông nội cũng là người đã cổ vũ khích lệ cho GS rất nhiều. Gia đình GS vốn là những nhà nho và nghệ sĩ Đờn Ca Tài Tử. Ông sớm bộc lộ các tố chất như 1 thần đồng âm nhạc, ngôn ngữ với trí nhớ cực tốt được mọi người trong làng rất quý mến. Ông nhớ hết 24 mặt chữ cái năm lên 3 tuổi, tự động học thuộc các bài Tán tụng Phật giáo chỉ trong vài lần nghe qua, cảm âm xuất sắc khi vừa chạm vào đàn Piano đã có thể tạo thành một đoạn đầu trong bài Tây thi, 6 tuổi đã là thần đồng chơi đờn kìm và đờn cò,… Trong hồi ký của ông, có thể nói đây là giai đoạn tiềm thức nuôi dưỡng những tư tưởng cống hiến, giúp đỡ “Nhơn quần Xã hội” – “Em học để lớn lên giúp Nhơn quần Xã hội”.

Từ sau năm 9 tuổi: Mẹ và cha lần lượt qua đời sớm, ông và 2 em vẫn được gia đình nội ngoại chăm sóc tốt. Ông cho mình là người may mắn. Bẩm tính thông minh, nên suốt từ khi đi học đều đạt loại giỏi, học đâu nhớ đấy, còn được Nhà trường và Chính quyền Thực dân thưởng cho học bổng và những chuyến tham quan du lịch. Trở thành sinh viên tiêu biểu đi đầu trong các phong trào canh tân như “truyền bá Quốc ngữ”, “ Truyền bá vệ sinh”,…. Về sau này, dù học Y khoa rồi lại từ bỏ và theo đuổi trường Chính trị Khoa Giao dịch Quốc tế nhưng từ sâu thẳm ông dành trọn tim mình cho âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với dáng vóc chắc nịch, khuôn mặt đôn hậu và chiếc mũi nở sặc nét Annamit đầy từ hòa nhân ái nhưng cũng cương quyết bản lĩnh khi cần, ông luôn xuất hiện trước giới mộ điệu và truyền thông như một người đầy ắp bầu nhiệt huyết với chất giọng trầm ấm hào sảng của người miền Nam mà cũng không kém phần khiêm tốn khi tự nói về bề dày cống hiến cho nền nghệ thuật nước nhà; Ấy là người trai trẻ vừa tuổi đôi mươi cùng bạn thân là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước gan dạ, đem hết tinh thần yêu nước để trình diễn “không lời” tác phẩm Người Xưa Đâu Tá và bị Hội đồng Mật thám Pháp nghiêm cấm vào năm 1941, dù biết sẽ có khả năng bị tước mất những quyền lợi học bổng; Ấy là người Phật tử An Nam bỏ hết công việc giảng dạy trong 6 tháng và liên lạc đến các chư tăng như Ngài Nhất Hạnh hay Ngài Thiện Châu hỏi xin các bài Tán tụng Lễ bái để chuyên tâm cho ra trước tác âm nhạc Phật giáo Việt Nam cùng sánh vai bạn bè quốc tế; Ấy cũng là Nhà âm nhạc học lỗi lạc An Nam duy nhất lần đầu nói về sự đa dạng, bác học của các thể loại âm nhạc vốn bị gán là của tầng lớp dân đen mũi tẹt Lạc Hồng tại Budapest và nhận được cơn mưa lời khen pha lẫn bất ngờ từ các chuyên gia âm nhạc Châu Âu; Và ấy cũng lại là người hảo hán An Nam dám đứng lên giữa cuộc gặp gỡ của viên quan người Pháp tại Hội truyền bá Tanka Nhật Bản để chỉ mặt ba năm rõ mười thái độ “tâng bốc thô lậu thiếu hiểu biết” của viên thủy sư đề đốc người Pháp này qua việc hạ đạp nền Văn học Thi ca của người Việt để thượng đội người Nhật (tóm tắt phần ấn tượng nhất của câu chuyện): “Thưa quý vị, tôi là thủy sư Đề Đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang Nhật Bản, chỉ trong một hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học…..”- Viên Thủy Sư Đề Đốc bày tỏ. “ …

Ngài chơi với ai mà không biết một áng văn nào của nước Việt Nam?” – GS Trần Văn Khê đứng dậy xin phép phát biểu. – “ Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách,… Phải chi ngài chơi với GS Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên tạp chí viễn đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp Maurice Durand qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác….”

Và còn tỷ ty các câu chuyện thật đẹp khác về lòng tự hào của ông dành cho âm nhạc và văn hóa truyền thống Việt.

Nói đến âm nhạc truyền thống Việt Nam là nói đến ông; Vinh danh âm nhạc truyền thống Việt Nam cũng phải vinh danh ông. Trước là sự tài năng, tiếp nữa là bệ dày các công trình nghiên cứu chuẩn mực cùng những thành tựu mang tầm Quốc tế: Hoàn thành quyển “ Âm nhạc truyền thống Việt Nam” làm cơ sở nghiên cứu đầy đủ đầu tiên cho các Nhà Âm nhạc học trên thế giới về âm nhạc Việt nam; Tiến sĩ Âm nhạc Danh dự tại Canada; Giải thưởng Âm nhạc của Hội đồng UNESCO; Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hóa Pháp; Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; Viện sĩ Thông tấn; Miệt mài đi đến 67 quốc gia để truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam; đóng vai trò rất lớn trong việc tạo lập hồ sơ cho Nhã Nhạc Cung Đình Huế, Đờn Ca Tài Tử, Không Gian Văn Hóa Cồng Chiêng, Quan họ Bắc Ninh, Ca Trù chính thức được ghi nhận là di sản Văn hóa Phi vật thể của Thế giới cùng vô vàn các giải thưởng vinh danh lớn nhỏ trong và ngoài nước khác. Và sau hết đáng nói nhất là nhân cách sáng chói. Khi đang đứng trên tột cùng về danh vọng sự nghiệp tại xứ người, đáng lý ra ông có thể về hưu hoàn toàn, hưởng cuộc sống an nhàn, nhưng một bậc nhân sĩ trí thức sao có thể lấy danh vọng hay sự an nhàn làm lẽ sống?

Có nhà trí thức từng nói rằng, nhìn vào thể loại âm nhạc mà nhiều người trong xã hội đó đang say mê theo đuổi, sẽ biết được mức độ phát triển tinh thần của xã hội đó và dự đoán được sự thịnh suy của nó. Một xã hội điên cuồng chạy theo những thức âm nhạc lai căng, nhạc điệu kích động tham sân si, lời ca rỗng tuếch thể hiện ra bên ngoài là xã hội đang trên đà xuống dốc về đạo đức và nhân phẩm như các nước phát triển hiện nay. Tuy có thể nói là tiện nghi vật chất đầy đủ nhưng lòng người thì khuyết lõm, bất an, đau khổ vô biên. Có lẽ ông cũng có những băn khoăn như vậy mà năm 2006 ông trở về nước ở hẳn, điều ông luôn canh cánh là làm sao có thể giáo dục thế hệ trẻ biết gìn giữ Quốc hồn Âm nhạc Việt và nối tiếp những công trình những nguyện vọng còn dang dở của ông. Ông dành phần đời còn lại để diễn thuyết và tiếp tục giảng dạy cho các lớp sinh viên sau này. Cá nhân tôi thô thiển nghĩ, đây có lẽ chính là cống hiến cao cả khiến ông tự hào nhất dành cho người Việt (hoặc chí ít là tôi cảm thấy như thế). Đúng vậy. Là nỗ lực giáo dục. Chính là cái “ Em học để sau này lớn lên giúp Nhơn quần Xã hội” thù thắng nhất – Truyền lửa và nâng dậy Hồn trẻ Việt thông qua lòng yêu âm nhạc Quê hương cho đến ngày cuối cùng nhắm mắt xuôi tay.

Là người trẻ Việt, có đôi khi tôi cũng thích thú những âm giai mới mẻ của thế giới, nhưng vẫn luôn dành một khoảng lớn thương ơi là thương trong tim mình cho âm nhạc truyền thống . Tôi có góc nhìn cá nhân rằng âm nhạc truyền thống có sức trị liệu chữa lành kỳ diệu và đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Còn nhớ, có lần GS kể lúc bị bệnh sạn thận rất nặng, nhưng cố nài bác sĩ cho phép hai nghệ sĩ Phương Oanh và Ngọc Dung được vào phòng mình trình diễn âm nhạc, ông bảo cảm thấy tình trạng khỏe hơn sau khi thưởng thức. Nhiều tài liệu khoa học ngày càng chứng minh những nhạc cụ và thể loại nhạc truyền thống có khả năng trị liệu tinh thần và sức khỏe kỳ diệu nhờ những sóng rung “tự nhiên” tác động đến cơ thể và não bộ. Vậy vì sao lại có thể trị liệu được? Tôi võ đoán cho rằng tính hài hòa của nó với tự nhiên. Hài hòa như thế nào?

Xin được nói lại về một nghiên cứu của GS Trần Văn Khê, ông phân tích rất sâu và có góc nhìn đa chiều về triết lý nhân sinh vũ trụ thâu cả vào trong các nhạc cụ, nghĩa lý của lời thơ chất nhạc. Hai trong các triết lý mà ông đề cập tới là triết lý Phồn Thực (Fertilization), Đực – Cái(Linga-Yoni) (tôi xin không gọi là Âm Dương <Ying – Yang> để tránh gây hiểu lầm với Văn hóa Trung Quốc), … đơn cử như bộ phách gõ của Ca Trù gồm một phách Con thanh đơn ( đực – linga) và một phách Cái thanh kép (Yoni) khi gõ tạo ra âm thanh giữa trong và đục, cao và thấp, trầm và bổng, hư và thực, Trời và Đất,…Còn trong làn điệu Quan họ, 1 phần trình diễn cơ bản cần phải có Liền anh và Liền chị, đôi khi thành cặp đơn lẻ, đôi khi các cặp hát thành nhóm nam nữ đối ứng với nhau, trai làng này hát với gái làng kia, lời của các bài hát trong Quan họ thường hay nói về tình cảm đôi lứa, tình yêu thương tha nhân, sử dụng một kho khổng lồ các điển tích điển cố, ca dao, tục ngữ làm lời hát ..v.v. Thậm chí, một số nhà nghiên cứu khác (và cả GS) còn dẫn chứng thêm về cái mà tôi gọi là triết lí Bát Nhã “Sắc tức thị Không” của Phật giáo trong lời ca Quan họ và các nhạc cụ trong Ca Trù (Mình với ta tuy hai mà một. Ta với mình dẫu một mà hai…). Mạn phép nói dài dòng như vậy, chỉ để dẫn chứng rằng, âm nhạc truyền thống Việt Nam tự thuở sơ khai, đã là lối âm nhạc thuận theo tự nhiên, thể hiện khát vọng sống hòa hợp với Vũ Trụ.

2.Dễ thường người sinh ra ở đâu thì thích âm nhạc truyền thống vùng ấy. Riêng tôi ái mộ dân ca Quan họ dầu trưởng thành trong cái nôi của Đờn Ca Tài Tử. Âm nhạc dân tộc nào cũng hay hết, nhưng có lẽ mình hữu duyên gì đó, mà tai mình nghe âm điệu Quan họ, hay các làn điệu Bắc Bộ thì thích hơn cả, cái hay của Quan họ khiến tôi mê mẩn là sự đa dạng trong giọng điệu gồm 213 loại – đa dạng nhất trong các thể loại dân ca, có thứ tự rất lớp lang khi trình diễn chia làm 3 hệ thống: giọng lề lối(20 loại), giọng lẻ và giọng vặt(183 loại), giọng giã bạn (10 loại) và các âm giai hội tụ những trong sáng, mặn mà, duyên dáng của người con gái Bắc kỳ:“ Ngồi nhìn là ngồi tựa í á có mấy mạn ớ ơ ớ ơ ơ thuyền là ngồi tựa có a mạn thuyền…”Nhìn về dòng chảy lịch sử của âm nhạc Việt Nam, Quan họ đóng vai trò rất quan trọng trong văn hóa tinh thần của đồng bào Trung du và miền núi Bắc bộ đặc biệt là người dân vùng Bắc Giang – Bắc Ninh và lan sang các vùng lân cận. Chẳng thế mà, thuở trước, khi có vị khách quý đến chơi, chủ nhà thường rót chè quý, dọn bữa cơm cá và hát tặng cho người phương xa nghe vui dăm ba câu Quan họ ấm tình người Bắc “Linh”. Quan họ còn đặc biệt được hát vào các dịp trẩy hội xuân thu nhị kỳ, hẹn hò tìm bạn,…trong lễ hội, các liền anh liền chị hát đối đáp nhau rất vui được gọi là Hát hộivà Hát Canh. Với Quan họ truyền thống, người xem thường sẽ cùng tham gia với người hát, ai hát được đều có thể tham gia giao duyên, ngày xưa các cụ hát không dùng nhạc đệm. Còn Quan họ mới thêm nhạc đệm cho sinh động; Quan họ lời mới thì sáng tác thêm lời thay cho lời cũ nhưng vẫn giữ nguyên giai điệu gốc như hình thức “bình cũ rượu mới”. Đối với người xưa, âm nhạc chính là huyền âm của Thần, nên theo một số tài liệu, Quan họ thời kỳ đầu có nguồn gốc tôn giáo, trong các dịp lễ tế, cũng được trình diễn tại các Đền thờ lớn gọi là Hát thờ để tưởng nhớ đến công lao của các Bậc Tiên Thánh xưa bên cạnh các thể loại Hát Chầu Văn, Hát Xẩm, Hát Xoan, Hát Ả Đào,… Về phần từ nguyên của Quan họ lại có rất nhiều giả thuyết khác nhau, có người bảo Quan họ xuất phát từ âm nhạc cung đình (nhạc của tầng lớp quan lại – Họ nhà Quan), hoặc gắn liền sự tích một ông Quan nọ khi qua vùng Kinh Bắc đã bị tiếng hát của liền anh liền chị làm say mê và đã ngồi lại thưởng thức (Họ) đối đáp. Còn có một giả thuyết khác là tiếng hát của Quan viên hai Họ. Nhưng cho đến nay, chưa có giả thuyết nào là chắc chắn nhất. Về thời gian ra đời chính xác của Quan họ cũng không ai biết rõ, chỉ biết, khi đón vua Lý về thăm, dân trong làng mang điệu hát của mình ra chào đón, thì từ đó đến nay ngót hơn 1000 năm. Với bề dày tuổi đời này và sự độc đáo hiếm có của nó, ngày 30/09/2009 Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể của Nhân loại.Trải qua bao cuộc bể dâu, Quan họ mang trong mình chất riêng có, nét thăng trầm dày dạn và hiền hòa dịu dàng của người Phụ nữ Việt tảo tần. Có khả năng chữa lành tâm hồn người tha hương qua những lời ca xa ngái: “Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này… Người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài làm tin »Làm nghề Du lịch mấy năm, tôi hiểu rõ sứ mệnh gìn giữ và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Tộc của người trẻ nói chung và những người làm nghề như tôi nói riêng. Nguyện làm người “ Chiến Sĩ Vô Danh” trong công việc khơi dậy sự hứng thú lời ca tiếng hát của quê hương mình cho bạn bè Quốc tế.

XIN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH CỦA CỐ GS.TS TRẦN VĂN KHÊ TRÂN TRỌNG CẢM ƠN BTC VÀ BGK!

Hdv Du lịch Phạm Lê Tri Thức kính bút!

Thí sinh Nguyễn Huỳnh Phước Giàu – 015: TÌM HIỂU CUỘC ĐỜI GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

2h  · 💧♥️Thí sinh Nguyễn Huỳnh Phước Giàu – 015

💧♥️TÌM HIỂU CUỘC ĐỜI GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Huỳnh Phước Giàu – ĐH Tôn Đức Thắng

1.Là một người con Việt Nam, một con người của vùng đất miền Tây Nam bộ hiền hòa và chân chất. Cái mộc mạc giản dị của những làn điệu dân ca, câu ca của những điệu tài tử từ lâu đã thấm sâu vào trong con người cả tôi tự bao giờ cũng không biết. Và rồi khi trở thành một sinh viên của Đại học Tôn Đức Thắng chuyên ngành Quản lý du lịch, cái niềm đam mê nhạc tài tử nó luôn cháy rực trong người tôi. Rồi tôi biết đến Giáo sư Trần Văn Khê, một giáo sư, một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền, một hình mẫu lý tưởng mà tôi muốn trở thành vì niềm đam mê âm nhạc dân tộc của mình, tôi ước mình có được cái bề dày về kiến thức âm nhạc cổ truyền của thầy.

Ngày 24 tháng 7 năm 1921, tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ đã sinh ra cho Việt Nam và nền âm nhạc cổ truyền một người con ưu tú. Giáo sư Trần Văn Khê là tiến sĩ ngành âm nhạc học đầu tiên của Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là Giáo sư tại đại học Sorbonne (Pháp), thành viên hội đồng Âm nhạc quốc tế, UNESCO, là người có công to lớn trong việc quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới. Từ năm 10 tuổi đến năm 1942, Giáo sư Trần Văn Khê đã bộc lộ sự uyên bác của mình qua các lần thi đậu tú tài phần nhất, thủ khoa phần nhì, nhiều học bổng và các phần thưởng giá trị khác. Năm 1943, ông đã cưới bà Nguyễn Thị Sương và đã sinh ra người con trai đầu lòng và sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền danh tiếng Trần Quang Hải. Giáo sư đã đi 67 nước trên thế giới để nói chuyện và giảng dạy về âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp, đến năm 2006 Giáo sư đã về nước tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của mình, ngoài ra Giáo sư còn đóng góp cho Thành phố Hồ Chí Minh nhiều tư liệu và hiện vật quí giá về âm nhạc. Giáo sư đã đạt nhiều giải thưởng quí giá như giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên Hoan Thanh niên Budapest (1949), huy chương bội tinh hạng nhất của chính phủ Việt Nam cộng hòa, tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honorisc causa) của đại học Ottawa (Canada) và nhiều giải thưởng cao quí khác. Giáo sư Trần Văn Khê cùng với nhạc sư Vĩnh Bảo có thể được xem là Bá Nha và Tử Kỳ của thế kỷ XX, trong sâu thẳm con người của hai thầy những làn điệu mượt mà của âm nhạc dân tộc đã ăn sâu vào tâm trí họ, để khi bước ra thế giới họ đã truyền bá hết cái tinh túy, cái đẹp trong từng câu ca, từng chữ nhạc của dân tộc với bạn bè quốc tế. Giáo sư Trần Văn Khê theo sự cảm nhận riêng của tôi là một pho từ điển sống của nền âm nhạc dân tộc Việt Nam, kiến thức về âm nhạc của thầy đã đạt đến trình độ nhất định để khi phản biện hoặc giảng dạy về văn hóa cũng như âm nhạc Việt Nam, với bè bạn quốc tế thầy luôn nói ra một cách tự tin, điềm đạm mà chuẩn xác khiến những người khác tâm phục thầy và cảm thán về nền văn hóa nghìn năm của nước Việt.

Tôi thích nhất câu chuyện về Giáo sư khi phản bác ý kiến của ông Thủy sư đề đốc khiến ông phải đỏ mặt và xin lỗi Giáo sư và cả Việt Nam. Một người có kiến thức uyên thâm về văn hóa nói chung và âm nhạc của cả ba miền nói riêng thực sự khiến người ta khâm phục, thầy giành cả đời mình cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam, quảng bá văn hóa và hình ảnh âm nhạc của nước nhà ra thế giới thực sự là một con người tài hoa và uyên bác.

Sau một thời gian bị bệnh, Giáo sư đã qua đời vào ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, thọ 95 tuổi. Hình ảnh Nhạc sư Vĩnh Bảo tấu lên khúc Nam ai tiễn đưa người bạn tri âm của mình lần cuối khiến người ta không khỏi xúc động về cái tình bạn tri kỷ tri âm hơn mấy mươi năm gắn bó, thầy Vĩnh Bảo nuối tiếc về sự ra đi của Giáo sư vì: “Trần Văn Khê đi rồi, tiếng đàn của tôi không còn ai hiểu nữa”.

2.Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê từng khẳng định trong chuỗi liên hoan đờn ca tài tử Nam bộ tại Bạc Liêu năm 2014: “ĐCTT là sinh hoạt văn hóa đặc biệt của người phương Nam trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt cùng nhu cầu giao lưu kết bạn trên vùng đất mới. Lúc đầu chỉ “chơi” cho vui, khỏa lấp nỗi buồn. Từ mình đờn cho mình rồi mình đờn cho bạn, tự nhiên, tự phát, chân tình, sáng tạo. Mỗi nơi, mỗi người có cái riêng trong “buông, hứng, bắt” khi đờn khi ca nhưng cái “tôi” phải biết đồng điệu với cái “ta” thì mới ra ĐCTT. Tính phóng khoáng, chia sẻ, gắn kết, hòa đồng, chân tình… của cư dân châu thổ chắc cũng khởi nguồn từ đó.” Đờn ca tài tử được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2013. Ban nhạc tài tử thường sử dụng các nhạc cụ như đàn cò, đàn tranh, đàn nguyệt, song lan, kể cả ghi ta phím lõm và các tài tử thường là chòm xóm với nhau nên từng câu ca thắm đượm tình dân tộc. Hệ thống các nốt tài từ gồm 5 chữ nhạc chính: hò, xự, xang, xê, cống và bốn nốt phụ là: phạn, tồn, là, oan. Hệ thống các bài bản chính gồm 3 nam, 6 bắc, tứ oán và 7 cò (7 bài nhạc lễ). Dựa vào hệ thống bài bản có sẵn, soạn giả chỉ cần dựa vào đó để đặt lời. Cái hồn quê, hồn dân tộc, niềm tự hào về đất nước và cái nỗi niềm nhớ quê hương được những người con phương nam gửi tình vào từng câu ca tài tử. Đờn ca tài tử được xem là báu vật của vùng đất phương nam, được lưu truyền và biểu diễn tại khắp 21 tỉnh thành miền nam. Giáo sư Trần Văn Khê và nghệ thuật đờn ca tài tử có thể nói là hai báu vật của vùng đất phương nam. Nhờ có Giáo sư mà nhạc tài tử cũng như âm nhạc cổ truyền dân tộc được vươn ra thế giới. Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Giáo Sư ngày 24 tháng 7 năm 2021 xin một lần nghiêng mình tưởng nhớ đến một người con ưu tú của đất Tiền Giang, người có công lao to lớn trong việc phát triển, bảo tồn và phát huy văn hóa, âm nhạc dân tộc.

Thí sinh Phạm Thị Tuyết Nhung – 012 : CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ& ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

2h  · 💧♥️Thí sinh Phạm Thị Tuyết Nhung – 012

💧♥️CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ& ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Đồng Tháp Mười, tháng 7/2021, Phạm Thị Tuyết Nhung (ĐH Văn Hóa)1&2.

“Bên vàm Kỳ Hôn

Trăng ngã dài ôm bóng Tràng Tiền

Sóng đùa với trăng

Trăng lấp lánh ngấn bạc chao duyên

Sương bay theo gió

Thắm ướt xoa mềm mái tóc tha thước…”

( Bài hát: Mỹ Tho mùa trăng bến hẹn / Loan Thảo sáng tác )

Vùng đất Mỹ Tho mang trên mình lịch sử khai phá từ rất sớm và là một trong hai đại phố hình thành đầu tiên của các tỉnh khu vực Nam bộ, trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển. Vùng đất quê hương thanh bình mà trù phú bốn mùa cây trái tốt tươi, nơi sinh ra những con người vĩ đại- bất khuất – kiên trung. Ngày 24/6/2015 là ngày mà những đứa con xứ sở Bạc Liêu nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung phải mang bao niềm xót thương , nuối tiếc trước sự ra đi của GS.TS Trần Văn Khê. Không thể kể xiết những công lao và đóng góp to lơn của ông cho sự nghiệp âm nhạc nước nhà, ông không chỉ là người có công đầu trong việc quảng bá nền âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới mà hơn thế còn được người đời gọi với danh xưng ‘một nhà văn hóa phi thường’. trong gần một thế kỉ ông đã để lại cho đời một kho tư liệu đồ sộ, không chỉ về âm nhạc truyền thống mà là cả văn hóa Việt Nam.Đời người là lẽ vô thường, mỗi một con người trong chúng ta đều có thể lựa chọn một cách sống cho riêng mình. Nhưng bởi lẽ rằng đời người là có hạn, sống thế nào là do chúng ta quyết định. Còn riêng với GS.TS Trần Văn Khê – ông lựa chọn con đường nghệ thuật và cống hiến cả tuổi đời cho nghệ thuật, cho cái đẹp. Tôi một sinh viên tuổi đời còn non trẻ và mong lung trước con đường Đại học, thuchs học hỏi và khám phá thế giới rộng lớn. Với cơ duyên biết đến ông qua bộ phim tài liệu “Trần Văn Khê với Việt Nam”, thật sự chỉ có thể thốt lên hai từ ‘vĩ đại’ và vô cùng cảm phục trước tài năng và sự nổ lực không mệt mỏi của người con xứ sở Bạc Liêu này. Hồ Thủy Tiên – đạo diễn người Pháp gốc Việt là ngời thực hiện nên bộ phim ‘Trần Văn Khê với Việt Nam’ chia sẻ: ‘Tôi biết tới cậu từ khi tôi 6 tuổi. Một ngày cậu nói với tôi rằng: Con gái, có rất nhiều người làm phóng sự hay phim về cậu, nhưng câu tin bộ phim hay nhất thì phải do con thực hiện. Rồi tôi đi theo cậu về quê hương, nơi cậu đã sinh ra. Tôi đã mất 20 năm để thực hiện bộ phim này”.

Bộ phim được bấm máy vào năm 1977, Hồ Thủy Tiên đã theo chân giáo sư trong những chuyến công tác của ông tại Việt Nam và cả nước ngoài. Đó là những khoảnh khắc riêng tư, những góc nhìn thật sự khác biệt và rất đỗi chân thực về GS.TS Trần Văn Khê. Bộ phim được quay xuyên suốt 20 năm và ghi lại những câu chuyện và các cuộc hành trình của GS Trần Văn Khê cũng như tình yêu to lớn vô hạn mà ông dành cho quê hương đất nước.

Với tình cảm mến mộ dành cho cố GS. Trần Văn Khê, tác giả Minh Trần có bài viết đăng trên CAND Xuân 2016. Kể lại cuộc đời tha hương phải sống tận nước ngoài suốt hơn nửa đời người. sống tận 57 năm nơi đất khách quê người nhưng chưa một giây phút nào Giaos sư quên đi nguồn cọi của mình, chưa khi nào hết tình yêu với âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Sau từng năm ấy, ông vẫn giữ nguyên chất giọng của người con Nam Bộ mà không hề có chút pha trộn nào. Hơn thế nữa ông chỉ sử dụng tiếng nước ngoài khi thật sự cần thiết giao tiếp mà thôi, những lúc bình thường ông vẫn sử dụng tiếng Việt là thứ tiếng mẹ đẻ.

Bôn ba bên nước ngoài bao nhiêu năm nay là thế nhưng với Giáo sư chưa một giấy phút nào quên được quê cha đất tổ, quên đi nới nơi được sinh ra là điều không thể. Đối với ông suốt cuộc đời chi có duy nhất một cái tên Trân Văn Khê, cái tên theo ông đến khi nhắm mắt xuôi tay về cõi vĩnh hằng.

Có một câu truyện đã để lại rất nhiều cảm hứng được Giáo sư kể lại, và câu chuyện ấy cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký, kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964. Tham dự hầu hết là người Nhật và Pháp, duy chỉ có Giáo sư là người Việt. Diễn giả của buổi sinh hoạt ấy là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp.Vị này khởi đầu buổi nói chuyện với sự so sánh: « Thưa quý vị, tôi là Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được ».

Giáo sư Trần Văn Khê vô cùng bức xúc. Sau khi buổi nói chuyện bước vào phần giao lưu, cử tọa hỏi còn ai đặt câu hỏi nữa hay không, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu. Rào trước đón sau để không bị ai bắt bẻ, Giáo sư nói với một thái độ hết sức khiêm cung: « Tôi không phải là người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO.

Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của Việt Nam? Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút sách… thì làm sao biết được đến văn chương?

Phải chi ngài chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác.

Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe. Nhưng người Việt chúng tôi cũng « chọn mặt gửi vàng », với những người phách lối có khi chúng tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn trong lời mở đầu ».

Rồi để so sánh với Tanka, Giáo sư đưa ra những câu thơ: « Núi cao chi lắm núi ơi/ Núi che mặt trời, không thấy người yêu » hay « Đêm qua mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa » để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của mình.

Còn về âm tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc). Lúc ấy bà hậu phi của vua Nguyên vừa mất, họ muốn thử tài sứ giả nên mời ông làm một bài điếu văn, đề bài là phải có bốn chữ « nhất ». Đại sứ không hốt hoảng mà ứng tác liền:

« Thanh thiên nhất đóa văn

Hồng lô nhất điểm tuyết

Thượng uyển nhất chi hoa

Dao trì nhất phiến nguyệt

Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!

(Nghĩa là:Một đám mây giữa trời xanhMột bông tuyết trong lò lửaMột bông hoa giữa vườn thượng uyểnMột vầng trăng trên mặt nước aoThan ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!) Tất cả chỉ 29 âm chứ không phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào).

Khi Giáo sư Trần Văn Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Đã vậy, Giáo sư còn thêm một câu: « Tất cả những điều trên tôi biết được là nhờ học ở trường trung học » để cho thấy văn học Việt Nam « thâm hậu » như thế nào.

Ông Thủy sư Đề đốc đỏ mặt và phải xin lỗi Giáo sư Trần Văn Khê lẫn người Việt Nam ngay trong chương trình. Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: « Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi ». Giáo sư lại nói: « Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget – Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên.

Một tấm gương sáng ngời, một tinh thần trách nhiệm cao cả với đất nước và dân tộc. GS.TS Trần Văn Khê không phải là người duy nhất dành tình yêu mến cho âm nhạc truyền thống và dĩ nhiên cũng không phải người đầu tiên nghiên cứu và hệ thoongos lại âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhưng chính thời thế và bối cảnh lịch sử giai đoạn ấy đã tạo cho thầy một tiền đề mà không phải ai cũng dễ dàng có được. Đó không đâu khác là tình yêu cháy bỏng dành cho âm nhạc, là truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc. Cùng quá trình miệt mài nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác không ngừng nghỉ đã giúp thầy tích góp nên một kho tàng tri thức về âm nhạc vô cùng đồ sộ cho Việt Nam chúng ta nói riêng và cả Châu Á nói chung. Nhân dịp 100 năm kỉ niệm ngày sinh của GS Trần Văn Khê, tôi với những cảm xúc chân thành xin gửi đến thầy những lời cảm phục và trân trọng hơn bao giờ hết.

Phạm Thị Tuyết Nhung

Thí sinh Trần Minh Luyện – 010: TRẦN VĂN KHÊ – NHỊP CẦU ÂM NHẠC ĐẾN VẠN TRÁI TIM

Nguyễn Quốc Thệ

YcleteShstercptodtfelliaoyando satu 5l:11oarei lPdMi  · 💧♥️Thí sinh Trần Minh Luyện – 010💧♥️TRẦN VĂN KHÊ – NHỊP CẦU ÂM NHẠC ĐẾN VẠN TRÁI TIM1&2Trần Minh Luyện – HDV, Giảng viên Du lịch, cựu sinh viên ĐH Tôn Đức Thắng.Trên những chặng đường dọc theo mọi miền Tổ quốc, tôi đưa đoàn xuôi về với Miền Tây, ở nơi ấy, người dân sớm tối cần lao bên bờ sông Tiền lãng mạn và hiền hòa. Những giọt phù sa cuốn theo dòng nước đã bồi đắp từ bao đời nay để cho ra đời những hoa thơm trái ngọt xứ miệt vườn. Hai tiếng miền Tây thân thương mà gần gũi ấy cũng là nơi sản sinh ra những làn điệu dân ca mượt mà thấm đượm tình dân tộc, nó đã trở thành người bạn tinh thần của những con người miền tây chất phác, thật thà dù họ ở bất kể nơi nào trên thế giới.

Trên lộ trình ngày hôm ấy, tôi đưa đoàn về với vùng đất Tiền Giang để tận hưởng giây phút dạt dào bên những làn điệu cổ nhạc. Những vị khách đến từ vùng núi cao Sapa Lào Cai tỏ ra thích thú cùng giao lưu với các nghệ sỹ nhà vườn và không quên để lại lời nhắn “rằng sẽ hẹn mùa sau anh gánh lúa về nhà em” (phỏng theo lời bài hát: Buồn con sáo sậu mà cô ca sỹ vừa thể hiện). Đó như một lời đùa giỡn nhưng thực sự họ đã rất mến mộ từ người ca cho đến thán phục trước những ca từ, nhạc cụ trông rất giản dị nhưng lại có thể trình bày sâu sắc loại hình nghệ thuật dân tộc đến vậy. Tôi chợt nhận ra rằng mình đã thiếu sót khi chỉ giới thiệu nguồn gốc ra đời của Dạ Cổ Hoài Lang, đờn ca tài tử, cải lương mà quên mất sự dày công nghiên cứu, duy trì và mang loại hình nghệ thuật truyền thống này vươn xa ngoài phạm vi lãnh thổ của một người con được sinh ra từ chính mảnh đất Tiền Giang – nơi sản sinh ra nhiều tài năng của nhạc tài tử và sân khấu cải lương: Năm Phỉ, Bảy Nam, Năm Châu…. Tôi đặt câu hỏi cho du khách: danh nhân ấy là ai? Ngoài dự đoán của mình, dù đến từ một vùng đất xa lạ, chỉ nghe những âm điệu chốn núi rừng Tây Bắc nhưng họ vẫn nhận ra tôi đang nhắc đến Giáo Sư (GS) Trần Văn Khê – “một nhà văn hóa phi thường”.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghệ thuật, máu nghệ sỹ đã ngấm trong người của GS Trần Văn Khê từ thuở bé. Khi ấy, cậu bé thông minh, sáng dạ mới chỉ lên 6 đã biết gảy đàn kìm (đàn nguyệt), 8 tuổi biết chơi đàn cò và đến 12 tuổi đã chơi được đàn tranh, đánh trống nhạc… Nếu chúng ta để ý sẽ thấy tất cả đều là nhạc cụ truyền thống dân tộc, chứng minh rằng tinh thần dân tộc được thể hiện qua việc nghiên cứu, sử dụng âm nhạc của Trần Văn Khê đã gắn bó cùng ông từ lúc còn rất nhỏ.

Điều khiến cho bất kì ai trong chúng ta cũng phải thán phục trước sự bản lĩnh và sự siêng năng của GS khi mới 10 tuổi đã mồ côi, sức khỏe không được tốt nhưng luôn tự lực cánh sinh và tích cực tìm tòi, ham học hỏi và đã đạt danh hiệu Thủ Khoa tú tài, về sau sang Pháp du học và trở thành vị tiến sĩ Việt Nam đầu tiên khoa Âm nhạc học tại Pháp. Làm việc tại nước ngoài (Pháp) nhưng GS đã từ chối nhập quốc tịch để giữ nguyên quốc tịch Việt Nam. Tận trong tâm khảm của mình, ông luôn muốn mang nét đẹp Văn hóa Việt Nam, đặc biệt là tinh hoa âm nhạc Việt phát triển trên thế giới, trong đó GS góp công rất lớn để Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại (2003). Dù ở Pháp hơn 50 năm nhưng GS không bao giờ xen một từ nước ngoài nào mỗi khi trình bày về âm nhạc Dân tộc cho công chúng người Việt, điều đó thể hiện rõ lòng tự hào dân tộc, tránh sự lai căng và xem đó là giá trị trường tồn theo thời gian: “Tuổi trẻ ngày nay hấp thụ nên văn hoá phương Tây khoảng trên 1 thế kỷ, tuy nhiên giữ gìn bản sắc dân tộc là nhiệm vụ của đất nước và dân tộc vì đó là quốc hồn quốc tuý. Ta mở cửa để thưởng thức nhạc quốc tế như thưởng thức một món ăn mới như pizza , hay spaghetty nhưng mỗi chúng ta trong sâu thẳm vẫn nhớ mãi tô canh chua, dĩa mắm kho hay món canh rau đay cua cà muối trong những ngày hè, và nhạc ngoại quốc chỉ là gia vị làm cho đời sống âm nhạc thêm phong phú như trong bữa ăn có thêm tí ớt , tỏi sẽ làm ta ăn ngon hơn nhưng ta không thể chỉ ăn gia vị đó mà quên cơm nhà được”.

Không chỉ siêng năng chịu khó, GS là người có tố chất thông minh, học nhanh nhớ nhanh nhưng chưa bao giờ nhận sự thành công ấy dựa vào trí thông minh. Theo GS, sự thông minh thiên phú chỉ chiếm khoản 30% để thành công, còn lại là nhờ sự nỗ lực và cố gắng học hỏi, luyện tập để đạt được những thành tựu như ngày nay. Ở tuổi 90, ông vẫn miệt mài bên kho tàng sách vở, cùng những nhạc cụ thỉnh thoảng phát ra âm điệu thân quen của tiếng đàn với ngũ âm:“hò – xự – xang – xê – cóng”, hay “đường dầu sa ong bướm, xin đó đừng phụ nghĩa tào khang, đêm luống trông tin nhạn, ngày mỏi mòn như đá vọng phu, vọng phu vọng, luống trông tin chàng, lòng xin chớ phũ phàng…” đó chính là không gian làm việc nghiêm túc cho hoạt động nghiên cứu khoa học, nhưng cũng là một nơi thả hồn lãng mạn vào khuôn vườn âm nhạc nhuộm màu thời gian.

Trong gia đình nghệ thuật, cùng với GS là người em trai: Quái kiệt Trần Văn Trạch, rất nổi tiếng tại Sài Gòn trước 1975 với bài Xổ số Quốc gia, Chiều mưa biên giới và con trai cũng là một chuyên gia nghiên cứu âm nhạc – GS Trần Quang Hải, vẫn đang tiếp tục nối nghiệp cha mình cống hiến cho nghệ thuật nước nhà. GS Trần Văn Khê sớm tiếp xúc và làm quen với các loại nhạc cụ và các điệu lý Nam bộ. Không biết từ lúc nào, dòng chảy âm nhạc của Đờn ca tài tử đã thấm vào máu của chàng trai trẻ, để rồi yêu, quý và mang nó trình diễn ở khắp nơi trên thế giới. Đờn ca tài tử là xuất xứ ban đầu cho ra đời nghệ thuật Cải lương, một loại hình nghệ thuật dân gian được hình thành, phát triển từ cuối thế kỷ XIX và nhanh chóng trở thành loại hình diễn xuất đặc thù của mảnh đất Nam Bộ. Vì hình thành trong không gian văn hóa chất phác, mang đặc trưng tánh tình người Nam Bộ: “Ra đường gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu”, sự phóng khoáng linh hoạt hào sảng ấy khiến họ đón nhận ở chỗ này một chút, chỗ kia một ít, để làm cho bài bản mượt mà và thấm thía hơn, nên sẽ không sai khi nói rằng Đờn ca tài tử là sự tích hợp giữa nhạc cung đình Huế, nhạc Lễ và dân ca Nam Bộ.

Trong Đờn ca tài tử, đờn có trước ca nên gọi nôm na là “đờn ca”, còn chữ “tài tử” ở đây không chỉ đơn thuần là những người tài, mà ở đây nó được hiểu là khi mình chơi một món gì đó vì đam mê, vì yêu thích mà chơi, và trong cái ngẫu hứng đó có sự kết tinh giữa tài năng thiên bẩm và quá trình dày công khổ luyện thì lúc bấy giờ người nghệ sĩ mới có thể thả hồn vào Tứ Huyền Cầm : Kìm, cò, tranh, bầu và cái song loan (song lang) cốc, cốc nỉ non,… Người giữ Song loan giống như người giữ nhịp cho cả đoàn nhạc. Là một hình thức âm nhạc thính phòng, buổi đầu đờn ca tài tử chủ yếu để nghe là chính chứ không phải để xem. Dần dần, sự hấp dẫn của tiếng đờn lời ca da diết ấy đã chinh phục người mộ điệu – những người không có khiếu đờn ca nhưng rất say mê loại hình nghệ thuật này nên thường tìm đến các buổi diễn để thưởng thức ngón đờn giọng ca của những người nghệ sĩ. Cứ thế dòng âm nhạc này dần phát triển, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người Nam Bộ.

Có lẽ sự thân thuộc của đờn ca Nam bộ với gia đình GS kết hợp với tính bác học đậm chất triết lí đạo học Phương Đông này đã tạo thành nguồn cảm hứng cho GS Trần Văn Khê trên con đường nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 1964, Nghệ sỹ Phùng Há và Kim Cương đi Pháp biểu diễn vở Lữ Bố hí Điêu Thuyền, về sau GS đã mời 2 người cùng sang Đức trình diễn với mình. Không chỉ vậy, GS đã từng giới thiệu Âm nhạc Việt Nam bằng 9 trang viết cho Bách khoa từ điển lịch sử âm nhạc thế giới năm 1960, “một quốc gia tiểu cường chứ không tiểu nhược, đã có những vị trí trang trọng cùng các lân bang khác ở Châu Á như Trung Quốc, Nhựt Bổn, Triều Tiên” – một điểm son lớn trong sự nghiệp của GS. Bên cạnh Đờn ca tài tử, nhiều loại hình nghệ thuật dân tộc khác như: bài chòi, hát xoan, ví dặm, Nhã nhạc cung đình Huế, các loại nhạc Lễ, nhạc Tôn giáo: Cao đài, Phật giáo… cũng được nghiên cứu, trình bày trên 40 quốc gia.

Không chỉ là một nhà nghiên cứu âm nhạc, GS còn là một người cha, một vị tiền bối tâm huyết. GS từng chia sẻ rằng: “điều quan trọng nhất là phải biết làm chủ con tim, biết thương nồng nàn mà không si lụy, biết bỏ cái ngã ích kỷ, để nghĩ tới việc cho, thương, giúp đỡ người khác, biết chế ngự hỷ, nộ, ái, ố để tìm được thanh thản trong tâm hồn”. Đó chính là những bài học quý báu, tuy rất ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao nỗi niềm nhắn nhủ đến các bạn trẻ, thế hệ mai sau hãy biết sống bài cái tâm, bằng sự nhiệt huyết và chứa đựng tình yêu thương nồng nàn. Quả thật hiếm có ai được như vậy, không chỉ sống cho mình, cho gia đình, cho sự nghiệp văn hóa dân tộc mà ở ông còn đọng lại những lời khuyên bảo rất bình dân và giản dị. GS chính là nhịp cầu nối để đưa nền âm nhạc Việt Nam đến với năm châu, đến với tâm hồn của người Việt Nam mộ điệu. Từ lúc lên 6 biết sử dụng đàn, nay đã 90, những nhạc cụ ấy là người bạn tri kỷ gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp và những hoài bão ông luôn mang bên mình. Âm nhạc dân tộc bén duyên thời thơ ấu, đến cuối đời, GS dùng âm nhạc điểm tô thêm cho đời, bằng tình yêu, khát vọng và thủy chung son sắc đã đưa ông trở thành “cây đại thụ” cho nền âm nhạc Việt Nam và là một trong hai vị GS có tên Tiếng Việt trong Từ điển âm nhạc thế giới: Trần Văn Khê và Nguyễn Thuyết Phong.Phần giới thiệu của tôi về cuộc đời và đóng góp của GS chấm dứt trong sự ngưỡng mộ và đầy tự hào. GS Trần Văn Khê giống như hình ảnh trong Chim Việt Cành Nam, dù hơn 50 năm xa xứ (không vào quốc tịch Pháp) nhưng ông dành trọn sự nghiệp nghiên cứu âm nhạc cho dân tộc Việt Nam và cuối đời cũng yên nghỉ trên tổ quốc quê hương.———————-HẾT————————

Thí sinh Thái Hương Thảo – 009 : Đôi dòng dâng lên người và lời tự tình cùng Ví dặm1&2.

Nguyễn Quốc Thệ

1t8Sdapoansihored  · 💧♥️Thí sinh Thái Hương Thảo – 009

💧♥️Đôi dòng gửi cố Giáo sư Trần Văn Khê: một nén hương dâng lên người và lời tự tình cùng Ví dặm1&2

.Con xin kính chào BTC, BGK! Con là Thái Hương Thảo, sinh viên Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Văn Hóa. Quê con là vùng đất của nắng mưa khắc nghiệt nhưng cũng là nơi phát tích anh tài. Con rất tự hào về quê hương Nghệ An có con sông Lam, có câu Ví dặm …Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh cố giáo sư Trần Văn Khê, con có đôi dòng muốn gửi đến cố giáo sư cũng như BTC và BGK như là một lời tri ân của con dành đến người đã dành nửa cuộc đời cho nền âm nhạc dân tộc và nỗi niềm với khúc Ví dặm thân thương đã nuôi con khôn lớn

.… …Sài Gòn thương nhớ, đêm 11 tháng 7 năm 2021

Kính chào Cố Giáo sư, con là Thái Hương Thảo, là một đứa con đất Nghệ, lớn lên từ những khúc hát Ví dặm đầy thân thương. Hiện tại con là sinh viên khoa Văn hóa học, chuyên ngành Văn hóa Việt Nam, trường Đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh. May mắn được sống và học tập trong một môi trường văn hóa dân tộc, con yêu mến biết bao văn hóa nước nhà, trong đó nổi bật là những lời ca tiếng hát truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc. Và hôm nay, như một cái duyên với người đi trước, con ngồi đây viết những dòng này gửi ôngThưa ông, con xin phép trước rằng sẽ sử dụng ít nhất trong khả năng học vị giáo sư đầy danh dự của người, bởi đối với con, hai chữ đó không thể thể hiện hết niềm trân quý, thân thương của con dành cho ông cũng như nỗi niềm của ông dành cho âm nhạc dân tộc. Con cảm nhận được rằng, hình như người tìm hiểu và nghiên cứu những làn điệu truyền thống đó không chỉ dưới đôi mắt của một nhà khoa học mà hơn thế là sự cảm nhận từ trái tim, từ tình yêu của một người con lớn lên giữa miền tây sông nước với những lời ru câu hát mà các bà, các mẹ muôn đời nay vẫn đưa con trên cánh võng nhịp nhàng…

Thưa ông, con không may mắn có cơ hội gặp ông sớm hơn. Lúc con ngồi viết bức thư này cũng là lần đầu con biết đến con người thầm lặng dành nửa cuộc đời cho âm nhạc dân tộc là ông. Trong thời gian ngắn, con chưa thể tìm hiểu thật cặn kẽ mà chỉ có thể gặp ông trong những mẩu nói chuyện được ghi lại trên các mặt báo, các clip cũ. Con đang nghe lại cuộc đàm thoại của ông vào lễ Vu Lan năm 2011 ở tại Thiền Tôn Phật Quang.

Thưa ông, con thực sự xúc động khi nghe những mẩu chuyện trong suốt cuộc đời của người, từ lúc người có suy nghĩ “phải học nhạc phương tây mới có thể dẫn dắt nước Việt Nam đi lên một cái bước cao hơn” đến nằm viện ba năm hai tháng có thời gian suy nghĩ về những thứ mình đã làm, đang làm và kế hoạch sau này và giật mình “tôi lớn lên vì âm nhạc Việt truyền thống” và cũng được “cưu mang” bởi âm nhạc dân tộc “khi qua bên Pháp, tôi viết báo, báo đóng cửa, nhờ đàn tranh mà tôi sống sót qua một năm trời” và cũng nhờ đàn tranh mà nhóm ông được giải nhì đầy hãnh diện, để rồi sau này ông quay lại với âm nhạc dân tộc mang hy vọng “đem âm nhạc Việt Nam giới thiệu ra thế giới”. Con cảm nhận được, âm nhạc truyền thống dường như đã không còn là một loại hình nghệ thuật sáo rỗng để giải trí hay để thể hện bản thân mà hơn hết những làn điệu đó đã soi lối đưa ông về với một con người, một bản sắc rất Việt Nam! Đặc biệt, chính âm nhạc cũng thể hiện tình yêu đất nước, góp phần đem lại hòa bình cho tổ quốc. Đến ngày hôm nay, con tin rằng ông có thể hoàn toàn tự hào và hãnh diện về nền âm nhạc dân tộc cũng như những cố gắng, nỗ lực cống hiến của ông với sự nghiệp âm nhạc truyền thống nước nhà.

Thưa ông, bản thân con không phải một người sành âm nhạc, âm nhạc với con vốn dĩ đầy mơ hồ (mà nghệ thuật nói chung cũng đều như vậy, đúng không ông?) Âm nhạc như một tình yêu rất đỗi nhẹ nhàng, âm nhạc là thứ vô hình nhưng hình như mang một sức mạnh lan tỏa rất đỗi mạnh mẽ. Con nhận ra rằng âm nhạc là điều gắn kết được mọi thứ, mang được những con người, những cộng đồng rất xa lại với nhau. Hungary cách Việt Nam bao xa? Gần 9000km! Hungary gần Việt Nam như thế nào? 5 buổi về âm nhạc truyền thống! Văn hóa thực sự là con đường gắn nhất để mang những vùng miền lại với nhau và âm nhạc chính là con đường nhẹ nhàng nhất trong đó. Lại nói, có những điều mọi cách thức đều bất lực, chỉ có âm nhạc là có thể dễ dàng ở bên con người ta, một bài diễn văn dài cả trăm trang có khi chưa ủi an được một tâm hồn nhưng một bản nhạc không lời có thể mang lại bao nỗi buồn và niềm vui đến khán giả. Âm nhạc là thế! Âm nhạc dân tộc càng thế và còn hơn thế nữa! Những đàn tranh, đàn gáo, đàn bầu,… những câu hò, câu ví, điệu lý, hát then,… Tất cả những cái đó đều mang hồn dân tộc và đều là dân tộc

Thưa ông, con nghe về ông, đọc về ông không để tìm hiểu như một giáo sư danh tiếng, con cũng không nghiên cứu về âm nhạc dân tộc dưới cái nhìn khoa học mà như mọi loại hình nghệ thuật khác, con chỉ đơn thuần cảm nhận bằng trái tim. Con không nghiên cứu sâu không phải vì không yêu nghệ thuật, văn hóa dân tộc mà với con nghệ thuật là một khái niệm gì đó quá trừu tượng, rộng lớn để có thể tìm hiểu hết, lại quá thân thương để mổ xẻ ra,… con muốn nó luôn tròn đầy, vẹn nguyên như cách nó được tạo ra và tồn tại hàng nghìn năm nay. Những thứ con đọc về ông đơn giản chỉ là những mẩu chuyện trong cuộc sống của người xoay quanh loại hình nghệ thuật truyền thống này bởi chính những điều nhỏ bé đó đã truyền lại cho con một niềm tin yêu, trân quý trong trẻo nhất đối với văn hóa dân tộc mà ở đây là nền âm nhạc truyền thống: nhẹ nhàng vậy thôi mà rất đáng yêu, phải không ông?

Thưa ông, con là một người con xứ Nghệ đầy nắng và gió, con sinh ra giữa cái rét cứa da cắt thịt của miền trung, con lớn lên trong gió lào nghe rát bỏng da và những mùa bão điệp trùng. Làn điệu ru ngủ con không phải những điệu Nam ai, Nam bình buồn và ngọt của đất cố đô, cũng không phải những khúc đờn ca tài tử rất trong của miền tây nam bộ, lại cũng không phải những điệu quan họ Bắc Ninh, con lớn lên trong những câu hò ví dặm rất đượm tình của người dân đất Nghệ.

Ví dặm trong con là…

“Tôi lớn bên bên lời ru của mẹ

Câu hát ân tình kéo võng trưa chiều

Mẹ bảo « Ví dặm là quê mình con ạ

Con sẽ lớn lên theo những cánh diều… »

Câu hát mẹ ru cho tôi hiểu bao điều

Xứ Nghệ mình nhiều bề lam lũ

Hiểu cả con cá gỗ trong câu chuyện cũ

Lại thương thêm, thương quá quê mình!….

Xứ Nghệ mình đổi mới rồi!

Vui thay!Xí nghiệp công ti mọc lên trông thấy

Nhưng tôi vẫn nghe giữa ồn ào lối phố

Ví dặm vọng xa tiếng mẹ ru hời

Có đi trăm nơi có đến muôn trời

Có đổi thay nhiều bao nhiêu chăng nữa

Nghệ An quê mình có mô tê răng rứa

Thì vẫn yêu, yêu lắm quê mình!”

(Trích Xứ Nghệ quê mình – Hương Thảo sáng tác)

Con gọi đó là Giọng Quê Hương! Ai đã từng một lần tự nhận “Choa dân 37” mà không tự hào về Ví dặm quê mình. Ví dặm là hồn xứ Nghệ. Dân xứ Nghệ chất chân bao nhiêu thì ví dặm cũng thật thà bấy nhiêu. Dân xứ Nghệ hứng bao nắng mưa bão bùng thì ví dặm cũng đậm niềm gian khó. Dân xứ Nghệ thân thương, tình nghĩa thì ví dặm cũng mặn mà ân tình,… Dân xứ Nghệ là vậy! Ví dặm là vậy!Những điệu ví dặm không phải quá cao siêu gì mà chỉ là nhưng lời tâm tình thủ thỉ, khuyên răn, hay là những câu hát trao duyên đầy tình tứ của những nam thanh nữ tú ở đất này cất lên trong những đêm gặt lúa dưới ánh trăng mờ tỏ hay thậm chí chỉ là những lời bông đùa chọc ghẹo nhau thường ngày trở thành quen thân. Câu từ của hai lối hát này cũng không quá mĩ miều, bác học mà là những câu nói hay những câu ca dao thể lục bát, song thất lục bát, năm chữ đậm đà hương sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam.Chao ôi! Đã bao nhiêu người lớn lên từ những ví giận thương, ví đò đưa, dặm xẩm, dặm vè,… Đất Nghệ xưa nghèo, sinh con ra, mẹ không có sữa, con đói, con khóc; những đêm mẹ ru con ngủ cũng là đưa điệu ví. Những đêm cấy lúa, những ngày hội làng nam nữ trao duyên cũng nhờ câu dặm,… để sau này dù đi đến đâu những người con đất này cũng mang theo cả lời ca tiếng hát quê nhà. Có ai còn nhớ trước lúc Bác Hồ ra đi cũng chỉ mong nghe một câu hò Ví dặm quê hương? Người ta nói dân Nghệ nghèo! Người ta nói giọng Nghệ nặng! Dân Nghệ nghèo nhưng đủ giàu tình nghĩa! Giọng Nghệ nặng nhưng vẫn đủ cho những làn ví dặm cất lên cao mãi, phải không ông?Thưa ông, từ khi đặt chân vào đất Sài Thành và học tập trong một môi trường đầy chất văn hóa, những câu hò ví dặm đầy thân thương đối với con lại trở thành niềm nhung nhớ quê hương. Xa quê rồi trong con mới dấy lên một tình yêu với một xứ Nghệ “non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Tự hào biết bao khi giảng viên hay các bạn hỏi về quê hương mình mà con hãnh diện đứng dậy nói bốn chữ “dân ca Ví dặm”! Bình yên biết bao khi những hôm cảm thấy lạc lõng giữa thành phố hoa lệ này con được mở một bài ví giận thương! Ôi, thương biết bao, nhớ biết bao!“Đêm nằm nghe giọng ai caĐôi câu ví dặm vào ra tự tìnhThẫn thờ nép giữa lặng thinhNhớ lời mẹ dặn dò mình lúc xưa:“Con ơi sương gió chiều trưaQuê mình hứng lấy nắng mưa bão bùngCon đi kiếm việc tìm côngNi đây mai đó nhưng không quên làCâu ví dặm, ấy quê taCòn quê còn giữ, còn nhà còn trôngTình như sóng dạt trào dângLời ca cất đặt giữ lòng vấn vươngMẹ cha nào đoán sự thườngCó theo con đặng mà thương hết đờiCon đem câu ví muôn nơiNúi sông cũng hóa ru hời nhớ nhung”.Mẹ ơi đi đến sau cùngLời ca con cất tận cùng niềm thươngĐêm ni nghe giọng quê hương Tưởng nghe tiếng mẹ dặn đường con đi…”(Trích Đêm nghe câu ví dặm – Hương Thảo sáng tác)

Nhưng ông ơi, hình như cái chất mặn mòi ấy đang nhạt đi theo sự phát triển những giá trị khác của xã hội. Hai chữ ví dặm hình như xa lạ dần với giới trẻ ngày nay. Ông ơi, con học đã là văn hóa thì nghĩa là có giá trị, phải chăng người ta đang quên đi những vẻ đẹp trong văn hóa truyền thống. Đáng lo sao?

Thưa ông, năm nay tròn 100 năm ngày sinh của ông, con có đôi lời tâm tình muốn gửi đến người con chưa từng gặp nhưng đầy quý trọng! Ông ơi! Ngàn lời tri ân này không thể nói đủ cho những cống hiến lớn lao của ông đối với nền văn hóa dân tộc Việt Nam.

Thưa ông, Sài Gòn những ngày này chống dịch hơn chống giặc, mệt mỏi nhưng đầy nỗ lực. Con tin rằng sẽ nhanh thôi ngày đất nước mình sẽ ổn định lại và những làn điệu dân ca sẽ tưới mát mỗi chặng đường đi của con và đồng bào mình!

Tri ân, tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Khê …

Thái Hương Thảo

Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011: VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Nguyễn Quốc Thệ

YcleteShstercptodtfelliaoyando satu 7l:50oarei lAdMi  · 💧♥️Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011

💧♥️ CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Tôi tên là Phan Thị Huyền Trân, tôi sinh ra và lớn lên trên mãnh đất Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Là một trong những người trẻ có niềm đam mê và yêu thích âm nhạc truyền thống của dân tộc. Bản thân tôi là một người con của vùng đất Vĩnh Kim, quê hương của GS.TS Trần Văn Khê và là nơi gắn liền với nghệ thuật cải lương, đờn ca tài tài. Tôi cảm thấy thật vinh dự và tự hào khi quê hương mình sinh ra một tên tuổi lớn, một người con ưu tú, tài năng, tâm huyết và uyên bát như GS.TS Trần Văn Khê.

GS.TS Trần Văn Khê là một trong những cây đại thụ của làng âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền của dân tộc và là người có nhiều đóng góp trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Với sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của mình, tôi đã tìm hiểu về gia đình, cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê, càng thấy trân trọng, tự hào với những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê đã viết nên những trang sử vàng đáng nhớ, là một kho tàng quý báu cho nền âm nhạc Việt Nam.

GS.TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Vĩnh Kim là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa và cũng là cái nôi của nhạc tài tử, sân khấu cải lương Nam bộ. Nơi đây đã sinh ra cho nghệ thuật sân khấu Nam bộ nhiều danh cầm nổi tiếng cả nước. Trong đó có gia đình của của cố GS.TS Trần Văn Khê, khi cả bên ngoại và bên nội ông đều là những người trong giới nhạc truyền thống.

Cụ cố nội là Ông Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công của triều đình Huế. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm) là nghệ nhân đàn kìm, đàn tranh và chuyên về đàn tỳ bà. Cha ông là Trần Quang Chiêu mà giới tài tử trong Nam gọi là Bảy Triều, ông biết nhiều loại đàn nhưng đặc biệt nhất là đàn độc huyền (đàn bầu) và đàn kìm (đàn nguyệt). Cô là Trần Ngọc Viện tức Ba Viện, người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban, bà chơi đàn rất hay .Cụ cố ngoại là Khâm sai Đại thần Nguyễn Tri Phương của triều Nguyễn. Ông ngoại là Nguyễn Tri Túc , là người truyền ngón đàn cho GS.TS Trần Văn Khê. Ông ngoại là người rất say mê âm nhạc và nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước – Vĩnh Kim và có ba người con cũng theo nghiệp đờn ca. Nguyễn Tri Lạc – Cậu Tư của GS.TS Trần Văn Khê, ông nghệ nhân đàn cò, đàn tranh và đánh trống nhạc lễ. Nguyễn Tri Khương là cậu thứ năm, ông là thầy dạy của GS.TS Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội và là người sáng tác nhiều bản nhạc truyền thống, nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Mẹ của GS.TS Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành).

GS.TS Trần Văn Khê có hai người em là Trần Văn Trạch, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 và Trần Ngọc Sương, từng là ca sĩ với nghệ danh là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948 – 1950.

GS.TS Trần Văn Khê lập gia đình năm 1942 với bà Nguyễn Thị Sương và có bốn người con: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh – Kiến trúc sư và Trần Thị Thủy Tiên, Trần Thị Thủy Ngọc – nữ nhạc sĩ đàn tranh, làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu khoa học ở Paris.

Qua phần giới thiệu, chia sẽ về gia đình của GS.TS Trần Văn Khê cho chúng thất được rằng GS.TS Trần Văn Khê được thừa hưởng, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khi cả bên ngoại và bên nội có 4 đời theo dòng âm nhạc truyền thống. Họ là những là những người danh cầm nổi tiếng, là người có tên tuổi trong giới nhạc truyền thống lúc bấy giờ và có công rất lớn trong việc truyền bá, phát triển dòng nhạc tài tử Nam bộ qua bao thế hệ.

Từ nhỏ, GS.TS Trần Văn Khê đã học rất giỏi, năm 10 tuổi ông đậu tiểu học, 13 tuổi đậu sơ học và tiếp tục học trung học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký).

Năm 1941, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa, ông cùng Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên và được cử làm nhạc trưởng của dàn nhạc trường. Ông còn tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ », « Truyền bá vệ sinh », rồi tham gia kháng chiến trong phong trào « Thanh niên Tiền phong » tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đến năm 1946, khi Pháp tấn công đánh chiếm lục tỉnh, các cơ quan bộ đội rút vào hoạt động bí mật. Trần Văn Khê trở về Sài Gòn và đi dạy học tại các trường tư, đồng thời làm thêm nghề mới là viết báo. Ông tham gia nhóm kháng chiến do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau là Mai Văn Bộ chỉ huy. Năm 1948, nhóm kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat, ông bị giam hai tuần sau đó được thả ra vì không có chứng cớ, nhưng từ đó bị mật thám theo dõi.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp du học và học tại viện Khoa học Chánh trị Paris và từ đó ông bắt đầu hành trình hơn 50 năm bôn ba năm châu bốn biển của mình.

Năm 1951 ông tốt nghiệp Khoa học Chánh trị và Khoa Giao dịch Quốc tế và học Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris.

Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị làm luận án tiến sĩ tại Khoa Âm nhạc trường Đại học Sorbonne, Paris với đề tài « Âm nhạc truyền thống Việt Nam ».

Đến tháng 6 năm 1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ cùng với đề tài phụ « Khổng tử và âm nhạc ». Từ đây ông bắt đầu những bước đầu tiên trên chặng đường dài nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam

.Với tài năng và tâm huyết của mình, GS.TS Trần Văn Khê đã tạo dựng được uy tín rất cao trong giới nghiên cứu âm nhạc thế giới và trở thành thành viên của nhiều tổ chức âm nhạc quốc tế: Thành viên của Viện hàn lâm khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Châu âu về Khoa học văn chương và nghệ thuật, là thành viên rồi giữ vai trò Phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO, 10 năm liền được tín nhiệm ở vai trò Chủ tịch Ban tuyển chọn quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á, Tiến sĩ âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Đại học Monoton (Canada) và là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và các nước

Trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, trình diễn và quảng bá âm nhạc dân tộc của GS. TS Trần Văn Khê, ông đã tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu, đăng gần 200 vài viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đức, Trung Quốc, Ả Rập; Ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, 300 giờ âm nhạc châu Á, châu Phi, chụp 8.000 ngàn ảnh về sinh hoạt âm nhạc của nhiều nước; Thu thập 500 đĩa hát của các nước, thực hiện 15 đĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam và thực hiện nhiều phim ngắn về dân tộc nhạc học. GS. TS Trần Văn Khê là người đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa Ca trù, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca tài tử Nam Bộ trở thành di sản phi vật thể của thế giới.

Năm 2006, GS.TS Trần Văn Khê trở về Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng đĩa, ông cùng các cán bộ ngành văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và những người cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục vụ nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đồng thời tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng. Nơi ở của ông đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ và khán giả trong và ngoài nước.

Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển Âm nhạc thế giới ». Bên cạnh đó, ông còn nhận được nhiều huy chương, bằng danh dự và nhiều giải thưởng cao quý: Giải Nhì phần thi biểu diễn nhạc dân tộc tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tổ chức tại thành phố Budapest, Cộng hòa Hunggary; Giải thưởng « Deutscher Schallplatten Preis » của Cộng hòa Liên bang Đức cho dĩa hát « Việt Nam I » phát hành năm 1967; « Giải thưởng lớn” Về dân tộc nhạc học của Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp; Bằng khen và Hội viên Danh dự của Hội nghệ sĩ Ái Hữu; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Canada; Giải thưởng của UNESCO về Âm nhạc; Huân chương Văn hóa Nghệ thuật của Chính phủ Pháp; Giải thưởng « Dĩa hát hay nhất trong năm 1994 » của Cộng hòa Liên bang Đức và Giải thưởng « Choc » của Tạp chí Thế giới âm nhạc ở Pháp cho dĩa hát « Việt Nam và đàn tranh »; Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học của Nhật Bản; Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa – Thông tin; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự đại học Monoton, Cannada; Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký; Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc trao tặng; Giải thưởng Phan Châu Trinh về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá âm nhạc dân tộc do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao tặng…Ngoài ra ông còn rất nhiều những bằng khen, huân chương, huy hiệu, những quà tặng lưu niệm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trao tặng.

Nhắc đến Giáo sư Trần Văn Khê, đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương. Gia đình, đồng nghiệp, học trò, giới mộ điệu âm nhạc, bạn bè trong và ngoài nước luôn dành cho cho ông những sự kính trọng, ngưỡng mộ và những tình cảm chân thành nhất.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS.TS Trần Văn Khê (24/7/1921 – 24/7/2021), thông qua bài viết này tôi muốn giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê nhằm tuyên truyền, giới thiệu nhất là thế hệ trẻ tìm hiểu, học hỏi và giữ gìn phát huy giá trị nền âm nhạc dân tộc và hiểu thêm về GS.TS Trần Văn Khê, một con người tài ba, uyên bát và đầy tâm huyết. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho âm nhạc dân tộc. Qua đó thể hiện lòng trân trọng, ngưỡng mộ, tôn vinh những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. « Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê – Người cả cuộc đời đã cống hiến cho âm nhạc Việt Nam, góp phần to lớn trong việc truyền bá văn hóa Việt Nam bằng tri thức âm nhạc. Trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sáng tạo của ông mãi mãi là tài sản quý báu của Văn hóa Việt Nam. » Đó là lời của Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ghi sổ tang trong Lễ viếng GS.TS Trần Văn Khê, năm 2015.

GS.TS Trần Văn Khê đã ra đi nhưng trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sự cống hiến của ông mãi là tài sản quý báu của văn hóa Việt Nam. “Cuộc đời và sự nghiệp GS.TS Trần Văn Khê – Còn đó trăm năm và mãi mãi ”, còn mãi những tài sản mà ông để lại. Tài sản đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương của cả kiếp người. Tài sản đó cần được bảo vệ và phát huy không chỉ cho hôm nay mà cả các thế hệ mai sau. Sẽ mãi nhớ về ông, người đã sống và cống hiến hết mình cho âm nhạc dân tộc Việt Nam ./

.2.CHIA SẺ VÀ CẢM NHẬN VỀ NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘ

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc trưng của vùng Nam Bộ, được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo dựa trên dòng nhạc Lễ, nhã nhạc cung đình Huế, văn học dân gian và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân ca miền Trung, dân ca miền Nam.

“Tài tử” tức là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về ca nhạc. Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca nên gọi là “Đờn ca”.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử là loại hình diễn tấu gồm các loại nhạc cụ chính: đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu. Ngoài ra, trong quá trình biểu diễn nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ khác như: Đàn sến, đàn bầu, sáo, tiêu, đàn Ghi-ta phím lõm, Song lang,…..

Nghệ thuật Đờn ca tài tử gồm 20 bản tổ chia ra 4 loại theo 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc) gồm: Ba Nam, Sáu Bắc, Bảy Lễ, Tứ Oán. • 3 bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo.• 6 bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.• 7 bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc• 4 bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu. 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân Nữ

Nghệ thuật trình diễn của đờn ca tài tử đậm chất Nam Bộ. Đó là sự kết hợp tinh tế, hòa quyện giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn. Những người tham gia đờn ca tài tử thường là bạn bè, chòm xóm tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã, nên thường không câu nệ về trang phục, thời gian, địa điểm. Dàn nhạc thường ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn dựa trên khung bài bản gọi là “lòng bản”. Họ có thể ngồi với nhau ca hát ở ngoài đồng ruộng, sân vườn, trong nhà hay bất cứ nơi đâu, cùng nhau nhâm nhi từng ly trà, chén rượu, thỏa lòng đam mê, giao lưu ca hát sau những ngày làm việc, lao động vất vả….Chính vì vậy, có thể nói đờn ca tài tử là một môn nghệ thuật dân gian truyền thống mang đậm nét dân dã, mộc mạc, chân phương và gần gũi với người dân.

Tôi sinh ra và lớn lên tại Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Gia đình tôi sinh sống tại mảnh đất này qua bao thế hệ, ông bà, cha mẹ, anh chị em của tôi đều rất yêu thích bộ môn cải lương, đờn ca tài tử. Từ nhỏ tôi đã được nghe những điệu hò, câu hát, những vở cải lương, những bài vọng cổ, có lẽ chính vì thế nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức và làm tôi đam mê, yêu thích dòng nhạc này. Tôi rất thích hát và thích nghe dòng nhạc tài tử, những giai điệu của 20 bài tổ, những tuồng cải lương, những câu vọng cổ, từng tiếng đàn, lời ca mang những nét gần gũi, chân chất, bình dị, mộc mạc, đậm chất vùng đất Nam Bộ. Đi đến đâu tôi cũng muốn giới thiệu, quảng bá bộ môn nghệ thuật này vì nó là “đặc sản”, là niềm tự hào của miền Tây quê hương mình. Nói về nghệ thuật đờn ca tài tử thì không thể nào không nhắc đến GS.TS Trần Văn Khê. Ông cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về nghệ thuật đờn ca tài tử đến khắp nơi trong và ngoài nước và là người góp phần đưa đờn ca tài tử vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Qua đó thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã tồn tại hơn một thế kỷ qua và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ. Đây là loại hình di sản văn hóa phi vật thể mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo, là món ăn tinh thần và đặc trưng của người dân Nam Bộ. Đờn ca tài tử thể hiện trí tuệ, tâm huyết, tình cảm và sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ, tạo nên một nền âm nhạc truyền thống dân tộc mang nội dung, tư tưởng tiến bộ, phản ánh “cái đẹp” trong cuộc sống xã hội, ngợi ca tình yêu quê hương, đất nước, tưởng nhớ tri ân các anh hùng dân tộc, góp phần giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống con người theo các giá trị chân – thiện – mỹ, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển phong phú và đa dạng cho kho tàng văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta hãy cùng chung tay bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Đờn ca tài tử, góp phần giữ gìn những bộ môn nghệ thuật truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam./.

Vĩnh Kim – Châu Thành – Tiền Giang,

07/2021 Phan Thị Huyền Trân