TRẦN THỊ THANH DUNG bảo vệ luận đề thạc sĩ năm 2018/ Bảo tồn và phát huy văn hóa hát Xẩm tại Ninh Bình

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
TRẦN THỊ THANH DUNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓ...

1 of 161 Education 598 views Aug. 27, 2019 Like

Đề tài: Bảo tồn và phát huy văn hóa hát Xẩm tại Ninh Bình, HOT

Download luận văn thạc sĩ ngành quản lí văn hóa với đề tài: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, cho các bạn làm luận văn tham khảo

luanvanpanda.com

luanvanpanda.com ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: TRANGLUANVAN.COM Follow

  • Login to see the comments

Đề tài: Bảo tồn và phát huy văn hóa hát Xẩm tại Ninh Bình, HOT

  1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG TRẦN THỊ THANH DUNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÁT XẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA Khóa 5 (2016 – 2018) Hà Nội, 2018
  2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG TRẦN THỊ THANH DUNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÁT XẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý văn hóa Mã số : 8319042 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thanh Phương Hà Nội, 2018
  3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu đảm bảo tính trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Những trích dẫn kế thừa kết quả nghiên cứu từ các tác giả khác đều ghi rõ nguồn TLTK . Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này. Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2018 Tác giả luận văn Trần Thị Thanh Dung
  4. 4. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CLB Câu lạc bộ HĐND Hội đồng nhân dân NSUT Nghệ sĩ ưu tú Nxb Nhà xuất bản QĐ Quyết định TH Tiểu học THCS Trung học cơ sở TLTK TW Tài liệu tham khảo Trung ương UBND Ủy ban nhân dân VH&TT Văn hóa và thể thao VH,TT&DL Văn hóa, thể thao và du lịch VH Văn hóa VH – TT Văn hóa thông tin
  5. 5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………… 1 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÁT XẨM, TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU………………… 10 1.1. Khái niệm, thuật ngữ…………………………………………………………………… 10 1.1.1. Văn hóa ………………………………………………………………………………….. 10 1.1.2. Di sản văn hóa…………………………………………………………………………. 11 1.1.3. Quản lý di sản văn hóa……………………………………………………………… 15 1.1.4. Bảo tồn …………………………………………………………………………………… 17 1.2. Một số văn bản của Đảng và Nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa ……. 22 1.2.1. Những văn bản luật liên quan ……………………………………………………. 22 1.2.2. Một số Công ước liên quan……………………………………………………….. 24 1.3. Bảo tồn và phát huy hát Xẩm ở Ninh Bình…………………………………….. 25 1.3.1. Khái quát về tỉnh Ninh Bình ……………………………………………………… 25 1.3.2. Tương truyền về nguồn gốc và các giai đoạn phát triển của nghệ thuật hát Xẩm …………………………………………………………………………………… 27 1.3.3. Đặc trưng của nghệ thuật hát Xẩm……………………………………………… 33 1.3.4. Giá trị nghệ thuật của hát Xẩm trong xã hội hiện đại……………………. 46 1.3.5. Vai trò của hát Xẩm trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc……………………………………………………………………………………….. 50 Tiểu kết chương 1 …………………………………………………………………………………………….. 52 Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÁT XẨM………………………………………………………………………………. 54 2.1. Các đơn vị, cá nhân tham gia…………………………………………………………. 54 2.1.1. Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình……………………………………… 54 2.1.2. Nhà hát Chèo Ninh Bình…………………………………………………………… 57 2.1.3. Phòng văn hóa huyện Yên Mô…………………………………………………… 60 2.1.4. Nghệ nhân Hà Thị Cầu……………………………………………………………… 64 2.2. Những phương cách bảo tồn ………………………………………………………… 67 2.2.1. Sưu tầm ………………………………………………………………………………….. 68 2.2.2. Truyền dạy………………………………………………………………………………. 71 2.2.3. Quản lý nghệ thuật hát Xẩm ……………………………………………………… 75
  6. 6. 2.3. Phát huy giá trị văn hóa……………………………………………………………….. 78 2.3.1. Giao lưu biểu diễn……………………………………………………………………. 78 2.3.2. Tuyên truyền quảng bá……………………………………………………………… 81 2.3.3. Gắn với du lịch………………………………………………………………………… 84 2.3.4. Tổ chức nghiên cứu khoa học ……………………………………………………. 85 2.3.5. Những nét tương đồng và khác biệt giữa hát Xẩm ở Ninh Bình với các địa phương khác………………………………………………………………………….. 86 2.4. Nhận xét và đánh giá kết quả công tác khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của hát Xẩm………………………………………………………………………. 91 2.4.1. Kết quả đạt được ……………………………………………………………………… 91 2.4.2. Hạn chế…………………………………………………………………………………… 93 2.4.3. Nguyên nhân …………………………………………………………………………… 95 Tiểu kết chương 2……………………………………………………………………………… 99 Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÁT XẨM TẠI TỈNH NINH BÌNH …………. 100 3.1. Tác động của phát triển xã hội đối với di sản văn hóa nghệ thuật……. 100 3.1.1 Khó khăn ……………………………………………………………………………….. 100 3.1.2. Thuận lợi ………………………………………………………………………………. 102 3.2. Định hướng………………………………………………………………………………. 103 3.2.1. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền……………………………………. 105 3.2.2. Đào tạo củng cố nguồn nhân lực biểu diễn………………………………… 108 3.2.3. Gắn với du lịch địa phương……………………………………………………… 110 3.3. Đề xuất giải pháp ……………………………………………………………………… 112 3.3.1. Xây dựng các chương trình biểu diễn phù hợp…………………………… 112 3.3.2. Đa dạng hóa không gian biểu diễn cho hát Xẩm ………………………… 113 3.3.3. Kiến nghị cụ thể …………………………………………………………………….. 114 Tiểu kết chương 3……………………………………………………………………………. 119 KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………. 121 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………… 123 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………. 116
  7. 7. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề bảo tồn các giá trị văn hoá, bản sắc của mỗi quốc gia, dân tộc đang là vấn đề thời sự. Giữ gìn bản sắc văn hóa và phát huy những giá trị văn hóa trong thời đại ngày nay có một tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy, khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Là Cố Đô Hoa Lư nghìn văn văn hiến của dân tộc, Nình Bình tự hào được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây chính là nơi phát tích của nghệ thuật Chèo, và đặc biệt còn lưu giữ được nghệ thuật hát Xẩm với những nghệ nhân tiêu biểu như “thần Xẩm” Hà Thị Cầu. Hát Xẩm là nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo, gắn bó với người dân Ninh Bình từ bao đời nay. Bên cạnh giá trị nghệ thuật, hát Xẩm là thể loại âm nhạc dân gian mang đậm tính nhân văn, có tác dụng giáo dục về đạo đức, lối sống đối với mọi tầng lớp trong xã hội. Có thể coi những người hát Xẩm là những người kể chuyện rất tài ba. Tuy nhiên, trong sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện nay, nhiều người dần lãng quên những loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống như hát Xẩm. Đa số lớp trẻ không còn tìm đến với không gian văn hóa cổ truyền, mà có xu hướng ưa chuộng những hình thức âm nhạc hiện đại, mang hơi hướng phương Tây. Vì vậy, nguy cơ khó bảo tồn và phát huy được các giá trị di sản âm nhạc, trong đó có hát Xẩm là một thực trạng, cần các đơn vị quản lý văn hóa nghệ thuật, các nhà chuyên môn và những người yêu trọng nghệ thuật cổ truyền tìm cách lưu giữ.
  8. 8. 2 Để bảo tồn vốn văn hóa của nghệ thuật âm nhạc dân gian, thì một trong những việc phải làm, là đưa về môi trường sinh phát của nó, đó chính là đời sống, sinh hoạt thường ngày của người dân. Có như vậy, cả cộng đồng mới biết đến di sản văn hóa dân tộc và ứng xử với nó bằng niềm tự hào dân tộc, bằng sự đam mê cái đẹp, cái hồn cốt của dân tộc. Đã đến lúc chúng ta cần tăng cường giáo dục thẩm mỹ, giáo dục sự hiểu biết các tri thức văn hóa nói chung và di sản văn hóa dân tộc nói riêng trong đó có hát Xẩm, từ đó khơi dậy và nhân lên niềm đam mê, ý thức bảo vệ di sản trong thế hệ trẻ. Nghiên cứu tới nghệ thuật hát Xẩm, người ta khó có thể bỏ qua Ninh Bình, vì đây cũng được coi là “cái nôi” của loại hình nghệ thuật hát Xẩm cổ truyền. Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Ninh Bình, trên cơ sở tìm hiểu thực tiễn, thấy rõ những giá trị văn hóa từ nghệ thuật hát Xẩm, đồng thời nhận thấy hát Xẩm – một món ăn tinh thần rất quen thuộc đang có nguy cơ bị thất truyền trên chính quê hương của nó, học viên chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. Đề tài tìm hiểu, phản ánh thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa được gìn giữ thông qua nghệ thuật hát Xẩm ở tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của nghệ thuật hát Xẩm, đồng thời giới thiệu, quảng bá nghệ thuật dân gian mang đậm bản sắc văn hóa quê hương, góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp du lịch của tỉnh Ninh Bình. 2. Lịch sử nghiên cứu Từ trước tới nay, có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bài viết giới thiệu về Nghệ thuật hát Xẩm nói chung, và tìm hiểu về ca từ, làn điệu Xẩm nói riêng. Trong thời gian nghiên cứu về nghệ thuật hát Xẩm ở Ninh Bình, học viên có tìm đọc và tham khảo một số công trình nghiên cứu về hát Xẩm như sau:
  9. 9. 3 Nghệ thuật hát Xẩm,Nxb Nghệ Thuật xuất bản năm 2009 của tác giả Khương Văn Cường đã đem đến cho người đọc cái nhìn khái quát nhất về nguồn gốc, quá trình phát triển cũng như những nét đặc trưng của hát Xẩm. Trong cuốn sách này, tác giả đã giới thiệu cho người đọc hiểu những vấn đề chung nhất mà một người muốn tìm đến Xẩm cần nắm được [11]. Hát Xẩm, 1000 năm Âm nhạc Thăng Long Hà Nội, quyển II nhạc cổ truyền, Nxb Âm nhạc năm 2010 của tác giả Bùi Trọng Hiền. Nằm trong bộ sách viết về tư liệu âm nhạc Thăng Long – Hà Nội lần đầu tiên được công bố, quyển 2 có đem đến cho người đọc các tư liệu về nhạc cổ truyền như hát ru, hát cò lả, hát trống quân…; trong đó có hát Xẩm. Tác giả đã khái quát nói chung về lịch sử hình thành hát Xẩm, đồng thời ông cũng giới thiệu các loại nhạc cụ được sử dụng trong loại hình nghệ thuật này [16]. Cố tác giả Trần Việt Ngữ đã có công trình nghiên cứu chuyên khảo: Hát Xẩm (2002), Nxb Âm nhạc. Trong cuốn sách này, ông đã giới thiệu với người đọc về hát Xẩm, về các làn điệu dân ca, những khái quát chung nhất về nghệ thuật này. Tác giả cũng trích dẫn rất nhiều những làn điệu Xẩm để người đọc hiểu sâu hơn về nghệ thuật hát Xẩm [26]. Bùi Tuyết Phương (2014): hát Xẩm trong sự phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình. Luận văn đã trình này một cách khái quát nhất về hát Xẩm và những giá trị của nó mang lại đối với sự phát triển du lịch tỉnh tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, mức độ nghiên cứu còn dừng lại ở ảnh hưởng của hát Xẩm đối với phát triển du lịch, chứ chưa nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ bảo tồn di sản văn hóa [34]. Nguyễn Đức Hiếu (2014) với luận văn đại học Nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội – Thực trạng và giải pháp. Luận văn đã trình bày tóm lược về nguồn gốc hình thành và sự phát triển của nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội. Từ đó nêu lên thực trạng và giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát Xẩm trong đời sống hiện đại ngày nay [17].
  10. 10. 4 Tác giả Trần Thị Giang với luận văn thạc sỹ Nghiên cứu nghệ thuật hát Xẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội. Nội dung luận văn đã xây dựng một công trình khoa học vừa có cơ sở lý luận, vừa có giá trị áp dụng vào thực tiễn, đưa ra những vấn đề trọng tâm cần bàn luận và hướng phát triển giá trị di sản hát Xẩm một cách bền vững tại Hà Nội. Nghiên cứu thực trạng hoạt động khai thác Nghệ thuật hát Xẩm – loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong việc phát triển du lịch Hà Nội. Từ đó đề ra các kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Hà Nội thông qua hát Xẩm [13]. UBND tỉnh Ninh Bình đã Phê duyệt Đề án số 04/ ĐA-UBND ngày 14/11/2011 về việc “Khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Xẩm”. Đề án được Nhà hát chèo Ninh Bình phối hợp với UBND huyện Yên Mô tổ chức thực hiện từ cuối năm 2011. Đề án là động thái tích cực, có tính tiên phong trong việc phục hồi một môn nghệ thuật diễn xướng độc đáo của dân tộc. Mục tiêu của Đề án là sưu tầm, biên soạn, truyền dạy và phổ biến các bài hát Xẩm theo các làn điệu cổ truyền, dàn dựng chương trình hát Xẩm, bảo tồn, phát triển nghệ thuật hát Xẩm thông qua các hoạt động biểu diễn và trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương [Phụ lục 2]. Bên cạnh đó còn có các bài báo, bài viết đăng trên các báo, các tạp chí như: Chương trình “Văn hóa Việt Nam qua nghệ thuật hát xẩm và các làn điệu dân ca cổ truyền” do Bộ môn Việt Nam học Trường Đại học Thăng Long đã phối hợp cùng các nhạc sĩ, nghệ sĩ thuộc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy Âm nhạc dân tộc tổ chức ngày 20/05/2014. Chương trình được chia thành ba phần chính bao gồm: Nghệ thuật hát xẩm, Dân ca quan họ Bắc Ninh và Văn hóa âm nhạc xứ Đoài. Mỗi phần đều có những nét đặc sắc riêng khiến người nghe có thể đi từ tâm trạng bi ai đến tình tứ lưu luyến, rồi bất ngờ nuối tiếc, suy ngẫm nhiều hơn với cuộc sống của bản thân mình [48].
  11. 11. 5 Tác giả Tôn Nữ Ý Nhi, Một số tương đồng và dị biệt giữa hát Xẩm và âm nhạc nhân thanh truyền thống Huế – in trên tạp chí sáng tác phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật năm 2012, tạp chí sông Hương số 282. Bài viết bên cạnh việc nêu một số vấn đề chung của hát Xẩm, còn chỉ rõ những điểm giống và khác nhau giữa hát Xẩm nhà âm nhạc nhân thanh truyền thống. Qua đó ta thấy hát Xẩm và âm nhạc nhân thanh truyền thống Huế cói khá nhiều điểm giống nhau như: nguồn gốc sáng tác, nội dung phong phú, dựa trên nội dung của ca dao, tục ngữ, … Bên cạnh đó Xẩm cũng có những đặc trưng rất riêng như: thời điểm ra đời với những không gian chuyên biệt,… [32]. Hát Xẩm – Nghệ thuật của cội nguồn dân gian – tác giả Phương Lan trên trang http/baomoi.com. Bài viết đã có cái nhìn tổng quan về hát Xẩm cũng như những đặc điểm riêng chỉ có ở loại hình nghệ thuật dân gian này. Đặc biệt đây là một trong những bài viết tương đối đầy đủ về nguồn gốc, đặc trưng riêng của hát Xẩm như làn điệu, lời ca,…[46]. Bài phát biểu của nghễ sĩ Mai Tuyết Hoa – Giám đốc trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc, Giữ gìn, phát huy nghệ thuật truyền thống – hát Xẩm. Bài phát biểu đã khẳng định nét giá trị truyền thống của nghệ thuật dân tộc như hát Xẩm, đặc biệt là loại Xẩm tàu điện – một đặc trưng của Hà Nội xuất hiện từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Tuy chỉ là một bài phát biểu ngắn trong Đại hội Liên hiệp phụ nữ, những nghệ sĩ đã đem đến cho chúng ta những hồi tưởng về làn điệu Xẩm tàu điện một thời còn vang bóng [47]. Một sự kiện gây tiếng vang lớn trong giới mộ điệu nghệ thuật hát Xẩm là bộ phim “Xẩm đỏ” – một bộ phim tài liệu tái dựng cuộc đời nghệ nhân Xẩm Hà Thị Cầu cùng những thăng trầm nghệ thuật trong dòng chảy của thời gian của đạo diễn Lương Đình Dũng. Bộ phim được thực hiện tại Yên Mô – Ninh Bình, nhân vật chính là nghệ nhân Hà Thị Cầu cùng cây
  12. 12. 6 đàn nhị gắn bó với cuộc đời hát Xẩm hơn 60 năm qua của bà. Nghệ nhân Xẩm cuối cùng của vùng đất Ninh Bình, người được mệnh danh là “báu vật sống” của loại hình di sản văn hóa dân gian này bằng những lời bộc bạch của mình, cho ta hiểu hơn về nghệ thuật văn hóa dân gian – hát Xẩm. Xẩm đỏ không có lời bình, chỉ có sự bộc bạch tự nhiên của nhân vật. Phim được chắt lọc với nhiều hình ảnh đẹp và truyền cảm không chỉ về cụ Hà Thị Cầu, mà còn về nghệ thuật hát Xẩm và nhân tình thế thái xung quanh [45]. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về giá trị văn hóa của hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình dưới góc độ bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc. Để nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc hơn về hát Xẩm ở Ninh Bình, cần có cái nhìn tổng quan, phản ánh, đánh giá một cách có hệ thống thực trạng tồn tại, phát triển và lưu giữ văn hóa để đưa ra một số phương hướng, giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm bảo lưu được các giá trị văn hoá gắn với phát triển văn hóa xã hội, du lịch của địa phương. Đây là một trong những điểm mới mà chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện trước đây. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu – Nghiên cứu các giá trị văn hóa của hát Xẩm nói chung và Ninh Bình nói riêng – Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần thực thi hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu – Nghiên cứu về giá trị văn hóa trong nghệ thuật hát Xẩm. – Nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của Tỉnh Ninh Bình về công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa.
  13. 13. 7 – Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy hát Xẩm ở tỉnh Ninh Bình, mối quan hệ gắn kết với phát triển du lịch của tỉnh. – Đánh giá những thành tựu, thuận lợi, hạn chế, khó khăn, nguyên nhân và đề xuất phương hướng, giải pháp quản lý để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 4.2. Phạm vi nghiên cứu 4.2.1. Về không gian Thực hiện khảo sát, nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, cụ thể là tại địa bàn thành phố và huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Đây là hai địa bàn mà các hoạt động biểu diễn, truyền dạy hát Xẩm hiện nay còn được diễn ra trong tỉnh. Còn các địa phương khác của tỉnh hầu như đã không còn nữa. 4.2.2. Về thời gian Nghiên cứu được thực hiện bắt đầu từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 06/2018 (Năm 2011 UBND tỉnh Ninh Bình đã phê duyệt đề án số 04/ĐA- UBND ngày 14/11/2011 về việc “Khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Xẩm”. Đề án được Nhà hát chèo Ninh Bình phối hợp với UBND huyện Yên Mô tổ chức thực hiện từ cuối năm 2011). Tác giả chọn thời gian nghiên cứu bắt đầu từ năm 2012 bởi đây là thời gian đề án trên được đưa vào thực hiện và đang công bố giai đoạn 1 thực hiện đề án. 5. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp khảo sát thực địa: Phương pháp tiến hành qua việc đi thực tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, qua đó điều tra trực tiếp bằng quan sát, trao đổi, phỏng vấn các nhà nghiên cứu, các cán bộ lãnh đạo văn hóa địa
  14. 14. 8 phương, các nhà quản lý văn hóa xã hội, chính quyền địa phương… để thu thập thông tin về hát Xẩm. – Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu: Thu thập các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: sách, báo, tạp chí, báo cáo, đề án, các đề tài, luận văn, chương trình… nhằm tìm ra những giá trị tiêu biểu của hát Xẩm, thực trạng công tác biểu diễn, truyền dạy hiện nay từ đó đưa ra được những nhận định sát thực về công tác bảo tồn phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. – Phương pháp thống kê, so sánh: Tổng hợp các số liệu, tư liệu đã thu thập được để tiến hành phân tích nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu và so sánh giữa hát Xẩm ở Ninh Bình với một vài địa phương khác để đưa ra những đánh giá khách quan về phương cách bảo tồn hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 6. Những đóng góp của luận văn Luận văn lý giải về sự hình thành, tồn tại, phát triển của hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ khi hình thành cùng những biến đổi trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Luận văn nghiên cứu, phân tích, hệ thống những những giá trị văn hóa hát Xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thực trạng hoạt động biểu diễn, nghiên cứu về hát Xẩm hiện nay và mối quan hệ với hoạt động du lịch. Vì vậy, sẽ góp phần cung cấp thêm tư liệu tham khảo cho những người quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu về hát Xẩm ở Ninh Bình. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương hay những nghiên cứu khác có điều kiện tương tự có được cái nhìn toàn diện, tổng quát về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này. 7. Bố cục luận văn
  15. 15. 9 Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm ba chương. Chương 1: Khái quát về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm, Tổng quan địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hát Xẩm Chương 3: Nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy hát Xẩm ở tỉnh Ninh Bình
  16. 16. 10 Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÁT XẨM, TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1. Khái niệm, thuật ngữ 1.1.1. Văn hóa Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Để hiểu về khái niệm văn hóa đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau về văn hóa. E.B. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [40, tr.13]. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người [12, tr.39]. Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [25, tr.431]. Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn.
  17. 17. 11 1.1.2. Di sản văn hóa Trong Điều 1 của Luật Di sản văn hóa : “Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [22, tr.12]. Như vậy “Di sản văn hóa được khái quát lại là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại” [38, tr.3]. 1.1.2.1. Di sản văn hoá vật thể Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử – văn hoá, danh lam – thắng cảnh và di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Luật Di sản văn hóa năm 2002 quy định: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam, thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [27, tr.13]. Di sản văn hóa vật thể là các giá trị văn hóa tồn tại trong một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người. Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người. Di sản văn hóa vật thể được con người nhận thức, cảm nhận bằng nhiều giác quan vì vậy nó cũng dễ dàng được đánh giá hơn. Nhưng không vì thế mà ta đánh giá thấp vai trò và yêu cầu việc bảo tồn, gìn giữ di sản văn hóa vật thể của dân tộc nói riêng và nhân loại nói chung.
  18. 18. 12 1.1.2.2. Di sản văn hóa phi vật thể Khoản 1 điều 2 mục I Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 đã ghi nhận Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững” [39]. Trong khái niệm này, UNSECO đã cố gắng cụ thể hóa tính trừu tượng của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc định dạng một số biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể như tập quán, biểu đạt tri thức, kỹ năng, các công cụ đồ vật, đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liên quan… Những biểu hiện này được ví như hình thức chứa đựng di sản văn hóa phi vật thể. Đó cũng chính là phần cốt lõi bên trong, chính là phần hồn của di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO ghi nhận dưới khía cạnh ý nghĩa đối với cộng đồng. Di sản văn hóa phi vật thể phải có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới.
  19. 19. 13 Luật di sản văn hóa năm 2001 định nghĩa: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [20, tr.13]. Đến khi sửa đổi bổ sung Luật này vào năm 2009 thì cách hiểu về di sản văn hóa phi vật thể đã được khái quát là: “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [24, tr.15]. Di sản văn hóa phi vật thể được chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ thể ở hữu văn hóa quyết định hình thức và quá trình tồn tại. Trong quá trình con người tìm cách phát triển cuộc sống cả về vật chất và tinh thần của mình, họ sẽ khiến cho di sản văn hóa phát triển theo hướng phục vụ nhu cầu của chính họ. Vì vậy, di sản văn hóa phi vật thể có thể tồn tại và phát triển lại phụ thuộc hoàn toàn vào chủ thể sáng tạo và cộng đồng dân cư làm ra nó. Hình thức tồn tại hay thể hiện của di sản văn hóa phi vật thể không xác định cụ thể dạng vật thể mà chủ yếu trong tiềm thức của cộng đồng người sáng tạo và lưu giữ nó. Đó có thể là trong trí nhớ, hành vi, ứng xử, tập quán sinh hoạt của con người thông qua các hoạt động sống và giao tiếp hàng ngày. Các dạng thức chính của văn hóa phi vật thể có thể kể tới như sau:
  20. 20. 14 – Ngữ văn truyền miệng, như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, vè, ngụ ngôn… – Các hình thức diễn xướng và trình diễn bao gồm các hình thức ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn xướng) – Những hành vi ứng xử của con người, đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân trong cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng. – Các hình thức nghi lễ, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, lễ hội như Phật giáo, Ki-tô giáo, đạo giáo, thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu… – Tri thức dân gian cũng là một lĩnh vực của văn hóa phi vật thể. Tri thức dân gian ở chừng mực nào đó còn được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như tri thức bản địa, tri thức địa phương… Các hình thức của nghệ thuật dân gian rất đa dạng và phong phú, nó thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau và có ảnh hưởng lớn đối với con người trong sinh hoạt hàng ngày. Tác phẩm nghệ thuật dân gian được những người nghệ sĩ chuyên và không chuyên dựa trên chính kho tàng văn hóa dân tộc sáng tác nên. Nó thể hiện đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân cư nơi nó tồn tại và phát triển,… Chúng mang những đặc trưng khác biệt và những giá trị to lớn như giá trị nhận thức, giá trị nghệ thuật và giá trị giáo dục. Mỗi một cá nhân trong cộng đồng cần chung tay để bảo vệ những tinh hoa văn hóa nhân loại. Với ý nghĩa như vậy, nghệ thuật hát Xẩm chính là một lĩnh vực của văn hóa phi vật thể. 1.1.3. Giá trị Giá trị là khái niệm riêng liên quan trực tiếp đến nhu cầu của cuộc sống con người. Khi một sự vật, sự việc được con người khai thác thì vấn đề đầu tiên người ta quan tâm tới chính là giá trị của nó. Đó có thể là giá trị vật chất, cũng có thể là giá trị tinh thần, nhưng về bản chất thì tính nhân văn sẽ bao quát toàn bộ giá trị đó. Đối với di sản văn hóa, người ta lại càng
  21. 21. 15 quan tâm hơn tới giá trị của nó, bởi nó không đơn giản hiện hữu như vật chất mà nằm trong tinh thần, suy nghĩ của cộng đồng, cá nhân trong cộng đồng. Chính từ trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn của con người biểu hiện trong các sinh hoạt hàng ngày như: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, giáo dục, tập quán, tín ngưỡng,… tạo nên nét đặc trưng của giá trị văn hóa. Nhu cầu của con người càng cao càng tạo điều kiện cho việc hình thành cácgiá trị văn hóa. Khi được hình thành trong quá trình vận động của các cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội, giá trị văn hóa thường thể hiện chính đặc thù riêng của cá nhân hay cộng đồng đó. Giá trị văn hóa cũng thể hiện thái độ, trách nhiệm và những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan hệ của bản thân với gia đình, xã hội và thiên nhiên. Giá trị của di sản văn hóa thể hiện trước hết ở khía cạnh kinh tế. Những di sản văn hóa vật thể còn lưu giữ được cho đến ngày nay đều mang một giá trị kinh tế không nhỏ. Không chỉ thế, những di sản văn hóa phi vật thể cũng thu hút lượng khách du lịch tới địa phương, tạo tiềm lực phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, trong các di sản này, giá trị tinh thần kết tinh trong nó mới là bộ phận quan trọng tạo nên giá trị đích thực của nó. Như vậy, có thể hiểu giá trị của di sản văn hóa phải được kết hợp cả hai mặt là giá trị vật chất, và giá trị tinh thần. Hai mặt này bổ sung cho nhau và cùng hỗ trợ cho sự phát triển của xã hội, của cộng đồng chứa đựng di sản đó. 1.1.4. Quản lý di sản văn hóa Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là một chuỗi các hoạt động mà trong đó cần có sự góp sức của cá nhân và cộng đồng về nghiên cứu, xếp hạng, kiểm kê, tu bổ, tôn tạo, phát huy,… các giá trị thuộc về di sản văn hóa đó. Công tác quản lý văn hóa cần có sự gắn kết giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cộng đồng dân cư nơi có di sản văn hóa cần được
  22. 22. 16 bảo tồn, phát huy. Các hoạt động chủ yếu chính của quản lý nhà nước về văn hóa như sau: Thứ nhất là các hoạt động bảo vệ di sản văn hóa liên quan đến vấn đề pháp lý. Đây là một trong những công tác quan trọng nhất của hoạt động quản lý di sản văn hóa. Sau khi tiến hành công tác nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học trình các cơ quan thẩm quyền ra quyết định, từ đó xác định được về mặt khoa học nhằm bảo quản, tu bổ hay bảo tồn di sản văn hóa một cách thích hợp nhất. Thứ hai là công tác quản lý di sản văn hóa cần gắn với phát triển bền vững về kinh tế, xã hội. Như vậy cần xây dựng các chiến lược phù hợp với sự phát triển của địa phương đang lưu giữ di sản văn hóa: tìm hiểu các yếu tố tác động tới di sản để làm giảm sự ảnh hưởng tiêu cực; nhận dạng các mặt tiêu biểu của di sản văn hóa để có thể phát huy hết tiềm năng của nó; huy động các nguồn lực xã hội, đầu tư thỏa đáng cho công tác phát huy giá trị di sản văn hóa. Thứ ba là quản lý nhà nước cần có một cơ chế và chính sách mang tính chất định hướng tới cộng đồng và xã hội nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, phải xây dựng một đội ngũ nhân lực có chất lượng và chuyên nghiệp hơn. Những người làm công tác quản lý văn hóa không chỉ cần có hiểu biết, chuyên môn mà trước hết phải có sự đam mê với di sản văn hóa, yêu cái vốn văn hóa của dân tộc. Thứ tư là xây dựng kho tư liệu khoa học về kiến thức di sản văn hóa, nhằm phục vụ cho những người làm công tác nghiên cứu, quản lý. Đây là cơ sở để có những hoạt động tiếp theo trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc. Như vậy, công tác quản lý văn hóa cần có sự vào cuộc của các cấp, các ngành có liên quan, và trước hết là cộng đồng dân cư nơi lưu giữ chính di sản văn hóa đó. Điều 20, Chương III, Luật Di sản văn hóa có ghi: “Cơ
  23. 23. 17 quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền” [23, tr.21]. Hát Xẩm cũng là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian cần nhận được nhiều sự quan tâm của công chúng nhằm bảo tồn và phát huy. Trong mạch nguồn âm nhạc dân gian, có một dòng chảy từ bao đời nay đã gắn bó với con người Việt Nam, đặc biệt là với cuộc sống dân dã, thị thành và kẻ chợ… đó là hát Xẩm. Thể loại âm nhạc này trước đây được lưu truyền chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như: Bắc Giang, Hà Nội, Hà Đông, Hải Phòng, Thanh Hóa… với những hình thức biểu diễn rất độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa khu vực. Ninh Bình với vốn văn hóa cổ từ lâu đời cũng mang hòa cùng dòng chảy văn hóa nghệ thuật dân tộc, từ bao lâu đã nuôi dưỡng, giữ gìn nghệ thuật hát Xẩm. Hoạt động biểu diễn, truyền dạy hát Xẩm không chỉ giới hạn ở các nghệ sĩ chuyên nghiệp mà còn nhân rộng tới quần chúng nhân dân. Trải qua thời gian với những thăng trầm của lịch sử, cho tới nay hoạt động quản lý di sản văn hóa nghệ thuật dân tộc cũng cần có những chế tài phù hợp vơi địa phương, nhằm phát huy hết giá trị di sản mà cha ông để lại. 1.1.5. Bảo tồn Về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá có nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng vẫn tựu chung 3 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên trạng, bảo tồn trên cơ sở kế thừa và bảo tồn phát triển. 1.1.4.1. Bảo tồn nguyên trạng Quan điểm bảo tồn nguyên trạng, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX. Quan điểm bảo tồn nguyện trạng này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa. Những người theo quan điểm Bảo tồn nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ
  24. 24. 18 một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại. Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa – xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp. Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại. Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm trong cuốn kỷ yếu hội thảo 60 năm đề cương văn hoá Việt Nam (1943-2003) cho rằng: “Bảo tồn” là giữ lại, không 20 để bị mất đi, không để bị thay đổi, biến hoá hay biến thái… Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn [19, tr.267-277]. 1.1.4.2. Bảo tồn kế thừa Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến di sản. Nhìn chung, mỗi quan điểm lý thuyết đều dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể. Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại,
  25. 25. 19 di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa – xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy. Bàn về quan điểm này, Ashworth nêu ra những đặc điểm cơ bản sau: – Không chỉ những đồ tạo tác hay những toà nhà mà cả các bộ sưu tập và các di sản khác cũng được bảo tồn dựa vào kế thừa; – Các tiêu chí lựa chọn không phụ thuộc vào bản chất bên trong của di sản mà còn phụ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài, không thuộc về bản chất của di sản; – Bảo tồn trên quan điểm kế thừa quan tâm không chỉ đến hình thức mà còn quan tâm đến cả các chức năng của di sản [1, tr.165-191]. Mục đích sâu xa của bảo tồn là đưa di sản văn hóa vào cuộc sống để phát huy giá trị của chúng. Quan điểm trên cần phải được nhìn nhận một cách linh hoạt. Nói tóm lại là bảo tồn di sản văn hóa cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống. Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâm đến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại. Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội. 1.1.4.3. Bảo tồn phát triển Quan điểm bảo tồn phát triển trước hết phải dựa trên mối quan hệ của di sản văn hóa cần được bảo tồn với sự phát triển của xã hội mà di sản văn hóa ấy đang tồn tại. Trên thực tế, văn hóa cũng phát triển, thay đổi theo môi sinh của nó, chính vì vậy, việc phát triển là việc tất yếu. Nhưng việc phát triển này lại đi ngược với quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, nó làm mất đi tính nguyên bản ban đầu của di sản văn hóa. Ngay trong cuộc sống của chúng ta không phải bao giờ người ta cũng tìm được lời giải đúng đắn cho vấn đề bảo tồn và phát triển.
  26. 26. 20 Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển đòi hỏi người ta cũng phải đưa ra những chính sách kịp thời và hợp lý. Phải có sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển. Di sản văn hóa cần được coi là một loại “vốn xã hội”, có giá trị văn hóa – tinh thần đồng thời cũng có giá trị kinh tế – vật chất. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người sống tốt hơn cho hôm nay chứ không chỉ là bảo vệ một ý niệm nào đó của quá khứ dù đẹp đến đâu. Quan điểm bảo tồn phát triển ngày nay được các nhà nghiên cứu khoa học rất quan tâm. Bởi vì phát triển, phát huy các giá trị di sản là để đưa giá trị văn hóa đến với cộng đồng, giúp cộng đồng phát triển kinh tế và đáp ứng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa hoàn thiện hơn. Giá trị của di sản văn hóa được tích lũy trong quá khứ, qua trường kỳ lịch sử có thể trở thành một bộ phận quan trọng hợp thành vốn di sản văn hóa quý báu của dân tộc và có thể cũng là của cả nhân loại. Vì vậy, phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc phần “hồn” ấy, sáng tạo thêm, làm cho nó đó thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng để cộng đồng nhận diện được giá trị, biết trân trọng những giá trị ấy và tránh có cái nhìn phiến diện. Từ đó mà khơi lòng tự hào để chung tay vào bảo tồn di sản văn hóa của địa phương, của dân tộc và của cả nhân loại. Cũng cần phải biết chọn lọc những tinh hoa phù hợp với chiều hướng phát triển của xã hội để có thể phát triển, phát huy. Có như vậy mới có thể vừa làm giàu thêm bản sắc văn hóa, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cư dân đương đại đồng thời cũng là cơ hội để tạo ra thêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển kinh tế bền vững cho địa phương. Như vậy, với Hát Xẩm có hình thức biểu diễn đặc biệt: từ trang phục, nghệ sĩ, môi trường biểu diễn cho tới ca từ, làn điệu… Xuất phát từ một hình thức kiếm cơm của những người dân nghèo, trở thành một nghề trong xã hội những năm 20 của thế kỷ 19. Hát Xẩm đi vào tiềm thức người dân Việt là một nghề của những người nghèo, là lời than về cuộc sống.
  27. 27. 21 Việc xác định hình thức bảo tồn cho nó là hết sức quan trọng và cần thiết. Liệu có thể tạo dựng lại môi trường biểu diễn cho hát Xẩm để có thể khôi phục môi trường diễn xướng của nó. Điều này chỉ có thể làm trong các hình thức biểu diễn, các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật. Còn trong cuộc sống hiện đại, người ta không thể dựng lại đúng như hoàn cảnh biểu diễn của Xẩm nguyên gốc trước đây. Đó là điều dễ hiểu, phù hợp với sự phát triển chung của xã hội. Đối với loại hình di sản văn hóa đặc biệt như hát Xẩm, chúng ta chỉ có thể chọn lựa để bảo tồn kế thừa. Tức là bảo tồn lại những làn điệu, những khí cụ dùng để biểu diễn mà khó có thể bảo tồn nguyên trạng ban đầu, nhất là môi trường diễn xướng của nó [49]. 1.1.6. Phát huy Bên cạnh công tác bảo tồn, việc phát huy các giá trị của di sản văn hóa cũng là một vấn đề tất yếu. Bởi có phát huy được giá trị của nó mới thấy được ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội. Nếu bảo tồn chỉ là giữ gìn, bảo quản những gì còn sót lại của di sản văn hóa thì phát huy là làm cho nó sống lại, khiến cho các giá trị đó tồn tại trong chính cuộc sống của người dân. Phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc là đưa chính giá trị văn hóa đó đến với cộng đồng, giúp cộng đồng phát triển đời sống kinh tế và tinh thần, đáp ứng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa hoàn thiện hơn. Phát huy di sản văn hóa không chỉ phục vụ nhu cầu tinh thần của con người, mà còn đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế, phục vụ xã hội. Nhưng công tác phát huy đó phải biết tập trung vào những tinh hoa văn hóa của đời trước để lại. Chính vì vậy, công tác phát huy cần đáp ứng được những yêu cầu cơ bản sau: – Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa
  28. 28. 22 trong bối cảnh toàn cầu hóa. Có giao lưu, mở rộng vốn văn hóa thì mới có thể làm giàu cho bản sắc văn hóa, lan tỏa bản sắc văn hóa của mình tới các nơi khác. – Phát huy các giá trị di sản văn hóa nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa. Công tác phát huy di sản văn hóa có thể thu hút mạnh mẽ khách du lịch trong và ngoài nước. Thế mạnh này giúp cho công tác phát huy di sản văn hóa được triển khai nhanh chóng và có hiệu quả hơn rất nhiều. 1.2. Một số văn bản của Đảng và Nhà nước, quốc tế về bảo tồn di sản văn hóa 1.2.1. Văn bản quy phạm pháp luật liên quan Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn trên thế giới. Đã có rất nhiều các văn bản pháp lý được xây dựng để làm cơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc biệt là công tác quản lý di sản văn hóa. Ngày 23 tháng 11 năm 1945, sau khi đất nước dành được độc lập, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện” – Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Nội dung của sắc lệnh này đã khẳng định việc bảo tồn cổ tích “là công việc rất quan trọng và rất cần thiết cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” (khái niệm “cổ tích” trong Sắc lệnh ngày nay được gọi là di sản văn hóa, gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể); Đông Phương Bác cổ Học Viện có nhiệm vụ bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, thay thế cho Pháp Quốc Viễn Đông Bác cổ Học viện bị bãi bỏ [35].
  29. 29. 23 Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 đã cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, mở rộng phạm vi điều chỉnh cả di sản văn hóa phi vật thể là một vấn đề được nhiều quốc gia đề cập tới. Luật tạo cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa, xác định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với di sản văn hóa, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi làm ảnh hưởng tới việc bảo tồn di sản văn hóa; trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và UBND các cấp trong việc bảo tồn di sản văn hóa. Tuy nhiên trong quá trinh đưa Luật áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển dẫn đến tình trạng thương mại hóa…. Vì vậy, năm 2009, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa. Nghị định Số: 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ năm 2010 đã quy định về di sản văn hóa phi vật thể và vật thể trong đó có nghệ thuật trình diễn dân gian. Trong nghị định cũng nêu rõ chính sách của nhà nước nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Đây là một trong những căn cứ nhằm thực hiện các chính sách đầu tư, khuyến khích cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc [31]. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã nhấn mạnh: xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát
  30. 30. 24 triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học [30]. Nghị định Số: 62/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ nhân dân” và “Nghệ sĩ ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật. Thông qua nghị định này, các đối tượng được áp dụng xét tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú và các quyền hạn, nghĩa vụ của các đối tượng được xét tặng. Nghị định này là một trong những hành động thiết thực của nhà nước nhằm tôn vinh đóng góp của những cá nhân, tổ chức trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể [29]. Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ về việc hỗ trợ đối với nghệ sĩ nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn, quy định cụ thể chính sách đãi ngộ đối với người có công gìn giữ, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể [29]. Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/06/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia [37]. 1.2.2. Một số Công ước liên quan Công ước bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được UNESCO ban hành năm 1972 đã khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đồng thời thức tỉnh ý thức của các nguyên thủ quốc gia cũng như toàn nhân loại về trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa. Công ước hướng dẫn các yêu cầu và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời hướng dẫn cơ chế giám sát mang tính toàn cầu đối với hoạt động của từng quốc gia thành viên đảm bảo sự toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thông qua một tổ chức thống nhất quản lý di sản và kế hoạch quản lý thích ứng cho các di sản được đưa vào danh mục di sản thế giới [39].
  31. 31. 25 Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể do UNESCO thông qua năm 2003 là công ước tôn vinh giá trị di sản văn hóa phi vật thể cũng như tính đa dạng văn hóa toàn nhân loại, đề cao vai trò của cộng đồng cư dân địa phương với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa – chủ sở hữu, người hưởng thụ giá trị – người trực tiếp bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong đời sống xã hội. Công ước đặt ra hai danh mục loại hình di sản văn hóa phi vật thể là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể trong tình trạng khẩn cấp nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các quốc gia thành viên, vai trò của cộng đồng cư dân địa phương [39]. Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa được UNESCO thông qua năm 2005. Công ước có mục đích bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa được thể hiện và truyền tải cụ thể trong các hoạt động văn hóa, sản phẩm và dịch vụ văn hóa – các phương tiện của nền văn hóa đương đại. Đồng thời đặt ra một khung pháp lý thuận lợi cho tất cả các quốc gia thành viên trong lĩnh vực sản xuất, phân phối, truyền bá, tiếp cận và hưởng thụ các biểu đạt văn hóa từ nhiều nguồn gốc khác nhau [40]. 1.3. Vai trò của hát Xẩm ở Ninh Bình 1.3.1. Khái quát về tỉnh Ninh Bình Trong bài Giới thiệu khái quát về tỉnh Ninh Bình, trên trang Thông tin thương mại biên giới, miền núi, hải đảo của Bộ Công thương, tỉnh Ninh Bình nằm trên tuyến đường giao thông xuyên Bắc – Nam, ở vị trí địa lý tương đối thuận lợi khi cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, ngoài quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, Ninh Bình còn có hệ thống cảng biển, đường sông, đường biển thuận lợi, tạo điều kiện giao lưu, hợp tác, phát triển toàn diện với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế. Ninh Bình nằm ở cực Nam châu thổ Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam, phía Đông Nam giáp
  32. 32. 26 biển Đông, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Tây và phía Đông Bắc giáp tỉnh Hoà Bình [14]. Ninh Bình có 2 thành phố, 6 huyện với 144 xã, phường. Mật độ dân số trung bình 657 người/km2. Địa hình của Ninh Bình được chia thành 3 vùng rõ rệt gồm: vùng đồi núi, nửa đồi núi; vùng đồng bằng; vùng ven biển và biển. Dãy núi đá vôi ở phía tây của tỉnh chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bắt nguồn từ vùng rừng núi Hoà Bình chạy ra biển tạo thành vùng phù sa cổ ven chân núi. Do quá trình tạo sơn hơn 200 triệu năm về trước, dãy núi đá vôi ở phía Tây của tỉnh có nhiều hang động đẹp như: Bích Động, Tam Cốc, Địch Lộng, Xuyên Thuỷ Động, Bàn Long, Hoa Sơn… Tiếp đó là vùng đồng chiêm trũng ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, chứng tỏ khi biển bồi trong điều kiện kín sóng, lại bị núi đồi, bao bọc che chở, nên không đủ phù sa bồi đắp để sót lại vùng sâu trũng ngày nay. Biển bồi dần tạo nên vùng đồng bằng ven biển nam Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn [14]. Nình Bình được biết đến với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đặc biệt khu cố đô Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động là thế mạnh của tỉnh trong phát triển du lịch. Trước tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh như vậy, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa càng có nhiều cơ hội và thử thách. Những người công tác trong ngành văn hóa nghệ thuật, bảo tồn di sản dân tộc luôn tâm niệm phải giữ vững được lập trường trước nền kinh tế thị trường nhiều cám dỗ, bảo tồn được bản sắc dân tộc được trọn vẹn. Nghệ thuật biểu diễn dân gian hát Xẩm cũng cần có nhiều đổi mới trong biểu diễn, môi trường diễn xướng, nhưng vẫn đảm bảo được tính đặc thù riêng, nhất là những làn điệu Xẩm cổ – tâm huyết cả đời của những người đi trước, của cố nghệ nhân Hà Thị Cầu.
  33. 33. 27 1.3.2. Tương truyền về nguồn gốc và các giai đoạn phát triển của nghệ thuật hát Xẩm 1.3.2.1. Nguồn gốc Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo, bên cạnh giá trị nghệ thuật, hát Xẩm còn là thể loại âm nhạc dân gian mang đậm tính nhân văn, thẩm mỹ và giáo dục về đạo đức, lối sống của mọi tầng lớp trong xã hội.Trong cuốn Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính viết : Hát xẩm gồm tập hợp những người mù mắt từ 5 hoặc 6 người học nghề đàn hát, cả đàn ông, đàn bà dắt nhau đến nơi thành thị, kiếm chỗ đông người, trải chiếu ngay vệ đường mà hát. Trong hát xẩm, người thì đánh trống, gõ phách, người thì kéo nhị, người gẩy đàn bầu, rồi đồng thanh mà hát, hoặc đi giọng Nam, hoặc đi giọng Bắc, đi theo tiếng nhị, tiếng đàn, nghe cũng vui tai. Đàn bà, trẻ con, người lớn xúm xít vào xem, có người thưởng dăm ba đồng kẽm, có người thưởng vài xu…[2, tr.402]. Trong cuốn Nhập môn Âm nhạc cổ truyền của Hà Hoa có viết: « Hát Xẩm là một loại hát sinh hoạt nghệ thuật dân gian di động, mang tính kể chuyện, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ » [15, tr.38]. Tác giả Nguyễn Viêm nhận định về hát Xẩm là một nghề sinh nhai của người mù, nghề ấy chính là một kế cứu kẻ tàn tật. Ban đầu hát Xẩm còn sơ lược, chỉ vận làn Xẩm vào trong vài câu ca dao đơn giản. Nhưng dần dần do yêu cầu của người nghe, hát Xẩm đã tiến tới trọn một đoạn dài với nội dung đến vài chục câu, có khi hát cả một câu chuyện kéo dài đến hết cả một buổi [42]. Tác giả Phương Lan có viết về nguồn gốc của hát Xẩm theo dân gian như sau: vào đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai vị hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực, của cải
  34. 34. 28 nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Khi tỉnh dậy, Trần Quốc Đĩnh thấy mình đã bị mù cả hai mắt, mới than khóc mà thiếp đi. Quốc Đĩnh mơ thấy bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông cũng cảm động và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát Xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông [46]. Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra một giải thưởng mang tên Trần Quốc Đĩnh nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà sưu tầm, nghiên cứu, nhà báo có công lao, đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc truyền thống và trao giải lần đầu tiên năm 2008. Theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương. Vì vậy nguồn gốc hát Xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử [26, tr.76]. Theo các nghệ nhân, hát Xẩm khởi phát vào khoảng thế kỷ 14. Từ khi ra đời đến khoảng nửa đầu thế kỷ XX, hát Xẩm được gọi với những tên nhau như hát rong, hát dạo…[43]. Nhưng trên thực tế, hát Xẩm là thể loại âm nhạc dân gian chuyên nghiệp, một lối diễn xướng dân gian độc đáo
  35. 35. 29 trong kho tàng âm nhạc cổ truyền của dân tộc ta, với lối kể tích sâu sắc, khéo léo và hấp dẫn. Vì vậy, khó có thể chắc chắn cụ thể thời gian ra đời của hát Xẩm. Cho đến nay, hát Xẩm chỉ được biết đến nhiều nhất là khi những người dân nghèo dắt díu nhau ra phố thị kiếm sống. Thời phong kiến, hát Xẩm là tiếng nói phản kháng lên án những bất công cường quyền, áp bức, những thói hư tật xấu của xã hội, cất lên tiếng nói bênh vực những số phận bất hạnh nghèo khổ bị chà đạp. Sau chiến tranh, các làn điệu Xẩm được các nhạc sỹ, cán bộ văn hóa sử dụng như một công cụ để tuyên truyền chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Theo tài liệu của ông Trần Việt Ngữ – nhà nghiên cứu dân gian lão thành công bố năm 1964 thì hát Xẩm có 8 làn điệu chính: Xẩm chợ; Xẩm xoan (Chênh bong); Huê tình (riềm huê); Xẩm nhà trò (ba bậc); Nữ oán (Phồn huê); Hò bốn mùa; Hát ai; Thập ân. Tuy nhiên, dân gian thường gọi tên các loại Xẩm theo một số tiêu thức khác, đó là gọi theo tên bài Xẩm nổi tiếng như “Xẩm anh Khóa” (theo tên bài thơ được hát theo điệu Xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải), hoặc theo mục đích, nội dung bài Xẩm như “Xẩm dân vận”, là những bài Xẩm được sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng và gọi theo môi trường biểu diễn như “Xẩm chợ” và “Xẩm cô đầu” (hay còn gọi là Xẩm nhả tơ, Xẩm ba bậc, Xẩm nhà trò, Xẩm huê tình) [27, tr.124]. Từ khi được hình thành đến nay, Xẩm chủ yếu được biết đến như một phương tiện kiếm sống của những người dân nghèo, khiếm thị… Về bản chất, chính những con người lam lũ ấy đã dùng hình thức biểu diễn hát Xẩm để kiếm sống qua ngày. Khi nghiên cứu về hát Xẩm, người ta cần hiểu đây cũng là một thể loại âm nhạc chuyên nghiệp, chỉ khác ở chỗ môi trường diễn xướng, nơi tổ chức biểu diễn không chỉ là các sân khấu mà còn là quán chợ, gốc đa, đường phố… .Khi chưa chính thức trở thành phương tiện kiếm sống, hát Xẩm được người dân biểu diễn những lúc nông nhàn nghỉ ngơi, hay là một cách thức hưởng thụ sau một mùa bội thu.
  36. 36. 30 Trong các thể loại âm nhạc truyền thống Việt Nam, có lẽ chỉ duy nhất hát Xẩm được gọi với tư cách là một nghề để kiếm sống. Là sản phẩm của người lao động nên tính chất âm nhạc, lời ca hết sức mộc mạc chân thành, song nó cũng chứa đựng những nội dung tư tưởng sâu sắc. Lời ca trong hát Xẩm không chỉ phong phú về thể loại như ca dao, tục ngữ, thơ của các tác giả nổi tiếng…, mà còn rất đa dạng về mặt nội dung. Những ca từ của Xẩm hàm chứa những triết lý, những lời răn dạy đạo lý ở đời. 1.3.2.2. Những giai đoạn phát triển Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX thực dân Pháp xâm lược nước ta, hát Xẩm không còn là một loại hình nghệ thuật giải trí mà trở thành một nghề kiếm sống của những người dân nghèo nơi phố thị hay người nông dân từ quê lên phố kiếm ăn. Đây là thời gian mà hát Xẩm phát triển mạnh mẽ nhất, bởi nó trở thành miếng cơm manh áo của người dân. Cùng quá trình truyền bá, lưu giữ nghệ thuật hát Xẩm, những con người nghèo khổ đã vô tình đưa nó trở thành một nghề riêng, một đặc trưng mang tính khu biệt dành cho những người ăn xin. Giai đoạn đầu tiên khi mới ra đời, hát Xẩm đơn thuần là một hình thức hát nói, nhằm giãi bày nỗi niềm của những con người dưới đáy xã hội. Cần hiểu giai đoạn lịch sử nước ta thời bấy giờ: vừa chịu sự đè nén của chế độ phong kiến, vừa chịu áp bức của thực dân Pháp xâm lược. Nỗi thống khổ của người dân lao động làm lũ, vốn trước đây là những người nông dân thuần chất phác, nay bị đẩy vào con đường vô gia cư: đi ăn xin. Trong một thời gian dài, hát Xẩm trở thành món ăn tinh thần của con người. Nó không chỉ giúp người ta kiếm sống mà còn là nơi trút những nỗi niềm với nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống, từ công cha nghĩa mẹ, tình yêu, tình vợ chồng, tình huynh đệ cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời…Cái hay
  37. 37. 31 của Xẩm là ở chỗ nó không chỉ phục vụ riêng cho một nhóm người nào, biểu diễn cũng rất linh hoạt bố trí bất cứ địa điểm nào. Người hành nghề hát Xẩm không chỉ phục vụ cho đám đông như góc chợ, sân đình, mà còn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu những khi ma chay, giỗ kỵ… và thậm chí có khi còn làm không công khi đánh tiếng dùm… Giai đoạn tiếp theo của Xẩm phải kể tới khi nó tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trên thực tế, do quá trình diễn tiến của lịch sử, việc nghệ thuật dân gian đi cùng người dân là tất yếu. Nhưng đối với hát Xẩm, nó còn đóng góp một chức năng vô cùng quan trọng, đó là một kênh tuyên truyền, vận động. Đây là một trong những chức năng vô cùng độc đáo của nghệ thuật hát Xẩm là một kênh truyền thông bằng tiếng hát rất hữu hiệu. Làn điệu Xẩm địch vận được sử dụng đúng như tên gọi của nó: là Xẩm khi rất dễ đưa vào cộng đồng với cách biểu diễn bình dân, gần gũi; vận động, tuyên truyền người dân tham gia kháng chiến chống thực dân và nó đã phát huy tích cực vai trò của mình. Sau cách mạng tháng Tám hát Xẩm được chính quyền sử dụng trong tuyên truyền phong trào bình dân học vụ ở các huyện ngoại thành và chính thời điểm này các nghệ nhân Xẩm đã sáng tác bài Tiễu trừ giặc dốt. Năm 1954, Hiệp định Geneva được ký kết, địch mở một chiến dịch dụ dỗ người dân miền Bắc, nhất là bà con công giáo di cư vào Nam. Vận động đồng bào ở lại, chính quyền mới đã mời các nhóm xẩm đến hát ở vùng duyên hải. Vài ba chục người hát ở Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội… đã tham gia cuộc vận động này. Thông thường ta hay hiểu địch vận là vận động kẻ thù quy thuận theo đường lối của mình. Nhưng Xẩm địch vận chủ yếu là các nội dung tuyên truyền cho cách mạng, động viên tinh thần đấu tranh anh dũng của các chiến sĩ cách mạng. Trong trận tuyến quyết giữ mạch máu lưu thông cầu Hàm Rồng, cùng với các chiến công anh dũng của quân và dân ta, không thể không nhắc tới nghệ nhân Xẩm Minh Sen (Thanh Hoá) đã ôm
  38. 38. 32 cây đàn nhị đi khắp mọi nơi trên mặt trận để mang những lời ca hóm hỉnh, mang lại tiếng cười sảng khoái cho các chiến sĩ. Hay nghệ nhân Vũ Ðức Sắc với bài “Tiễu trừ giặc dốt” hưởng ứng Phong trào Bình dân học vụ do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Rồi nghệ nhân Xẩm đất Ninh Bình là bà Hà Thị Cầu, người được mệnh danh là người đàn bà hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX, tuy không hề biết đến mặt chữ, nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ đã sáng tác ra bài Xẩm “Theo Đảng trọn đời” theo điệu thập ân với những câu thơ: “Vững tâm theo Đảng nghe con/ Đạp bằng sóng gió sắt son lời thề”… Đây cũng là giai đoạn nghề Xẩm vẫn còn nhiều những tên tuổi tài ba như nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên – tức cụ Trùm Nguyên, Vũ Đức Sắc (Hà Nội); Thân Đức Chinh (Bắc Giang); Nguyễn Phong Sắc (Hải Dương), cụ Trùm Khoản (Sơn Tây), cụ Chánh Trương Mậu (Ninh Bình), cụ Đào Thị Mận (Hưng Yên), cụ Trần Thị Nhớn (Nam Định), Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn Khôi (Hà Đông)… và nhiều nghệ nhân khuyết danh khác. Thời gian cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho nghệ nhân Xẩm ngày càng vắng bóng. Bên cạnh niềm đam mê, ảnh hưởng của sự phát triển, định kiến xã hội đã khiến cho việc truyền nghề Xẩm trở nên khó khăn. Thời gian này về sau cũng chỉ còn nghệ nhân Hà Thị Cầu (Yên Mô, Ninh Bình) là nổi tiếng hơn cả trong nghệ thuật hát Xẩm. Từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện môi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm nên các phường Xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa. Các nghệ nhân Xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành. Đời sống xã hội của nghệ sĩ Xẩm không còn, nghệ thuật hát Xẩm đã bị lãng quên, tưởng như đã thất truyền [46].
  39. 39. 33 Hiện nay có những nghệ sỹ gìn giữ nghệ thuật hát Xẩm, Chúng ta cũng nên trân trọng các nghệ sỹ của Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam như Nhạc sỹ Thao Giang, Văn Ty, Xuân Hoạch, Thúy Ngần, Đoàn Thanh Bình, Mai Tuyết Hoa, Quang Long, Khương Cường, Kiều Loan, Anh Tú, Thu Phương, Minh Thư, Minh Huê, Quốc Vinh, Minh Thông, Đức Huy, Tô Minh Cường, Hữu Duy, Xuân Quỳnh … Dù họ có xuất thân khác nhau (họ là những nghệ sỹ Hát Văn, Hát Chèo, Hát Quan Họ… hoặc làm những ngành nghề không liên quan đến nghệ thuật) nhưng đều có điểm chung là tâm huyết với Nghệ thuật Hát Xẩm, mong muốn gìn giữ và phát huy nó. Tuy cách hát, cách diễn khác nhau nhưng rất đáng trân trọng những đóng góp của họ. Cũng có thời gian, trong giai đoạn xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa, người ta cho rằng không nên khuyến khích hát Xẩm vì nó chỉ gợi sự đói nghèo.Chỉ thỉnh thoảng người ta bắt gặp Xẩm diễn cùng các tiết mục khác nhằm phụ họa, minh họa mà thôi. Nó không được công nhận như một loại hình nghệ thuật dân gian như các loại hình nghệ thuật khác. Ngày nay, với chính sách quan tâm đến các loại hình nghệ thuật truyền thống, người ta đã dành nhiều sự quan tâm tới hát Xẩm cùng mong muốn bảo tồn nó. Nói về các giai đoạn phát triển của Xẩm so với các thể loại nghệ thuật dân gian khác là không dài. Tuy nhiên nó vẫn mang những đặc trưng rất riêng bởi gắn với hai cuộc kháng chiến thần thánh giữ nước của dân tộc. Trong luận văn này đã chia Xẩm theo những giai đoạn lịch sử của nước nhà bởi những ảnh hưởng của nó tới cuộc sống, xã hội những giai đoạn này. Đây là những giai đoạn quan trọng làm nên đặc trưng riêng của Xẩm. 1.3.3. Đặc trưng của nghệ thuật hát Xẩm 1.3.3.1. Làn điệu Nghệ thuật hát Xẩm được hình thành bởi một hệ thống âm nhạc riêng biệt với các nhạc cụ như đàn bầu, đàn nhị, cặp kè (sênh sứa), trống
  40. 40. 34 mảnh, đàn hồ, trống cơm, thanh la… cũng có khi người nghệ sĩ biểu diễn Xẩm tự thêm hoặc bớt các nhạc cụ cho phù hợp với môi trường, hoàn cảnh và làn điệu mà mình biểu diễn. Hát Xẩm cũng bao gồm nhiều làn điệu khác nhau đa dạng về nội dung và làn điệu. Ban đầu hát Xẩm chỉ xuất hiện các làn điệu đơn giản, gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân lao động như: Xẩm Chợ, Xẩm Thập Ân, Ngâm vịnh, …Sau này, Xẩm dần xuất hiện nhiều làn điệu hơn nữa do thực tế cuộc sống của con người. Nếu thống kê nhiều nhất có thể lên tới 20 làn điệu: Xẩm Thập Ân, Xẩm Huê Tình (Riềm huê), Nhà Trò, Nhả Tơ, Xẩm Hà Liễu, Xẩm Ba Bậc, Xẩm Trống Quân, Thuốc phiện, Cô đầu, Xẩm Hò Khoan, Xẩm Phồn Huê (Nữ oán), Xẩm Chợ, Xẩm Sai, Nhân Tư, Xẩm Ngâm Vịnh, Xẩm Tàu Điện và Hát Ai, Bốn mùa, Xẩm Xoan, Dân vận. Trên thực tế, người ta gọi tên các loại Xẩm cũng có thể không cần theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác, cụ thể là ba tiêu chí dưới đây: – Tên bài Xẩm nổi tiếng: Xẩm thập ân (theo tên bài Xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), Xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm của Á Nam Trần Tuấn Khải) v.v. – Theo mục đích, nội dung bài Xẩm: Xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng) v.v. – Theo môi trường biểu diễn: ngoài Xẩm chợ và Xẩm cô đầu (hay còn gọi là Xẩm nhả tơ, Xẩm ba bậc, Xẩm nhà trò, Xẩm huê tình) sau này còn có một dòng Xẩm của Hà Nội gọi là Xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện. Ngoài ra còn có một cách phân biệt khác về làn điệu Xẩm đó là Xẩm Chợ và Xẩm Cô Đào. Cách phân biệt này lại dựa trên hai tiêu chí là điệu hát và nhạc cụ được sử dụng khi biểu diễn.
  41. 41. 35 Hát Xẩm Chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách. Còn hát Xẩm Cô Đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng; hát Xẩm Cô Đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị. Trong Luận văn này, tôn trọng theo tiêu chí của các nghệ nhân xưa, mà cụ thể là theo các truyền nhân của cụ Hà Thị Cầu, những người hâm mộ và mong muốn khôi phục nghệ thuật dân gian này, đã chọn theo cách phân biệt và gọi tên làn điệu Xẩm theo tên gọi truyền thống. Có thể tóm gọn lại trong nghệ thuật biểu diễn hát Xẩm chỉ có 8 làn điệu chính bao gồm: Xẩm chợ, Thập Ân, Chênh bong, Phồn huê, Riềm huê, Ba bậc, Hò bốn mùa và Hát ai. Sau này, vào khoảng những thập niên đầu thế kỷ 20 còn có thêm làn điệu Tàu điện do các nghệ nhân Hát Xẩm hành nghề ở Hà Nội sáng tạo. 8 làn điệu chính của nghệ thuật đã bao gồm đủ các sắc thái, góc cạnh của vui buồn sướng khổ… trong mỗi con người. – Điệu Xẩm chợ Đây là làn điệu chính của nghệ thuật hát Xẩm. Làn điệu Xẩm chợ xưa kia thường giản dị, ngắn gọn có giai điệu dựa theo thanh điệu, rất đậm tính hát nói, kể lể, dễ hát… Hát Xẩm chợ là một điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách. Ngày nay, điệu Xẩm chợ vẫn chứa đựng những yếu tố đặc trưng đó, song làn điệu này lại thường thể hiện sắc thái âm nhạc vui tươi, hóm hỉnh, chộn rộn lòng người. – Điệu Thập ân Thập ân cũng là một trong những làn điệu rất phổ biến của Hát Xẩm hiện nay. Đây là làn điệu dài hơi nhất trong các làn điệu phổ biến của hát Xẩm. “Thập ân” kể về 10 điều ân nghĩa ghi khắc công ơn khổ cực của mẹ cha trong việc nuôi dạy con cái từ lúc mang thai cho đến lúc sinh thành rồi
  42. 42. 36 bao nhọc nhằn vất vả nuôi nấng cho đến khi con lớn khôn. Mục đích của điệu Xẩm này nhằm nhắc nhở con người không được quên đi công lao dưỡng dục của cha mẹ đã hi sinh cho con cái như thế nào. Với tính chất da diết, xoáy sâu vào lòng người, Xẩm Thập ân được xem như làn điệu đặc trưng nhất của nghệ thuật Xẩm. Nó được coi như một trường ca giáo hiếu hoàn hảo – Điệu Phồn huê Làn điệu Phồn huê: Xưa kia các nghệ nhân thường hát điệu này theo kiểu kể rầu, thảm thương về nỗi đau nhục của chị em trong xã hội cũ. Thường những bài được hát ở làn điệu này có nội dung rất dài, có khi lên tới 10 khổ thơ. Những thập niên gần đây, để phù hợp với thẩm mỹ nghệ thuật của người đương thời thì các nghệ nhân, nghệ sĩ hát Xẩm khi hát làn điệu này đã rút ngắn thời lượng xuống để chỉ còn độ dài khoảng trên dưới 5 phút. Về màu sắc âm nhạc, cách kể ràu đã tương đối khác, nghệ nhân hát Xẩm chỉ mượn cách kể rầu, kể nỗi khổ của người phụ nữ phong kiến song đã pha trộn sự hóm hỉnh như sự châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu còn tồn tại của người chồng, của gia đình và rộng hơn nữa là của xã hội. – Điệu Chênh bong Làn điệu Chênh bong có nét đặc trưng trữ tình, duyên dáng kết hợp với sự vui vẻ phấn khích, điệu hát này rất hợp khi thể hiện tâm trạng của các chàng trai cô gái đang độ tuổi yêu đương muốn trao gửi nhau những lời ong bướm. Trên thực tế, điệu Chênh bong với điệu Xẩm xoan được cho là có chung cùng một gốc bởi nó có nhiều đặc trưng tương tự nhau. – Điệu Hò bốn mùa Hò bốn mùa là làn điệu duy nhất dùng cho hát tập thể trong hệ thống 8 làn điệu chính của hát Xẩm. Ở những làn điệu khác cũng có thể có hát đôi hoặc nhiều hơn nhưng bản chất của những làn điệu đó chỉ dùng để hát đơn. Sở dĩ Hò bốn mùa được dùng trong hát tập thể là bởi điệu này xưa kia chuyên dùng trong công việc làm ăn trong năm của nhà nông, chẳng hạn như
  43. 43. 37 hát trong lúc đang cấy cầy hay gặt hái. Hò bốn mùa khi ra tới Hà Nội hay các thành thị khác thì được người nghệ nhân hát Xẩm hát ở các đề tài khác gắn liền với môi trường mới mà họ phục vụ. Điệu hát Hò bốn mùa cổ còn ở dạng thô sơ, mang tính kể lể có hơi hướng gần với điệu hát Trống quân. – Điệu Hát ai Hát ai có tính chất than thở, oán trách song lại pha chút hài hước. Có lẽ vậy mà nghệ thuật hề chèo, khi xây dựng hình tượng nhân vật và tính cách nhân vật của anh hề đã khai thác, sử dụng rất nhiều hát ai của hát Xẩm. Có một sự khác biệt giữa làn điệu này so với những làn điệu còn lại của hát Xẩm ở chỗ, nếu như những làn điệu khác điều đứng với vai trò độc lập hoặc vai trò làn điệu chính trong các bài có sử dụng sự kết hợp giữa các làn điệu, chẳng hạn như Xẩm chợ – Tàu điện, thì Hát ai chỉ được xuất hiện ở một số đoạn nhất định có nội dung thương thảm, ai oán trong các bài Xẩm dài hoặc Xẩm kể chuyện. – Điệu Ba bậc (ba bực) Ba bậc là làn điệu khá độc đáo của nghệ thuật hát Xẩm. Ba bậc thiên về tính tự sự nhưng gắn với tình yêu đôi lứa, thưởng thể hiện tâm trạng của chàng trai về mối tương tư với một cô gái mà chàng yêu. Ba bậc còn có nơi gọi là Ba bực, đây là cách phát âm khác nhau theo các địa phương và thời điểm điệu hát được xuất hiện ở địa phương đó. Ba bậc có hai dạng chính là ba bậc nhịp bằng và ba bậc nhịp đuổi, trong đó phổ biến là Ba bậc nhịp bằng. Sự độc đáo của Ba bậc còn ở chỗ, nếu như các làn điệu khác của Xẩm thường phù hợp với hát ngoài trời thì môi trường diễn xướng của Ba bậc lại gắn với lối hát trong nhà, chính vì vậy mà trong Hát ả đào xưa kia cũng đã khai thác điệu hát này và được gọi là Xẩm nhà trò. Tất nhiên, cũng giống như Phồn huê với Xẩm Xoan, khi Ba bậc được khai thác sang ả đào thì cách hát đã có đôi chút thay đổi, nhưng về lòng bản thì vẫn có mối liên hệ mật thiết với nhau.
  44. 44. 38 – Điệu Riềm huê Riềm huê cũng tương tự như Ba bậc về nội dung diễn tả, vì làn điệu này thường được lồng vào để hát với những nội dung trao tình, hò hẹn, nhớ thương trông ngóng. Song về tính chất âm nhạc, cách thể hiện thì Riềm huê lại gần giống với Chênh bong, chỉ khác là nội dung thể hiện về tình yêu chứ không phải thân phận người phụ nữ như Chênh bong. Bên cạnh đó, khi thể hiện Riềm huê thành phần dàn nhạc thường còn có thêm cả trống cơm tạo sắc thái đậm đà, thêm phần cuối hút đối người nghe. Các làn điệu Xẩm phổ biến hiện nay: – Xẩm Chợ: Anh Xẩm, Mục hạ vô nhân,.. – Xẩm Huê Tình: Dứa dại không gai, Xẩm huê tình, Xẩm nhị tình (Sáng cả đêm rằm), Ba bậc, Nhời này,.. – Xẩm Xoan: Lơ lửng con cá vàng, Quyết chí tu thân, Còn duyên chớ có làm cao, Sướng khổ vì chồng, Lấy chồng già, Chơi khắp Long Thành,.. – Xẩm Tàu Điện: Giăng sáng vườn chè, Chân quê, Cô hàng nước, Hỏi thăm cô Tú – Xẩm Thập Ân: Ngãi mẹ sinh thành, Thập ân, Mười khuyên,… – Xẩm Sai: Thuốc phiện, Tiễu trừ giặc dốt, Tiễu trừ tham nhũng,… – Xẩm Hò khoan: Hò bốn mùa – Xẩm Phồn Huê: Cái trống cơm,.. – Một số làn điệu ít gặp: Dạt nước cánh bèo, Anh Khóa,.. * Xẩm có sự hòa trộn của dân ca Nghệ An: Thập ân phụ mẫu(Ru + Xẩm Thương), Kể chuyện ngày xưa(Dặm Xẩm + Xẩm Cửa Quyền), Xứ Nghệ quê ta (Lẩy Kiều + Xẩm Chợ,… * Ngoài ra còn có 1 số bài Xẩm mà có sự hòa trộn giữa các làn điệu Xẩm với nhau: + Theo Đảng Trọn Đời (Thập Ân + Xẩm Chợ). + Lỡ Bước Sang Ngang (Tàu Điện + Xẩm Chợ + Thập Ân). + Hà Thành Ba Sáu Phố Phường (Trống Quân + Tàu Điện + Xẩm Chợ).
  45. 45. 39 + Đáng Mặt Anh Hào (Tàu Điện + Xẩm Chợ + Xẩm Sai). + Vui Nhất Có Chợ Đồng Xuân (Tàu Điện + Xẩm Chợ + Trống Quân). + Đón Dâu Về Làng (Thập Ân + Tàu Điện + Xẩm Chợ). + Một Quan Là Sáu Trăm Đồng (Tàu Điện + Xẩm Chợ. + Cô Gái Quay Tơ (Tàu Điện + Thập Ân). [50] Những làn điệu chính của Xẩm thường thể hiện đúng những tâm tư tình cảm của người dân lao động trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì vậy, luận văn chọn những làn điệu chính trên bởi nó đã đi vào diễn tả đúng mong muốn của người dân đã gửi gắm. Trên thực tế, có thể thấy ở từng vùng miền khác nhau thì các làn điệu Xẩm lại được truyền tụng khác nhau do tính chất tam sao thất bản. Theo như tác giả khảo sát tại địa bàn tỉnh Ninh Bình, được nghe các làn điệu do truyền nhân của cố nghệ nhân Hà Thị Cầu truyền lại, thì có thể chia các làn điệu Xẩm theo 8 làn điệu chính như trên. 1.3.3.2. Lời ca Lời ca của hát Xẩm thực chất chính là nội dung của nó. Lời của các điệu Xẩm chủ yếu là để thể hiện tâm tư, nguyện vọng, khao khát mong muốn của những con người lao động chất phác, đó chủ yếu là tầng lớp nông dân, người nghèo khổ tại các thị thành. Nội dung bài Xẩm thường là các vấn đề của xã hội như tình cảm gia đình, mối quan hệ giữa con người và con người nói chung, nó cũng mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời. Lời ca của Xẩm mang âm hưởng dân ca, ca dao, tục ngữ hay là những câu nói quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày. Nó mộc mạc, giản dị và hết sức chân thành. Chính vì vậy mà cho tới nay, dù không phù hợp với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhưng hát Xẩm vẫn có những giá trị riêng mà ta khó tìm thấy ở những nghệ thuật dân gian khác.

Votre commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l’aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google

Vous commentez à l’aide de votre compte Google. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l’aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l’aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s

Ce site utilise Akismet pour réduire les indésirables. En savoir plus sur la façon dont les données de vos commentaires sont traitées.