Thí sinh Trần Hoài Duy – 005 – TÌM HIỂU VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ CÙNG VỚI NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CÂU HÒ ĐIỆU LÝ

Nguyễn Quốc Thệ

2tSiponosorhhned  · 💧♥️Thí sinh Trần Hoài Duy – 005

💧♥️TÌM HIỂU VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ CÙNG VỚI NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CÂU HÒ ĐIỆU LÝ

01/ Cuộc đời và sự nghiệpTôi tên là Trần Hoài Duy – Biên tập viên Phòng Văn nghệ – Giải trí – Quốc tế của Đài Phát thanh Truyền hình và Báo Bình Phước. Tôi làm làm trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ nên từ lâu đã nghe danh và mến mộ Giáo sư Trần Văn Khê. Tôi rất thích xem những video clip về ông. Tôi cực kỳ ngưỡng mộ kiến thức uyên bác của ông mà hơn thế nữa, tôi say mê cách ông truyền đạt. Những gì ông nói nó cuốn hút người nghe bởi nội dung hay, bởi hình thức đẹp và bởi ông gửi vào đó là cái tâm và cái tầm cao cả của mình. Tôi cảm ơn Giáo sư đã truyền cảm hứng cho cá nhân tôi và hàng triệu người khác ở Việt Nam và trên thế giới để đi vào tìm hiểu và tìm thấy cái đẹp của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam – Nền âm nhạc xứng tầm đứng cạnh bất kỳ nền âm nhạc nào trên thế giới.

Giáo sư tiến sĩ Trần văn Khê, một người con ưu tú của dân tộc, nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam, tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, là thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc quốc tế, UNESCO. Ông sinh ngày 24-7-1921 và mất ngày 24-6-2015. Với trình độ uyên thâm và một bề dày nhất định am hiểu về văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam và có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, ông đã đưa âm nhạc Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

Trần Văn Khê sinh tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương, người tướng kiên cường, có công chỉ huy quân dân ta kháng cự quân xâm lược Pháp. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó là Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm. Năm lên 6 tuổi ông đã được dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ».Năm 1931, Trần Văn Khê đậu cấp tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán. Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Trong cuộc sống vốn có nhiều điều kỳ lạ và việc chàng thanh niên Trần Văn Khê đi học ngành y rồi quay lại được với âm nhạc là như thế. Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học Y khoa. Được học tại đây là niềm vinh dự vô cùng lớn. Chàng y sinh Nam kỳ điển trai, hồn hậu, giàu năng lượng sớm nổi tiếng ở đất Bắc kỳ. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng , Nguyễn Thành Nguyên hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương. Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, thuộc Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

Hơn nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp và khắp nơi trên thế giới, ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại quê hương từ năm 2006. Đó là tâm nguyện lớn của ông. Bởi lẽ, mấy mươi năm đem chuông đi đánh xứ người, đem tiếng lòng dân tộc Việt Nam cho thế giới biết, ông lúc nào cũng nặng lòng với đất mẹ – làm sao để giới trẻ yêu thương mà giữ gìn âm nhạc của tổ tiên. Năm 2000, tại Đại học Hùng Vương, ông xúc động nói khi đứng trước mấy trăm sinh viên: “Hôm nay, Thầy rất hạnh phúc vì lần đầu tiên chính thức dạy âm nhạc truyền thống Việt Nam cho sinh viên Việt Nam trên quê hương Việt Nam”. Khi quyết định hồi hương, ông đã tặng cho TP. Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Về gia đình, GS Trần Văn Khê có bốn người con: GS Trần Quang Hải cũng là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TP Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris. Như vậy, Giáo sư Trần Văn Khê đã có người nối dõi tông đường và tiếp truyền sự nghiệp của dòng họ – sự nghiệp âm nhạc và giữ gìn nền quốc nhạc. Tôi được biết trong cuộc thi này, Trưởng BGK là Giáo sư Trần Quang Hải. Giáo sư có gương mặt rất giống cha mình, giọng nói và điệu bộ cũng vậy. Tôi không có cơ hội diện kiến Giáo sư Khê nhưng tôi nhất định sẽ tìm cơ hội gặp Giáo sư Hải để thỏa lòng ngưỡng mộ khi tôi biết chắc chắn ông thường xuyên về thăm quê hương.

Với mong muốn đưa văn hóa cũng như âm nhạc dân tộc Việt Nam ra khắp thế giới, ông đã dành trọn cả cuộc đời của mình để nghiên cứu, tìm hiểu, chắt lọc những giá trị tinh hoa để đưa âm nhạc dân tộc thành sách vở, công trình, bài giảng để dễ dàng nhạn thức và học tập. Gần 70 nước trên thế giới mà ông đã đi qua lồng vào việc giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam thì ông còn dùng cách nói chuyện để tạo sự gần gũi và dễ hiểu hơn, điều đó đã cho thấy sự cống hiến của ông to lớn như thế nào đối với việc bảo tồn văn hóa, âm nhạc dân tộc Việt. Ông không bao giờ chỉ biết đề cao cái hay của dân tộc mình mà luôn muốn kể ra để cho người hiểu và trên tinh thần luôn cầu thị lắng nghe để đối chiếu mà làm gia tăng giá trị âm nhạc của Việt Nam và các quốc gia.

Năm 2006, ông chính thức trở về nước sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cố gắng cùng những thân hữu triển khai chương trình đưa âm nhạc truyền thống đưa vào học đường. Căn nhà số 14 Huỳnh Đình Hai quận Bình Thạnh trở thành nơi đi về của biết bao nhiêu bạn bè và học trò. Ông di chúc hiến tặng toàn bộ tài liệu cho đất nước và có di nguyện muốn thành lập Trung tâm Trần Văn Khê nhưng khi ông mất thì không được toại nguyện. Hiện tại, có một Quỹ học bổng mang tên Trần Văn Khê để dành tặng phần thưởng cho những hậu nhân có công nghiên cứu, giữ gìn và phát huy âm nhạc dân tộc. Rất mong nhiều người cùng đóng góp để Quỹ được phát triển và có cơ hội phát huy những mục đích tốt đẹp.

Năm 2021 là tròn 6 năm ngày mất và 100 năm ngày sinh của Giáo sư Trần Văn Khê. Nhớ về ông là nhớ về một con người cả cuộc đời đã chuyên chú tâm sức cho việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Pháp và khắp mọi nơi trên thế giới. Với những sự cống hiến đó ông đã từng được nhiều nước trao tặng những giải thưởng: Giải thưởng lớn Hàn lâm Viện Ðĩa hát Pháp, Giải thưởng Ðại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc nhạc học năm 1960 và 1970. Năm 1975 được trao tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Ðại học Ottawa (Canada); Năm 1981, Giải thưởng lớn về Âm nhạc UNESCO và Hội đồng quốc tế Âm nhạc; Năm 1991, được tặng Huân chương Nghệ thuật và Văn chương Cấp Officier, của Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp; Năm 1995, Giải thưởng quốc tế về Dân tộc nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật); Năm 1999, Tiến sĩ danh dự về Dân tộc Nhạc học Ðại học Moncton (Canada). Trong nước thì GS Trần Văn Khê đã được trao nhiều giải thưởng cao quý như: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam (1998), Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương trao (1999), Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng (2003), Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu (2011) (Nguồn báo nhân dân). Có thể nói ông là một người Việt Nam giành được vô vàn tình cảm yêu quý của bè bạn năm châu bởi ông đi đến đâu cũng mang đến lời ca tiếng hát ngân nga, yêu thương, hòa bình, kèm theo đó là nụ cười hồn hậu và chất giọng ấm trầm không thể lẫn với ai được.Tham gia cuộc thi này, tôi thấy BTC đặt tên những giải thưởng rất hay như Giải nhất “Vinh danh truyền thống âm nhạc”, Giải nhì “Lưu giữ truyền thống âm nhạc”, Giải ba “Phát triển truyền thống âm nhạc”, Giải tư “Ái mộ truyền thống âm nhạc”. Qua đó nói lên được mục đích cuối cùng của cuộc thi thú vị này. Tôi tiếc rằng không được gặp ông lần nào khi sinh thời. Tôi mới tìm hiểu qua thì được biết tên ông đã được đặt cho một con đường ở quận Bình Thạnh – Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi nhất định sẽ đi trên con đường đó khi hết dịch covid-19 xem như được một lần thấy tên Trần Văn Khê.

Những lời ca ngợi bên trên không thể nào nói hết về một nhân vật lớn của nền quốc nhạc Việt Nam. Xin thành kính gửi đến hương hồn giáo sư Trần Văn Khê lời hứa là chúng con sẽ tiếp nối việc giữ gìn di sản ngàn đời của cha ông mình. Riêng cá nhân tôi xin kính gửi đến những người yêu kính, ái mộ ông một bài lý Cái Mơn nhắc đến công lao của ông trong phần dự thi video clip

.2/ Nguồn gốc, ý nghĩa của Hò và Lý Đối với mỗi quốc gia, dân tộc, khi mà nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và khoa học kỹ thuật đang chứa đựng trong nó những giá trị mang tính toàn cầu thì văn hóa nói chung và âm nhạc cổ truyền dân tộc nói riêng là khẳng định sự tồn tại một cách ý nghĩa nhất của quốc gia, dân tộc đó.

Là một thành tố quan trọng cấu thành văn hóa, âm nhạc cổ truyền dân tộc với những giá trị tiềm ẩn mang tính bản sắc văn hóa thật sự là “chứng minh thư” của một dân tộc trong xu thế hội nhập mang tính toàn cầu. Âm nhạc cổ truyền dân tộc ra đời và tồn tại như một thành tố quan trọng, thiết thân và không thể thiếu được của sinh hoạt văn hóa dân gian, gắn bó với mỗi con người từ thuở lọt lòng trong lời ru của mẹ rồi lớn lên là những bài đồng dao cho đến khi trưởng thành là hò, là lý.

Ai mà không lớn lên với những câu ca của mẹ, của bà:

“Ạ ời, ạ ơi …Con cò là cò bay lả lả bay la

Bay từ là từ ruộng lúa bay ra là ra cánh đồng

Tình tính tang là tang tính tình

Chăm học hành vâng lời thầy cô

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng..

Con cò là cò bay lả lả bay la

Bay từ là từ ruộng lúa bay ra là ra cánh đồng

Tình tính tang là tang tính tình

Chăm học hành vâng lời thầy cô

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng” (Lời hát ru Bắc bộ)

“À ơ … Cầu Tràng Tiền sáu vại mười hai nhịp

Thương nhau rồi xin kịp về mau

Kẻo mai tê bóng xế qua cầu

Bậu còn thương bậu mà dạ sầu bấy nhiêu”

“A ơ, . . . Chiều chiều mà ngóng chiều chiều

Cha đi đánh cá biết điều rủi may

Mong cha về kịp chiều nay

Mẹ đem con cá nấu ngay canh dầm” (Lời hát ru Trung bộ)

“Ầu ơ, … Dí dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời”

“Ầu ơ, … Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau”

“Ầu ơ, … Trời mưa bong bóng phập phòng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai, ầu ơ …” (Lời hát ru Nam bộ)

Trong âm nhạc dân gian Việt Nam có rất nhiều làn điệu dân ca với lời ca mộc mạc, chân thành giản dị phản ánh đúng những nét đặc trưng của con người, văn hóa, phong tục, địa lý,… của đất nước Việt Nam, trải dài suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Hò là một thể loại diễn xướng nhạc điệu phổ biến trong đời sống Việt Nam từ cổ đại, khởi nguồn từ tập quán sinh hoạt vùng chiêm trũng, diễn tả tâm trạng của người lao động. Một người hò cho đại diện một tập thể đông người cho cùng một việc hay một mình tự sự, sâu lắng, dàn trải. Trong sinh hoạt những đêm trăng những nhóm con trai đi chơi, thường cất lên những điệu hò để dò hỏi những cô gái về những công việc. Điệu hò giao duyên giữ hai bên đối đáp lại nhau, người con gái hay một nhóm sẽ hò đáp trả lại khi đó. Trên sông nước khi đi ghe hay đò, người hò (có thể con trai hay con gái) thường hò diệu giao duyên giữa hai chiếc ghe, thuyền, đò gần nhau.

Người con trai:

“Hò ơ, hỡi cô cắt lúa áo hồng

Cô bên đám đó có chồng hay chưa?

Nếu mà cô chữa có chồng

Cho đây với đó đẹp lòng nột đôi”

.Người con gái:

“Hò ơ, hỡi anh gánh lúa bên đồng

Nghe anh có hỏi em chồng hay chưa?

Anh hỏi em phải dạ thưa:

Chồng em chưa có mà đã năm con”

.Hò và Lý nghe qua thì có phần giống nhau nhưng Hò thường gắn liền với một động tác khi làm việc còn Lý thì không. Nói cách khác Lý khác với Hò vì Lý không gắn liền với một động tác lao động hay giao duyên. Tuy nhiên Lý có nhạc tính cố định hơn Hò, câu hát đều đặn, trong khi Hò có thể thêm câu dài câu ngắn, tùy người hát.Các điệu Lý thường được lấy tên từ các loại cây trái, bông hoa, chim thú, cá nước, bánh trái hoặc các vật dụng quen thuộc, các phương tiện lao động hàng ngày, hay các nhân vật tầng lớp trong xã hội, đến các phong tục, lễ nghi, hội hè. Như Lý cây khế, Lý cây mù u, Lý con mèo, Lý con sam, Lý bờ đắp, Lý chim thằng chài… Có những tên điệu Lý nghe rất lạ như: Lý cháo Lý cơm, Lý nón treo, Lý xôi vò, Lý cơm khô Lý cơm cháy, Lý ông Thôn, Lý chú Chệt, Lý bập boòng boong… Qua đó, chúng ta thấy tên các điệu Lý đều xuất phát từ những đồ vật, sự kiện, cảnh vật hoặc những nhân vật có thực trong đời sống của người lao động. Bất cứ cái gì họ gặp, họ thấy, họ biết đều có thể trở thành điệu Lý. Xuất phát từ lao động mà hình thành nên những điệu Lý, vì thế trong lúc đang lao động người ta cũng hát Lý được với nhau, lúc nghỉ ngơi cũng ngân nga các điệu Lý. Đó là cách bày tỏ tâm sự, nói lên tình cảm lạc quan, ước mơ, khát vọng của mình trước cuộc sống.

“Trèo lên cây khế mà rung,

khế rụng đùng đùng không biết khế ai?

Khế này là của ông cai,

khế chưa mà có trái, chị hai đi lấy chồng. Anh hai đi lấy chị hai, mâm trầu và hủ rượu hết 20 hào. Nào tiền mua chả mua nem, mua một đôi đèn cho họ ngồi mâm. Ông cai ông ký ngồi trên, hai bên mà ngồi giữa xứng đôi họ hàng” (Lý Cây khế).

Đặc biệt Lý Nam bộ ta thấy rằng hầu như đều có hình bóng con sông, bến nước, làng quê với những giai điệu thật trữ tình, tha thiết, luôn chứa đựng tình cảm của người dân phương Nam luôn nhớ về quê hương, nhớ về ký ức của lứa đôi quê nhà. Ví dụ như lời ca trong điệu Lý Cái Mơn: “Đàn cò bay về nơi thương nhớ. Nhớ bến sông xưa in hình bóng của người yêu… Thuyền tình ơi hãy chờ đợi ta bao tháng năm trôi qua. Nhưng người xưa vẫn luôn ngóng đợi tình chung”. Không gian làng quê hiện ra trong điệu Lý Cái Mơn rất thơ mộng, lãng mạn với nỗi hoài niệm man mác…

Lý thể hiện tinh cảm trong quan hệ giữa người với người: tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, bạn bè; thể hiện tinh thần lạc quan và yêu thương cuộc đời; ca ngợi cuộc sống và khát vọng hạnh phúc của con người… nó như một di sản tinh thần nuôi dưỡng, vun đắp tâm hồn của mỗi con người chúng ta. Lý là một thể loại âm nhạc dân gian với những nét đặc trưng vốn có, là kho tàng vô giá của một trong những làn điệu dân tộc cần gìn giữ và phát huy.Tôi vốn rất đam mê ca hát, nhất là dòng nhạc quê hương, tôi cũng có nhiều sáng tác phổ biến. Dòng nhạc quê hương dĩ nhiên mang rất nhiều chất liệu âm nhạc dân tộc. Tôi sẽ nghiên cứu sâu hơn về dân ca để những sáng tác của mình mang tính quê hương và được nhiều người đón nhận. Tôi luôn khát khao “Vinh danh truyền thống âm nhạc” Việt Nam mình!

Trân trọng cảm ơn BTC và BGK!BTV

Trần Hoài Duy – Đài Bình Phước

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.