Jour : 11 juillet 2021

Thí sinh Đào Hiệp Thành – 004: CỔ NHẠC VỚI THẦY TRẦN VĂN KHÊ –MỘT CUỘC GẶP LẠI TUY LẠ MÀ QUEN

♥️

CỔ NHẠC VỚI THẦY TRẦN VĂN KHÊ –MỘT CUỘC GẶP LẠI TUY LẠ MÀ QUEN

Nguyễn Quốc Thệ

1tS4nehhdponsored  · 💧♥️Thí sinh Đào Hiệp Thành – 004

💧♥️CỔ NHẠC VỚI THẦY TRẦN VĂN KHÊ –MỘT CUỘC GẶP LẠI TUY LẠ MÀ QUEN

1.Vào những ngày đầu hè tháng 4 năm 2020 khi gặp khó khăn, trục trặc trên con đường học vấn tại một trường đại học kỹ thuật ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi cảm thấy ngột ngạt và khó chịu vô cùng. Tôi quyết định từ bỏ và cho mình một thời gian nghỉ ngơi để bình tâm, hồi hướng lại xem mình đã thực sự đi đúng hướng chưa hay là chỉ đang phiêu lưu với một ngành ổn định và là ngành kiếm ra tiền để có cuộc sống tốt hơn nhưng không thực sự phù hợp với khả năng của mình. Khi đã tự cho mình nghỉ ngơi, đa số thời gian tôi dùng để đi làm thêm và nghe lại những bản ca cổ, những khúc “Đại nhạc”, “Tiểu nhạc” cung đình. Ồ thì ra mình từng có đam mê với quốc nhạc đến thế ư, mình đã từng say mê theo dòng lịch sử dân tộc đến vậy sao, mình đã từng tự hào rằng trong lớp chỉ có một mình mình có thể nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam?

Tôi nhớ lại, khi đi học, tôi là một đứa không giỏi tính toán và các môn khoa học tự nhiên cho lắm, cũng ở mức tạm được nhưng tôi lại giỏi về văn chương và lịch sử, tôi có niềm yêu thích những gì cổ kính, qua lời kể của mẹ, những cuốn sách của ông ngoại, tôi thấy được lịch sử hào hùng của dân tộc cùng với nền văn minh rực rỡ của người Việt trải hàng 4000 năm. Điều đó khiến tôi có ao ước trở thành một nhà sử học, truyền thống học sẽ đem quảng bá Việt Nam ra khắp thế giới với đầy đam mê và nhiệt huyết. Nhưng đời sống phũ phàng, gia đình khó khăn, với tư duy nông cạn và non nớt của một cậu thanh niên mới lớn, tôi không nghĩ được gì nhiều, tôi nghĩ mê thì mê thật nhưng ngành xã hội thì không kiếm được tiền phụ giúp gia đình với xã hội hiện tại, nên tôi đã thi vào một ngành kỹ thuật và ước mơ đã tắt từ khoảnh khắc ấy. Cho tới khi tôi nghe lại và cảm nhận sâu sắc mạch sống đang ùa về thì tôi thấy một video clip của thầy Trần Văn Khê nói chuyện về âm nhạc dân tộc trong chuyến về nước năm 1993, tôi đã thấy một sự quen quen đến lạ lùng. Vì hình như trong quá khứ khi mới được gieo những mầm non tự hào dân tộc thì tôi đã có nghe thầy rồi, tôi nghe thầy khi thầy nói chuyện về chữ nhà trên đài truyền hình, tôi nghe thầy nói về phong cách ăn của người Việt trong một chương trình khác tôi đã rất thích và thấy thú vị nhưng với tâm hồn non nớt của tôi lúc đó vẫn chưa thể hình dung được thầy vĩ đại đến mức nào.

Trở lại với hiện tại khi tôi nghe buổi nói chuyện của thầy xen lẫn cảm giác quen thuộc vì cái giọng miền nam rặc của thầy là cảm giác ngưỡng mộ và như có dòng điện chay qua người tôi vậy. Tôi như sống lại và bắt gặp lại chính mình vì tôi được nghe những thanh âm thỏa mãn tôi. Tôi cảm phục vì thầy nói hay quá, ở đây không thể dùng từ gì nữa để diễn tả tài năng của thầy được nữa vì thầy đã ở cái tầm siêu việt rồi. Nhưng đối với tôi thì lần đầu tiên trong đời tôi hiểu và yêu quốc nhạc Việt Nam tới thế. Lần đầu tiên tôi biết phân biệt các loại hình âm nhạc truyền thống, lần đầu tiên tôi được khai thị và sung sướng khi nghe một buổi nói chuyện, tôi như sống lại một cách mạnh mẽ và tìm ra được lý tưởng cho đời mình. Một cuộc gặp gỡ tình cờ tuy quen mà lạ, tuy lạ mà quen và đó là ấn tượng sâu sắc nhất thầy Trần Văn Khê đã để lại trong tôi, tuy chưa bao giờ có diễm phúc được gặp thầy và học thầy nhưng thật sâu trong tâm khảm tôi thấy như được là học trò của thầy, trong lúc tuyệt vọng bất an nhất, thầy đã xuất hiện kịp thời nói cho tôi nghe và đã vạch ra con đường cho tôi tiếp tục cố gắng và phấn đấu. Không chỉ qua lời nói và đam mê động lực bình thường, mà qua hành động và cuộc đời của thầy, đi sâu vào tìm hiểu cuộc đời của thầy tôi thấy dường như có điểm tương đồng và đồng cảm sâu sắc. Thầy là trẻ mồ côi từ nhỏ, tôi cũng mất cha từ năm lên 8, thầy chăm nuôi các em ăn học, tôi cũng phải có một phần trách nhiệm gánh vác gia đình. Đặc biệt, thầy bỏ ngành y để theo học cái mình thích, tôi cũng đang trên bờ vực của sự từ bỏ ngành học của mình.

Còn trung hợp hơn nữa là thầy đã học ở Sorbone Pháp cũng chính là nơi tôi được đi trao đổi một năm. Hai con người, hai thời đại nhưng tôi tưởng chừng như tôi được có sự dự phần vào mối dân liên kết với thầy, cũng như trong một duyên kỳ ngộ thầy đã linh thiêng mà kéo tôi về với hồn cốt dân tộc, tôi luôn thầm cảm ơn và nguyện hương linh thầy luôn phù hộ tôi và phù hộ hết những ai đang trên con đường “ Quang hưng quốc nhạc “ của thầy. Sau lần tiếp xúc đầy bất ngờ như kéo tôi về từ địa ngục đó, tôi đã đăng ký vào trường đại học Văn Hóa cũng như thường xuyên lui tới thư viện của Nhạc Viện thành phố. Đêm đêm, tôi tìm tòi học hỏi nghiên cứu thêm về thầy, càng nghiên cứu tôi càng thấy lôi cuốn hấp dẫn, không chỉ có vậy thầy còn chỉ hướng cho tôi tìm tới một cây đại thụ nữa mà theo thầy người này “Vừa là thầy, vừa là bạn vong niên“. Đó là giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Tôi thật sự cảm kích, nể phục và tôn quý nhị vị đại thụ này biết bao. Tôi say đắm trong sự lãng du âm nhạc Việt cũng như tịnh tâm quán tưởng trong cái sự hán nôm thâm trầm. Từ đó đã giúp tôi hoàn thành khóa luận :” Văn hóa giao tiếp của người Việt qua Quốc Nhạc”. Và tôi cũng đã dám khẳng định và nói về thầy trong buổi bảo vệ khi giáo sư của trường Văn Hóa nói rằng những điều mà thầy dạy chỉ là một quan điểm của một nhà nghiên cứu mà thôi, mỗi nhà nghiên cứu sẽ có nhận định khác nhau. Tôi thì không nghĩ vậy vì với tầm vóc của một con người được cả thế giới công nhận thì những gì thầy nói đã được bảo chứng không thể nào là tùy tiện được. Những việc tôi làm và trải qua chẳng là gì đối với con người vĩ đại như thầy nhưng mong đó là những tâm tình ái mộ thầy sâu sắc. Xin kính dâng một nén tâm hương lên Thầy Trần Văn Khê – Người đã kéo cuộc đời con ra khỏi sự u tối!

2.Về những kiến thức thâm sâu về nhạc học của thầy thì nhiều vô tận nhưng đối với tôi một người con gốc Bắc tôi vẫn cảm tưởng gần gũi và tha thiết cũng như càng mến yêu hơn khi thầy nói về Ca Trù và Đàn Đáy. Đầu tiên phải nói rằng Ca Trù là một ngôi nhà mà trong đó chứa đựng cả một gia tài nhạc học âm học và thanh nhạc đất Bắc mà cũng là tạo ra nét giá trị đặc trưng của Việt Nam khác biệt với các nước khác và có thể sánh ngang với các cường quốc có nền âm nhạc lâu đời và phát triển. Chỉ có ba người với ba nhạc khí thôi mà đã làm cho không biết bao nhiêu thế hệ đã say mê ngày đêm. Đầu tiên nói về lời ca tiếng hát đã là một pho chân giá trị nhạc học thể hiện qua giọng ca đầy nội lực và điêu luyện của ca nương gồm các kỹ thuật “Ém Hơi, Nẩy Hạt, Nhả Chữ, Đổ Con Kiến“ tất cả những nghệ thuật đó trên thế giới không đâu có mà chỉ có ở Việt Nam mới có. Nó khác hẳn Yoneins của Thụy Sĩ, khác hẳn Taskhia của Ba Tư. Như vậy tạo nên những âm sắc đặc trưng nghe như nghẹn cổ như ém hơi nhưng lại rất tròn vành rõ chữ. Cái đặc trưng tiếp theo là cỗ phách cũng rất khác và đặc trưng ở chỗ 2 cái dùi gõ được chia ra làm phách con và phách cái khi đánh lên tạo ra hai âm điệu khác nhau, một tiếng đục một tiếng trong, một tiếng trầm một tiếng bổng, một tiếng âm một tiếng dương mà chưa có cái loại nhạc khí bộ gõ nào trên thế giới làm được điều như vậy. Nó phù hợp với thang âm đặc trưng của Ca Trù. Nó không phải là thang ngũ cung cũng càng không phải là thang âm quân bình mà nó là thang âm đặc trưng rất Ca Trù gồm quãng ba trung bình giữa thứ và trưởng tạo nên âm sắc độc đáo cho Ca Trù. Nói tới Ca Trù thì không thể không nói tới “ Đàn Đáy “ một nhạc khí đặc trưng mang tính chất dân tộc và của Việt Nam chứ không nước nào có. Cái độc đáo ở chỗ cây đàn có cần đàn rất dài nhưng phím đầu tiên lại nằm ở giữa thân đàn với ngựa móc dây đàn. Đàn chỉ có 3 dây gồm dây hàn, dây trung, dây tiếu, đánh lên sẽ xuất hiện các hợp âm “tồn tang tính“ và tiếng hợp âm ba lần “ring ring ring” tạo nên cái giá trị nghệ thuật nhạc học khác biệt hoàn toàn với San xian cúa Trung Quốc, Shamisen của Nhật Bản hay Sandze của Mông Cổ. Nó tạo nên một loại âm sắc rất dân tộc và duy nhất dân tộc Việt Nam có và cũng là dân tộc duy nhất có hợp âm của riêng mình mà không theo hệ thống kí âm tây phương. Rồi một nét đặc trưng nữa là chiếc “Trống Chầu“, ở khía cạnh này ta xét một thể đặc trưng đầu tiên từ dụng cụ tạo ra âm trống. Thường thì đối với trống người ta gọi là dùi trống, nhưng đối với trống chầu người ta gọi là roi chầu và chỉ sử dụng một roi chầu dài để gõ và khi gõ phải làm sao cho mặt trống ép sát với đầu roi thì lúc đó âm trống mới chuẩn mới đẹp được. Không chỉ vậy trống chầu đặc biệt ở chỗ nó có ba chức năng. Chức năng thứ nhất là đánh sòng đầu để mở đầu và chấm câu tạo nhịp cho ca nương và đàn đáy. Gõ “tom tom tom“ để sòng đầu và “tom cắc tom“ để chấm câu. Phận sự thứ hai của trống chầu là phê phán nếu ca hay đàn giỏi thì người cầm chầu gõ “tom chát tom“ tức là xuyên tâm nghe rung động con tim hay quá. Nếu ca hay quá đến độ cảm động thì người cầm chầu sẽ gõ “chát tom tom“ song châu hai hạt nước mắt rơi. Nếu ca hay tới độ mê đắm lòng người không còn là tiếng ca tầm thường nữa thì gõ “chát tom tom tom tom“ liên châu nhiều giọt nước mắt rời. Từ đó tạo động lực hoặc nhắc nhở cho ca nương biết mình hay chỗ nào mình sai ở đâu để kịp thời phát huy hoặc điểu chỉnh cho hợp lý. Chức năng thứ ba bắt nguồn từ chức năng thứ hai mà ra đó là giáo dục quần chúng định hướng xã hội theo cái hay cái đẹp. Khi trống chầu gõ phê phán hay dở như vậy thì quần chúng hoặc khách nghe hát cũng biết được đoạn nào hay khúc nào dở câu nào tuyệt cú câu nào chưa tới mà từ đó điều chỉnh cái thú thưởng thức của mình cho thanh tao ý nhị hơn. Tôi có thể khẳng định rằng trên thế giới chỉ có “Trống Chầu“ của Việt Nam là có cả ba chức năng đó mà thôi. Hơn hết nữa cái đỉnh cao của Ca Trù Việt Nam là lời thơ ý nhạc thơ với nhạc gặp nhau như một cuộc hôn nhân đẹp đẽ mà ở đây nó vừa tự do phóng túng mà cũng vừa khuôn sáo rõ ràng. Lời thơ ca trù rất đa dạng và phong phú gồm nhiều thể thơ, 3 chứ 5 chứ 7 chữ lục bát hoặc thậm chí 11 chữ cũng vẫn có nó, tạo ra nhiều lời nhiều điệu phù hợp với sự đa dạng phong phú giàu đẹp của Ca Trù Việt Nam. Nhưng nó cũng có khuôn sáo về thể thức nhất định nếu tìm hiểu kỹ thì sẽ rất tinh vi phức tạp nhưng về cơ bản thì một bài Ca Trù phải đủ 11 câu bất di bất dịch gồm : hai câu lá đầu, hai câu xuyên thưa, hai câu thơ, hai câu xuyên mao, ba câu cuối dồn, kết, keo.

Như vậy Ca Trù đã đạt được đỉnh cao hợp nhất trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ, vừa sâu về ý tứ, vừa tình về nghệ thuật trầm bổng ngân nga. Vừa là nơi tụ hội dân gian hội hè cũng là cái để dâng cúng thần linh và hơn hết nó mang tính giáo dục con người rất cao về chân thiện mỹ, các giá trị văn hóa truyền thống bác học đặc trưng của quê hương xứ sở.

Tưởng nhớ thầy Trần Văn Khê

TP.HCM Ngày 11, tháng 07, năm 2021

Đào Hiệp Thành

Thí sinh Trần Hoài Duy – 005 – TÌM HIỂU VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ CÙNG VỚI NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CÂU HÒ ĐIỆU LÝ

Nguyễn Quốc Thệ

2tSiponosorhhned  · 💧♥️Thí sinh Trần Hoài Duy – 005

💧♥️TÌM HIỂU VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ CÙNG VỚI NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CÂU HÒ ĐIỆU LÝ

01/ Cuộc đời và sự nghiệpTôi tên là Trần Hoài Duy – Biên tập viên Phòng Văn nghệ – Giải trí – Quốc tế của Đài Phát thanh Truyền hình và Báo Bình Phước. Tôi làm làm trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ nên từ lâu đã nghe danh và mến mộ Giáo sư Trần Văn Khê. Tôi rất thích xem những video clip về ông. Tôi cực kỳ ngưỡng mộ kiến thức uyên bác của ông mà hơn thế nữa, tôi say mê cách ông truyền đạt. Những gì ông nói nó cuốn hút người nghe bởi nội dung hay, bởi hình thức đẹp và bởi ông gửi vào đó là cái tâm và cái tầm cao cả của mình. Tôi cảm ơn Giáo sư đã truyền cảm hứng cho cá nhân tôi và hàng triệu người khác ở Việt Nam và trên thế giới để đi vào tìm hiểu và tìm thấy cái đẹp của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam – Nền âm nhạc xứng tầm đứng cạnh bất kỳ nền âm nhạc nào trên thế giới.

Giáo sư tiến sĩ Trần văn Khê, một người con ưu tú của dân tộc, nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam, tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, là thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc quốc tế, UNESCO. Ông sinh ngày 24-7-1921 và mất ngày 24-6-2015. Với trình độ uyên thâm và một bề dày nhất định am hiểu về văn hóa và âm nhạc truyền thống Việt Nam và có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, ông đã đưa âm nhạc Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

Trần Văn Khê sinh tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương, người tướng kiên cường, có công chỉ huy quân dân ta kháng cự quân xâm lược Pháp. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó là Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm. Năm lên 6 tuổi ông đã được dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ».Năm 1931, Trần Văn Khê đậu cấp tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán. Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Trong cuộc sống vốn có nhiều điều kỳ lạ và việc chàng thanh niên Trần Văn Khê đi học ngành y rồi quay lại được với âm nhạc là như thế. Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học Y khoa. Được học tại đây là niềm vinh dự vô cùng lớn. Chàng y sinh Nam kỳ điển trai, hồn hậu, giàu năng lượng sớm nổi tiếng ở đất Bắc kỳ. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng , Nguyễn Thành Nguyên hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương. Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, thuộc Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

Hơn nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp và khắp nơi trên thế giới, ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại quê hương từ năm 2006. Đó là tâm nguyện lớn của ông. Bởi lẽ, mấy mươi năm đem chuông đi đánh xứ người, đem tiếng lòng dân tộc Việt Nam cho thế giới biết, ông lúc nào cũng nặng lòng với đất mẹ – làm sao để giới trẻ yêu thương mà giữ gìn âm nhạc của tổ tiên. Năm 2000, tại Đại học Hùng Vương, ông xúc động nói khi đứng trước mấy trăm sinh viên: “Hôm nay, Thầy rất hạnh phúc vì lần đầu tiên chính thức dạy âm nhạc truyền thống Việt Nam cho sinh viên Việt Nam trên quê hương Việt Nam”. Khi quyết định hồi hương, ông đã tặng cho TP. Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Về gia đình, GS Trần Văn Khê có bốn người con: GS Trần Quang Hải cũng là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TP Hồ Chí Minh, Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris. Như vậy, Giáo sư Trần Văn Khê đã có người nối dõi tông đường và tiếp truyền sự nghiệp của dòng họ – sự nghiệp âm nhạc và giữ gìn nền quốc nhạc. Tôi được biết trong cuộc thi này, Trưởng BGK là Giáo sư Trần Quang Hải. Giáo sư có gương mặt rất giống cha mình, giọng nói và điệu bộ cũng vậy. Tôi không có cơ hội diện kiến Giáo sư Khê nhưng tôi nhất định sẽ tìm cơ hội gặp Giáo sư Hải để thỏa lòng ngưỡng mộ khi tôi biết chắc chắn ông thường xuyên về thăm quê hương.

Với mong muốn đưa văn hóa cũng như âm nhạc dân tộc Việt Nam ra khắp thế giới, ông đã dành trọn cả cuộc đời của mình để nghiên cứu, tìm hiểu, chắt lọc những giá trị tinh hoa để đưa âm nhạc dân tộc thành sách vở, công trình, bài giảng để dễ dàng nhạn thức và học tập. Gần 70 nước trên thế giới mà ông đã đi qua lồng vào việc giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam thì ông còn dùng cách nói chuyện để tạo sự gần gũi và dễ hiểu hơn, điều đó đã cho thấy sự cống hiến của ông to lớn như thế nào đối với việc bảo tồn văn hóa, âm nhạc dân tộc Việt. Ông không bao giờ chỉ biết đề cao cái hay của dân tộc mình mà luôn muốn kể ra để cho người hiểu và trên tinh thần luôn cầu thị lắng nghe để đối chiếu mà làm gia tăng giá trị âm nhạc của Việt Nam và các quốc gia.

Năm 2006, ông chính thức trở về nước sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cố gắng cùng những thân hữu triển khai chương trình đưa âm nhạc truyền thống đưa vào học đường. Căn nhà số 14 Huỳnh Đình Hai quận Bình Thạnh trở thành nơi đi về của biết bao nhiêu bạn bè và học trò. Ông di chúc hiến tặng toàn bộ tài liệu cho đất nước và có di nguyện muốn thành lập Trung tâm Trần Văn Khê nhưng khi ông mất thì không được toại nguyện. Hiện tại, có một Quỹ học bổng mang tên Trần Văn Khê để dành tặng phần thưởng cho những hậu nhân có công nghiên cứu, giữ gìn và phát huy âm nhạc dân tộc. Rất mong nhiều người cùng đóng góp để Quỹ được phát triển và có cơ hội phát huy những mục đích tốt đẹp.

Năm 2021 là tròn 6 năm ngày mất và 100 năm ngày sinh của Giáo sư Trần Văn Khê. Nhớ về ông là nhớ về một con người cả cuộc đời đã chuyên chú tâm sức cho việc nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ở Pháp và khắp mọi nơi trên thế giới. Với những sự cống hiến đó ông đã từng được nhiều nước trao tặng những giải thưởng: Giải thưởng lớn Hàn lâm Viện Ðĩa hát Pháp, Giải thưởng Ðại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc nhạc học năm 1960 và 1970. Năm 1975 được trao tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Ðại học Ottawa (Canada); Năm 1981, Giải thưởng lớn về Âm nhạc UNESCO và Hội đồng quốc tế Âm nhạc; Năm 1991, được tặng Huân chương Nghệ thuật và Văn chương Cấp Officier, của Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp; Năm 1995, Giải thưởng quốc tế về Dân tộc nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật); Năm 1999, Tiến sĩ danh dự về Dân tộc Nhạc học Ðại học Moncton (Canada). Trong nước thì GS Trần Văn Khê đã được trao nhiều giải thưởng cao quý như: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam (1998), Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương trao (1999), Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng (2003), Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu (2011) (Nguồn báo nhân dân). Có thể nói ông là một người Việt Nam giành được vô vàn tình cảm yêu quý của bè bạn năm châu bởi ông đi đến đâu cũng mang đến lời ca tiếng hát ngân nga, yêu thương, hòa bình, kèm theo đó là nụ cười hồn hậu và chất giọng ấm trầm không thể lẫn với ai được.Tham gia cuộc thi này, tôi thấy BTC đặt tên những giải thưởng rất hay như Giải nhất “Vinh danh truyền thống âm nhạc”, Giải nhì “Lưu giữ truyền thống âm nhạc”, Giải ba “Phát triển truyền thống âm nhạc”, Giải tư “Ái mộ truyền thống âm nhạc”. Qua đó nói lên được mục đích cuối cùng của cuộc thi thú vị này. Tôi tiếc rằng không được gặp ông lần nào khi sinh thời. Tôi mới tìm hiểu qua thì được biết tên ông đã được đặt cho một con đường ở quận Bình Thạnh – Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi nhất định sẽ đi trên con đường đó khi hết dịch covid-19 xem như được một lần thấy tên Trần Văn Khê.

Những lời ca ngợi bên trên không thể nào nói hết về một nhân vật lớn của nền quốc nhạc Việt Nam. Xin thành kính gửi đến hương hồn giáo sư Trần Văn Khê lời hứa là chúng con sẽ tiếp nối việc giữ gìn di sản ngàn đời của cha ông mình. Riêng cá nhân tôi xin kính gửi đến những người yêu kính, ái mộ ông một bài lý Cái Mơn nhắc đến công lao của ông trong phần dự thi video clip

.2/ Nguồn gốc, ý nghĩa của Hò và Lý Đối với mỗi quốc gia, dân tộc, khi mà nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và khoa học kỹ thuật đang chứa đựng trong nó những giá trị mang tính toàn cầu thì văn hóa nói chung và âm nhạc cổ truyền dân tộc nói riêng là khẳng định sự tồn tại một cách ý nghĩa nhất của quốc gia, dân tộc đó.

Là một thành tố quan trọng cấu thành văn hóa, âm nhạc cổ truyền dân tộc với những giá trị tiềm ẩn mang tính bản sắc văn hóa thật sự là “chứng minh thư” của một dân tộc trong xu thế hội nhập mang tính toàn cầu. Âm nhạc cổ truyền dân tộc ra đời và tồn tại như một thành tố quan trọng, thiết thân và không thể thiếu được của sinh hoạt văn hóa dân gian, gắn bó với mỗi con người từ thuở lọt lòng trong lời ru của mẹ rồi lớn lên là những bài đồng dao cho đến khi trưởng thành là hò, là lý.

Ai mà không lớn lên với những câu ca của mẹ, của bà:

“Ạ ời, ạ ơi …Con cò là cò bay lả lả bay la

Bay từ là từ ruộng lúa bay ra là ra cánh đồng

Tình tính tang là tang tính tình

Chăm học hành vâng lời thầy cô

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng..

Con cò là cò bay lả lả bay la

Bay từ là từ ruộng lúa bay ra là ra cánh đồng

Tình tính tang là tang tính tình

Chăm học hành vâng lời thầy cô

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng

Rằng có nhớ là nhớ cho chăng” (Lời hát ru Bắc bộ)

“À ơ … Cầu Tràng Tiền sáu vại mười hai nhịp

Thương nhau rồi xin kịp về mau

Kẻo mai tê bóng xế qua cầu

Bậu còn thương bậu mà dạ sầu bấy nhiêu”

“A ơ, . . . Chiều chiều mà ngóng chiều chiều

Cha đi đánh cá biết điều rủi may

Mong cha về kịp chiều nay

Mẹ đem con cá nấu ngay canh dầm” (Lời hát ru Trung bộ)

“Ầu ơ, … Dí dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời”

“Ầu ơ, … Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau”

“Ầu ơ, … Trời mưa bong bóng phập phòng

Mẹ đi lấy chồng con ở với ai, ầu ơ …” (Lời hát ru Nam bộ)

Trong âm nhạc dân gian Việt Nam có rất nhiều làn điệu dân ca với lời ca mộc mạc, chân thành giản dị phản ánh đúng những nét đặc trưng của con người, văn hóa, phong tục, địa lý,… của đất nước Việt Nam, trải dài suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Hò là một thể loại diễn xướng nhạc điệu phổ biến trong đời sống Việt Nam từ cổ đại, khởi nguồn từ tập quán sinh hoạt vùng chiêm trũng, diễn tả tâm trạng của người lao động. Một người hò cho đại diện một tập thể đông người cho cùng một việc hay một mình tự sự, sâu lắng, dàn trải. Trong sinh hoạt những đêm trăng những nhóm con trai đi chơi, thường cất lên những điệu hò để dò hỏi những cô gái về những công việc. Điệu hò giao duyên giữ hai bên đối đáp lại nhau, người con gái hay một nhóm sẽ hò đáp trả lại khi đó. Trên sông nước khi đi ghe hay đò, người hò (có thể con trai hay con gái) thường hò diệu giao duyên giữa hai chiếc ghe, thuyền, đò gần nhau.

Người con trai:

“Hò ơ, hỡi cô cắt lúa áo hồng

Cô bên đám đó có chồng hay chưa?

Nếu mà cô chữa có chồng

Cho đây với đó đẹp lòng nột đôi”

.Người con gái:

“Hò ơ, hỡi anh gánh lúa bên đồng

Nghe anh có hỏi em chồng hay chưa?

Anh hỏi em phải dạ thưa:

Chồng em chưa có mà đã năm con”

.Hò và Lý nghe qua thì có phần giống nhau nhưng Hò thường gắn liền với một động tác khi làm việc còn Lý thì không. Nói cách khác Lý khác với Hò vì Lý không gắn liền với một động tác lao động hay giao duyên. Tuy nhiên Lý có nhạc tính cố định hơn Hò, câu hát đều đặn, trong khi Hò có thể thêm câu dài câu ngắn, tùy người hát.Các điệu Lý thường được lấy tên từ các loại cây trái, bông hoa, chim thú, cá nước, bánh trái hoặc các vật dụng quen thuộc, các phương tiện lao động hàng ngày, hay các nhân vật tầng lớp trong xã hội, đến các phong tục, lễ nghi, hội hè. Như Lý cây khế, Lý cây mù u, Lý con mèo, Lý con sam, Lý bờ đắp, Lý chim thằng chài… Có những tên điệu Lý nghe rất lạ như: Lý cháo Lý cơm, Lý nón treo, Lý xôi vò, Lý cơm khô Lý cơm cháy, Lý ông Thôn, Lý chú Chệt, Lý bập boòng boong… Qua đó, chúng ta thấy tên các điệu Lý đều xuất phát từ những đồ vật, sự kiện, cảnh vật hoặc những nhân vật có thực trong đời sống của người lao động. Bất cứ cái gì họ gặp, họ thấy, họ biết đều có thể trở thành điệu Lý. Xuất phát từ lao động mà hình thành nên những điệu Lý, vì thế trong lúc đang lao động người ta cũng hát Lý được với nhau, lúc nghỉ ngơi cũng ngân nga các điệu Lý. Đó là cách bày tỏ tâm sự, nói lên tình cảm lạc quan, ước mơ, khát vọng của mình trước cuộc sống.

“Trèo lên cây khế mà rung,

khế rụng đùng đùng không biết khế ai?

Khế này là của ông cai,

khế chưa mà có trái, chị hai đi lấy chồng. Anh hai đi lấy chị hai, mâm trầu và hủ rượu hết 20 hào. Nào tiền mua chả mua nem, mua một đôi đèn cho họ ngồi mâm. Ông cai ông ký ngồi trên, hai bên mà ngồi giữa xứng đôi họ hàng” (Lý Cây khế).

Đặc biệt Lý Nam bộ ta thấy rằng hầu như đều có hình bóng con sông, bến nước, làng quê với những giai điệu thật trữ tình, tha thiết, luôn chứa đựng tình cảm của người dân phương Nam luôn nhớ về quê hương, nhớ về ký ức của lứa đôi quê nhà. Ví dụ như lời ca trong điệu Lý Cái Mơn: “Đàn cò bay về nơi thương nhớ. Nhớ bến sông xưa in hình bóng của người yêu… Thuyền tình ơi hãy chờ đợi ta bao tháng năm trôi qua. Nhưng người xưa vẫn luôn ngóng đợi tình chung”. Không gian làng quê hiện ra trong điệu Lý Cái Mơn rất thơ mộng, lãng mạn với nỗi hoài niệm man mác…

Lý thể hiện tinh cảm trong quan hệ giữa người với người: tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, bạn bè; thể hiện tinh thần lạc quan và yêu thương cuộc đời; ca ngợi cuộc sống và khát vọng hạnh phúc của con người… nó như một di sản tinh thần nuôi dưỡng, vun đắp tâm hồn của mỗi con người chúng ta. Lý là một thể loại âm nhạc dân gian với những nét đặc trưng vốn có, là kho tàng vô giá của một trong những làn điệu dân tộc cần gìn giữ và phát huy.Tôi vốn rất đam mê ca hát, nhất là dòng nhạc quê hương, tôi cũng có nhiều sáng tác phổ biến. Dòng nhạc quê hương dĩ nhiên mang rất nhiều chất liệu âm nhạc dân tộc. Tôi sẽ nghiên cứu sâu hơn về dân ca để những sáng tác của mình mang tính quê hương và được nhiều người đón nhận. Tôi luôn khát khao “Vinh danh truyền thống âm nhạc” Việt Nam mình!

Trân trọng cảm ơn BTC và BGK!BTV

Trần Hoài Duy – Đài Bình Phước

Thí sinh Trần Thị Hồng Gấm – 003 : NGƯỜI QUÊ CHỈ CÓ TẤM LÒNG KÍNH TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ NHÂN DỊP KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH

tSp2onhsoreicid  · 💧♥️Thí sinh Trần Thị Hồng Gấm – 003

💧♥️NGƯỜI QUÊ CHỈ CÓ TẤM LÒNG KÍNH TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ NHÂN DỊP KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH

1.Trân trọng kính chào Ban tổ chức và Ban giám khảo!Tôi là Trần Thị Hồng Gấm, năm nay 48 tuổi (là phụ huynh của thí sinh Lê Gia Khang), quê tôi ở Cần Thơ. Tôi dự thi vì con tôi rủ. Khi nghe con tôi đang ở nhà tránh dịch, nói về cuộc thi thì tôi chịu liền. Tôi tham gia hội thi để thể hiện tình cảm đặc biệt của mình với âm nhạc dân tộc. Và nói lên cảm nghĩ của mình về Nhạc sĩ Trần Văn Khê là một cây đại thụ của dân tộc trong lĩnh vực âm nhạc. Đây cũng là cơ hội để tôi thể hiện cả hai điều trên nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Giáo sư Trần Văn Khê.

Một danh nhân nào đó nói rằng: “Không sự cách biệt về không gian hay thời gian nào có thể làm yếu đi tình bạn của những người thực tâm bị thuyết phục bởi giá trị của nhau”. Quả Thật như thế, những người bạn của Giáo sư Trần Văn Khê là những nhân chứng để cho chúng ta thấy rằng sự cống hiến to lớn và tài năng đặc biệt của Ông trong nền âm nhạc dân tộc, là suối nguồn bất tận chảy mãi không ngừng và luôn luôn tồn tại với thời gian và không gian. Chỉ có giá trị mới tạo nên điều đặc biệt của một con người và những người bạn của Giáo sư âm nhạcTrần Văn Khê đã nhận định: Nhạc sư Vĩnh Bảo nói rằng: “Tôi nghe bạn diễn thuyết đâm ra cũng mê” khi ông kể về bạn cố tri âm. Khi sinh thời, GS.TS. Trần Văn Khê là đôi tri âm tri kỷ với nhạc sư, cả ngoài đời và sinh hoạt thường ngày lẫn trong nghệ thuật. Nhạc sư Vĩnh Bảo ngậm ngùi chia sẻ năm 2015 tại đám tang người bạn tâm giao Trần Văn Khê: “Tôi vẫn nhớ năm 1972, tôi cùng với GS. Trần Văn Khê đã diễn tấu ghi âm Nhạc tài tử Nam bộ cho hãng Ocara và UNESCO tại Pháp. Đây chính là những viên gạch quan trọng đầu tiên để đến tháng 12/2013, nhạc Tài tử Nam bộ được UNESCO công nhận và đưa vào tài sản văn hóa phi vật thể của nhân loại…”. Từ đây bộ môn Đờn ca tài tử đã được vươn xa ra khỏi phạm vi của đất nước Việt Nam, không đơn thuần trong một khuôn khổ nhất định. Giáo sư và những người bạn đã mang âm nhạc dân tộc ra đấu trường thế giới, khẳng định sự độc đáo của bộ môn Đờn ca tài tử mà không phải dân tộc nào hay quốc gia nào có được. Nhạc sĩ Trần Văn Khê và Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo chính là đôi “song kiếm hợp bích” hoàn hảo, hiếm hoi của nghệ thuật Việt Nam trải dài suốt gần cả thế kỷ. Tôn trọng lẫn nhau cả về nhân cách lẫn tình yêu nghệ thuật.

Với nhà văn Vũ Hạnh thì: “Qua anh Khê, tôi yêu hơn cái đẹp lóng lánh của âm nhạc dân tộc”. Nhà văn Vũ Hạnh kể: “Với GS Khê, ảnh luôn coi tôi là bạn văn nghệ, ảnh thường nói: Trong nhạc luôn có văn và trong văn luôn có nhạc, mà sau này tôi nghiệm ra là luôn đúng như vậy. Đó là là chất cảm của người làm nghệ thuật “nhìn ra” nhau. Với âm nhạc dân tộc, từ bé qua lời ru, câu hò của mẹ, các chị… tôi chỉ yêu và cảm nó, rồi viết văn, tôi càng cảm nó nhiều hơn nhưng đi sâu về chuyên môn thì… tôi “điếc”. Chính anh Khê, qua những lần hàn huyên, tâm tình, đã cho tôi cái nhìn sâu hơn về cái thế giới ngũ cung, nhạc cung đình, những xừ, xang, xê, cống… Từ đó, tôi thêm yêu cái hồn, cái tình tự, cái đẹp lóng lánh của dân tộc mình qua từng bài hát, câu hò dân gian tưởng chừng như giản đơn, quê mùa”. « Qua anh Khê, tôi nhận ra cái hay, cái tinh túy và cái đẹp lóng lánh của âm nhạc dân tộc. Dù đó là nhạc cung đình hay chỉ là một bài hát, điệu hò dân gian quê mùa:. Trong những buổi tọa đàm nói về sự tương đồng của dàn nhạc ngũ cung Việt Nam với các dàn nhạc dân tộc truyền thống trên thế giới hay biểu diễn (độc tấu và hòa tấu), GS Khê đều nói rất chuyên môn, rất khoa học và cực kỳ thuyết phục. Chính vì vậy, nhà văn Vũ Hạnh Đã nói lên nỗi lòng của mình với những ngôn từ hết sức chan chứa và da diết khi hay tin “Anh Khê” đã ra đi mãi mãi: ”Ảnh « đi » rồi, không biết bao nhiêu thế hệ nữa, dân tộc Việt mới sản sinh ra một người con tài năng, nhiệt huyết với nhạc dân tộc như “Ảnh”?”.

Nhạc sĩ Trần Văn Hiên cũng có đôi dòng chia sẻ về Gs Trần Văn Khê khi có đề cập đến ca khúc tân nhạc “Em đi chùa Hương” (phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp) (hình như là duy nhất của GS Trần Văn Khê): “Với lứa nhạc sĩ trưởng thành sau 1975, GS Trần Văn Khê là một cây đa, cây đề trong làng âm nhạc Việt Nam, nhất là âm nhạc truyền thống ». Ông nói: « Với tôi, GS Khê là một con người đã vắt kiệt hết máu tủy để giữ gìn, phát huy và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt không chỉ trong nước mà còn nhiều nơi trên thế giới. Sự công nhận ca nhạc tài tử Nam bộ của Việt Nam là di sản phi vật thể phải gìn giữ của nhân loại mà UNESCO đã vinh dự trao cho Việt Nam, là công lao rất lớn của GS Trần Văn Khê. Tôi còn được biết, sau khi UNESCO công nhận Đờn ca tài tử, ông đã bắt tay ngay vào soạn một bộ hồ sơ chuẩn bị trình cho UNESCO về nghệ thuật Cải lương, môn nghệ thuật đã có hơn 100 hình thành và phát triển để họ công nhận đó là tài sản phi vật thể cần bảo tồn của nhân loại. Tiếc thay, công trình này vẫn còn dang dở và cũng không biết ai có thể có khả năng kế thừa để soạn xong một bộ hồ sơ hoàn chỉnh. Có lẽ còn rất lâu sau này. Tôi ở BCH Hội âm nhạc TPHCM, Hội Nhạc sĩ VN nên cũng nghe và hiểu nỗi đau đáu công ông từ khi ông về nước. Đó là làm sao đưa âm nhạc dân tộc vào giảng dạy ở nhà trường, từ cấp 1 trở lên, để cho các thế hệ mai sau này, dù có đi theo các trào lưu âm nhạc thời thượng trên thế giới thì cũng biết nghe, biết cảm, biết trình tấu âm nhạc dân tộc. Đó là nguyên ước lớn lao của ông mà ông chưa thực hiện được, dù đã bỏ biết bao tâm sức”.

Tôi còn biết được Giáo sư Trần Văn Khê có mối quan hệ cũng tâm giao với một người nhạc sĩ nổi danh là Phạm Duy. Tôi thấy hai vị tâm đầu ý hợp, kẻ Bắc người Nam và trân quý nhau vô cùng tận. Trong những clip tôi tìm hiểu, nhạc sĩ Phạm Duy gọi Giáo sư là Khê vì hai người bằng tuổi. Tôi thấy đây là hai nhân vật vô cùng đặc biệt của âm nhạc, người thì truyền thống, người thì cách tân nhưng cả hai hết sức yêu thương văn hóa nước mình.

Quả thật, với những lời chia sẻ của những người bạn đã từng làm việc và gắn bó với Giáo sư Trần Văn Khê đã giúp chúng ta phần nào hiểu được về sự cống hiến vô cùng to lớn mà không phải ai cũng có thể làm được như vậy, đặc biệt là với nền âm nhạc dân tộc. Chắc chắn, mọi người luôn yêu mến Giáo sư, sự nghiệp của Ông vẫn mãi tồn tại với thời gian . Sắp tới đây là kỉ niệm 100 năm ngày sinh của nhạc sĩ (24/7/1921-24/7/2021) – một cột mốc vô cùng ý nghĩa.

Giáo sư Trần Văn Khê sinh ra tại huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang, lúc bấy giờ là một mảnh đất hữu tình, thơ mộng. Ông sinh ra trong một gia đình có 4 đời làm nhạc sĩ. Gia đình ông có nhiều nhân vật là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng như ông nội là Trần Quang Diệm, cha là Trần Quang Chiêu và cô là Trần Ngọc Viện – người sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ Ban. Từ năm 6 tuổi Ông đã được tiếp xúc các loại nhạc cụ dân tộc và chơi được một số bài cơ bản. Giáo sư Trần Văn Khê sang Pháp du học từ năm 1949. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa Nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6/1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế. Ông là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức. Có 43 nước trên thế giới đã mời Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê thuyết trình và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam. Trong hơn nửa thế kỷ sinh sống và làm việc ở nước ngoài, giáo sư Khê luôn đau đáu việc làm thế nào giữ gìn và phát huy âm nhạc dân tộc Việt Nam. Những hoạt động giảng dạy, diễn thuyết không ngừng nghỉ của ông suốt hơn 50 năm góp nhiều công sức đưa âm nhạc dân tộc Việt Nam đi vào bản đồ âm nhạc thế giới.

Tiếng gọi nguồn cội luôn thôi thúc Giáo sư về lại quê cha đất tổ nên năm 2006, Giáo sư về Việt Nam sống. Ở tuổi gần 90 khi ấy, ông vẫn miệt mài tiếp tục công việc này. Với những cống hiến của Ông đã được nhận rất nhiều những giải thưởng danh giá như: năm 1998 – Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam; năm 1999 – Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương cấp; năm 2005 – Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng; năm 2011 – Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu. Mãi trân trọng và tôn kính một tượng đài có một không hai của nền quốc nhạc Việt Nam – Giáo sư Trần Văn Khê!

2.Tôi năm nay gần 50 tuổi nhưng lại có một tình yêu vô cùng mãnh liệt với nền âm nhạc dân tộc. Những giai điệu du dương đã giúp cho tâm hồn tôi trở nên bay bổng hơn. Âm nhạc không phân biệt độ tuổi nào lan tỏa mọi không gian và thời gian. Len lõi trong từng ngỏ nghách của cuộc sống. Bất kể thành thị hay nông thôn thì âm nhạc là món quà tinh thần của mọi thế hệ. Nhưng với tôi âm nhạc dân tộc là nhịp sống, là dòng sông hiền hòa nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc. Những câu hát ru cho đến câu vọng cổ quê nhà đã thấm sâu vào máu thịt và trái tim của tôi ngay từ khi còn tấm bé. Tôi rất “mê” Đờn ca tài tử. Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể và là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi 21 tỉnh thành phía Nam. Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian, Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ.Tôi được may mắn sinh ra tại mảnh đất Cần Thơ – Hậu Giang cây xanh trái ngọt. Từ sớm, tôi đã có một tình yêu rất riêng với đờn ca, những câu hò điệu lý thường ngày hay nghe trên chợ nổi, nghe bà ngoại và mẹ hát ru và những chương trình âm nhạc qua radio. Tất thấy đối với tôi là cả một bầu trời kí ức. Đờn ca tài tử là biểu tượng của con Người Nam bộ mộc mạc và giản dị. Nghệ sĩ Ưu tú Thanh Kim Huệ ngân nga trong bài vọng cổ Hoa tím bằng lăng của tác giả Linh Châu: “… Con rạch cái Thia chảy “dìa” Tắc Cậu, con sáo sang sông con sáo đậu… hiên nhà”. Đó mới là Đờn ca tài tử. Cái chất mộc mạc của người miền Tây Nam bộ được tác giả lột tả đến chân phương ở cái chữ “dìa”, thay vì “về”. Khiến cho ai đã nghe rồi thì khó mà quên được.

Tôi yêu thích soạn giả Viễn Châu và mê bài Tình anh bán chiếu. Tôi thuộc hàng trăm bài vọng cổ, hàng chục vở cải lương. Thế là tôi không thể nghe được nhạc mới của lứa tuổi trẻ. Tôi cho thằng con trai tôi di học du lịch và luôn dặn nó: “Con đừng có đu đeo theo ba cái nhạc loạn xạ nhe. Mẹ chỉ muốn con nghe cái của ông bà mình hà. Con muốn nghe thì nghe cho biết thôi chứ đừng mê rồi quên nhạc quê mình”.

Nhờ tham gia cuộc thi, nhờ bỏ công tìm hiểu mà mới hôm qua, tôi dạy lại con trai mình: “Con biết Ông nhạc sĩ dạy sao hôn về quy trình tình yêu âm nhạc dân tộc: “Con phải BIẾT rồi THÍCH và YÊU rồi THƯƠNG. Biết mới thấy nó hay, thế là thích. Thích thì lao vào và say mê tức là yêu. Yêu là đỉnh cao phải đi xuống nhưng chính ngay lúc đó là thương tức phải có trách nhiệm mà giữ gìn”.

Đến với cuộc thi ý nghĩa này, tôi đã phải vật lộn hơn 3 ngày 3 đêm để lên mạng internet tìm hiểu và viết. Tôi viết ra giấy và nhờ con tôi nó đánh máy dùm. Văn chương chắc lủng củng nhưng là tấm lòng quê chất phác kính dâng lên hương hồn Giáo sư Trần Văn Khê kính yêu. Trong phần hát, tôi sẽ cố hát thật hay để quý vị cùng thưởng thức. Tôi chỉ muốn gửi tiếng hát mình nhằm thể hiện sự kêu gọi tôn vinh giá trị của nhạc Việt Nam mình.

Tôi xin chân thành cám ơn!

💧
♥️