Jour : 23 mai 2021

PHƯƠNG HÀ : Nghệ thuật hát xẩm – Từ hè đường đến sân khấu

Nghệ thuật hát xẩm – Từ hè đường đến sân khấu

Thứ Ba, 13/11/2018 10:52 | 

Văn hoá

Nhân ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23/11, Chiếu xẩm Hải Phòng và Nhóm Đình làng Việt phối hợp với Ban Quản lý Di tích Phố cổ Hà Nội tổ chức chương trình tọa đàm và biểu diễn « Nghệ thuật hát xẩm – Từ hè đường đến sân khấu ».

Chú thích ảnh
Biểu diễn hát xẩm trong một phiên chợ Xuân. Ảnh: Bá Linh 

Sự kiện diễn ra vào lúc 14 ngày Chủ nhật 18/11/2018 tại Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ, 50 Đào Duy Từ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Đại diện BTC cho biết, chương trình sẽ giới thiệu những đặc trưng căn bản của xẩm từ môi trường diễn xướng, các nhạc cụ và một số làn điệu điển hình… nhằm giúp công chúng hiểu và yêu bộ môn nghệ thuật hát xẩm. Theo đó, các nghệ nhân, diễn giả tham gia chương trình sẽ giới thiệu với công chúng từng chặng đường phát triển của xẩm.

Từ một hình thức đàn hát dân gian, được những người khiếm thị dùng mưu sinh nơi đầu đường góc chợ, bến nước, mom sông, đến nay hát xẩm đã trở thành một loại hình nghệ thuật được biểu diễn trên sân khấu, và là một di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được rất nhiều người yêu thích.

Tuy nhiên, dù phát triển đến đâu, hát xẩm vẫn luôn gần gũi với người dân lao động. Tiếng nói trong hát xẩm là tiếng nói của nhân tình thế thái. Tiếng đàn, tiếng hát của xẩm kể những câu chuyện đời với nội dung đa dạng, phong phú đủ cả hỉ, nộ, ái, ố…

Trong chương trình tọa đàm và biểu diễn « Nghệ thuật hát xẩm – Từ hè đường đến sân khấu » lần này, công chúng sẽ được chiêm ngưỡng cả một bức tranh lịch sử thông qua nội dung của những bài hát xẩm ở từng thời kỳ: Hát xẩm trước Cách Mạng tháng 8 (1945), hát xẩm từ Cách Mạng tháng 8 đến khi thống nhất đất nước (1975) và hát xẩm đương đại (từ 1975 đến nay).

Chú thích ảnh
Gánh hát xẩm ngày xưa. Ảnh: TL

Chương trình có sự tham gia trao đổi và trình diễn của NSND Xuân Hoạch, người được xem là « trưởng lão » của làng xẩm Việt Nam đương đại, ông có nhiều năm nghiên cứu, kế thừa và phát triển tinh hoa của các thế hệ đi trước. NSND Xuân Hoạch còn được biết đến là người có công phục chế các nhạc cụ dân tộc như đàn bầu, đàn nhị, đàn đáy, đàn nguyệt… sử dụng dây tơ theo lối cổ, thay vì dùng dây kim loại như hiện nay.

Bên cạnh đó, chương trình quy tụ nhiều nghệ nhân dân gian là những cây đa, cây đề trong làng xẩm ngày xưa như nghệ nhân Lê Minh Sen (Thanh Hóa), người đã từng ôm cây đàn nhị cùng với giọng hát xẩm của mình ra mặt trận, mang những lời ca hóm hỉnh, mang lại tiếng cười sảng khoái động viên tình thần các chiến sĩ, thôi thúc ý chí quyết tâm chiến đấu của quân và dân Thanh Hóa.

Nghệ nhân dân gian Đào Bạch Linh (Hải Phòng) và một số nghệ nhân « ẩn mình » ở các làng quê, chưa được phong tặng danh hiệu như bà Nguyễn Thị Mận (con gái của nghệ nhân hát xẩm huyền thoại Hà Thị Cầu), ông Lê Văn Vượng cùng đến từ chiếu xẩm mang tên cố nghệ nhân Hà Thị Cầu tại Yên Mô, Ninh Bình và một số nghệ nhân, nghệ sĩ trẻ triển vọng đến từ nhiều nhóm, hội, địa phương khác nhau.

Chú thích ảnh
Biểu diễn hát Xẩm tại Rạp Hồng Hà. Ảnh: Bá Linh

Đại diện BTC cho biết, chương trình lần này còn có một vị khách mời đặc biệt, cụ Nguyễn Thị Lạt, sinh năm 1923 ở Tứ Kỳ, Hải Dương. Khoảng 75 năm về trước cụ đã dắt người anh trai mù loà của mình đi hát xẩm. Trong quá trình hành nghề, cụ từng tiếp xúc với rất nhiều “huyền thoại của làng xẩm” như: Trùm xẩm Nguyễn Văn Nguyên (Hà Nội), Trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu (Ninh Bình – chồng cố Nghệ nhân Hà Thị Cầu), Trùm xẩm Nguyễn Văn Tự và Lý Văn An (ở Hải Phòng)… cùng nhiều nghệ nhân xẩm lão làng.

Năm nay đã 96 tuổi, tuy bị nặng tai nhưng cụ vẫn minh mẫn, trí nhớ đặc biệt tốt, vẫn có thể vừa hát vừa đánh trống và sênh, và đặc biệt, cụ cụ Nguyễn Thị Lạt là một kho tư liệu sống các lời ca, các bài hát xẩm.

« Nghệ thuật hát xẩm – Từ hè đường đến sân khấu » có thể xem như một đại hội không chính thức của làng xẩm Việt Nam đương đại khi có sự tham dự của đại diện nhiều hội, nhóm, Câu lạc bộ đang thực hành truyền dạy hoặc biểu diễn hát xẩm như: Chiếu xẩm Hải Thành (Hải Phòng), Chiếu xẩm Hà Thị Cầu (Ninh Bình), Trung tâm âm nhạc truyền thống Thăng Long (Hà Nội), CLB Ca nhạc Truyền thống UNESCO Hà Nội, CLB Còn duyên (Vĩnh Phúc), Đoàn nghệ thuật Đông Đô (Hà Nội), CLB Liên Hoa, CLB Sen Tây Hồ…

Chương trình còn có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa và âm nhạc dân gian, đồng thời mở cửa tự do cho tất cả những khán thính giả quan tâm đến nghệ thuật hát xẩm.

Phương Hà/Báo Tin tứcHát Xẩm trở lại sân khấu lớn

Hát Xẩm là nghệ thuật dân gian đặc sắc, lâu đời, đã có mặt ở nhiều địa phương trên miền Bắc và rất phổ biến ở Hà Nội từ đầu thế kỷ 20. Song do quan niệm sai lầm mà hát Xẩm không được tôn vinh đúng như giá trị nghệ thuật của nó

https://baotintuc.vn/van-hoa/nghe-thuat-hat-xam-tu-he-duong-den-san-khau-20181113102256854.htm

Thảo Duyên – Tuấn Phong: Âm nhạc truyền thống trong đời sống đương đại

Âm nhạc truyền thống trong đời sống đương đại

07:53 29/09/2018

Trong đời sống văn học nghệ thuật, âm nhạc luôn là lĩnh vực gần gũi, gắn bó mật thiết hàng đầu với sinh hoạt văn hóa của con người. Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, âm nhạc ngày càng đa dạng, không ngừng mới mẻ để phù hợp với nhu cầu thưởng thức ngày càng cao của khán giả…

Lưu giữ mạch nguồn bền bỉ

Với sự da dạng vùng miền, dân tộc, âm nhạc truyền thống Việt luôn phong phú và tồn tại như một thành tố quan trọng, không thể thiếu. Dòng nhạc dân tộc ra đời và tồn tại hàng nghìn năm, đồng hành cùng quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Tuy nhiên hiện nay, trước ảnh hưởng mạnh mẽ của những loại hình âm nhạc hiện đại, du nhập từ các nước Âu, Mỹ, gần đây nhất là Hàn Quốc, đã khiến đôi khi âm nhạc truyền thống rơi vào tình trạng bị khán giả trẻ quay lưng, thờ ơ.

Những ca sĩ trẻ nhiều như nấm sau mưa, nháo nhào bắt chước từ hình thức đến phong cách các ngôi sao giải trí Hàn Quốc. Không ít học sinh ngồi trên ghế nhà trường thuộc tên ca sĩ, nhóm nhạc nước ngoài hơn cả những làn điệu dân ca của quê hương mình.

Đây là một thực tế không khỏi chạnh lòng. Trong khi, với mỗi quốc gia, dân tộc, văn hóa luôn là sự khẳng định những nét đặc trưng riêng của quốc gia, dân tộc đó. Sự lai căng của văn hóa nói chung, của âm nhạc nói riêng cũng đã mang đến nguy cơ mất dần bản sắc dân tộc.


Biểu diễn nghệ thuật hát xẩm tại phố cổ Hà Nội.

Các loại hình âm nhạc đặc sắc như Nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ, ca trù, hát xoan… đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại nhưng đều rơi vào tình trạng ít được khán giả trẻ quan tâm, hoặc phải sân khấu hóa mới thu hút được công chúng.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, chưa có được vị trí xứng đáng, thậm chí đứng trước nguy cơ mai một trong dòng chảy đời sống hiện đại, nhưng những người làm âm nhạc truyền thống vẫn nỗ lực không ngừng để giữ gìn nét đẹp tinh hoa này. Nhiều câu lạc bộ biểu diễn hát chèo, xẩm, chầu văn… vẫn được các nghệ sĩ cố gắng duy trì. Những dự án như sân khấu học đường, làm quen với nghệ thuật truyền thống vẫn được các đơn vị, nhà hát tích cực đưa vào trường học, góp phần đưa âm nhạc truyền thống đến gần hơn với khán giả trẻ.

Hầu hết các nhà chuyên môn đều cho rằng, để khán giả trẻ yêu âm nhạc truyền thống, trước hết phải làm cho họ hiểu. Và chắc chắn, không có một phương thức duy nhất cho mục tiêu này mà âm nhạc chỉ có thể lan truyền, khẳng định vị trí trong đời sống âm nhạc bằng rất nhiều phương cách.

Nhìn vào những chuyển biến của đời sống âm nhạc hiện nay, chúng ta thấy được sự hiện hữu của dòng nhạc truyền thống bằng nhiều cách khác nhau. Với thị trường ca nhạc, sự dung hòa giữa yếu tố truyền thống – hiện đại trong tác phẩm âm nhạc ngày càng được các tác giả coi trọng.

Nếu như trước đây, tinh thần này chỉ tập trung trong tác phẩm của một số nhạc sĩ như Phó Đức Phương, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Lê Minh Sơn, Giáng Son, Lưu Hà An… thì ngày nay xuất hiện nhiều ở các tác giả trẻ. Sự lên ngôi của một loạt ca khúc như « Bống bống bang bang », « Bánh trôi nước », « Kiều », « Tương tư »… cho thấy các nhạc sĩ trẻ đã tận dụng khai thác hiệu quả những yếu tố truyền thống để đưa vào ca khúc của mình.

Nếu như tác giả Only C lấy chất liệu dân gian từ truyện cổ tích Tấm Cám để đưa vào ca khúc « Bống bống bang bang », thì tác giả Cao Bá Hưng đã ghi dấu ấn bằng một loạt những bài hát đậm chất văn học, dân tộc mà nổi bật là ca khúc « Kiều ». Không chỉ nội dung mà sự kết hợp của các nhạc cụ truyền thống như đàn nguyệt, trống, paranưng, sáo đã mang « Kiều » đến gần với khán giả trẻ tuổi một cách rất truyền thống.

Khát vọng đưa nhạc dân tộc Việt Nam tiệm cận với nền công nghiệp âm nhạc thế giới, chinh phục khán giẻ trẻ, nhiều sản phẩm âm nhạc dân gian đương đại được ra thực hiện bởi những nghệ sĩ đầy ý tưởng.

Mới đây, nhạc trưởng Lưu Quang Minh (sinh năm 1985) đã cùng nhạc sĩ Quốc Trung cho ra đời album « Vietnam » – album nhạc giao hưởng đầu tiên tại Việt Nam kết hợp bản sắc dân gian với cả 2 loại nhạc cụ dân tộc và phương Tây trên nền nhạc đương đại. Hay thử nghiệm hình thức hát giao duyên quan họ Bắc Ninh với những nhạc cụ phương Tây thông qua tứ tấu đàn dây trong sản phẩm « Nam nhi – đối thoại Đông Tây » của nghệ sĩ trẻ Ngô Hồng Quang là một trong số những sản phẩm âm nhạc dân tộc tiệm cận với âm nhạc thế giới.

Trong dòng chảy như vũ bão của truyền hình thực tế, dòng nhạc trữ tình, quê hương, dân ca gần đây cũng đã nổi lên như một hiện tượng. Những ca sĩ có đóng góp trong lĩnh vực này phải kể tới cô bé Phương Mỹ Chi, nghệ sĩ Hoài Lâm… Dù thế giới âm nhạc luôn nhiều màu sắc, nhiều gu thưởng thức khác nhau nhưng âm nhạc truyền thống luôn song hành bền bỉ cùng đời sống con người vì đó là hình ảnh quê hương, đất nước, con người Việt Nam.

Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Quang Long: Tôi tin vào sự trường tồn của âm nhạc truyền thống

– Thưa nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Quang Long, lâu nay người ta nói nhiều về những khó khăn của lĩnh vực âm nhạc truyền thống trong dòng chảy đời sống âm nhạc hiện đại, bản thân anh vừa làm công tác nghiên cứu vừa tham gia biểu diễn trong lĩnh vực này, anh thấy thế nào?

+ Có thể nói, đời sống âm nhạc hiện nay khá đa dạng, với nhiều dòng chảy khác nhau nên xét về khó khăn ở dòng nhạc truyền thống ngay ở bề nổi đã nhìn thấy rất rõ. Phân khúc của dòng nhạc này trong thị trường khá nhỏ và thường chịu một thiệt thòi là ít có khán giả bỏ ra tới 1 – 2 triệu đồng để mua vé như ở các lĩnh vực ca nhạc khác.

nguyễn quang long

Tuy nhiên, trong sự đa dạng của các dòng chảy văn hóa thì bản thân âm nhạc truyền thống vẫn chứa đựng những yếu tố thuận lợi. Âm nhạc truyền thống là cái để xác định bản ngã của chúng ta, và nghệ thuật nào cũng có chỗ đứng riêng trong lòng khán giả, dù ít hay nhiều. Ở một góc độ nào đó, nghệ thuật truyền thống có được sự ưu ái, sự trân trọng nhất định. Chính vì vậy, với âm nhạc truyền thống, khó khăn về tài chính nhưng thuận lợi là về tinh thần.

– Nhắc tới anh, không thể không nhắc tới nhóm Xẩm Hà thành mà anh cùng các nghệ sĩ đang đồng hành. Hẳn anh có nhiều thực tế thú vị trong việc giữ gìn vốn âm nhạc truyền thống?

+ Nhóm xẩm thành lập năm 2005 với sự tham gia của những nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, tác giả tên tuổi trong lĩnh vực sân khấu truyền thống. Sau 5 năm nỗ lực phục hồi cho nghệ thuật hát xẩm, khi thấy tạm ổn, các nghệ sĩ quay lại với công việc chính của mình tại các cơ quan, nhà hát. Nhưng sau tôi thấy « Ồ! thế chưa được! ».

Nếu chỉ làm sống lại những bài hát từ thời xa xưa thì xẩm khó có đời sống lâu dài vì đó là biểu hiện của tâm trạng, tinh thần của thời đó. Ví dụ, bài xẩm « Cô hàng nước » ra đời từ những năm 1920. Xẩm cần một không gian sống tươi mới hơn. Chính vì vậy năm 2009, tôi và nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa lập ra nhóm Xẩm Hà thành trên quan điểm sẽ thể hiện những gì đời nhất và hướng tới giới trẻ. Ngay 2011 chúng tôi đã tổ chức được 1 đêm xẩm Hà thành tại Nhà hát Lớn.

Năm 2015, 2016 mỗi năm một đêm diễn tạo tiếng vang hơn nữa. Khi đưa xẩm vào Nhà hát Lớn không chỉ với mục đích đưa nghệ thuật này tới được thánh đường của sân khấu, mà còn tri ân những người có nhiều đóng góp cho nghệ thuật hát xẩm như nghệ nhân Hà Thị Cầu.

Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện nhiều MV, trong đó có « Bốn mùa hoa Hà Nội », « Tứ vị Hà thành » lung linh hiện đại với sự tham gia của các đạo diễn chuyên nghiệp. Để tiếp cận với khán giả, chúng tôi chú trọng tới nội dung tươi mới, có tiết tấu, đưa đồng dao vào để thêm gần gũi…

– Anh nói thì rất nhẹ nhàng, đơn giản, nhưng chúng tôi biết, đó là hành trình không ít gian nan của anh và các nghệ sĩ cùng tâm huyết, ngay cả ở thời điểm này?

+ Để đưa xẩm về được Nhà hát Lớn cần có được một nguồn kinh phí lớn, chúng tôi phải vận động hết sức để các tổ chức, cá nhân tài trợ cho buổi diễn. Hiện nay, chúng tôi vẫn duy trì đều đặn biểu diễn 3 buổi tối cuối tuần ở phố cổ. Thù lao dù chỉ đủ để các nghệ sĩ đi xe ôm, uống trà đá nhưng ai cũng hào hứng và biểu diễn hết mình. Không chỉ là một nét đẹp của Thủ đô, đó còn là sân chơi để mọi người gặp nhau, luyện nghề, « chơi » nghề. Chúng tôi huy động được khá nhiều nghệ sĩ của nhà hát truyền thống chèo, ca huế, cải lương cùng tham gia. Chính tình yêu nghệ thuật lan tỏa và níu giữ các nghệ sĩ đến sân chơi này mà không ai màng đến thù lao.

– Để nghệ thuật xẩm có được vị trí như ngày hôm nay là sự nỗ lực không nhỏ của các nghệ sĩ Xẩm Hà thành?

+ Vừa làm công tác nghiên cứu, biên tập và biểu diễn âm nhạc nên tôi và các nghệ sĩ đều xác định phải làm cái gì để thị trường đón nhận, chứ không phải để vào « bảo tàng âm thanh ». Nghệ thuật luôn là một dòng chảy liên tục có bồi đắp, tức là vẫn giữ nguyên bản chất nhưng phải thay đổi cho phù hợp với thời đại mới. Muốn khán giả trẻ yêu xẩm thì nó phải có diện mạo mới.

Chúng tôi nghĩ nhiều phương cách, luôn luôn làm mới xẩm. Ví dụ khi có sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, chúng tôi cho ra mắt bài « Tiễu trừ cướp biển » (bắt nguồn từ bài « Tiễu trừ giặc dốt » trong dân gian), khai thác tiết tấu vui tươi, dí dỏm. Khi tôi sang Pháp, bất ngờ là các em sinh viên cũng biết bài này.

Nhiều khi chúng tôi cũng thấy chạnh lòng khi nhìn sang các lĩnh vực khác, nhưng thấy khán giả hào hứng, thấy xẩm được yêu thích là lại tràn đầy năng lượng. Tôi luôn tin vào sự trường tồn của nghệ thuật truyền thống. Đi sâu vào âm nhạc truyền thống lại càng bắt gặp nhiều điều thú vị. Như việc nghệ nhân Hà Thị Cầu đã mất mấy năm rồi nhưng chúng tôi vẫn bắt gặp có những em chỉ 9 – 10 tuổi say câu hát của bà, hát giống một cách tuyệt đối. Các em không ngại đi khắp nơi để tái hiện lại câu hát của bà. Rõ ràng, nghệ thuật truyền thống luôn có một sức sống kỳ lạ, không bao giờ tắt.

 – Để âm nhạc truyền thống lấy lại được được vị trí xứng đáng, quả chúng ta cần rất nhiều việc phải làm, thưa anh?

+ Khó khăn của âm nhạc truyền thống đến từ những yếu tố con người là chủ yếu, ở cả khía cạnh công chúng và người quản lý. Chúng ta đã có chủ trương đúng đắn về bảo tồn văn hóa dân tộc nhưng không nên làm theo phong trào, quá chú trọng đến chiều rộng mà phải đi vào chiều sâu. Đưa âm nhạc truyền thống vào đúng không gian văn hóa của nó..

Với chủ trương sân khấu học đường, theo tôi đây không nên là dự án mà phải là hoạt động thường xuyên, phù hợp với từng địa phương. Mỗi địa phương lấy các làn điệu truyền thống của mình ra làm trọng tâm như Bắc Ninh, Bắc Giang là hát quan họ; Phú Thọ hát xoan; đồng bằng Bắc Bộ: hát chèo, miền Nam cải lương… Ngoài ra, các đơn vị truyền thông lớn như Đài Truyền hình cần có sự điều tiết và dành thời lượng phát sóng hợp lý cho những chương trình ca nhạc này.

– Xin cảm ơn anh!

NSƯT Minh Phương (Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam): Truyền cho các em tình yêu âm nhạc từ tấm bé

Nhiều năm gắn bó với âm nhạc truyền thống nói chung và nghệ thuật chèo nói riêng, tôi nhận thấy âm nhạc truyền thống vẫn luôn có một vị trí không thể thay thế trong đời sống văn hóa. Mỗi lần đi biểu diễn, tôi đều cảm nhận rằng khán giả không hề quay lưng với âm nhạc truyền thống. Điều quan trọng là chúng ta phải có nhiều chương trình hay, mang đậm giá trị nghệ thuật để xứng đáng với sự mong đợi ấy.

NGUT MINH PHƯƠNG

Còn để khán giả trẻ yêu âm nhạc truyền thống lại là một vấn đề cần sự kết hợp của gia đình và xã hội. Bản thân những bậc làm cha làm mẹ nên có ý thức trong việc giúp con trẻ yêu âm nhạc truyền thống bằng cách cho con nghe hát ru, làm quen với các làn điệu dân ca ngay từ tấm bé. Khi các con đến tuổi tới trường, môn học âm nhạc cần được thiết kế phù hợp với từng lứa tuổi, nhận thức. Thật khó có thể khuyến khích các em biết yêu, biết gìn giữ những giá trị của âm nhạc truyền thống nếu các em không thấy hay, thấy gần gũi.

Điều khiến tôi trăn trở là một số cơ quan báo chí truyền thông thay vì định hướng đúng để khán giả hướng đến những giá trị chuẩn mực thì đôi khi còn tiếp tay cho những giá trị ảo lên ngôi. Có không ít ca sĩ được tung hô như ông hoàng, bà chúa, trong khi có rất ít đóng góp cho đời sống âm nhạc.

Sự đãi ngộ dành cho các nghệ sĩ ở lĩnh vực này còn nhiều hạn chế khiến không ít đồng nghiệp của tôi đành phải theo đuổi dòng nhạc khác để phục vụ nhu cầu cuộc sống. Gắn bó với âm nhạc truyền thống như máu thịt, bản thân tôi vừa ra kênh youtube của riêng mình với mong muốn là nơi giao lưu, chia sẻ với những khán giả yêu chèo cũng như lan tỏa tình yêu chèo trong cộng đồng mạng. Ngoài ra, tôi cũng sẽ cho ra mắt album hát ru trong thời gian tới để hy vọng thế hệ sau này không quên những làn điệu dân ca thấm đẫm yêu thương của dân tộc mình.

NSƯT Quốc Hưng, Trưởng khoa Thanh nhạc, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam: Ai thực tài sẽ sống được với nghề

– Thưa NSƯT Quốc Hưng, đứng ở góc độ một người làm công tác đào tạo trong lĩnh vực âm nhạc, vai trò của dòng nhạc truyền thống được coi trọng như thế nào?

+ Tại Khoa Thanh nhạc của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam từ hệ trung cấp đến đại học đều gắn bó với âm nhạc truyền thống. Ngay từ năm thứ nhất, năm thứ 2, các em được làm quen và học bài bản các làn điệu dân ca như quan họ, dân ca Bình Trị Thiên, dân ca Nam Bộ… Những luyến láy của dòng nhạc này rất quan trọng để áp dụng cho thanh nhạc. Song song với quá trình này, chúng tôi phát hiện ra tố chất, đặc trưng giọng của từng em để hướng các em đi theo những dòng nhạc phù hợp. Em nào chất giọng có màu sắc dân gian, chúng tôi sẽ phân công cho những thầy cô ở lĩnh vực này phụ trách.

NSUT QUỐC HƯNG

– Liệu có tâm lý ngại theo học dòng nhạc dân gian, truyền thống trong các học viên mới vào trường không anh?

+ Rất ít khi có tâm lý ấy, vì ngay từ đầu, khi tuyển sinh, chúng tôi đã phân tích và định hướng rõ cho từng em nên theo dòng nhạc nào để phát huy tốt nhất sở trường của mình. Trong trường, các em học kỹ thuật thanh nhạc giống nhau nhưng sau này đi làm nghề, tự các em tự tìm những dòng nhạc phù hợp. Ở dòng nhạc dân gian, chúng tôi có những giảng viên là nghệ sĩ nổi tiếng phụ trách như Tân Nhàn, Anh Thơ… Đây thực sự là những nghệ sĩ không chỉ vững chuyên môn mà luôn hết mình trên sân khấu cũng như bục giảng.

– Không chỉ là giảng viên, anh còn là đạo diễn của nhiều chương trình ca nhạc. Thực tế thì những nghệ sĩ theo đuổi dòng nhạc truyền thống có « khó sống » không anh?

+ Cá nhân tôi lại cho rằng, những ca sĩ theo dòng nhạc dân gian hiện nay tương đối dễ sống. Ví dụ như khi làm đạo diễn một chương trình ca nhạc, bao giờ tôi cũng cần có từ 3 – 4 ca sĩ của dòng nhạc này. Trong khi đó, dòng nhạc thính phòng kén khán giả, nhạc trẻ lại phải đối mặt mới sự cạnh tranh khá lớn nên lại không hề dễ dàng. Dòng nhạc dân gian truyền thống lại phù hợp với số đông khán giả nên hầu như chương trình nào cũng cần. Tuy nhiên, để có được thu nhập tốt thì các em phải khẳng định được tài năng, tên tuổi của mình.

– Tham gia các cuộc thi là một trong những cách để các ca sĩ mới vào nghề khẳng định tên tuổi đúng không anh? Và các ca sĩ của dòng nhạc dân gian truyền thống hẳn cũng không ngoại lệ?

+ Đúng vậy! Và một trong những cuộc thi mà các ca sĩ trẻ, các sinh viên thanh nhạc nhiệt tình tham gia là cuộc thi Sao Mai. Cuộc thi đã đóng góp cho đời sống ca nhạc nhiều ca sĩ nổi tiếng như Trọng Tấn, Phương Nga, Tân Nhàn, Phương Thảo… Giải Sao Mai dù không phải là cuộc thi chuyên nghiệp nhất nhưng luôn thu hút thí sinh, vì lợi thế là được xuất hiện thường xuyên trên truyền hình.

Tuy nhiên gần đây, nhiều cuộc thi ca nhạc trong đó có Sao Mai không giữ được chất lượng như những năm đầu. Có một số em được giải cao, thậm chí được đầu tư tiền tỉ để ra MV nhưng sau đó lại mất hút, không  ai mời biểu diễn. Bản thân tôi khi làm đạo diễn chương trình luôn cân nhắc và phân định rõ ràng tài năng của từng người để mời.

Gần đây, một số giọng hát của dòng nhạc này tôi rất ấn tượng như Lương Nguyệt Anh, Thu Hằng… Bước ra từ các cuộc thi, các em đều khẳng định được mình. Nếu không có tài năng thật sự thì dẫu có nhờ lý do nào đó, các em được giải cao nhưng đâu sẽ lại về đấy, khán giả quên ngay. Những ai có thực tài thì sẽ sống được với nghề. 

– Với bất kỳ ca sĩ của dòng nhạc nào thì tâm lý nôn nóng, muốn nhanh nổi tiếng hẳn vẫn còn tồn tại?

+ Tôi từng gặp một số em vừa vào trường đã mang sẵn tâm lý muốn nhanh nổi tiếng bằng mọi cách. Với những sinh viên ấy, tôi thực sự ái ngại, vì tôi cho rằng giống như cái cây, lá phun hóa chất xum xuê mà gốc bé thì khó bền vững được. Tôi rất trân trọng những học viên nghiêm túc, mong muốn trau dồi kiến thức thực sự.

Đặc trưng của các sinh viên thanh nhạc là thời gian học tập, gắn bó với thầy cô khá dài nên các em có sự ảnh hưởng tính cách, quan điểm làm nghề không nhỏ từ chính những thầy cô đã dạy dỗ mình. Dấu ấn của người thầy dạy chuyên ngành rất lớn. Vì thế, bên cạnh truyền dạy chuyên môn, mỗi thầy cô phải là một tấm gương về thái độ với nghề, xây dựng hình ảnh đẹp trong mắt khán giả và mẫu mực trong mắt học trò.

Tôi quan niệm và thường khuyên các học trò của mình, với dòng nhạc truyền thống thì quan trọng nhất là « hữu xạ tự nhiên hương ». Các em có tài năng và hết lòng cống hiến, tất sẽ được khán giả biết đến và yêu thích.– Xin cảm ơn anh!
Thảo Duyên – Tuấn Phong (thực hiện)

http://vnca.cand.com.vn/dien-dan-van-nghe-cong-an/Am-nhac-truyen-thong-trong-doi-song-duong-dai-512508/

TRẦN TRANG : Âm nhạc dân tộc – Công cuộc giữ gìn và bảo vệ

Âm nhạc dân tộc – Công cuộc giữ gìn và bảo vệ

2 Tháng Ba, 2019 00SHARES2kVIEWSShare on FacebookShare on Twitter

Âm nhạc của các dân tộc thiểu số là loại hình âm nhạc truyền thống của các vùng này, cái “đặc sắc”, đặc trưng cho vùng. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều loại hình âm nhạc dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ bị mai một, cần được bảo tồn, gìn giữ.

Nguy cơ mai một âm nhạc các dân tộc thiểu số

Việt Nam là nước có cả một kho tàng phong phú về âm nhạc dân tộc, với nhiều loại hình khác nhau, tuy nhiên, nhiều loại hình âm nhạc dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ bị mai một. Một phần nguyên nhân là do sự phát triển của công nghệ cao, điều kiện sống cũng như môi trường sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số đang có những thay đổi. Chính vì vậy, một bộ phận âm nhạc của các dân tộc thiểu số đang gặp phải những khó khăn, thách thức và đứng trước nguy cơ mai một.

Âm nhạc dân tộc có vai trò quan trọng và là yếu tố quyết định tạo ra sự đa sắc, đa hương cho vườn hoa nghệ thuật âm nhạc truyền thống. (nguồn: internet)

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vương Hoàng, Viện Âm nhạc Việt Nam chia sẻ về bản thân rằng, ông đã có những chuyến đi công tác, điền dã. Trong khoảng thời gian đó, bản thân ông đều cố gắng nhận diện và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những nguy cơ bị mai một âm nhạc dân gian của các dân tộc thiểu số hiện nay. Và ông nhận thấy một trong những nguy cơ đó là sự thay đổi hoặc biến mất của không gian diễn xướng dân gian. Tất cả những điều này đều do điều kiện sinh hoạt của bà con các dân tộc thay đổi trong quá trình phát triển và đô thị hóa, và nó là khó tránh khỏi.

Loại hình hát ống của đồng bào Mông tại Chiềng Tương, Yên Châu, Sơn La là một ví dụ cụ thể. Nếu trước đây, nhóm nam nữ tham gia hình thức dân ca này sử dụng hai chiếc ống, nối với nhau bằng một sợi dây làm công cụ để chuyển tải âm thanh và người hát sẽ hát vào một ống, người nghe kéo căng sợi dây và úp ống còn lại vào tai. Họ đối đáp những câu giao duyên, trao đổi tình cảm từ đồng nội sang đồng nội khác. Nhưng vào thời hiện đại này, mọi người sử điện thoại di động hoặc mạng xã hội để thay thế ống nghe. Điều này chứng tỏ hình thức hát ống ở đây đang có nguy cơ mai một.

Bên cạnh đó, các loại hình âm nhạc khác ở trong và ngoài nước, mà đồng bào tiếp thu được trên truyền hình, qua phim ảnh, qua internet… đã lấy đi sự quan tâm và nhu cầu hưởng thụ của người dân. Thêm vào đó, ở nhiều nơi, nhiều dân tộc, giới trẻ đã không còn mặn mà với âm nhạc dân tộc. Thậm chí có nơi, người trẻ còn không biết tiếng của đồng bào dân tộc mình, nên không biết hát giao duyên, không biết hát các làn điệu dân ca của đồng bào các dân tộc mình, dẫn đến nguy cơ mai một âm nhạc dân tộc.

Nguyên nhân chính của tất cả là do những hình thức nghệ thuật dân tộc mang tính vùng miền không còn là nhu cầu bức thiết với người dân. Trong các trường học không có mục giảng dạy về âm nhạc dân tộc, nhưng chúng ta lại đòi hỏi lớp trẻ phải tiếp thu, phải biết gìn giữ, ngay cả quỹ thời gian học cũng chẳng còn chỗ để chúng tìm hiểu. Vậy thử hỏi, người trẻ lấy gì để giữ gìn?

Bên cạnh đó, những môi trường diễn xướng xưa kia nuôi dưỡng nhiều hình thức ca hát giải trí giáo dục như đi rừng, đi củi, chợ phiên, cưới hỏi… đều đã biến đổi, đang nhường chỗ cho các nghệ thuật hiện đại, du nhập từ nước ngoài. Ví như, cưới hỏi dùng nhạc ngoại là chủ yếu, ru con ngủ bằng các loại nhạc nước ngoài…

Đại diện Vụ Văn hóa dân tộc nhận ra rằng, trước đây, ở các bản người Tày, Thái, Mông, Dao… hầu hết mọi người đều biết hát dân ca, chơi nhạc cụ truyền thống và trình diễn các bài múa, nhưng đến nay, số nghệ nhân này còn rất ít, và phần lớn là những người đã cao tuổi, trong khi đó họ lại là lực lượng chính trong việc nắm giữ và trao truyền các di sản âm nhạc truyền thống cho thế hệ trẻ.

Đại diện này cũng đưa ra một thực tế, là hiện nay, môi trường, không gian sinh hoạt âm nhạc dân gian truyền thống đang ngày càng bị thu hẹp, do những thay đổi về đời sống lao động sản xuất, phong tục tập quán, các sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống của cộng đồng. Thậm chí, phương thức trình diễn âm nhạc dân gian của đồng bào cũng đang dần thay đổi về nhịp điệu, tiết tấu, đạo cụ, trang phục và không gian thực hành đang làm mất đi ý nghĩa, giá trị của âm nhạc truyền thống.

Gìn giữ, bảo tồn âm nhạc dân tộc

Và câu hỏi đặt ra là làm thế nào để gìn giữ, bảo âm nhạc cổ truyền dân tộc? Đa số các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc đều cho rằng, cần xây đựng các cơ chế chính sách, các đề án, dự án, các chương trình kế hoạch riêng cho công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc thiểu số, như đầu tư, hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật hiện có như các câu lạc bộ, có cơ chế hỗ trợ các nghệ nhân trong việc bảo tồn, truyền dạy di sản cho các thế hệ kế cận.

Phối hợp giữa cơ quan quản lý văn hóa với các viện nghiên cứu, các nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật để lựa chọn, phân loại và sắp xếp xem loại hình nào cần đầu tư bảo tồn trước, loại hình nào bảo tồn sau, vừa tránh dàn trải, lãng phí, vừa có hiệu quả cao. Thành lập quỹ bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật cổ truyền các dân tộc thiểu số, kêu gọi, thuyết phục các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đóng góp, hỗ trợ cho quỹ này. Di sản sẽ được bảo tồn tốt nhất, ‘sống’ bền vững nhất chính là trong cộng đồng.

Đặc biệt, các nghệ nhân còn ghi lại lời các bài dân ca bằng các ký tự tiếng Việt, để nhiều người có thể đọc và học được. Họ còn bỏ nhiều thời gian và công sức chọn lựa những thanh niên có năng lực truyền dạy. Ngoài việc ghi chép, truyền dạy, các nghệ nhân còn cải biến một số khía cạnh văn hóa cổ truyền cho phù hợp với thị hiếu âm nhạc thời đại, nhưng vẫn giữ được bản sắc vốn có để tạo thêm hứng thú cho lớp trẻ.

Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc thừa nhận, vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật dân gian, trong đó có âm nhạc dân gian các dân tộc, đã được nói đến từ rất lâu. Các hội thảo báo cáo nhiều đến nỗi có người khi nghe đến cụm từ này đã bật thốt lên câu “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Tuy nhiên, dẫu là vậy, vấn đề bảo tồn vẫn phải được nhắc nhở liên tục. Phải nói bởi cái sự bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền nó cũng vận động, cũng biến đổi theo nhịp sống, cách sống của mỗi cộng đồng dân tộc; cũng biến đổi theo cách tư duy văn hóa, chính trị ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ. Vì thế, các nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng, chúng ta vẫn cần phải nói, vẫn phải bàn về bảo tồn.

Đắk Lắk: Bảo tồn nhạc cụ truyền thống các dân tộc (nguồn: internet)

Phong phú kho tàng âm nhạc dân tộc

Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc, trong đó, mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán riêng, ngôn ngữ tiếng nói riêng. Họ cũng sáng tạo và sở hữu một nền âm nhạc mang sắc thái riêng, bao gồm kho tàng dân ca, nhạc cụ phong phú, đặc sắc gắn liền với đời sống của đồng bào.

Từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước, rất nhiều bài dân ca của các dân tộc Thái, Khơ Mú, Mông, Xơ Đăng, Ba Na… liên tục được đưa lên đài phát thanh, in sâu vào ký ức nhiều thế hệ người Việt Nam.

Như chúng ta biết, Việt Nam có 54 dân tộc, và mỗi một dân tộc đều có những nét độc đáo riêng biệt. Âm nhạc dân tộc có đa dạng như hát giao duyên đối đáp, hát đồng dao; hát Then, Mo của người Dao, Tày, Thái; hát Tang ca, hát ống của người Mông; múa chiêng, trống của người Mông, Dao; đàn tính của người Tày, Thái; cồng chiêng Tây Nguyên…

Có thể khẳng định rằng, dù cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, hạn chế điều kiện kinh tế, giao thông, cơ sở hạ tầng… nhưng âm nhạc cổ truyền của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn luôn toát lên sự phong phú, đặc sắc. Những làn điệu âm nhạc này đã góp phần tạo nên bản sắc dân tộc trong âm nhạc Việt Nam vừa độc đáo, vừa đa dạng trong sự thống nhất.

Trần Trang

Nhạc cụ dân tộc – giá trị văn hóa xưa và nay

Nhạc cụ dân tộc – giá trị văn hóa xưa và nay

5 Tháng Sáu, 2020 00SHARES1.8kVIEWSShare on FacebookShare on Twitter

Trong chặng đường lịch sử dài của đất nước, nhạc cụ dân tộc dù không hiện hình nhưng lại có những ý nghĩa to lớn về các giá trị tinh thần.

Nhạc cụ dân tộc xuất phát từ cuộc sống con người. Các nhạc cụ đầu tiên đều rất thô sơ và là những vật gắn với cuộc sống bình thường như tre nứa,.. Đôi khi, ta có thể thấy sự tương đồng của các nhạc cụ dân tộc với các vật dụng hàng ngày. Và với những kinh nghiệm thực tiễn, con người làm ra các sản phẩm đầu tiên. Bắt nguồn từ trong cuộc sống con người, ra đời như một công cụ giải trí, nhạc cụ dân tộc không có gì là lạ khi giữ vững được sự phát triển đến thời điểm hiện tại.

Nhạc cụ làm từ dừa được công nhận là bộ nhạc cụ dân tộc bằng gỗ dừa đầu tiên tại Việt Nam (nguồn: internet)

Theo một vài tài liệu nghiên cứu, tại Việt Nam hiện nay có tới hàng trăm loại nhạc cụ khác nhau. Mỗi loại nhạc cụ đều mang một đặc trưng vùng miền. Có loại nhạc cụ đơn thuần là sự sáng tạo của con người vùng đất đó. Tuy nhiên, một số nhạc cụ khác lại là sự du nhập của khu vực khác. Nhờ vào sự sáng tạo, cải biến, nó dần trở thành nhạc cụ của vùng miền đó.

Nhạc cụ dân tộc có ý nghĩa về mặt âm nhạc với người Việt. Thời xưa, nhạc cụ dân tộc là một hình thức giải trí của người Việt. Chúng ta có thể thấy rõ ràng ý nghĩa này thông qua những buổi biểu diễn nhỏ tại đình làng, sân nhà hay thậm chí ngoài vườn trong những bộ phim tài liệu. Ở khu vực phía Nam như Bạc Liêu, ta có thể dễ dàng bắt gặp được bức ảnh hay tranh vẽ người nông dân kéo đờn hát. Đó chính là những tập tục từ xa xưa.

Các nhạc cụ dân tộc xuất hiện trong những bức ảnh xưa (nguồn: internet)

Tới thời đại ngày nay, tại những sân khấu lớn, nhạc cụ dân tộc cũng thường được xuất hiện. Hàng năm, để bảo tồn và phát huy những giá trị dân tộc, các loại nhạc khí cũng thường được đem ra biểu diễn. Không những vậy, nhạc cụ dân tộc cũng được mang ra quảng bá tại nước ngoài.

Nhạc cụ dân tộc mang các giá trị tinh thần. Như một “đồ cổ” có giá trị lịch sử, nhạc khí dân tộc tồn tại suốt một thời gian dài. Nó gắn bó lâu dài với đời sống con người. Nhờ sự gắn bó đó, vật và người có thêm mối liên kết không thể tách rời với nhau. Một người nghệ sĩ không bao giờ bỏ cây đàn đã đi theo mình từ lúc bắt đầu, nếu bắt buộc từ bỏ thì họ cũng sẽ luôn nhớ tới. Đó chính là những tình cảm con người thường có với nhạc khí của mình.

Nhạc khí dân tộc gắn bó với con người về cả đời sống kinh tế lẫn tâm hồn (nguồn: internet)

Nhạc cụ dân tộc cũng là một phần trong tinh thần dân tộc. Tinh thần dân tộc thuộc về dân tộc, là sự đồng lòng, chung chí hướng của con người. Trong công cuộc thể hiện tinh thần dân tộc, nhạc khí dân tộc làm nhiệm vụ gắn kết con người. Bản thân nó là sự đồng sáng tạo, đồng hiện của cả một cộng đồng khu vực.

Ngày nay, khi nhạc cũ đang mất đi chỗ đứng của mình thì nhiệm vụ của thế hệ trẻ là giữ lại nó. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa là nhiệm vụ của mỗi con người, không phải của riêng một người. Chỉ cần một chút sự quan tâm thì cũng đã góp một phần trong công cuộc giữ vững các giá trị dân tộc.

Tags:bảo tồn các giá trị văn hóanhạc cụ dân tộctinh thần dân tộcPrevious PostNhạc thể nghiệm trên con đường phát triển tại Việt NamNext Post

Nhạc cụ truyền thống trong nghi lễ Chầu Văn

Nhạc cụ truyền thống trong nghi lễ Chầu Văn

5 Tháng Sáu, 2020 00SHARES875VIEWSShare on FacebookShare on Twitter

Hát văn (còn được gọi là chầu văn hay hát bóng) là loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo). Chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh bởi có sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn trau chuốt nghiêm trang. Hát chầu văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thời kỳ thịnh vượng nhất của nghi lễ Chầu văn là cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Hát Chầu văn thể hiện khát vọng cao cả hướng tới cái cao đẹp hơn của con người.

Hát chầu văn

Hát Chầu văn có nhiều hình thức khác nhau: hát thờ, hát thi, hát hầu, hát cửa đền. Nhịp điệu và tiết tấu chậm, vừa và nhanh. Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng, đậm nét dân ca đồng bằng Bắc Bộ trong các điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả… thì hát Chầu văn cũng mang âm điệu Ca trù trong các điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú tỳ bà…

Các nhạc cụ truyền thống trong nghi lễ Chầu văn:

Đàn Nguyệt:

Đây là nhạc khí dây gảy của dân tộc Việt, hay còn gọi là đàn Kìm, đàn Vọng nguyệt cầm hoặc Quân tử cầm. Mặt đàn hình tròn như mặt trăng rằm nên được gọi là đàn Nguyệt. Đàn Nguyệt với nhiều kỹ thuật độc đáo như nhấn, luyến, vê… nên có khả năng độc tấu và hòa tấu. Đàn Nguyệt được sử dụng phổ biến từ Bắc vào Nam, bởi dự dễ dàng sử dụng và hòa hợp với tiếng nói dân tộc.

Đàn Nguyệt là nhạc khí dây gảy loại có cần đàn. Khác với đàn Nguyệt của Trung Quốc, đàn Nguyệt Việt Nam có cần đàn dài hơn, cùng với đó là hàng phím cao. Đàn Nguyệt có 8 phím, sau này gắn thêm 2 phím là 10 theo hệ thống âm nhạc ngũ cung.

Trống Ban:

Hay còn được gọi là trống Con, trống Ban là nhạc khí màng rung gõ do người Việt sáng tạo. Đây là loại trống nhỏ, hai mặt được bịt da, đường kính dài khoảng 26cm, tang trống khoảng 26cm.

Phách:

Là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt, phách có nhiều loại khác nhau được sử dụng trong Ca, Múa, Nhạc.

Tiu Cảnh:

Đây là nhạc khí tự thân vang gõ được chế tác bởi người Việt Nam. Tiu cảnh gồm hai chiếc Thanh la cỡ nhỏ, được làm bằng đồng thau, đường kính 10cm. Một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao, tạo nên hai âm thanh cao thấp với âm vang, màu âm thánh thót.

Thanh la:

Là nhạc khí tự thân vang của người Việt, Thanh la được làm bằng hợp kim đồng thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có hình dạng như Cồng, Chiêng nhưng không có núm, mặt Thanh La hơi phồng, có thành cạnh và không định âm. Ở cạnh có dùi hai lỗ thủng để xỏ sợi dây quai. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính dao động từ 15cm đến 25cm, dùi gõ làm bằng tre tiện tròn, hoặc gỗ dài khoảng 20cm.

Ngoài ra, nhạc cụ truyền thống trong nghi lễ chầu văn còn có:

Trống Cái:

Đây là nhạc khí màng rung gõ do người Việt sáng tạo, được chế tác bằng gỗ. Với đường kính lớn (khoảng 40 cm, 60 cm đến dưới 1m), mặt trống được bịt da hai mặt. Tang trống cao khoảng 50cm, có 2 đai và móc treo, mặt trống được làm bằng da trâu hoặc bò.

Sáo:

Sáo là nhạc khí hơi được làm bằng ống nứa già hoặc ống trúc. Sáo có 1 huyệt thổi hình bầu dục, đây là nhạc cụ được sử dụng phổ biến tại Việt Nam.

Đàn Tranh:

Là nhạc khí dây gảy loại không có cần đàn, đàn Tranh rất phổ biến tại Việt Nam và một số nước Châu Á (như Trung Quốc). Đàn Tranh gia nhập vào Việt Nam và trở thành một nhạc khí trong hệ nhạc khí dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đàn Tranh được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, với tên gọi ban đầu là cây Zeng.

Đàn Nhị:

Đàn Nhị (còn có tên gọi là đàn Cò) là nhạc khí dây kéo (bằng cung vĩ), xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam hàng ngàn năm nay. Đây là nhạc khí phổ biến của dân tộc Kinh và nhiều dân tộc khác như Thái, Tày, Mường, Giê Triêng, Khmer…

Kèn Bầu:

Kèn Bầu (còn được gọi với những tên gọi khác như kèn Gìa Nam, kèn Loa, kèn Bóp hay kèn Bát), đây là nhạc khí hơi dăm ké; có âm thanh khỏe, vang, nhạc điệu mạnh, rất thích hợp để thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc.

Mõ:

Mõ là nhạc khí tự thân vang phổ biến tại Việt Nam, thường được làm bằng gỗ với nhiều kích thước và hình dáng khác nhau.

Đàn Bầu:

Đàn bầu (còn được gọi là đàn Độc huyền) là loại đàn một dây của dân tộc Kinh và một số dân tộc khác như Mường, Chăm. Với âm thanh mềm mại, sâu lắng, ngọt ngào, dễ đi vào lòng người, đàn Bầu được các nghệ sĩ dùng để đệm cho ngâm thơ, độc tấu, tham gia trong Ban nhạc Tài tử, Ban nhạc Xẩm, dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp, Dàn nhạc Giao hưởng Dân tộc, Dàn nhạc Sân khấu Chèo, Cải lương. Đã có tác phẩm viết cho Đàn Bầu độc tấu cùng với Dàn nhạc Giao hưởng.

Nghi lễ Chầu văn đã trải qua nhiều thăng trầm trong quá khứ và đang phục hồi mạnh mẽ trong những năm gần đây, cũng như trong tương lai. Hi vọng bài viết này sẽ phần nào giúp các bạn biết được những nhạc cụ truyền thống trong nghi lễ Chầu văn, để cùng gìn giữ nét đẹp văn hóa của dân tộc này.

Tags:Nhạc cụ truyền thống trong nghi lễ Chầu Văn

Những nhạc cụ được sử dụng phổ biến trong Ca Trù

Những nhạc cụ được sử dụng phổ biến trong Ca Trù

5 Tháng Sáu, 2020 00SHARES1.4kVIEWSShare on FacebookShare on Twitter

Ca trù là một trong loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI. Trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử, có lúc tưởng chừng như không thể tồn tại được, nhưng với những đặc trưng về loại hình nghệ thuật độc đáo, sự phối hợp tuyệt vời giữa ca từ và giọng hát hoà cùng các nhạc khí, ca trù vẫn khẳng định vị trí của mình và luôn được người thưởng thức âm nhạc đánh giá cao về mặt nghệ thuật. Để mọi người có thể hiểu hơn về hình thức âm nhạc của Ca trù, tôi sẽ giới thiệu với các bạn bài viết về các nhạc cụ trong hát Ca trù. (Bài viết có sự tham khảo tư liệu của nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan)

Hát ca trù được tạo bởi sự kết hợp của 4 loại nhạc cụ: đàn đáy, cỗ phách, cặp sênh và trống chầu. Đây là các nhạc cụ cơ bản để đệm hát, múa cho đào nương. Âm hưởng đặc sắc của Ca trù chỉ sinh ra khi có sự tham gia của đàn đát và cỗ phách – hai nhạc cụ có tính chuyên biệt này. Có thể nhận thấy không có sự tham gia của hai nhạc cụ này trong bất kỳ hình thứ nghệ thuật cổ truyền nào khác.

Đàn đáy

Thùng đàn đáy có hình chữ nhật hoặc hình thang, cần đàn dài, cả thân và cần đàn dài khoảng 160cm. Cần đàn có gắn 10 phím với vị trí gắn phím từ khoảng giữa cần đàn tới gần mặt đàn. Đàn có 3 dây. Để đánh, người chơi dùng que gảy, dài từ 5 đến 7cm.

Đàn đáy
Đàn Đáy – Ngồn ảnh: internet

Ở Thọ Xuân, Thanh Hóa truyền rằng: ngày xưa quanh đền Nhà trò có những cồn đất mang tên các nhạc cụ của Ca trù như Cồn Sênh, Cồn Đáy, Cồn Phách. Người ta tìm thấy nhiều bức chạm khắc đàn đáy có từ thế kỷ XV đến XVIII trong các mái đình, đền ở Bắc Bộ và Hà Tĩnh.

Đàn đáy có tính chuyên biệt mà người ta không thể thay thế hay thêm thắt bất cứ các nhạc cụ khác khi đệm các thể cách hát của ca trù.

Cỗ phách

Cỗ phách là nhạc cụ gồm có 1 bàn phách, 1 cặp dùi tròn, một đầu to, một đầu nhỏ, trong đó có 1 dùi được làm bằng 2 mảnh (dùi kép).

Có hai loại phách: phách dài (thanh gỗ) và phách ngắn (làm bằng gộc tre).

Cổ Phách
Cổ Phách – Ngồn ảnh: Đọt Chuối Non

Ngày nay các ca nương hầu hết đều dùng phách ngắn, được làm bằng tre hoặc gỗ dài khoảng 20cm, rộng hơn 5cm, cao 2,5 – 3cm. Phách được coi như “giọng hát thứ hai” của đào nương. Tiếng phách khi thì ríu rít, dồn dập, khoan thai; có lúc lại đối lập, hoặc đồng điệu với giọng hát đào nương. Phách đã làm cho âm thanh của Ca trù trở nên kỳ ảo, hấp dẫn lạ kì và có sức lôi cuốn người nghe.

Cặp Sênh

Cặp Sênh làm bằng hai mảnh gỗ, dài khoảng 20 – 25 cm, bốn cạnh được vê tròn. Đào nương chủ yếu sử dụng cặp sênh khi hát thờ, hát múa Bỏ bộ, hát múa Chúc hỗ, phục vụ trong cung đình.

Hiện nay, ở nhiều câu lạc bộ Ca trù miền Trung vẫn còn theo truyền thống Giáo phường xưa, ca nương khi hát múa thờ tay rung cặp sênh rất điêu luyện.

Trống chầu có hai loại: trống lớn và trống nhỏ.

Trống chầu lớn là loại trống để ở đình làng. Khi đào nương hát thờ, quan viên cầm chầu bằng trống lớn cùng với chiêng và chuông bát. Âm thanh của những nhạc cụ gõ này tạo ra làm lối hát thờ trở nên uy nghiêm và huyền bí.

Trống chầu nhỏ là loại trống có hình dạng giống như chiếc trống đế trong Chèo nhưng lớn hơn một chút, âm thanh trống ấm và đục hơn. Dùi trống làm bằng gỗ găng hoặc gỗ mai, dài khoảng 25 – 30cm (thường được gọi là roi chầu). Khi cầm chầu người ta đánh mạnh roi chầu xuống mặt trống tạo ra âm sắc đặc biệt vừa cao sang, vừa mạnh mẽ, hùng hồn.

Cặp Sên

Đàn đáy, cặp sênh, trống chầu (nhỏ), cỗ phách là bộ nhạc cụ đặc trưng của Ca trù. Ngày nay các đào nương ít dùng cặp sênh hơn. Đây có thể là sự tinh giản hợp lý trong hát ca trù khi nghệ thuật hát đạt tới đỉnh cao.

Cho tới ngày nay, ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng trong nghệ thuật dân gian Việt Nam nói riêng và cả nhân loại nói chung. Hi vọng qua bài viết này, các bạn có thể nắm rõ phần nào các nhạc cụ trong hát ca trù.

ĐỐI THOẠI MỞ: Trả lại Xẩm về với Người khiếm Thị. Có nên chăng?

ĐỐI THOẠI MỞ: Trả lại Xẩm về với Người khiếm Thị. Có nên chăng?

233 vues•17 mai 202130PARTAGERENREGISTRERMai Đức ThiệnS’ABONNERĐỐI THOẠI MỞ: Trả lại Xẩm về với Người khiếm Thị. Có nên chăng? Nhiều thế kỷ đã trôi qua, chặng đường phát triển của Xẩm từ một hình thức đàn hát dân gian dành riêng cho những người khiếm thị để mưu sinh nơi đầu đường góc chợ, bến nước, mom sông, nay đã trở thành một loại hình nghệ thuật được biểu diễn trên sân khấu, thực sự là một di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam… Nhưng cho dù phát triển đến đâu, nếu không có một chiến lược bảo tồn và phát huy hiệu quả, nghệ thuật hát Xẩm sẽ đối mặt với nguy cơ mai một. PV VOV6 đối thoại với nhà nghiên cứu Mai Thiện xung quanh chủ đề này. (Đối Thoại Mở phát sóng trực tiếp ngày 13/01/2021) ─────────────────────────────────────── ღ Like và ĐĂNG KÝ để theo dõi những sản phẩm mới nhất của #maiducthien nhé! ▶ Theo dõi kênh #Mai_Đức_Thiệnhttps://goo.gl/WVylYo ▶ Theo dõi fanpage https://www.facebook.com/groups/hatxam/ ─────────────────────────────────────── ♪ HÁT XẨM https://goo.gl/1gtTyu ♪ KARAOKE XẨM https://goo.gl/VYHbDK ♪ XẨM HÀ THỊ CẦU https://goo.gl/Afi3kX ♪ PHÓNG SỰ XẨM https://goo.gl/wKDqdG ♪ PHIM TÀI LIỆU XẨM https://goo.gl/9TNc1x

Talkshow « Mắt Xẩm » #1: Hát Xẩm trong thích ứng văn hoá

Talkshow « Mắt Xẩm » #1: Hát Xẩm trong thích ứng văn hoá

29 vues•17 mai 202130PARTAGERENREGISTRERNgô Văn Hảo413 abonnésS’ABONNER

Talkshow – Mắt Xẩm #1 – Hát Xẩm trong thích ứng văn hoá Hát Xẩm – Hát Văn – Ca Trù – Hát Chèo -Cải Lương Nơi lưu trữ tư liệu cho nhưng ai cần tới.

Theo dõi fanpage https://www.facebook.com/groups/hatxam/ • Khách mời: PGS. TS Kiều Trung Sơn – tác giả của cuốn sách « Hát Xẩm di sản âm nhạc và thích ứng văn hoá »và Nhà sưu tầm tư liệu nghệ thuật dân gian Mai Đức Thiện • Điều phối: Lệ Quyên

Số đầu tiên của Mắt Xẩm Talkshow sẽ cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ về nguồn gốc của Xẩm, Xẩm “xưa” và “nay” khác nhau như thế nào cũng như việc “Xẩm” đang thích ứng trong đời sống hiện đại như thế nào. Đây là một việc hết sức cần thiết đối với những công chúng hiện đại quan tâm tâm tới Xẩm, hay những nghệ sĩ, những người chủ thể sáng tạo hay người làm công tác về truyền thông văn hoá nghệ thuật cổ truyền, bởi việc sâu sắc về nguồn gốc, bối cảnh, những yếu tố về văn hoá – xã hội – con người gắn liền với Xẩm sẽ cho họ sự biết biết sâu sắc, làm nền tảng cho cảm hứng tìm hiểu, sáng tác với chất liệu Xẩm để bảo tồn, gìn giữ các giá trị của bộ môn nghệ thuật dân gian này. ❓ Câu chuyện Xẩm qua từng thời kì và nhất là Xẩm trong bối cảnh xã hội ngày nay có điều gì thú vị? ❓ Xẩm hiện nay « còn hay mất »? ❓ Hoà mình trong đời sống đương đại, Xẩm đã, đang và nên có những bước đi như thế nào?

Licence

Licence de paternité Creative Commons (réutilisation autorisée)