Jour : 13 juillet 2021

Thí sinh Nguyễn Ngọc Quỳnh – 008: Cuộc thi tìm hiểu về Giáo Sư Trần Văn Khê & âm nhạc truyền thống Việt Nam nhân dịp 100 năm ngày sinh Giáo sư Trần Văn Khê

Nguyễn Quốc Thệ

YelnesrttteradaSdsaepya glarongsaecto Sgre6:34g PudM  · 💧♥️Thí sinh Nguyễn Ngọc Quỳnh – 008

💧♥️Cuộc thi tìm hiểu về Giáo Sư Trần Văn Khê & âm nhạc truyền thống Việt Nam nhân dịp 100 năm ngày sinh Giáo sư Trần Văn Khê

1.Lời đầu tiên, em xin phép giới thiệu đôi chút về bản thân: Em tên là Nguyễn Ngọc Quỳnh – Sinh Viên năm nhất Khoa Du lịch (chuyên ngành du lịch) của trường Đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Khi tìm hiểu về cuộc thi, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ban tổ chức cuộc thi đã trao cho em cơ hội để tìm tòi và am hiểu những giá trị truyền thống của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Là người đam mê, là một người yêu thích âm nhạc truyền thống Việt Nam, em xin cảm nhận và chia sẻ một cách sâu sắc nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê và thể loại Hát ru.

Có lẽ tâm hồn nghệ sĩ thường gắn liền với cuộc đời của mình. Con người ai cũng sẽ trải qua những lúc thăng trầm, những lúc vui buồn, những lúc trầm lắng đầy suy nghĩ và tâm tư. Từ đó tâm hồn nghệ sĩ lại bộc bạch, lại viết cho đời những bài ca mộc mạc trầm lặng và bay bổng. Những người nghệ sĩ ít ai sinh ra được trọn vẹn, họ phải trải qua những cuộc đời thăng trầm và bão táp và những con người tài năng ấy đã sử dụng ngòi bút của mình để tả về cuộc đời mình, mượn âm nhạc để miêu tả cuộc đời của chính bản thân họ. Cuộc đời của Giáo sư Trần Văn Khê cũng vậy, có lúc vui rồi cũng có lúc thăng trầm nhưng ông đã vượt qua tất cả. Cũng giống như Auguste Lodin có câu “Mọi môn khoa học đều bắt đầu là triết học và kết thúc là nghệ thuật”. Giáo sư Trần Văn Khê được biết đến có nghệ danh là Hải Minh, ông là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Ông sinh ra và lớn lên tại quê hương Tiền Giang, nơi sinh ra những làn điệu dân ca mộc mạc, sông nước miền Tây với con người chất phát và những điệu ru hời tha thiết. Ông may mắn được sinh ra trong một gia đình đậm chất nghệ sĩ với những tiếng sáo, tiếng đàn kìm du dương đậm đà dân tộc. Từ lúc trong bụng mẹ, ông đã nghe được những tiếng đàn, tiếng sáo ngân nga của cậu Năm, cậu Mười. Chính vì được sinh ra trong cái nôi âm nhạc, từ rất nhỏ ông đã biết nhảy theo nhịp, đã biết đàn kìm, … Cũng từ đó chất nghệ sĩ đã thấm dần trong trái tim của ông. Nhưng cuộc đời thì lại có thăng trầm và mất mát nhưng ông đã cố gắng vượt qua tất cả để trở thành một nhà nghiên cứu âm nhạc xuất sắc. Ông đã đi khắp mọi nơi trên thế giới, ở đó chính là nơi ông đã tuyên truyền, trình bày về những nét đặc sắc tinh hoa, cái hay cái đẹp của nền âm nhạc nước nhà. Và ông đã vẽ lên cho chúng ta một bức tranh nghệ thuật tuyệt sắc để cho ta hiểu về một hành trình dài của lịch sử âm nhạc truyền thống Việt Nam. Có bề dày trong hoạt động nghiên cứu giảng dạy, lan tỏa âm nhạc Việt Nam trong nước nói riêng và thế giới nói chung. Ông sở hữu một kho tri thức về chèo, tuồng, ả đào, hát xẩm, hát ví, hát bài chòi, điệu hò, điệu lý, nhạc tài tử, …

Từ vốn kiến thức đồ sộ tích lũy được qua thời gian, GS. Trần Văn Khê như một kho từ điển sống về âm nhạc. Trong suốt quá trình nghiên cứu ông đã gây dựng cho mình một sự nghiệp, một công trình tiêu biểu. Năm 1940, nhờ đậu tú tài phần nhất, rồi thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được toàn quyền Đông Dương lúc đó là Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia, xem chùa Vàng, chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích (Angkor), trên đường về Việt Nam thì được ghé Hà Tiên. Năm 1958, Trần Văn Khê theo học khoa Nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các giáo sư Jacques chailley, Emile gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam) đây chính là một quyết định mang tính lịch sử. Ông còn là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc ở Pháp, Mỹ và nhiều nước khác như Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (International Music Council/UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp). Ông đã đi 67 nước trên thế giới để nói chuyện truyền tải nên âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Giáo Sư còn vinh dự được nhận những giải thưởng quý giá 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest, 1998: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam, 1999: Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương cấp…..

Thông qua những gì ông đã cống hiến cho thấy rằng ông là một nhà nghiên cứu đặc sắc, tài ba, được mệnh danh “ Cây Đại Thụ” bởi ông đã truyền tải tất cả những vẻ đẹp, những cái hay của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam một cách đặt sắc, đậm đà nhất, phản ánh đầy đủ những loại hình nghệ thuật âm nhạc truyền thống của Việt Nam như ca trù, dân ca quan họ, đờn ca tài tử, hát ru, …. Chắt chịu từng từ, từng chữ, từng nghệ sĩ từng chút một những giá trị truyền thống ấy. Vì vậy ông chính là “ Một Cây Đại Thụ” để có những giá trị ấy ông đã nghiên cứu tìm tòi, phải có tình yêu đất nước, tình yêu âm nhạc và con người và yêu chính văn hóa Việt Nam. Với những tài liệu, sách vở, quá trình nghiên cứu âm nhạc của ông sẽ là một “Gia Tài” quý báu, một nguồn cảm hứng vô tận và là một tài liệu “vô giá” cho thế hệ trẻ nghiên cứu âm nhạc Việt Nam học hỏi không chỉ tiếp cận được với nền âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn là nền âm nhạc của thế giới. Với những người yêu âm nhạc truyền thống Việt Nam, Gs.Trần Văn Khê mãi mãi – một con người chân thành, một trái tim nhiệt huyết, tận tụy với âm nhạc dân tộc người con làm rạng danh nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Kính tưởng nhớ Gs. Trần Văn Khê nhân dịp sinh nhật lần thứ 100!

2.Ầu ơi… ví dầu

Cầu ván đóng đinh

Cầu treo lắc lẻo

Gập ghềnh khó qua..

.Ầu ơ i..Khó qua mẹ dắt con qua…

Con đi trường học

Mẹ đi trường đời…

Thương lắm những lời ru mộc mạc của mẹ, của bà vào những buổi trưa hè oi bức để đưa các con vào giấc ngủ.

Khi từ nhỏ chúng ta đã nghe được những lời ru ngọt ngào ấy từ mẹ, từ bà rồi chị để đưa em vào những giấc ngủ ngon giấc vào một buổi trưa êm dịu. Những lời ca mộc mạc, giản dị ấy đó chính là Hát ru. Hát ru có thể nói là một món quà đặc sắ , một làn điệu hết sức là thân thương, tùy vào từng vùng miền lại có những làn điệu hát ru khác nhau, nhưng nó có chung một đặc điểm đó chính là bắt nguồn từ chính những người dân lao động chân chất và thật thà. Qua lời ru trầm bổng mượt mà và ấm áp, đứa trẻ có thể cảm nhận được tình yêu thương của mẹ. Hát ru không chỉ là một âm điệu, âm sắc mượt mà để ru mà còn là một giá trị đặt sắc không thể thiếu và làm đa dạng nền âm nhạc truyền thống Việt Nam. Từ xa xưa, Hát ru được lấy cảm hứng từ những câu ca dao, đồng dao hoặc thơ được biến tấu và được truyền lại bằng hình thức truyền miệng từ bà đến mẹ đến các thế hệ mai sau chính vì vậy mà nó đa dạng mang đậm tính chất địa phương với một cách riêng biệt từng vùng miền. Về cơ bản, một bài hát ru thường được viết ở nhịp phân 3 đơn hoặc phức (3/4 hoặc 6/8). Về giọng, đa số các bài hát ru đơn giản, thường chỉ luân phiên những hòa âm chủ và hòa âm âm át, vì hiệu quả dự kiến là để đưa đứa trẻ vào giấc ngủ. Lời hát Ru không chỉ để trẻ con chìm vào giấc ngủ mà nó còn là tâm tư thầm kín về tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên và đạo lý làm người .. giúp tâm hồn đứa trẻ cảm nhận được sự ân cần của người mẹ. Hát ru chính là một quà của cuộc sống, từ những cuộc sống thôn quê bình dị với những mái nhà tranh, lũy tre êm đềm, hát ru là một nét văn hóa. Theo Giáo sư Trần Văn Khê, lời ru của mẹ đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành nhân cách của một đứa trẻ. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời răn dạy của lời ru và tất thảy tình thương, trách nhiệm của người lớn góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm con người từ khi cất tiếng chào đời. Hát ru đã thấm đượm vào trái tim và tâm hồn của những người con xa xứ, mãi nhớ đến lời ru của mẹ lúc chiều hè, âm điệu thật mát ngọt và trầm bổng. Cứ mỗi lúc buổi ban trưa lời hát lại được cất lên sau những mái tranh làng, bên trong sâu thẳm lời ru ấy chính là tình thương bao la của người mẹ. Có những người nói rằng những lời ru của bà mẹ xưa chính là một món quà quý giá, một triết lý về cuộc đời, chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Nhưng từ những mái tranh, từ những lũy tre làng ấy, từ những cuộc sống xô bồ và sự phát triển của hiện đại lại mọc lên những ngôi nhà cao tầng, những cây cột điện thì những lời hát ru ấy lại không còn như trước nữa. Có một người nói rằng “Trong cuộc sống hiện đại thì đâu ai còn nhớ đến những lời hát ru ấy nữa “. Quả thật vậy trong cuộc sống hiện đại mọi người chỉ chú trọng đến công việc mà quên rằng còn có những lời ru tha thiết như vậy. Nó đang dần bị thay thế bằng một bảng giao hưởng tình ca mới mẻ, tất nhiên cuộc sống hiện đại nên âm nhạc sẽ phát triển theo. Nhưng họ lại quên những giá trị sâu sắc của lời ru, trong nhịp sống hiện đại của đô thị, thành phố đã làm mất đi sự êm đềm, yên bình và lời ru mộc mạc ấy chỉ còn một số ít người lớn tuổi và chúng chỉ còn tồn tại qua những đĩa nhạc hay những ca sĩ chuyên nghiệp. Với những công hiến lớn lao của Giáo sư Trần Văn Khê và những tinh hoa của nền văn hóa âm nhạc truyền thống nước nhà, là một sinh viên cũng như những bạn trẻ, em hiểu được những giá trị truyền thống của lời hát ru, nó không chỉ là một món quà tinh thần mà còn là một giá trị thiêng liêng, giá trị nhân văn và cần phải bảo tồn và gìn giữ . Để lời hát ru không bị mai một với một người truyền bá nền văn hóa của Việt Nam trong tương lai em sẽ tích cực tuyên truyền, nâng cao ý thức và trách nhiệm đối với người dân về ý nghĩa tác dụng cũng như những giá trị truyền thống và cần được bảo tồn và gìn giữ, tiếp đó muốn giới thiệu đến khách du lịch trong và ngoài nước giá trị đặc sắc của loại hình hát ru này giúp họ hiểu rõ hơn nền văn hóa âm nhạc Việt Nam cũng như lan tỏa đến bạn bè quốc tế. Đưa thể loại hát ru vào giáo dục để các em nhỏ có thể tiếp xúc, hiểu rõ được ý nghĩa và những giá trị nhân văn của hát ru giúp các em yêu thích loại hình âm nhạc cổ truyền Việt Nam hơn. Hy vọng Hát ru sẽ mãi mãi là một loại hình âm nhạc truyền thống đặc sắc, không bị mất đi những giá trị vốn có của nền văn hóa âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với những thế hệ trẻ hiện nay chúng ta cần phải ra sức sáng tạo những giá trị mới mẻ, gìn giữ và lưu truyền những giá trị tinh hoa cũng như ra sức học tập trau đồi kiến thức, ra sức đóng góp vào những giá trị truyền thống văn hóa của Việt Nam. Hy vọng một ngày không xa, lời Hát ru lại được cất lên một cách mãnh liệt, bay bổng và đằm thắm giữa phố thị đèn hoa, tấp nập:

Con cò mà đi ăn đêm

À ơi…Con cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm

Lộn cổ xuống ao

À ơi…Ông ơi, ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

À ơi…Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con…

Nguyễn Ngọc Quỳnh – Đại Học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh.

Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011:CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Nguyễn Quốc Thệ

3tSpolnsidodhred  · 💧♥️Thí sinh Phan Thị Huyền Trân – 011

💧♥️ CỐ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ VÀ ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG1.CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP GS.TS TRẦN VĂN KHÊ – CÒN ĐÓ TRĂM NĂM VÀ MÃI MÃI

Tôi tên là Phan Thị Huyền Trân, tôi sinh ra và lớn lên trên mãnh đất Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Là một trong những người trẻ có niềm đam mê và yêu thích âm nhạc truyền thống của dân tộc. Bản thân tôi là một người con của vùng đất Vĩnh Kim, quê hương của GS.TS Trần Văn Khê và là nơi gắn liền với nghệ thuật cải lương, đờn ca tài tài. Tôi cảm thấy thật vinh dự và tự hào khi quê hương mình sinh ra một tên tuổi lớn, một người con ưu tú, tài năng, tâm huyết và uyên bát như GS.TS Trần Văn Khê.

GS.TS Trần Văn Khê là một trong những cây đại thụ của làng âm nhạc dân tộc Việt Nam. Ông là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền của dân tộc và là người có nhiều đóng góp trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Với sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của mình, tôi đã tìm hiểu về gia đình, cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê, càng thấy trân trọng, tự hào với những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế. Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư Trần Văn Khê đã viết nên những trang sử vàng đáng nhớ, là một kho tàng quý báu cho nền âm nhạc Việt Nam.

GS.TS Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Vĩnh Kim là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa và cũng là cái nôi của nhạc tài tử, sân khấu cải lương Nam bộ. Nơi đây đã sinh ra cho nghệ thuật sân khấu Nam bộ nhiều danh cầm nổi tiếng cả nước. Trong đó có gia đình của của cố GS.TS Trần Văn Khê, khi cả bên ngoại và bên nội ông đều là những người trong giới nhạc truyền thống.

Cụ cố nội là Ông Trần Quang Thọ trước kia là nhạc công của triều đình Huế. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm) là nghệ nhân đàn kìm, đàn tranh và chuyên về đàn tỳ bà. Cha ông là Trần Quang Chiêu mà giới tài tử trong Nam gọi là Bảy Triều, ông biết nhiều loại đàn nhưng đặc biệt nhất là đàn độc huyền (đàn bầu) và đàn kìm (đàn nguyệt). Cô là Trần Ngọc Viện tức Ba Viện, người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban, bà chơi đàn rất hay .

Cụ cố ngoại là Khâm sai Đại thần Nguyễn Tri Phương của triều Nguyễn. Ông ngoại là Nguyễn Tri Túc , là người truyền ngón đàn cho GS.TS Trần Văn Khê. Ông ngoại là người rất say mê âm nhạc và nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước – Vĩnh Kim và có ba người con cũng theo nghiệp đờn ca. Nguyễn Tri Lạc – Cậu Tư của GS.TS Trần Văn Khê, ông nghệ nhân đàn cò, đàn tranh và đánh trống nhạc lễ. Nguyễn Tri Khương là cậu thứ năm, ông là thầy dạy của GS.TS Trần Văn Khê đánh trống nhạc lễ và trống hát bội và là người sáng tác nhiều bản nhạc truyền thống, nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng.

Mẹ của GS.TS Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành). GS.TS Trần Văn Khê có hai người em là Trần Văn Trạch, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975 và Trần Ngọc Sương, từng là ca sĩ với nghệ danh là Ngọc Sương, sau đổi lại là Thủy Ngọc trong những năm 1948 – 1950.

GS.TS Trần Văn Khê lập gia đình năm 1942 với bà Nguyễn Thị Sương và có bốn người con: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh – Kiến trúc sư và Trần Thị Thủy Tiên, Trần Thị Thủy Ngọc – nữ nhạc sĩ đàn tranh, làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu khoa học ở Paris.Qua phần giới thiệu, chia sẽ về gia đình của GS.TS Trần Văn Khê cho chúng thất được rằng GS.TS Trần Văn Khê được thừa hưởng, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khi cả bên ngoại và bên nội có 4 đời theo dòng âm nhạc truyền thống. Họ là những là những người danh cầm nổi tiếng, là người có tên tuổi trong giới nhạc truyền thống lúc bấy giờ và có công rất lớn trong việc truyền bá, phát triển dòng nhạc tài tử Nam bộ qua bao thế hệ.

Từ nhỏ, GS.TS Trần Văn Khê đã học rất giỏi, năm 10 tuổi ông đậu tiểu học, 13 tuổi đậu sơ học và tiếp tục học trung học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký).

Năm 1941, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa, ông cùng Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên và được cử làm nhạc trưởng của dàn nhạc trường. Ông còn tham gia phong trào « Truyền bá quốc ngữ », « Truyền bá vệ sinh », rồi tham gia kháng chiến trong phong trào « Thanh niên Tiền phong » tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đến năm 1946, khi Pháp tấn công đánh chiếm lục tỉnh, các cơ quan bộ đội rút vào hoạt động bí mật. Trần Văn Khê trở về Sài Gòn và đi dạy học tại các trường tư, đồng thời làm thêm nghề mới là viết báo. Ông tham gia nhóm kháng chiến do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sau là Mai Văn Bộ chỉ huy. Năm 1948, nhóm kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat, ông bị giam hai tuần sau đó được thả ra vì không có chứng cớ, nhưng từ đó bị mật thám theo dõi.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp du học và học tại viện Khoa học Chánh trị Paris và từ đó ông bắt đầu hành trình hơn 50 năm bôn ba năm châu bốn biển của mình.

Năm 1951 ông tốt nghiệp Khoa học Chánh trị và Khoa Giao dịch Quốc tế và học Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị làm luận án tiến sĩ tại Khoa Âm nhạc trường Đại học Sorbonne, Paris với đề tài « Âm nhạc truyền thống Việt Nam ». Đến tháng 6 năm 1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ cùng với đề tài phụ « Khổng tử và âm nhạc ». Từ đây ông bắt đầu những bước đầu tiên trên chặng đường dài nghiên cứu, giảng dạy và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam .

Với tài năng và tâm huyết của mình, GS.TS Trần Văn Khê đã tạo dựng được uy tín rất cao trong giới nghiên cứu âm nhạc thế giới và trở thành thành viên của nhiều tổ chức âm nhạc quốc tế: Thành viên của Viện hàn lâm khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Châu âu về Khoa học văn chương và nghệ thuật, là thành viên rồi giữ vai trò Phó chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO, 10 năm liền được tín nhiệm ở vai trò Chủ tịch Ban tuyển chọn quốc tế của Diễn đàn âm nhạc châu Á, Tiến sĩ âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Đại học Monoton (Canada) và là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và các nước

Trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy, trình diễn và quảng bá âm nhạc dân tộc của GS. TS Trần Văn Khê, ông đã tham dự hơn 200 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu, đăng gần 200 vài viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và được dịch ra nhiều thứ tiếng như Đức, Trung Quốc, Ả Rập; Ghi âm trên 600 giờ âm nhạc và trao đổi với nghệ nhân, nghệ sĩ Việt Nam, 300 giờ âm nhạc châu Á, châu Phi, chụp 8.000 ngàn ảnh về sinh hoạt âm nhạc của nhiều nước; Thu thập 500 đĩa hát của các nước, thực hiện 15 đĩa hát về âm nhạc truyền thống Việt Nam và thực hiện nhiều phim ngắn về dân tộc nhạc học. GS. TS Trần Văn Khê là người đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa Ca trù, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca tài tử Nam Bộ trở thành di sản phi vật thể của thế giới.

Năm 2006, GS.TS Trần Văn Khê trở về Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng đĩa, ông cùng các cán bộ ngành văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và những người cộng sự xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục vụ nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc, đồng thời tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng. Nơi ở của ông đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ và khán giả trong và ngoài nước.

Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển Âm nhạc thế giới ». Bên cạnh đó, ông còn nhận được nhiều huy chương, bằng danh dự và nhiều giải thưởng cao quý: Giải Nhì phần thi biểu diễn nhạc dân tộc tại Đại hội Liên hoan Thanh niên tổ chức tại thành phố Budapest, Cộng hòa Hunggary; Giải thưởng « Deutscher Schallplatten Preis » của Cộng hòa Liên bang Đức cho dĩa hát « Việt Nam I » phát hành năm 1967; « Giải thưởng lớn” Về dân tộc nhạc học của Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp; Bằng khen và Hội viên Danh dự của Hội nghệ sĩ Ái Hữu; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự của Đại học Ottawa, Canada; Giải thưởng của UNESCO về Âm nhạc; Huân chương Văn hóa Nghệ thuật của Chính phủ Pháp; Giải thưởng « Dĩa hát hay nhất trong năm 1994 » của Cộng hòa Liên bang Đức và Giải thưởng « Choc » của Tạp chí Thế giới âm nhạc ở Pháp cho dĩa hát « Việt Nam và đàn tranh »; Giải thưởng Koizumi Fumio về dân tộc nhạc học của Nhật Bản; Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa – Thông tin; Tiến sĩ Âm nhạc danh dự đại học Monoton, Cannada; Huân chương Lao động hạng Nhất do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký; Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc trao tặng; Giải thưởng Phan Châu Trinh về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá âm nhạc dân tộc do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao tặng…Ngoài ra ông còn rất nhiều những bằng khen, huân chương, huy hiệu, những quà tặng lưu niệm của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trao tặng.

Nhắc đến Giáo sư Trần Văn Khê, đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương. Gia đình, đồng nghiệp, học trò, giới mộ điệu âm nhạc, bạn bè trong và ngoài nước luôn dành cho cho ông những sự kính trọng, ngưỡng mộ và những tình cảm chân thành nhất.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS.TS Trần Văn Khê (24/7/1921 – 24/7/2021), thông qua bài viết này tôi muốn giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê nhằm tuyên truyền, giới thiệu nhất là thế hệ trẻ tìm hiểu, học hỏi và giữ gìn phát huy giá trị nền âm nhạc dân tộc và hiểu thêm về GS.TS Trần Văn Khê, một con người tài ba, uyên bát và đầy tâm huyết. Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho âm nhạc dân tộc. Qua đó thể hiện lòng trân trọng, ngưỡng mộ, tôn vinh những đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà và mang hình ảnh, văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

« Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê – Người cả cuộc đời đã cống hiến cho âm nhạc Việt Nam, góp phần to lớn trong việc truyền bá văn hóa Việt Nam bằng tri thức âm nhạc. Trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sáng tạo của ông mãi mãi là tài sản quý báu của Văn hóa Việt Nam. » Đó là lời của Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ghi sổ tang trong Lễ viếng GS.TS Trần Văn Khê, năm 2015

.GS.TS Trần Văn Khê đã ra đi nhưng trí tuệ, uy tín, tài năng, tâm huyết và sự cống hiến của ông mãi là tài sản quý báu của văn hóa Việt Nam. “Cuộc đời và sự nghiệp GS.TS Trần Văn Khê – Còn đó trăm năm và mãi mãi ”, còn mãi những tài sản mà ông để lại. Tài sản đó không chỉ là những công trình nghiên cứu giá trị, là khối lượng kiến thức uyên thâm, mà còn ở nhân cách sống cao quý, đầy tình thương của cả kiếp người. Tài sản đó cần được bảo vệ và phát huy không chỉ cho hôm nay mà cả các thế hệ mai sau. Sẽ mãi nhớ về ông, người đã sống và cống hiến hết mình cho âm nhạc dân tộc Việt Nam ./.

2.CHIA SẺ VÀ CẢM NHẬN VỀ NGHỆ THUẬT ĐỜN CA TÀI TỬ NAM BỘĐờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc trưng của vùng Nam Bộ, được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo dựa trên dòng nhạc Lễ, nhã nhạc cung đình Huế, văn học dân gian và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân ca miền Trung, dân ca miền Nam.

“Tài tử” tức là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về ca nhạc. Lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện thêm hình thức ca nên gọi là “Đờn ca”. Nghệ thuật Đờn ca tài tử là loại hình diễn tấu gồm các loại nhạc cụ chính: đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, đàn bầu. Ngoài ra, trong quá trình biểu diễn nhạc tài tử còn kết hợp với các nhạc cụ khác như: Đàn sến, đàn bầu, sáo, tiêu, đàn Ghi-ta phím lõm, Song lang,…..

Nghệ thuật Đờn ca tài tử gồm 20 bản tổ chia ra 4 loại theo 4 mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông) và 4 hướng (Ðông, Tây, Nam, Bắc) gồm: Ba Nam, Sáu Bắc, Bảy Lễ, Tứ Oán. • 3 bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo.• 6 bài Bắc gồm: Lưu Thủy, Xuân Tình, Phú Lục , Bình Bán, Tây Thi, Cổ Bản.• 7 bài Lễ gồm: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Ðối Hạ, Long Ðăng, Long Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc• 4 bài Oán gồm: Tứ Ðại Oán, Giang Nam, Phụng Cầu Hoàng, Phụng Hoàng Cầu. 4 bài Oán phụ gồm: Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên, Xuân NữNghệ thuật trình diễn của đờn ca tài tử đậm chất Nam Bộ. Đó là sự kết hợp tinh tế, hòa quyện giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn. Những người tham gia đờn ca tài tử thường là bạn bè, chòm xóm tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã, nên thường không câu nệ về trang phục, thời gian, địa điểm. Dàn nhạc thường ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn dựa trên khung bài bản gọi là “lòng bản”. Họ có thể ngồi với nhau ca hát ở ngoài đồng ruộng, sân vườn, trong nhà hay bất cứ nơi đâu, cùng nhau nhâm nhi từng ly trà, chén rượu, thỏa lòng đam mê, giao lưu ca hát sau những ngày làm việc, lao động vất vả….Chính vì vậy, có thể nói đờn ca tài tử là một môn nghệ thuật dân gian truyền thống mang đậm nét dân dã, mộc mạc, chân phương và gần gũi với người dân. Tôi sinh ra và lớn lên tại Vĩnh Kim, Châu Thành, Tiền Giang. Gia đình tôi sinh sống tại mảnh đất này qua bao thế hệ, ông bà, cha mẹ, anh chị em của tôi đều rất yêu thích bộ môn cải lương, đờn ca tài tử. Từ nhỏ tôi đã được nghe những điệu hò, câu hát, những vở cải lương, những bài vọng cổ, có lẽ chính vì thế nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức và làm tôi đam mê, yêu thích dòng nhạc này. Tôi rất thích hát và thích nghe dòng nhạc tài tử, những giai điệu của 20 bài tổ, những tuồng cải lương, những câu vọng cổ, từng tiếng đàn, lời ca mang những nét gần gũi, chân chất, bình dị, mộc mạc, đậm chất vùng đất Nam Bộ. Đi đến đâu tôi cũng muốn giới thiệu, quảng bá bộ môn nghệ thuật này vì nó là “đặc sản”, là niềm tự hào của miền Tây quê hương mình. Nói về nghệ thuật đờn ca tài tử thì không thể nào không nhắc đến GS.TS Trần Văn Khê. Ông cũng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về nghệ thuật đờn ca tài tử đến khắp nơi trong và ngoài nước và là người góp phần đưa đờn ca tài tử vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Qua đó thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã tồn tại hơn một thế kỷ qua và có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ. Đây là loại hình di sản văn hóa phi vật thể mang tính dân gian, truyền miệng rất độc đáo, là món ăn tinh thần và đặc trưng của người dân Nam Bộ. Đờn ca tài tử thể hiện trí tuệ, tâm huyết, tình cảm và sáng tạo của nhiều thế hệ nghệ sĩ, tạo nên một nền âm nhạc truyền thống dân tộc mang nội dung, tư tưởng tiến bộ, phản ánh “cái đẹp” trong cuộc sống xã hội, ngợi ca tình yêu quê hương, đất nước, tưởng nhớ tri ân các anh hùng dân tộc, góp phần giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống con người theo các giá trị chân – thiện – mỹ, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển phong phú và đa dạng cho kho tàng văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta hãy cùng chung tay bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật Đờn ca tài tử, góp phần giữ gìn những bộ môn nghệ thuật truyền thống, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam./.

Vĩnh Kim – Châu Thành – Tiền Giang, 07/2021

Phan Thị Huyền Trân

Thí sinh Mai Thị Huyền – 014 : CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ &ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAMNHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Nguyễn Quốc Thệ

1thSponsoeorrued  · 💧♥️Thí sinh Mai Thị Huyền – 014

CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ &ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAMNHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

1. Cuộc đời và sự nghiệpLời nói đầu tiên, cho em xin gửi lời chào và lời chúc sức khỏe đến quí vị anh chị và bạn đọc. Em tên là Mai Thị Huyền – một người con đến từ mảnh đất miền Trung yêu thương – Quảng Ngãi. Hiện nay là sinh viên năm hai, chuyên ngành Quản trị dịch vụ Du lịch và Lữ hành, trường Đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Bản thân được sinh ra và lớn lên nơi chịu ảnh hưởng của thiên tai khắc nghiệt, không vì thế mà bản thân em chịu quất phục khó khăn ấy. Trong lòng luôn có một tình yêu mãnh liệt với âm nhạc truyền thống, bởi đó là thứ tạo cho em niềm tin, sự lạc quan và yêu đời. Tuy không được có giọng hát trời phú, không ngọt ngào, uyển chuyển nhưng đâu đó em tìm thấy được chính mình trong những bản nhạc du dương. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất Ban tổ chức đã tạo ra một sân chơi thú vị, hấp dẫn và đầy bổ ích không chỉ cho sinh viên nói riêng mà tất cả mọi người yêu âm nhạc truyền thống nói chung. Đối với bản thân em, một sinh viên còn ngồi trên ghế giảng đường không những được tiếp xúc với những kiến thức chuyên môn mà bên cạnh đó còn được bồi dưỡng tình yêu dành cho nghệ thuật. Với sự năng động, sự nhiệt huyết của tuổi trẻ luôn bắt kịp xu hướng của thời đại hội nhập nhưng vẫn dành riêng một thứ gọi là tình yêu âm nhạc truyền thống cho riêng mình. Để có thể truyền tình yêu ấy đến tất cả mọi người, bằng sự hiểu biết của mình, em xin chia sẽ về cuộc đời và sự nghiệp của cố Giáo sư Trần Văn Khê, cũng như Nhã nhạc cung đình Huế.

Cái tên Trần Văn Khê đã quá đổi quen thuộc với người dân Việt Nam. Người ta biết đến ông không chỉ bởi ông có tình yêu bất diệt với âm nhạc truyền thống mà còn là sự đóng góp to lớn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Cố Giáo sư Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Từ nhỏ ông đã được tiếp xúc với nhạc cụ truyền thống từ năm lên 6 tuổi như đàn kìm, đàn cò, đàn tranh… được cô Ba Viện và cậu Năm Khương dạy cho. Ông sinh ra vào những năm chiến tranh đau thương không tránh khỏi những mất mát người thân. Năm lên 9 tuổi, ông đã mồ côi mẹ, một năm sau cha ông vì quá thương vợ cũng đã qua đời năm 1931. Ông cùng hai người em nữa được cô Ba Viện nuôi nấng khôn lớn. Tuy mồ côi từ nhỏ, nhưng ông học rất giỏi đậu tú tài phần nhất năm 1940 đến năm 1941 ông lại đậu thủ khoa phần nhì. Với tình yêu dành cho âm nhạc từ nhỏ, ông cùng hai người bạn lập dàn nhạc của trường và một dàn nhạc của học sinh mang tên Scola Club của hội SAMIPIC, cả hai dàn nhạc ông đều là người chỉ huy. Năm 1943, ông cưới vợ và sau đó có một người con trai là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng. Sự kiện đánh dấu tên tuổi của cố Giáo sư Trần Văn Khê vào tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: « LaMusique vietnamienne traditionnelle » (Âm nhạc truyền thống Việt Nam) – ông là người Việt Nam đầu tiên được Đại học Sorbonne. Đó là lần đầu tiên âm nhạc Việt Nam được bạn bè trên thế giới biết đến rộng rãi. Cuộc đời ông đã đi rất nhiều nước trên thế giới con số đó đã đạt 67 nước để nói về các chuyên đề cũng như cho việc giảng dạy âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau nhiều năm sống và giảng dạy ở Pháp, ông cũng đã quay về mảnh đất hình chữ S thân thương. Năm 2009, ông là một trong những trí thức nổi tiếng ký vào thư phản đối dự án Boxit ở Tây Nguyên. Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

Suốt cuộc đời của cố Giáo sư Trần Văn Khê đã công hiến cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam và để lại cho đời một cái tên Trần Văn Khê với tình yêu, niềm tin mãnh liệt với âm nhạc cổ truyền. Cùng với đó là những giải thưởng đáng để người đời khâm phục như: giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest (1949); Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique) (1981); Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; viện sĩ thông tấn (1993); Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam (1998)… và gần đây nhất vào năm 2011 cố Giáo sư Trần Văn Khê được giải thương Phan Châu Trinh về nghiên cứu.

2. Nhã nhạc cung đình Huế

“Cố Đô nhân từ như ánh mắt Quan Âm

Hương Giang dùng dằng không muốn rời xứ Huế

Trường Tiền ghim sâu trong lòng bao dâu bể…

Thiên Mụ già khắc năm tháng rêu phong!

Đại Nội im lìm khép kín thâm cung

Người hôm nay tìm hôm qua để sống

Mặt trời Ngọ môn đã từ lâu tắt ngấmTa khoác

Long bào hoài niệm buổi chầu xưa!”

(Tân hôn cố đô – Phan Thúc Định)

Huế là vùng đất thuộc Duyên hải miền Trung, có diện tích khá khiêm tốn nhưng lại là nơi mà bất kì ai khi đặt chân đến Huế rồi lại muốn quay trở lại thêm lần nữa. Bởi lẽ cố đô Huế là vùng đất của những kiến trúc trầm mặc với cung điện, đền đài hàng trăm năm tuổi cùng nền ẩm thực đặc sắc chứa đựng hồn quê, tinh túy của dãy đất miền Trung. Cố đô Huế còn mang cho mình một nét đẹp di sản đặc biệt. Đó chính là “Nhã nhạc cung đình của Huế” – nét văn hóa đặc sắc đã được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới phi vật thể của nhân loại vào tháng 11 năm 2003.

Nhắc đến thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ cung đình người ta thường nhắc đến Nhã Nhạc Cung Đình Huế với lời hát tao nhã, điệu thức cao sang, quý phái. Được ra đời vào triều Lý (1010-1225) và hoạt động một cách quy củ vào thời Lê (1427-1788), là loại hình nhạc mang tính chính thống, với quy mô tổ chức chặt chẽ. Các tổ chức âm nhạc được thành lập, đặt dưới sự cai quản của các nhạc quan. Đến thời triều Nguyễn (1802-1945), âm nhạc cung đình phát triển trở lại. Triều đình Nguyễn quy định 7 thể loại âm nhạc, gần giống với các thể loại của triều Lê, bao gồm Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung nhạc.

Nhã Nhạc Cung Đình Huế thường biểu diễn chung với múa cung đình. Múa cung đình triều Nguyễn rất phong phú như: long, ly, quy, phượng, múa đèn, múa quạt, bát tiên quá hải, bát tiên đăng vân, nhị tướng xuất quân. Đặc sắc nhất là múa “Lục cúng hoa đăng” và “Lân mẫu xuất lân nhi”… Đây là những điệu múa rất độc đáo thể hiện rõ bản sắc văn hoá Việt Nam. Tiết mục nào cũng trang nghiêm không có chút trần tục và đều mang tính nghệ thuật cao, cùng với Nhã nhạc tạo nên một sân khấu thiêng liêng và bác học khó có dàn nhạc nào sánh nổi.

Tháng 12/2003, Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Ngày 31/1/2004 tại Paris thủ đô nước Pháp, lễ đón Bằng công nhận đã được tổ chức. Đây là lần đầu tiên, Việt Nam có một kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu được UNESCO công nhận – một vinh dự to lớn cho cả dân tộc Việt Nam nói chung và Huế nói riêng.

Giờ đây, Nhã Nhạc Cung Đình Huế không chỉ là vốn quý của dân tộc Việt Nam mà còn là tài sản vô giá của loài người. Với những giá trị nổi bật, Nhã Nhạc Cung Đình Huế chắc chắn sẽ tiếp tục được giữ gìn và bảo tồn một cách hiệu quả, góp phần cùng với các loại hình di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam khẳng định vị thế của một dân tộc, một quốc gia giàu truyền thống văn hóa trong khu vực và thế giới.

Bản thân em là một sinh viên – một thế hệ tương lai của đất nước, ngoài việc ra sức học tâp, làm một công dân tốt mà còn phải phấn đấu cũng như giữ gìn những giá trị dân tộc mà các thế hệ đi trước để lại. Trong đó, có cả âm nhạc truyền thống – thể loại âm nhạc đã đi vào lịch sử nền âm nhạc Việt Nam. Để giờ đây, sao bao nhiêu thế kỷ nó vẫn trường tồn với thời gian. Em ơn cảm ơn cố Giáo sư Trần Văn Khê – người đã để lại cho con cháu những hiểu biết quý giá về âm nhạc truyền thống cũng như tình yêu mà ông đã dành cả quãng đời mình. Em cảm ơn Ban tổ chức đã cho em cũng như những người yêu âm nhạc truyền thống có dịp được trải lòng mình với âm nhạc quê hương. Em xin cảm ơn bạn đọc đã dành chút thời gian đọc bài viết này, em mong rằng dù bài viết không được trôi chảy nhưng phần nào đem lại cho bạn đọc những cảm xúc mới đối với âm nhạc truyền thống, cũng như là thong điệp lan rộng đến mọi người trân trọng và gìn giữ bản sắc dân tộc âm nhạc truyền thống đến với bạn bè năm châu.Một lần nữa em xin cảm ơn Ban tổ chức và chúc cho “CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ & ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM, NHÂN DỊP 100 NĂM NGÀY SINH GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ” thành công tốt đẹp!

Quảng Ngãi, tháng 7 năm 2021

Mai Thị Huyền