Jour : 6 juillet 2021

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (1)(Trần Văn Khê)

Xin gởi đến quý vị vài lời chia sẻ, nhắn nhủ của GS. Trần Văn Khê để cùng đọc trong những tháng ngày dịch bệnh. Hy vọng một ngày nào đó, đại dịch lùi xa cho mọi hoạt động trở lại bình thường, âm nhạc lại tiếp tục ngân vang và nhân loại bớt đi những đau thương khổ lụy.

Kính chúc tất cả chúng ta luôn bình an, vực dậy tinh thần vượt qua những khó khăn trong đời sống.

———————–ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (1)(Trần Văn Khê)

Các bạn trẻ ơi!

Có lẽ các bạn phần đông đã biết cuộc đời của tôi ngang qua những quyển Hồi ký hay những bài báo đã được đăng tải nhiều nơi. Thường thì các bạn chỉ thấy những điểm thành công trong cuộc đời của tôi. Hẳn các bạn nghĩ rằng cái số của tôi tốt hay là nhờ “được sanh đẻ trong bọc điều”. Nhưng sự thật không phải vậy đâu. Tôi cũng chỉ là một con người như mọi người, bởi vì chẳng có con đường nào đi đến vinh quang mà trải đầy hoa thơm, cỏ lạ. Có nghĩa là tôi cũng phải trải qua những khó khăn, những thử thách và phải tự vươn lên bằng ý chí của chính mình.

Tôi muốn dành những lời chia sẻ về cuộc đời đã qua của tôi để góp thêm kinh nghiệm sống trên hành trình vào đời của các bạn

.Nhiều bạn khi biết tôi mồ côi cha mẹ từ lúc lên 10 thì có bạn tỏ ra thương cảm và nghĩ rằng tôi kém may mắn hơn những trẻ đồng lứa. Thật ra, mồ côi cha mẹ đã làm cho đứa trẻ cảm thấy thiếu tình thương chăm sóc, thiếu sự nâng niu, thiếu cái quyền được dựa vào cha mẹ khi cần thiết, khi cảm thấy bơ vơ, cô độc. Dẫu biết rằng tất cả cô bác trong gia đình đều dành tình thương đặc biệt cho đứa trẻ mồ côi, nhưng đó không phải bổn phận mà chỉ do lòng thương cảm, nếu không muốn nói ra là lòng thương hại. Đứa trẻ lại càng thấy không có quyền đòi hỏi, vòi vĩnh như đối với cha mẹ. Nhưng nếu chỉ nghĩ tới thân phận côi cút, hoàn cảnh đáng thương đó thì đứa trẻ không thể vươn lên xa khỏi bóng mây buồn của tuổi thơ mồ côi.

Khi tôi biết rằng không phải than thân trách phận mình tìm được sự che chở nào để thay thế tình yêu thương của cha mẹ, mà trong mọi tình huống tôi luôn nghĩ rằng mình chỉ trông cậy nơi chính mình, không chờ đợi sự giúp đỡ của cô bác. Do đó, đứa trẻ mồ côi sớm đụng chạm đến cuộc đời có được thái độ tự lực cánh sinh, không ỷ lại nơi người khác, thì hoàn cảnh “mồ côi đáng thương” lại trở nên là “cơ hội đáng quý” cho nó chứng tỏ được nghị lực của bản thân.

Nhờ vậy mà tôi luôn tự chăm sóc sức khoẻ, vừa thấy trong người có chút bất thường thì tôi tự tìm thuốc, tìm thầy để chạy chữa chứ không dám làm rộn cô bác. Từ nhỏ, tôi đã biết tự giặt quần áo và sắp xếp cho mình luôn cả cho các em. Rất may, tôi được một người cô là cô thứ ba trong gia đình bên nội, hy sinh cuộc đời, thay thế cha mẹ để chăm lo cho chúng tôi. Cô cũng có một quan niệm là tập cho đứa trẻ không ỷ lại vào người khác nên mọi việc tôi tự thân lo cho mình và cho các em, cô tôi rất ủng hộ và khen ngợi. Về phần các em của tôi còn quá nhỏ nên đều nhìn tôi như một điểm tựa, có thiếu món gì đều chạy kiếm “anh Hai”. Khi tôi được người cô thứ Năm có chồng giàu nuôi tôi ăn học, mỗi ngày cho tôi ba xu để ăn quà thì tôi chỉ tiêu hai xu và để dành một xu một ngày. Sau một quý, tiền dành dụm lên tới một đồng bạc (tức một trăm xu) để lúc nghỉ hè, tôi mua cho các em ăn những món ngon mà ngày thường chúng nó không được hưởng, hoặc những món đồ chơi mà chúng nó ưa thích. Nhờ mồ côi mà tôi không còn tánh ích kỷ của các trẻ thường là giành chơi, giành phần hơn với các em mà trái lại còn biết chia sớt và bao bọc các em. Lòng tin tưởng của các em tôi vào người anh Hai đã giúp cho em trai tôi là Trạch mỗi khi có gì khó khăn là tìm tôi để giải quyết, về phần em gái của tôi thì xem tôi như một “người mẹ” để tâm sự, chia sẻ khi em bước vào tuổi thành niên, chọn bạn trai. Khi trưởng thành, em đã chọn “ngày của Mẹ” làm lễ tạ ơn “anh Hai” và giới thiệu tôi với các bạn, một người anh mà em xem như là “từ mẫu”. Em tôi đã nhắc lại rằng chưa bao giờ em phải nhỏ giọt nước mắt của thân phận trẻ mồ côi vì đã có “anh Hai” thay mẹ hiền.

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (2)(Trần Văn Khê)

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (2)(Trần Văn Khê)

Năm 1951, Liên Hiệp Quốc tổ chức đại hội tại Paris và tuyển một số chuyên gia Luật Quốc tế. Trường Chánh trị Paris (Sciences Po de Paris) nổi danh là một trường nghiêm túc đào tạo chuyên gia có đủ khả năng về mọi mặt hành chánh, kinh tế và ngoại giao. Ban tuyển dụng nhân viên của Liên Hiệp Quốc đến trường xin tên 15 học viên tốt nghiệp khoa Giao dịch quốc tế (Relations internationales) để phỏng vấn và ký hợp đồng cộng tác dài hạn. Trong khóa đó, tôi tốt nghiệp hạng 5 nên tôi đã đến trụ sở của Liên Hiệp Quốc theo thơ mời.

Sau khi phỏng vấn, ban tuyển dụng thấy tôi nói tiếng Pháp rất trôi chảy, những câu trả lời về Luật quốc tế rất chính xác, lối hành văn có tánh chất văn chương, tôi lại biết nói tiếng Anh, tiếng Việt và đọc được chữ Hán thì tôi đã được họ tuyển làm nhân viên chuyên gia Luật quốc tế của họ. Theo hợp đồng ngày 01-09-1951, tôi sẽ phải trình diện để lãnh nhiệm vụ mới. Các bạn đồng khóa đều cho là tôi thật may mắn. Vừa lãnh bằng tốt nghiệp thì đã có việc làm phù hợp với khả năng và có nhiều triển vọng cho tương lai.

Nhưng ngày 15-08-1951, tôi bị sưng màng bụng nặng, chở cấp cứu vào bịnh viện Cochin Paris. Bác sĩ quyết định phải giải phẫu ngay lúc đó. Bịnh tình của tôi rất nặng vì bị lao màng bụng, chỗ ruột dư sưng lên đầy mủ, sắp bị vỡ ra. Như thế tức là không thoát khỏi tử thần! Bác sĩ lập tức cho tôi tiêm trụ sinh và gởi tôi đi đến một nhà dưỡng lao tại Pessac (Bordeaux – Pháp), nằm đó trong ba tháng để mỗi ngày cho ánh mặt trời rọi vào vết thương và ba lượt cho chiếu tia cực tím. Đến khi vết thương không còn ra mủ thì bác sĩ mới cho khép vết mổ.

Bạn bè vào thăm ai cũng cho rằng tôi bị một cái rủi lớn trong đời! Mất một công việc phù hợp với bằng cấp tốt nghiệp. Lại lâm bịnh nan y chẳng biết có bình phục hay chăng? Tương lai rất đen tối!

Tôi cũng buồn và trong một bài thơ viết ra khi tôi đang nằm dưỡng lao có đoạn chót:

« Chim không hót, hoa không cười, người không hy vọng,

Bốn tường vôi trắng xóa một màu tang.Nhìn cảnh buồn, dạ khách cũng bàng hoàng

Chiều im lặng.

Trăng gần lên.

Lá rụng! »

Nhưng hôm sau, tôi lại cố quên cái buồn, lo dưỡng bịnh và tin rằng mình sẽ thắng bịnh nên có viết mấy câu:

« Nhưng ta phải cố vui,

Vui để cho tiếng cười

Át lên cả tiếng khóc

Đời sẽ được xinh tươi! »

Đúng là một việc không may trong cuộc đời tôi nhưng không ngờ, một buổi chiều, sau khi dạo đờn tranh, tôi bỗng « giác ngộ » rằng tôi đã thừa hưởng kiến thức và nghệ thuật đờn ca tài tử từ trong gia đình, trong làng xã, trong đất nước mà từ mấy năm sau này, tôi lại quay lưng với truyền thống, lo học nhạc phương Tây, phối khí những bản nhạc tài tử theo phong cách phương Tây trong dàn nhạc trường Trung học Trương Vĩnh Ký mà tôi là nhạc trưởng. Tôi lại chỉ huy những nhạc phẩm phương Tây như La Veuve Joyeuse của Franz Lehar, Moment Musical của F. Schubert, La Marche Turque của Mozart trong dàn nhạc trường Đại học Hà Nội. Tôi đã hãnh diện khi báo La Volonté Indochinoise khen tôi chỉ huy đẹp không kém các nhà chỉ huy tên tuổi Âu Mỹ.

Bỗng nhiên hôm nay, tôi cảm thấy ân hận bởi tôi tưởng phải nhờ nhạc phương Tây để đưa Âm nhạc Truyền thống Việt Nam tiến bộ và bước lên một vị trí cao hơn trên trường quốc tế. Tôi đã không thành công và làm biến chất Âm nhạc truyền thống mà không hay biết. Tôi chỉ huy dàn nhạc thì chỉ học được cái ngoại hình là cách vung đũa chỉ huy lên một cách có điệu nghệ, mà thực ra, tôi không biết rõ nội dung bản nhạc mà tôi đang chỉ huy! Vì nào giờ tôi có được học chánh quy khoa chỉ huy đâu! Tôi có cảm giác rõ rệt tôi chỉ là một « con khỉ » bắt chước « con người » mà chưa thật phải là con người!

Nghĩ như vậy tôi quyết tâm phải học lại Âm nhạc Truyền thống ngang qua thơ từ viết cho cậu Năm của tôi là ông Nguyễn Tri Khương để biết thêm về lịch sử và lý thuyết. Tôi luyện tập đờn Tranh, đờn Cò, đờn Kìm. Tôi cho con gái của Mai Thứ bạn tôi cây đờn Piano mà tôi đã mua và đã từng rất yêu quý.

Tôi nhứt định soạn một Luận án Tấn sĩ tại trường Đại học Sorbonne về đề tài Nhạc truyền thống Việt Nam này.

Nhờ dưỡng bịnh tại một Trung tâm dưỡng lao của trường Đại học nên tôi được quyền đọc những quyển sách lưu trữ tại Thư viện Quốc gia mà khỏi xếp hàng vào thư viện mượn và trả sách. Mỗi tuần, có một giáo sư đến nhận danh sách các tư liệu tôi cần tham khảo. Ông đứng tên chịu trách nhiệm để thư viện gởi sách cho ông. Nhờ vậy mà trên giường bịnh tôi bắt đầu đọc những quyển Đại Việt Sử ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Cả hai đều viết bằng chữ Hán. Và một số sách về Dân ca cổ nhạc của Việt Nam do các tác giả Pháp như ông Cordier, Georges De Gironcourt… viết. Cuối tuần, có người đến gói lại các sách để ông giáo sư trách nhiệm gởi bảo đảm trả lại cho thư viện. Mỗi ngày, tôi đều nhận thấy rằng nhờ « cái rủi » mà tôi được « cái may » là đọc sách tham khảo trong Thư viện Quốc gia để soạn Luận án Tấn sĩ mà không phải di chuyển tới Thư viện chịu những thủ tục rườm rà! Chỉ nằm yên trên giường bịnh, thuốc tiêm vào gân tay trái, còn tay mặt thong thả lật từng trang sách! Trong hơn sáu tháng trời, tôi không còn cái buồn của người bịnh phải nằm dưỡng lao dài hạn.

Các bạn thấy không, khi nhìn vào cảnh mất tự do đi lại, phải nằm yên mà buồn cho thân phận mình thì chỉ thấy cái khổ. Khi biết quên cái khổ đó mà thấy cái may được đọc sách, soạn Luận án thì mình lại thấy lạc quan yêu đời. Trong đời, lâm vào một hoàn cảnh khó khăn, nếu biết nhìn vào mặt tích cực của vấn đề, chúng ta sẽ thấy « ánh sáng cuối đường hầm ». Và tôi nhờ vậy đã được cái may mắn đó.

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (3)(Trần Văn Khê)

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (3)(Trần Văn Khê)

Trong cuộc đời, nếu muốn tự lực cánh sinh, nhiều khi ta phải làm những công việc không liên quan trực tiếp đến chuyên môn. Tuy vậy, chúng ta cũng nên cố gắng làm với hết lương tâm của mình. Những công việc đó đôi lúc không hao sức, tốn ít thời gian mà có thể đem đến cho chúng ta những lợi tức cao. Tôi xin kể lại một vài câu chuyện để minh chứng cho quan điểm này.

Trước thời gian chuẩn bị văn bản cho luận án Tấn sĩ về Âm nhạc truyền thống Việt Nam (từ năm 1952 đến năm 1958), ngoài công việc chánh là cộng tác viên cho báo Thần Chung và Việt báo tại Sài Gòn, đồng thời là sanh viên Viện Khoa học chánh trị Paris (Sciences Po de Paris), tôi phải làm nhiều việc khác để sanh sống hàng ngày như: đi đờn cho các hiệu ăn Việt Nam trong những đêm cuối tuần, thông dịch viên cho những cơ quan dịch thuật của tòa án, và lồng tiếng phim. Những công việc đó tôi có thể làm trong lúc rảnh rỗi vào buổi tối và những ngày cuối tuần.

Đi đờn cho các hiệu ăn thì mỗi buổi chiều, tôi chỉ đờn độ 45 phút, mà được trả thù lao là 2.000 francs cũ (tức 20 francs mới, lối 3 Euro rưỡi) và được bồi dưỡng thêm một bữa ăn ngon. Chưa kể tiền cho thêm của khách khi hỏi tôi về những nhạc khí dân tộc. Tiền thêm thường là hơn hẳn tiền trả thù lao.

Thông dịch cho tòa án thì từ 1 câu đến một trang giấy 20 câu, tôi phải mất 30 phút mà được trả 1.000 francs cũ.

Lồng tiếng phim thì khi nói xong vai của mình, nếu là chỉ là nói 1 câu đến 20 câu đối thoại thì được trả 8.000 francs cũ.

Trong lúc đó, khi bảo tàng viện Guimet mời tôi thuyết trình một buổi khoảng hai tiếng, những đề tài âm nhạc như « Đờn Tài tử miền Nam », « Dân ca trong đời sống người Việt »… thì tôi phải viết ra văn bản tóm tắt đại ý buổi nói chuyện, đem hình ảnh dưới dạng dương bản (slide) để rọi lên màn hình, đem tư liệu ghi âm dưới dạng dĩa hát hay băng từ, tự trả tiền xe di chuyển và chuyên chở tư liệu mà chỉ được trả 5.000 francs cũ.

Mà muốn có được những tư liệu dùng trong buổi nói chuyện cho bảo tàng viện, và sau này cũng dùng trong luận án Tấn sĩ (tức là công việc chính, lý tưởng chính cho cuộc đời), tôi phải mất rất nhiều thời gian đọc sách, ghi chép, chụp ảnh lưu vào hồ sơ, nghe băng ghi âm, phân tích những bài ca, bản nhạc… mà công việc đó không đem lại lợi nhuận nhiều trong sinh kế

.Điều này làm tôi luôn tự nhắc mình việc kiếm tiền bằng những công việc kia chỉ là phương tiện giúp tôi thực hiện lý tưởng và mục đích cuộc đời. Không thể vì lợi nhuận và sự dễ dàng thuận lợi của những công việc đó mà bỏ quên đi công việc chính ta đang theo đuổi.

Đó là chạy theo phương tiện mà bỏ quên cứu cánh vậy! Nhưng không phải công việc gì đem lại lợi nhuận nhiều mà mình đều làm cả.

Tôi thà đờn cả giờ trong hiệu ăn, vừa đem đến sự êm dịu cho khách hàng mà cũng vừa có cơ hội giới thiệu Âm nhạc truyền thống Việt Nam, dầu cho số tiền 1.000 francs thù lao chẳng có là bao. Trong khi một đài truyền hình nhờ tôi đờn cò trong 5 phút để lấy tiếng đờn đó làm nền cho bộ phim nước Việt Nam dưới thời kỳ bị đô hộ (cảnh phim miêu tả một anh phu xe đổ mồ hôi kéo xe chở một người Pháp to lớn) thì tôi được họ đề nghị trả thù lao là 3.000 francs. Tôi bằng lòng với hãng phim chỉ lấy tiếng đờn của tôi mà không thâu hình người đờn. Đề nghị này không được chấp nhận. Vì vậy tôi rời phim trường và không cần hợp tác.

Các bạn thấy đó, không thể vì nhận đồng tiền mà phải mang nỗi nhục góp sức vào việc tuyên dương chánh sách thực dân và làm nhục nhân cách người Việt thuở ấy, vì kế sanh nhai mà biến thành con ngựa người!

Trong một trường hợp khác, Hiệp hội « Những người Pháp đã từng sống tại Đông Dương » (Association des Anciens Colons en Indochine) tổ chức một tiệc lớn để gặp gỡ nhau nhắc lại chuyện xưa khi các ông còn làm quan lớn trong các cơ quan hành chánh và quan thuế, ban tổ chức có nghe tôi giới thiệu về Âm nhạc truyền thống Việt Nam với thù lao rất thấp nên định trả tôi số tiền gấp 20 lần so với các hiệu ăn. Nhưng tôi đã không nhận lời mời này. Lý do là không muốn đem tiếng đờn của mình làm vui tai cho những người đã từng bóc lột dân tộc tôi. Nếu đêm tiệc tổ chức cho các cựu giáo sư, cựu bác sĩ đã từng sang Đông Dương giúp ích hoặc đem văn hóa đến thì chắc tôi sẽ nhận lời dầu tiền thù lao có ít hơn.

Trong cuộc sinh kế, đối với tôi – một người xa xứ, sống trên đất khách quê người, việc mưu sinh là rất cần thiết, nhưng không phải đồng tiền từ đâu đến ta cũng đều nhận cả.

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (4)(Trần Văn Khê)SỰ DẤN THÂN & CỐNG HIẾN

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ (4)(Trần Văn Khê)SỰ DẤN THÂN & CỐNG HIẾN

Thường thì một người học sinh chỉ muốn tập trung vào việc học và tránh lãnh trách nhiệm trong những việc khác. Vì vậy, khi giám thị đề nghị giữ tủ sách cho toàn lớp thì không ai chịu tình nguyện cả. Thời gian đâu để mà lựa sách theo lời yêu cầu của học sinh, kêu tên phát từng người, hết hạn phải đứng đợi góp sách lại rồi xếp vô tủ theo thứ tự của mã số từng quyển?

Tuy mọi người đều ngán nhưng tôi lại tình nguyện mỗi năm giữ tủ sách cho mỗi lớp khác nhau. Có mất thời gian thực nhưng bù vào đó mình có hai quyền lợi. Thứ nhứt khi mình muốn đọc quyển nào thì không ai dành với mình được. Mỗi học sinh chỉ được quyền mượn một quyển sách trong một tuần. Riêng tôi, hễ đọc hết quyển sách đã mượn lại có quyền đọc tất cả những quyển sách khác trong tủ.

Nhờ đó mà tôi luôn luôn là người đọc nhiều sách nhứt của nhà trường. Nếu chỉ nghĩ mình mất thời gian phát và góp sách thì mình ngần ngại. Nếu thấy cả quyền lợi tôi vừa kể trên thì việc mất thời gian đó đã được bù đắp bằng việc được đọc sách thỏa thuê!Đến giờ tập thể thao, mỗi học sinh được quyền chọn lựa một bộ môn để tham gia. Ai đá bóng thì không thể ở trong đội bóng rổ hay bóng chuyền.

Tôi lại thích vừa bóng rổ, vừa bóng chuyền và thỉnh thoảng tôi cũng thích đấu với những đội bóng rổ, bóng chuyền của trường khác. Vì vậy khi có cuộc bầu cử Tổng thư ký Hội thể thao của trường trung học, tôi không ngần ngại ứng cử. Khi được lãnh trách nhiệm rồi tôi có thể chủ động viết thơ mời các đội trường khác lại thi đấu. Đồng thời, tôi cũng có được kinh nghiệm trong việc tổ chức các cuộc gặp gỡ trong lãnh vực thể thao.

Và sau này, ở lãnh vực nghiên cứu, tôi không thấy ngỡ ngàng trong cách tổ chức hội thảo, hội nghị. Thời gian mất cho hội thể thao là cái giá phải trả để thực hiện việc mình muốn làm và là cơ hội cho tôi được học hỏi những kinh nghiệm tổ chức về sau.

Tại trường Trung học Trương Vĩnh Ký, tôi là người đề xướng ra lễ đưa Ông Táo về trời trước khi nghỉ học vào dịp Tết. Trong buổi lễ, một phần lớn là dựng lại đủ nghi tiết của một cuộc lễ tế thần, sắp đặt bàn thờ có lư hương, chân đèn sáp… Sau đó là những tiết mục văn nghệ và nhạc của trường, diễn tấu những bản nhạc truyền thống. Còn những màn độc xướng, hợp xướng phần nhiều là bằng tiếng Pháp vì khán giả dự lễ chẳng những là học sinh của toàn trường, các thầy Giám thị và Giáo sư là người Việt, còn có các Giáo sư và ban lãnh đạo trường toàn là người Pháp.

Lúc đó trong trường chỉ có tôi là rành nghi lễ nhờ cậu Năm của tôi từng dạy qua. Tôi lại thích biểu diễn trên sân khấu. Thuở nhỏ, tôi lại theo gánh hát cải lương của cô Ba tôi, nên khi được phép tổ chức Lễ Ông Táo cho trường, tôi rất vui được thực hiện những gì mà trước kia người lớn làm mà trẻ con như tôi chỉ tham dự thôi. Các bạn tôi thì sợ mất thời gian học tập nhưng tôi nhờ học bài mau thuộc, lại có cách bù vào thời giờ dành cho buổi lễ. Tôi học và làm bài trong ngày chủ nhựt, trong gia đình ai cũng lấy làm lạ rằng tại sao một đứa nhỏ như vầy mà thấy ít ham chơi, chỉ ham học. Nhờ kinh nghiệm của việc tổ chức Lễ Ông Táo mà khi ra trường Đại học ở Hà Nội, tôi cũng được giao cho phận sự tổ chức hàng năm « Đêm Sinh Viên ».

Lúc phải rời trường về Nam, tổ chức ban kịch sinh viên lưu diễn ở các tỉnh để thâu tiền mua gạo cứu đói, thì tôi thấy những công việc này không có gì là khó khăn. Sau thời kỳ ở trong nước, khi sang Pháp du học tôi cũng đã tổ chức chương trình nghệ thuật cho hiệu ăn « La Table Du Mandarin”, vừa để có tiền sinh hoạt phí, vừa thỏa mãn năng khiếu biểu diễn nghệ thuật của chính mình.

Khi tham dự Liên hoan Thanh niên tại Budapest năm 1949, chỉ có tôi và anh Nguyễn Ngọc Hà và một số ít sinh viên biết về nghệ thuật. Chúng tôi đã thành công hai chương trình quốc gia về nghệ thuật để góp mặt với thanh niên các nước trên thế giới đến xem. Trong khi vừa tổ chức Lễ Ông Táo, tôi lại phải dựng một dàn nhạc đặc biệt cho trường Trung học Trương Vĩnh Ký mà tôi đứng ra chỉ huy. Sanh ra trong một gia đình có truyền thống đờn tài tử nên tôi thích đưa bản theo điệu bắc ra thành những bản có phối khí, có nhiều bè và có sự tham gia của những cây đờn phương Tây. Vì vậy, trong dàn nhạc Trương Vĩnh Ký ngoài những cây đờn kìm, đờn cò và sáo trúc, tôi để thêm đờn mandoline, guitare Hawaiienne (lục huyền cầm Hạ Uy Di) và cây đờn violon, do 3 bạn: Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan, Nguyễn Mỹ Ca biểu diễn.

Tôi lại đem dàn nhạc đó ra làm dàn nhạc Scola club của Hội Đức Trí Thể Dục, có được thêm cây đờn piano và cây kèn saxophone. Dàn nhạc này biểu diễn những bản nhạc Tây được ưa chuộng lúc ấy như “C’est à Capris”, “Les gars de la marine”, “Marinella” v.v…

Và tiếp tục sau đó khi ra Hà Nội, tôi chỉ huy dàn nhạc của trường đại học. Kể ra, tôi phải dành thời gian khá nhiều cho sự luyện tập nhạc công, phối khí bản nhạc ra nhiều bè, bởi vì tôi không phải nhạc sĩ chuyên nghiệp, lại chưa học ngày nào về cách phối khí hay chỉ huy. Tôi chỉ có lỗ tai rất thính và khéo bắt chước động tác của các nhà chỉ huy Pháp thời đó như Jacques Parmentier của đội binh lính khố xanh và ông Grégoire của đội thủy quân.

Nhưng tôi được thể nghiệm một điều mà tôi mơ ước từ nhỏ là chỉ huy dàn nhạc. Nhờ kinh nghiệm đó càng giúp tôi sau này nhận xét rõ ràng hơn sự khác nhau giữa nhạc dân tộc truyền thống và nhạc phương Tây, để sau này đi đến sự quyết định của tôi là đi sâu vào sự hiểu biết về Âm nhạc truyền thống và thấy rõ giá trị của bản sắc dân tộc.Các bạn thấy chăng, từ những việc cống hiến, dấn thân rất nhỏ nhặt trong cuộc đời học sinh, sinh viên mà tôi lại có một vốn liếng phong phú và những suy tư chín chắn để có thể định hướng cho sự nghiệp âm nhạc của tôi về sau này.

Các bạn cũng thấy chăng, việc học tập và giải trí của một học sinh, sinh viên tuy là hai lãnh vực khác biệt nhưng nếu các bạn biết chọn lựa và kết hợp thì chính cả hai sẽ tạo nên một tiềm năng mạnh mẽ, giúp các bạn vươn xa hơn trên con đường tương lai.