Jour : 19 mai 2021

ĐẶNG HOÀNH LOAN: Xòe và âm nhạc Xòe Thái

Xòe và âm nhạc Xòe Thái

Đăng ngày 19/05/2021 – 19:21Tác giả: Đặng Hoành Loan

Muốn tìm hiểu Xòe và âm nhạc Xòe Thái, trước hết phải tìm hiểu không gian trình diễn Xòe Thái gốc và không gian trình diễn Xòe Thái phái sinh. Theo nghiên cứu của chúng tôi, Xòe Thái có ba không gian trình diễn chính với ba quy mô nghệ thuật và nội dung nghệ thuật khác nhau. Trong ba không gian ấy, không gian trình diễn ra đời sớm nhất, có quy mô nghệ thuật chuyên nghiệp nhất, gốc nhất là không gian Xòe trong diễn xướng Then.

Giống với tất cả các hình thái tín ngưỡng dân gian, các ông bà Then là những người có chữ, có kiến thức xã hội, có nghề nghiệp truyền đời và có nhiều sáng tạo nghệ thuật: ca, đàn, văn học, múa nhảy. Đặc biệt, họ được cộng đồng tôn trọng và cộng đồng coi họ là “kho tàng tri thức” cộng đồng. Ốm đau ư, hỏi Then; cãi nhau, tranh giành đất đai ư, hỏi Then; hiếm muộn con cái ư, hỏi Then; làm nhà, cưới vợ gả chồng ư, hỏi Then; tổ chức vui chơi cộng đồng như thế nào, hỏi Then v.v… và v.v…, Then giúp, sẽ chỉ dẫn cho họ.

Cái uy tín ấy có được là nhờ một quá trình thực hành tín ngưỡng của giới các ông bà Then trong đời sống xã hội. Mỗi đêm Then, mỗi lần làm Then là một lần các ông bà Then truyền đạt kiến thức xã hội, mà đặc biệt là truyền đạt các hình thức nghệ thuật diễn xướng của họ tới cộng đồng. Kho kiến thức đó bao gồm lời thơ, đàn hát, trang phục, múa nhảy và các đồ dùng vật dụng trong hành lễ như trang trí, mâm cúng, đèn hương…

Để thuyết phục được cộng đồng, lôi kéo cộng đồng tin theo tín ngưỡng của mình, giới các ông bà Then đã có một quá trình hoàn chỉnh nghệ thuật, hoàn chỉnh tổ chức nghệ thuật trình diễn ở đỉnh cao của nghệ thuật dân gian từ rất sớm. Trong đó người nghệ sĩ chính là các ông bà Then, các nghệ sĩ hỗ trợ là nhóm các nghệ sĩ múa và đệm nhạc cho múa.

Mỗi ông bà Then, luôn có một nhóm các nghệ sĩ múa, nhạc hỗ trợ bên mình. Đứng đầu nhóm múa là Mẻ đa. Mẻ đa là thầy dạy múa và là người chỉ đạo nghệ thuật múa trong quá trình diễn xướng của ông bà Then. Mẻ đa luôn phải tuyển chọn, phải tổ chức truyền dạy cho các bé gái ở tuổi từ 12 đến 13, để đến đôi ba năm sau các em sẽ là những nghệ sĩ thế chỗ cho những nghệ sĩ múa lớn tuổi đã đi lấy chồng.

Mỗi nhóm nghệ sĩ múa thường quan hệ gắn bó với một thầy Then. Khi thầy Then làm lễ nhóm nghệ sĩ múa hóa thân trở thành những âm binh để hành trình cùng thầy Then đi tới các mường tìm hồn vía trả về thân xác tín chủ. Trên đường hành binh của thầy Then, đội quân múa là các Sao chạu, Sao chay sẽ múa diễn tả những trường đoạn Then như trường đoạn múa Mời rượu quan khách nhà trời, múa Phát đường cho quang đãng để đoàn quân Then mang lễ vật lên đường, múa Chèo thuyền vượt biển, múa Dâng lễ vật, múa Chầu trước cửa thánh thần, múa Tiễn quan tướng về trời và múa Vun đắp cây mệnh thêm tươi tốt. Các nghệ sĩ trong các đội múa Then thường quen gọi các điệu múa theo tên động tác hoặc theo tên trường đoạn Then, như: Nả lăng (quay ra đằng trước, đằng sau) Tang txả, Nhụm hơ (dậm đẩy thuyền), Ca ớk (đưa khăn lên ngang ngực), Khóa hô (vung khăn quá đầu), Tủm xoong tơ, Quát bó héo (quét hoa tàn). Tóm lại múa trong nghi lễ Then là hình thức múa thiêng, múa diễn tả những cảnh ở mường Trời mà không phải múa ở đời thường. Đạo cụ múa trong nghi lễ Then thường là những dải lụa dài màu xanh lá cây màu hồng nhạt và màu đỏ hoặc màu vàng, màu tím vắt ngang vai, hai tay cầm hai đầu dải lụa. Các dải lụa màu tượng trưng cho 7 sắc cầu vồng và 7 sắc cầu vồng là tượng trưng cho mường Trời, người mường Trời. Ngoài ra, đạo cụ còn những chiếc quạt thiêng dùng để biểu hiện các tiên nữ mường Then.

Khi múa các Sao chạu, Sao chay lúc sử dụng dải lụa, khi sử dụng quạt để biểu diễn nhiều động tác, sắp xếp nhiều đội hình khác nhau để diễn tả mái chèo khi chèo thuyền, diễn tả công việc chặt cây phát đường, diễn tả chiếc võng ru hồn và diễn tả cảnh ngàn hoa chào đón khách v,v… tất cả là các dải lụa và quạt thiêng.

Múa đón khách (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Múa ru hồn vía lang thang trên mường Trời (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Nhạc đệm cho múa trong nghi lễ Then là tính tảu:

Tính tảu (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Tính là đàn, Tảu là quả bầu, tính tảu là đàn có thùng vang làm bằng quả bầu nậm khô. Cần đàn không có phím, dài bằng chín nắm tay chồng nhau (tức khoảng trên dưới 60 cm), đàn mắc hai dây, các dây cách nhau quãng 5. Khi chơi người ta dùng ngón tay trỏ khảy vào hai dây đàn. 

Báo khá, là tên gọi nghệ sĩ chơi tính tảu. Các nghệ sĩ chơi tính tảu trong Then thường là những nghệ sĩ gắn bó thân tình và lâu dài với thầy Then, có thể nói họ là cánh tay phải của thầy Then. Thầy làm Then ở đâu là có mặt họ ở đó. Họ đàn giỏi, thuộc và biết ngọn ngành nhiều bản nhạc múa trong Then. Họ hòa đàn cùng thầy Then, họ là linh hồn của múa Then. Họ chính là những nghệ sĩ tài ba chơi tính tảu và cũng là thầy dạy tính tảu trong cộng đồng.

Các Báo khá thuộc tất cả các trường đoạn hát Then có trình diễn múa. Do vậy thầy Then hát đến đoạn nào là họ biết phải chơi bản đàn ở đoạn Then ấy để các Sao chạu bắt vào điệu múa Then. Ví dụ điệu Mời lảu (mời rượu) điệu Đoóng tạng (mở đường), Chao hơ (chèo thuyền) và Khua luống Mướng Phạ v,v… Dưới đây là trường đoạn âm nhạc hát múa Then “Khua luống mướng Phạ” (Sân chơi lớn trên mường trời), điệu múa đi dâng lễ xin hồn của các Sao chay trong lễ Then Cầu con.

Nội dung lời ca:

Tìm hồn nơi sân chơi lớn ”Mánh ngoạng”

Tìm hồn nơi sân chơi to

Trai gái tụ tập

Báo khỏa ơi, gái Then ơi

Ta luồn lách đi qua

Ta dâng lễ lên trời xin lấy hồn con yêu

Ta đưa lễ lên thiên xin lấy hồn con quý, hồn út ơi hồn con ơi!! [1]

Sau lễ chính Kin Pang Then, các nghệ sĩ múa Then còn cùng với trai gái bản múa vui quanh cây Pang. Khi ấy người ta thêm trống, thêm chiêng chơi tiết tấu nhịp tư rất rạo rực đệm cho các điệu: Phá pét, Mổ vi, Mổ cúp, Mổ tó cáy, Mổ phá xí. Đó là những điệu Xòe hân hoan mừng lễ Kin Pang thành công, dân làng hạnh phúc.

Tính hấp dẫn của nghệ thuật Xòe và nhạc tính tảu trong Then, dần dà được cộng đồng “nhấc” nó khỏi không gian thiêng, “cắm” nó vào các cuộc vui trong sinh hoạt cộng đồng. Đấy là không gian Xòe có trong tín ngưỡng, đã phái sinh vào sinh hoạt đời sống thường ngày. Theo chúng tôi, điệu múa được phái sinh, được cộng đồng ứng dụng sớm nhất đó là điệu Xòe vòng quanh cây Pang trong lễ Kin Pang Then.

Điệu Xòe vòng gần gũi với sinh hoạt cộng đồng, vui vẻ, dễ múa, không hạn chế người tham gia vòng Xòe, lại có thêm âm sắc của trống cái và chiêng đồng làm cho điệu Xòe thêm náo nức. Lâu dần Xòe vòng đã trở thành tập tục nghệ thuật trong đời sống người Thái, nó có mặt trong hầu hết các ngày hội của cộng đồng. Xòe vòng đã trở thành nghệ thuật biểu tượng, là nghệ thuật thước đo tình cảm, sự gắn bó của cá nhân với cộng đồng. “Cho nên, khi nói đến những kẻ mất gốc, quên nòi, người ta thường dùng câu: “Nó quên mất Xòe rồi”, hoặc nặng hơn: “Nó mất Xòe rồi” [2].

Âm nhạc Xòe vòng không gò bó, thường có tiết tấu nhịp 4/4 tốc độ vừa phải, đều đặn, kết hợp với tiết tấu trống chiêng điểm theo tiết tấu của nhạc cụ [3].

Ví dụ Một giai điệu nhạc chơi trong Xòe vòng.

Nhạc cụ chơi trong Xòe vòng mở rộng hơn nhạc cụ chơi trong lễ Then. Ngoài tính tảu có thể thêm khèn bè, pí và hát Khắp. Tùy không khí Xòe và số lượng người tham gia các vòng Xòe, khi không khí đẩy lên cao người ta vừa chuốc rượu vừa hát Khắp, vừa Xòe.

Xòe vòng là không gian trình diễn Xòe thứ hai, không gian chơi Xòe cộng đồng, có cội nguồn từ Then.

Khi xã hội Thái hình thành tầng lớp quý tộc giàu có, các quan Chi châu, Chi phủ đã tận dụng nghệ thuật Xòe trong Then, tổ chức thành các đội Xòe nghệ thuật để trình diễn trong những nghi lễ ngoại giao. Nhiều đội Xòe có tính nghệ thuật cao được ra đời từ đấy. Tương truyền, người biến Xòe Then thành Xòe nghệ thuật là nghệ sĩ Điêu Chính Ngâu. Ngoài ra, người ta còn biết đến những đội Xòe của Đèo Văn Ân ở Phong Thổ và đội Xòe của Đèo Văn Long ở Mường Lay. Đó là những đội Xòe có tính nghệ thuật chuyên nghiệp rất cao.

Xòe nghệ thuật, có những nguyên tắc múa đã được quy chuẩn, các nghệ sĩ múa được tuyển chọn và đào tạo rất bài bản. Những đội Xòe “quý tộc” này được trình diễn trong một không gian riêng, môi trường riêng. Chương trình biểu diễn của họ có nhiều điệu, mỗi điệu sử dụng một hoặc hai đạo cụ như Xòe nón (đạo cụ là nón), Xòe chai (đạo cụ là chai), Xòe ma hính (đạo cụ là chùm xóc nhạc), Xòe khăn (đạo cụ là khăn có thêu họa tiết, hoa văn Thái) v,v…

Sau giải phóng Tây Bắc, các đội Xòe chuyên nghiệp không còn, các nghệ sĩ Xòe tản về các địa phương và xây dựng các đội Xòe địa phương theo cách nghĩ, cách biến tấu của mình. Theo chúng tôi, đây là nguyên nhân làm nở rộ nhiều phong cách Xòe, nhiều điệu Xòe mang đặc tính địa phương, như Xòe Long teo, Xòe nón Mường Lay, Xòe nón Phong Thổ, Xòe hái bông Điện Biên. Và còn rất nhiều những dị bản Xòe được nghệ sĩ các vùng tiếp thu và phong cách hóa theo cảm quan nghệ thuật của nghệ sĩ ở các vùng miền khác nhau. Xòe trở nên đa dạng là nhờ vậy.

Cho đến nay, nghệ thuật Xòe Thái chỉ còn lại hai không gian trình diễn chính đó là không gian diễn xướng Then và không gian Xòe trong sinh hoạt đời sống cộng đồng. Các hình thức Xòe nghệ thuật trước đây đang được cộng đồng bảo lưu theo nhiều hình thức khác nhau như: Nhà Văn hóa hoặc các câu lạc bộ và trong chương trình của các đoàn nghệ thuật, tuy nhiên nó không được trình diễn nhiều như Xòe trong Then, Xòe trong vui chơi cộng đồng.

Xòe là hồn cốt, là nghệ thuật đỉnh cao, là nghệ thuật đời sống của người Thái. Xét về mặt sinh hoạt, Xòe vẫn đang tồn tại trong đời sống người Thái như mặt trời, như không khí. Các ông bà Then vẫn có những Mẻ đa làm công việc bảo mẫu nuôi dưỡng, dạy dỗ tạo ra các đội Xòe Then. Và những đội Xòe Then, những nghệ sĩ Xòe Then của Mẻ đa là hạt nhân nuôi dưỡng và bảo tồn cái gốc của Xòe Thái. Cái gốc của Xòe Thái còn, thì Xòe Thái còn có cơ sở để vực dậy, để phát triển Xòe Thái trong đời sống người Thái hiện đại. Nói tóm lại, còn cái gốc là Xòe Then để đối chiếu để sáng tạo, thì Xòe Thái không bao giờ mất và không bao giờ bị biến dạng.

Trích nguồn Thông báo khoa học tiếng việt số 59

Chú thích:

1. Đặng Hoành Loan – Phạm Minh Hương – Nguyễn Thủy Tiên: Hát Then Tày, Nùng, Thái Việt Nam, Viện Âm nhạc – Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2018, tr.444
2. Quàng Văn Kín: Việt Nam Hương Sắc số 35/1996
3. Cũng có tác giả ghi nhạc Xòe vòng theo nhịp 2/2, nhưng theo quan sát của chúng tôi một nhịp 2/4 chưa hoàn tất một nhịp múa.

(Nguồn: https://www.vienamnhac.vn/)

  • 25 lượt xem

cXòe và âm nhạc Xòe Thái

Đăng ngày 19/05/2021 – 19:21Tác giả: Đặng Hoành Loan

Muốn tìm hiểu Xòe và âm nhạc Xòe Thái, trước hết phải tìm hiểu không gian trình diễn Xòe Thái gốc và không gian trình diễn Xòe Thái phái sinh. Theo nghiên cứu của chúng tôi, Xòe Thái có ba không gian trình diễn chính với ba quy mô nghệ thuật và nội dung nghệ thuật khác nhau. Trong ba không gian ấy, không gian trình diễn ra đời sớm nhất, có quy mô nghệ thuật chuyên nghiệp nhất, gốc nhất là không gian Xòe trong diễn xướng Then.

Giống với tất cả các hình thái tín ngưỡng dân gian, các ông bà Then là những người có chữ, có kiến thức xã hội, có nghề nghiệp truyền đời và có nhiều sáng tạo nghệ thuật: ca, đàn, văn học, múa nhảy. Đặc biệt, họ được cộng đồng tôn trọng và cộng đồng coi họ là “kho tàng tri thức” cộng đồng. Ốm đau ư, hỏi Then; cãi nhau, tranh giành đất đai ư, hỏi Then; hiếm muộn con cái ư, hỏi Then; làm nhà, cưới vợ gả chồng ư, hỏi Then; tổ chức vui chơi cộng đồng như thế nào, hỏi Then v.v… và v.v…, Then giúp, sẽ chỉ dẫn cho họ.

Cái uy tín ấy có được là nhờ một quá trình thực hành tín ngưỡng của giới các ông bà Then trong đời sống xã hội. Mỗi đêm Then, mỗi lần làm Then là một lần các ông bà Then truyền đạt kiến thức xã hội, mà đặc biệt là truyền đạt các hình thức nghệ thuật diễn xướng của họ tới cộng đồng. Kho kiến thức đó bao gồm lời thơ, đàn hát, trang phục, múa nhảy và các đồ dùng vật dụng trong hành lễ như trang trí, mâm cúng, đèn hương…

Để thuyết phục được cộng đồng, lôi kéo cộng đồng tin theo tín ngưỡng của mình, giới các ông bà Then đã có một quá trình hoàn chỉnh nghệ thuật, hoàn chỉnh tổ chức nghệ thuật trình diễn ở đỉnh cao của nghệ thuật dân gian từ rất sớm. Trong đó người nghệ sĩ chính là các ông bà Then, các nghệ sĩ hỗ trợ là nhóm các nghệ sĩ múa và đệm nhạc cho múa.

Mỗi ông bà Then, luôn có một nhóm các nghệ sĩ múa, nhạc hỗ trợ bên mình. Đứng đầu nhóm múa là Mẻ đa. Mẻ đa là thầy dạy múa và là người chỉ đạo nghệ thuật múa trong quá trình diễn xướng của ông bà Then. Mẻ đa luôn phải tuyển chọn, phải tổ chức truyền dạy cho các bé gái ở tuổi từ 12 đến 13, để đến đôi ba năm sau các em sẽ là những nghệ sĩ thế chỗ cho những nghệ sĩ múa lớn tuổi đã đi lấy chồng.

Mỗi nhóm nghệ sĩ múa thường quan hệ gắn bó với một thầy Then. Khi thầy Then làm lễ nhóm nghệ sĩ múa hóa thân trở thành những âm binh để hành trình cùng thầy Then đi tới các mường tìm hồn vía trả về thân xác tín chủ. Trên đường hành binh của thầy Then, đội quân múa là các Sao chạu, Sao chay sẽ múa diễn tả những trường đoạn Then như trường đoạn múa Mời rượu quan khách nhà trời, múa Phát đường cho quang đãng để đoàn quân Then mang lễ vật lên đường, múa Chèo thuyền vượt biển, múa Dâng lễ vật, múa Chầu trước cửa thánh thần, múa Tiễn quan tướng về trời và múa Vun đắp cây mệnh thêm tươi tốt. Các nghệ sĩ trong các đội múa Then thường quen gọi các điệu múa theo tên động tác hoặc theo tên trường đoạn Then, như: Nả lăng (quay ra đằng trước, đằng sau) Tang txả, Nhụm hơ (dậm đẩy thuyền), Ca ớk (đưa khăn lên ngang ngực), Khóa hô (vung khăn quá đầu), Tủm xoong tơ, Quát bó héo (quét hoa tàn). Tóm lại múa trong nghi lễ Then là hình thức múa thiêng, múa diễn tả những cảnh ở mường Trời mà không phải múa ở đời thường. Đạo cụ múa trong nghi lễ Then thường là những dải lụa dài màu xanh lá cây màu hồng nhạt và màu đỏ hoặc màu vàng, màu tím vắt ngang vai, hai tay cầm hai đầu dải lụa. Các dải lụa màu tượng trưng cho 7 sắc cầu vồng và 7 sắc cầu vồng là tượng trưng cho mường Trời, người mường Trời. Ngoài ra, đạo cụ còn những chiếc quạt thiêng dùng để biểu hiện các tiên nữ mường Then.

Khi múa các Sao chạu, Sao chay lúc sử dụng dải lụa, khi sử dụng quạt để biểu diễn nhiều động tác, sắp xếp nhiều đội hình khác nhau để diễn tả mái chèo khi chèo thuyền, diễn tả công việc chặt cây phát đường, diễn tả chiếc võng ru hồn và diễn tả cảnh ngàn hoa chào đón khách v,v… tất cả là các dải lụa và quạt thiêng.

Múa đón khách (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Múa ru hồn vía lang thang trên mường Trời (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Nhạc đệm cho múa trong nghi lễ Then là tính tảu:

Tính tảu (Ảnh: Đặng Hoành Loan)

Tính là đàn, Tảu là quả bầu, tính tảu là đàn có thùng vang làm bằng quả bầu nậm khô. Cần đàn không có phím, dài bằng chín nắm tay chồng nhau (tức khoảng trên dưới 60 cm), đàn mắc hai dây, các dây cách nhau quãng 5. Khi chơi người ta dùng ngón tay trỏ khảy vào hai dây đàn. 

Báo khá, là tên gọi nghệ sĩ chơi tính tảu. Các nghệ sĩ chơi tính tảu trong Then thường là những nghệ sĩ gắn bó thân tình và lâu dài với thầy Then, có thể nói họ là cánh tay phải của thầy Then. Thầy làm Then ở đâu là có mặt họ ở đó. Họ đàn giỏi, thuộc và biết ngọn ngành nhiều bản nhạc múa trong Then. Họ hòa đàn cùng thầy Then, họ là linh hồn của múa Then. Họ chính là những nghệ sĩ tài ba chơi tính tảu và cũng là thầy dạy tính tảu trong cộng đồng.

Các Báo khá thuộc tất cả các trường đoạn hát Then có trình diễn múa. Do vậy thầy Then hát đến đoạn nào là họ biết phải chơi bản đàn ở đoạn Then ấy để các Sao chạu bắt vào điệu múa Then. Ví dụ điệu Mời lảu (mời rượu) điệu Đoóng tạng (mở đường), Chao hơ (chèo thuyền) và Khua luống Mướng Phạ v,v… Dưới đây là trường đoạn âm nhạc hát múa Then “Khua luống mướng Phạ” (Sân chơi lớn trên mường trời), điệu múa đi dâng lễ xin hồn của các Sao chay trong lễ Then Cầu con.

Nội dung lời ca:

Tìm hồn nơi sân chơi lớn ”Mánh ngoạng”

Tìm hồn nơi sân chơi to

Trai gái tụ tập

Báo khỏa ơi, gái Then ơi

Ta luồn lách đi qua

Ta dâng lễ lên trời xin lấy hồn con yêu

Ta đưa lễ lên thiên xin lấy hồn con quý, hồn út ơi hồn con ơi!! [1]

Sau lễ chính Kin Pang Then, các nghệ sĩ múa Then còn cùng với trai gái bản múa vui quanh cây Pang. Khi ấy người ta thêm trống, thêm chiêng chơi tiết tấu nhịp tư rất rạo rực đệm cho các điệu: Phá pét, Mổ vi, Mổ cúp, Mổ tó cáy, Mổ phá xí. Đó là những điệu Xòe hân hoan mừng lễ Kin Pang thành công, dân làng hạnh phúc.

Tính hấp dẫn của nghệ thuật Xòe và nhạc tính tảu trong Then, dần dà được cộng đồng “nhấc” nó khỏi không gian thiêng, “cắm” nó vào các cuộc vui trong sinh hoạt cộng đồng. Đấy là không gian Xòe có trong tín ngưỡng, đã phái sinh vào sinh hoạt đời sống thường ngày. Theo chúng tôi, điệu múa được phái sinh, được cộng đồng ứng dụng sớm nhất đó là điệu Xòe vòng quanh cây Pang trong lễ Kin Pang Then.

Điệu Xòe vòng gần gũi với sinh hoạt cộng đồng, vui vẻ, dễ múa, không hạn chế người tham gia vòng Xòe, lại có thêm âm sắc của trống cái và chiêng đồng làm cho điệu Xòe thêm náo nức. Lâu dần Xòe vòng đã trở thành tập tục nghệ thuật trong đời sống người Thái, nó có mặt trong hầu hết các ngày hội của cộng đồng. Xòe vòng đã trở thành nghệ thuật biểu tượng, là nghệ thuật thước đo tình cảm, sự gắn bó của cá nhân với cộng đồng. “Cho nên, khi nói đến những kẻ mất gốc, quên nòi, người ta thường dùng câu: “Nó quên mất Xòe rồi”, hoặc nặng hơn: “Nó mất Xòe rồi” [2].

Âm nhạc Xòe vòng không gò bó, thường có tiết tấu nhịp 4/4 tốc độ vừa phải, đều đặn, kết hợp với tiết tấu trống chiêng điểm theo tiết tấu của nhạc cụ [3].

Ví dụ Một giai điệu nhạc chơi trong Xòe vòng.

Nhạc cụ chơi trong Xòe vòng mở rộng hơn nhạc cụ chơi trong lễ Then. Ngoài tính tảu có thể thêm khèn bè, pí và hát Khắp. Tùy không khí Xòe và số lượng người tham gia các vòng Xòe, khi không khí đẩy lên cao người ta vừa chuốc rượu vừa hát Khắp, vừa Xòe.

Xòe vòng là không gian trình diễn Xòe thứ hai, không gian chơi Xòe cộng đồng, có cội nguồn từ Then.

Khi xã hội Thái hình thành tầng lớp quý tộc giàu có, các quan Chi châu, Chi phủ đã tận dụng nghệ thuật Xòe trong Then, tổ chức thành các đội Xòe nghệ thuật để trình diễn trong những nghi lễ ngoại giao. Nhiều đội Xòe có tính nghệ thuật cao được ra đời từ đấy. Tương truyền, người biến Xòe Then thành Xòe nghệ thuật là nghệ sĩ Điêu Chính Ngâu. Ngoài ra, người ta còn biết đến những đội Xòe của Đèo Văn Ân ở Phong Thổ và đội Xòe của Đèo Văn Long ở Mường Lay. Đó là những đội Xòe có tính nghệ thuật chuyên nghiệp rất cao.

Xòe nghệ thuật, có những nguyên tắc múa đã được quy chuẩn, các nghệ sĩ múa được tuyển chọn và đào tạo rất bài bản. Những đội Xòe “quý tộc” này được trình diễn trong một không gian riêng, môi trường riêng. Chương trình biểu diễn của họ có nhiều điệu, mỗi điệu sử dụng một hoặc hai đạo cụ như Xòe nón (đạo cụ là nón), Xòe chai (đạo cụ là chai), Xòe ma hính (đạo cụ là chùm xóc nhạc), Xòe khăn (đạo cụ là khăn có thêu họa tiết, hoa văn Thái) v,v…

Sau giải phóng Tây Bắc, các đội Xòe chuyên nghiệp không còn, các nghệ sĩ Xòe tản về các địa phương và xây dựng các đội Xòe địa phương theo cách nghĩ, cách biến tấu của mình. Theo chúng tôi, đây là nguyên nhân làm nở rộ nhiều phong cách Xòe, nhiều điệu Xòe mang đặc tính địa phương, như Xòe Long teo, Xòe nón Mường Lay, Xòe nón Phong Thổ, Xòe hái bông Điện Biên. Và còn rất nhiều những dị bản Xòe được nghệ sĩ các vùng tiếp thu và phong cách hóa theo cảm quan nghệ thuật của nghệ sĩ ở các vùng miền khác nhau. Xòe trở nên đa dạng là nhờ vậy.

Cho đến nay, nghệ thuật Xòe Thái chỉ còn lại hai không gian trình diễn chính đó là không gian diễn xướng Then và không gian Xòe trong sinh hoạt đời sống cộng đồng. Các hình thức Xòe nghệ thuật trước đây đang được cộng đồng bảo lưu theo nhiều hình thức khác nhau như: Nhà Văn hóa hoặc các câu lạc bộ và trong chương trình của các đoàn nghệ thuật, tuy nhiên nó không được trình diễn nhiều như Xòe trong Then, Xòe trong vui chơi cộng đồng.

Xòe là hồn cốt, là nghệ thuật đỉnh cao, là nghệ thuật đời sống của người Thái. Xét về mặt sinh hoạt, Xòe vẫn đang tồn tại trong đời sống người Thái như mặt trời, như không khí. Các ông bà Then vẫn có những Mẻ đa làm công việc bảo mẫu nuôi dưỡng, dạy dỗ tạo ra các đội Xòe Then. Và những đội Xòe Then, những nghệ sĩ Xòe Then của Mẻ đa là hạt nhân nuôi dưỡng và bảo tồn cái gốc của Xòe Thái. Cái gốc của Xòe Thái còn, thì Xòe Thái còn có cơ sở để vực dậy, để phát triển Xòe Thái trong đời sống người Thái hiện đại. Nói tóm lại, còn cái gốc là Xòe Then để đối chiếu để sáng tạo, thì Xòe Thái không bao giờ mất và không bao giờ bị biến dạng.

Trích nguồn Thông báo khoa học tiếng việt số 59

Chú thích:

1. Đặng Hoành Loan – Phạm Minh Hương – Nguyễn Thủy Tiên: Hát Then Tày, Nùng, Thái Việt Nam, Viện Âm nhạc – Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2018, tr.444
2. Quàng Văn Kín: Việt Nam Hương Sắc số 35/1996
3. Cũng có tác giả ghi nhạc Xòe vòng theo nhịp 2/2, nhưng theo quan sát của chúng tôi một nhịp 2/4 chưa hoàn tất một nhịp múa.

(Nguồn: https://www.vienamnhac.vn/)

Bộ sưu tập những hình ảnh đẹp Ngày ấy và Bây giờ của những nữ danh ca Sài Gòn

Bộ sưu tập những hình ảnh đẹp Ngày ấy và Bây giờ của những nữ danh ca Sài Gòn

0 SHARES 2.1k VIEWS

Sau khi định cư ở nước ngoài, phần lớn các ca sĩ đều có lần trở về Việt Nam phục vụ những khán giả mến mộ âm nhạc và cũng không ít người quay trở về quê hương ở hẳn để phục vụ cho khán giả mến mộ.

Mời quý vị cùng nhìn lại những hình ảnh về nữ danh ca иổi tiếng Sài Gòn nhất miền Nam trước 1975 ngày ấy và bây giờ.

Bài viết hay

Tuyển tập những ca khúc hay được thể hiện bởi danh ca Anh Khoa (Trước 1975)

Elvis Phương phát hành album ‘Em dấu yêu’ kỷ niệm 60 năm ca hát

Tuấn Vũ: Tôi sốc khi bị lừa và mất tất cả trong một đêm

Tuấn Vũ chia sẻ từng bị khán giả nhầm thành Trường Vũ khi đi biểu diễn

1. Thái Thanh

Bà tên thật là Phạm Thị Băиg Thanh sinh năm 1934 tại Hà Nội. Năm 1985 bà cùng gia đình sang mỹ định cư, tại đây ba tiếp tục biểu diễn và ghi âm CD

Những năm 1950, Thái Thanh иổi tiếng bậc nhất Sài Gòn với nhạc tiền cнιếɴ, quê hương và nhạc tình của các nhạc sĩ đương thời. Giọng ca của bà được phát liên tục ở các chương trình văи nghệ của các đài phát thành, truyền hình.

Danh ca Thái Thanh
Danh ca Thái Thanh ngày ấy và bây giờ

Những năm 1970, Thái Thanh được xem như là chủ lực, trụ cột của vũ trường “Đêm màu hồng”. Bà cũng là một thành viên của ban Hợp ca Thăиg Long иổi tiếng với các thành viên như Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Khánh Ngọc, Phạm Duy. Tới năm 2002 bà giải nghệ. Nữ danh ca Thái Thanh, sau một thời gian dài nằm вệин, đã qua đời hồi 11h50 ngày 17-3 tại Orange County, Nam California, Mỹ, hưởng thọ 86 tuổi.

2. Khánh Ngọc

Khánh Ngọc thành danh những năm 1950 cho đến đầu thập niên 60 với những bàn tình ca nước ngoài được phổ lời Việt. Khánh Ngọc đi hát từ năm 12 tuổi tại Sài Gòn, năm 13-14 tuổi bà được mời hát tại các đại nhạc hội Sài Gòn ở các tỉnh miền Trung.

Bà cũng là thành viên của ban Hợp ca Thăиg Long, ngoài tài năиg ca hát bà còn иổi tiếng với tài năиg diễn xuất và có đống góp lớn trong nền điện ảnh Việt Nam thời đó. Sau cuộc ly hôn đầy sóng gió với Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bà bị khán giả tẩy chay, không còn chấp nhận nên bà quyết định sang Mỹ học thêm và đinh cư tại đó.

Danh ca Khánh Ngọc
Danh ca Khánh Ngọc

Sau này bà kết hôn với một du học sinh Việt Nam, và từ bỏ con đường nghệ thuật để lui về hậu phương chăm sóc gia đình ba người con. Hiện Khánh Ngọc đang sống cùng gia đình ở Los Angeles, Mỹ. Đôi khi khán giả sẽ bắt gặp nữ ca sĩ góp mặt trong các chương trình từ thiện tại hải ngoại.

3. Bạch Yến

Năm 1957, Bạch Yến иổi danh ở các sân khấu Sài Gòn khi bà là người đầu tiên thể hiện ca khúc “Đêm Đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văи Thương từ Tango sang điệu Slow Rock.

Bà tên thật là Quách Thị Bạch Yến, sinh năm 1942 tại Sóc Trăиg. Bà đi hát từ những năm 14 tuổi với các ca khúc nhạc Pháp lời Việt và đến năm 15 tuổi bà thành danh. Đến năm 1961, ba xuất ngoại qua Mỹ hoạt động âm nhạc Pháp cho đến năm 1978 bà kết hôn cùng con trai cố giao sư Trần Văи Khê ở tuổi 36 và sống định cư tại Pháp.

Danh ca Bạch Yến
Danh ca Bạch Yến

Năm 2009, nữ danh ca trở về Việt Nam và biểu diễn tại phòng trà Văи Nghệ(nay là Tiếng Xưa). Kể từ đó bà thương xuyên về nước hát tại nhiều phòng trà và sự kiện âm nhạc để phục vụ khán giả mến mộ trong nước. Năm 2014, Bạch Yến cùng lúc xuất hiện tại chương trình “Tình khúc vượt thời gian”, đồng thời tổ chức liveshow mang tên “Đêm Đông” – bài hát tạo nên tên tuổi của bà.

4. Lệ Thu

Lệ Thu là danh ca иổi tiếng vào những năm 1960 – 1970 với các sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn và nhạc sĩ Trường Sa. Bà tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Năm 1979 Lệ Thu sang Mỹ định cư và từ đó đến nay bà vẫn tích cực hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc.

Năm 2007, Lệ Thu trở về nước tổ chức Liveshow tại TP. HCM để phục vụ khán giả trong nước. Kể từ đó bà liên tục trở về nước biểu diễn tại các phòng trà và tổ chức thêm 2 liveshow vào năm 2008 và 2014.

Danh ca Lệ Thu
Danh ca Lệ Thu

Cuối năm 2015, ca sĩ tại ngộ khán giả Việt Nam trong đêm nhạc vinh danh các ca khúc của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên diễn ra tại Hà Nội và đồng thời làm giám khảo chương trình “Solo cùng Bolero”.

5. Khánh Ly

Danh ca Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Mai sinh năm 1945 tại Hà Nội. Năm 1962 bà bắt đầu sự nghiệp ca hát tại Sài Gòn tại phòng trà Anh Vũ. Từ năm 1967, Khánh Ly иổi tiếng với biệt danh “Nữ hoàng chân đất” gắn khi biểu diễn cùng Trịnh Công Sơn trong những đêm nhạc ngoài trời.

Cô иổi tiếng là người thể hiện rất thành công các tác phẩm của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để cho đến nay không ai có thể thay thế được. Cô được mời sang Nhật, Mỹ, Pháp để biểu diễn phục vụ khán giả hải ngoại. Sau năm 1975 cô cùng các con sang Mỹ định cư và kết hôn cùng nhà báo Hoàng Đan. Khánh Ly tiếp tục cộng tác và biểu diễn tại nhiều trung tâm hải ngoại.

Danh ca Khánh Ly
Danh ca Khánh Ly

Đến năm 2012, bà được cấp phép cho biểu diễn trong nước. Đến năm 2014 bà tổ chức liveshow lần đầu tiên tại quê hương và từ đó trở đi bà liên tục trở về nước biểu diễn phục vụ khán giả yêu mến. Bà cũng góp mặt trong chuỗi đêm nhạc kỷ niệm 15 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – người góp phần đưa tên tuổi của bà ngày càng đi cao hơn.

6. Phương Dung

Danh ca Phương Dung sinh năm 1946 tại Gò Công tỉnh Tiền Giang. Năm 17 tuổi bà иổi tiếng với ca khúc “Nỗi buồn gác trọ” của tác giả Mạnh Phát & Hoài Linh và bài hát này đưa tên tuổi bà đi xa hơn. Bà tiếp tục thể hiện thành công các tình khúc Bolero như “Những đồi hoa sim”, “Tạ từ trong đêm”, “Sương lạnh chiều đông”…

Năm 1974, Bà cùng gia đình sang Australia định cư và tiếp tục ca hát. Phương Dung nhiều lần về Việt Nam nhưng đến những năm 2009 bà mới có cơ hội tái ngộ khán giả TP HCM tại phòng trà Văи Nghệ cùng chương trình “Nụ cười và thời trang”.

Danh ca Phương Dung
Danh ca Phương Dung

Từ đó đến nay, bà dành nhiều thời gian ở Việt Nam hơn để biểu diễn phục vụ khán giả trong nước, ngoài ra bà cũng tích cực tham gia các hoạt động từ thiện. Phương Dung còn иổi tiếng với vai trò giám khảo cuộc thi “Solo cùng Bolero” được tổ chức gần đây.

7. Thanh Lan

Thanh Lan được coi là ca sĩ tiêu biểu cho phong trào nhạc trẻ Sài Gòn những năm 1970 khi trình bày thành công nhiều tình khúc nhạc Pháp và được khán giả mến mộ. Bà cũng thành danh trong điện ảnh và sân khấu kịch.

Thanh Lan ngày ấy và bây giờ
Thanh Lan ngày ấy và bây giờ

Nữ ca sĩ sinh năm 1948 từng góp mặt trong nhiều bộ phim иổi tiếng như “Ván bài lật ngửa”, “Tình không biên giới”, “Cao nguyên F.101″…

Năm 1993, Thanh Lan sang Mỹ định cư và tiếp tục hoạt động ca hát cho đến nay.

8. Giao Linh

“Nữ hoàng sầu muộn” là cái tên được khán giả mến mộ gọi danh ca Giao Linh để nói về giọng ca và phong biểu diễn trầm lắng và buồn lạ của bà. Theo một số nhạc sĩ thời đó, giọng hát Giao Linh đã tạo nên tên tuổi của những ca khúc “Lòng mẹ”, “Thầm kín”, “Mười năm tái ngộ”…

Giao Linh tên thật là Đỗ Thị Sinh sinh năm 1949 người gốc Sài Gòn. Năm 1982, bà sang Canada đoàn tụ cùng gia đình. Tại đây, bà thành lập trung tâm băиg nhạc Giao Linh, kết hợp cùng với ca sĩ Tuấn Vũ ra mắt nhiều đĩa CD ăи khách như “Đôi mắt người xưa”, “Giọng ca dĩ vãng”…

Danh ca Giao Linh
Danh ca Giao Linh

Năm 2000, Giao Linh quay trở về quê hương và định cư biểu diễn tại đây. Năm 2014, Giao Linh cùng Phương Dung kết hợp tổ chức Liveshow để phục vụ khán giả trong nước. Hiện nay bà vẫn tích cực hoạt động nghệ thuật tại phòng trà, đi hát từ thiện và hát trong chương trình “Sol vàng”.

9. Hương Lan

Danh ca Hương Lan
Danh ca Hương Lan

Hương Lan tên thật là Trần Thị Ngọc Ánh, sinh năm 1956 tại Sài Gòn, là con gái ruột của nghệ sĩ cải lương Hữu Phước. Cô khởi nghiệp ca hát bằng thể loại vọng cổ. Năm 1966, Hương Lan chuyển sang tân nhạc dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Trúc Phương. Năm 1972, cô kết hôn với nghệ sĩ Chí Tâm rồi cùng gia đình sang Pháp định cư vào năm 1978. Năm 1982, nữ ca sĩ ly hôn chồng. Hai năm sau, cô lần đầu xuất hiện trong một chương trình âm nhạc của một trung tâm âm nhạc lớn ở hải ngoại và sau đó trở thành một trong số các ca sĩ trụ cột của trung tâm này. Năm 1996, Hương Lan được cấp phép biểu diễn tại Việt Nam. Tháng 5/2009, cô tổ chức liveshow trong nước với tên “Ơn đời một khúc dân ca”. Từ đó đến nay, nghệ sĩ thường xuyên về nước biểu diễn. Năm 2013, Hương Lan cùng người chồng sau kỷ niệm 25 năm ngày cưới tại TP HCM.

10. Băиg Châu

Ca sĩ Băиg Châu sinh năm 1950, ngoài sở hữu giọng hát ngọt ngào, cô còn là một trong những ca sĩ có nhan sắc khả ái nhất trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 1975. Ca sĩ Băиg Châu tên thật là Nguyễn Thị Xuân Mai, cô sinh ngày 1/8/1950 ở Bà Rịa, sau đó về Trà Ôn, lớn lên ở miền đất Trà Ôn, Cần Thơ.

Danh ca Băng Châu
Danh ca Băиg Châu

Sau năm 1975, ca sĩ Băиg Châu tiếp tục sinh hoạt âm nhạc, đóng phim, đến tháng 9 năm 1979 thì cô sang Mỹ định cư, cộng tác với nhiều trung tâm băиg đĩa hải ngoại như Thúy Nga, Phượng Hoàng band, Thanh Lan band. Ngoài ca hát, Băиg Châu còn là một MC, xướng ngôn viên truyền hình và truyền thanh.

https://gocxua.net/ban-tron-am-nhac/ngay-ay-va-bay-gio-cua-nhung-nu-danh-ca-sai-gon.html?fbclid=IwAR22CXwTwvKwSYj3r51iKDQ7_FIwRW1BgiIyk8xs_uoxQdQB-AbtoT_j2p0