Mois : mai 2021

MAI MỸ DUYÊN: GS-TS Trần Văn Khê ngọn lửa không bao giờ tắt

Thứ Hai, 29/06/2015, 08:48 (GMT+7) .

GS-TS Trần Văn Khê ngọn lửa không bao giờ tắt

GS-TS Trần Văn Khê sinh ngày 24-7-1921, tại làng Chợ Giữa, xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình và dòng họ nội – ngoại đều có truyền thống âm nhạc. Những chữ nhạc hò, xự, xang, xê, cống của 2 bên nội – ngoại và người cha tài hoa đã dung dưỡng trong ông một tình yêu âm nhạc từ khi còn rất nhỏ.

Những chữ nhạc sâu sắc và tinh tế đó đã biến hóa thành những hơi, điệu tuyệt vời, giúp ông vượt qua bao sóng gió, tự tin trước những nghiệt ngã của cuộc đời và chắp cho ông “đôi cánh” để vượt lãnh thổ quốc gia và bay xa ra thế giới. Tri ân tổ tiên và các bậc sinh thành, dưỡng dục; đồng thời cũng là đáp nghĩa quê hương, ông đã đem trí tuệ và tài năng của mình để vinh danh nghệ thuật dân tộc Việt Nam, làm cho những giá trị văn hóa tinh hoa của nước nhà được thế giới công nhận và khâm phục.

Giáo sư - Tiến sĩ - Viện sĩ Trần Văn Khê tại buổi Tọa đàm “Tiền Giang - cái nôi nghệ thuật cải lương”.				                 Ảnh: VÂN ANH
Giáo sư – Tiến sĩ – Viện sĩ Trần Văn Khê tại buổi Tọa đàm “Tiền Giang – cái nôi nghệ thuật cải lương”. Ảnh: Vân Anh

Suốt hai phần ba cuộc đời ông cống hiến cho nghiên cứu, biểu diễn và thuyết giảng thì cũng ngần ấy năm là một cuộc chiến đấu dai dẵng với đau đớn vì bệnh tật. Bao nhiêu lần vừa ra viện thì ông đã ngồi vào máy tính để kiểm tra email, viết bài, thông tin với học trò, liên hệ lịch giảng với các trường đại học, các cơ quan văn hóa – nghệ thuật… với một thái độ điềm tĩnh và lạc quan chưa từng thấy.

Có lần đến tư gia thăm ông, căn phòng của ông ngập đầy sách báo, bản thảo, băng đĩa… Thấy tôi tỏ ý lo ngại về sức khỏe, ông trấn an: “Không sao đâu con! Bác cứ làm được tới đâu hay tới đó. Đây là công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, kiên trì. Không có Bác, các cháu đến giúp sẽ không biết đâu mà sắp xếp!”. Nhiều lần tôi ngỏ ý muốn giúp ông xử lý tư liệu thì ông vui vẻ từ chối và nghiêm khắc bảo rằng: “Việc con cần phải làm là cố gắng giúp các cháu trẻ hiểu và yêu quý nghệ thuật dân tộc. Đừng để các cháu quên đi nguồn cội của mình. Còn những việc này đã có người khác làm với bác rồi!”

Đừng quên nguồn cội của mình! Đó là lời dặn chính mình mà ông luôn đau đáu trong những năm ly hương. Có lẽ vì vậy mà tôi thấy khuôn mặt ông rạng rỡ hạnh phúc khi được lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh cấp căn nhà để làm nơi giao lưu nghệ thuật, trao đổi học thuật, sưu tầm nghiên cứu… để ông có cơ hội giới thiệu và phổ biến những tài sản văn hóa quý giá của ông sau bao năm hoạt động và tích lũy.

Đừng quên nguồn cội của mình! Cũng là lời giải thích vì sao suốt bao năm hoạt động ở nước ngoài ông vẫn giữ Quốc tịch Việt Nam. Đi thuyết giảng nơi đâu hoặc tham dự những nhạc hội danh tiếng vẫn thấy ông với bộ trang phục truyền thống ung dung, lịch lãm và tự hào khi nói về âm nhạc Việt Nam. Dù am hiểu nhiều ngoại ngữ và nói lưu loát tiếng Pháp, tiếng Anh nhưng ông vẫn duy trì một văn phong thuần Việt, rõ chất Nam bộ trong lối nói và cách viết. Nhờ vậy, những tác phẩm của ông đã đến với các thành phần trong xã hội. Và ông đã cho chúng tôi một bài học: Quyển sách hay phải là quyển sách của nhiều người!

Từ những hoạt động nghiên cứu của ông, mà kết quả là hàng trăm thùng tư liệu quý giá đem về Việt Nam đã dạy cho chúng tôi một bài học về sự kiên nhẫn và tỉ mỉ của người làm khoa học và giảng dạy. Có những vấn đề còn băn khoăn về âm nhạc dân tộc, ông khuyên chúng tôi nên mở rộng nhãn quan của mình bằng cách đọc nhiều, tiếp xúc với những bậc tiền bối, trải nghiệm hơn nữa trong hoạt động thực tế để cảm nhận và thấu hiểu đối tượng nghiên cứu của mình. Có như vậy công trình khoa học mới thực sự có giá trị.

Hình ảnh mà bao người có dịp tiếp xúc với ông sẽ luôn giữ trong ký ức đẹp đẽ của mình, đó là nụ cười chan hòa sự bao dung và nhân ái. Bao giờ cũng vậy, sau nụ cười là vòng tay ôm ấm áp nghĩa tình và một giọng nói trầm ấm ân cần. Có thể nói, ở ông sự giao tiếp đã thành nghệ thuật, được biểu hiện rất sinh động và cụ thể:

Nét mặt hân hoan, ánh mắt chân thành, cử chỉ đúng mực, giọng nói nhiều cảm xúc, động tác hài hòa, ngôn từ như bật từ trong tim ra… tất cả đã kết hợp hòa quyện, tạo một phong thái rất đặc biệt và một ấn tượng khó phai với bất kỳ ai, dù chỉ một lần được nghe ông thuyết giảng về văn hóa – nghệ thuật.

Và mỗi khi có học trò tháp tùng, bao giờ ông cũng dành vài phút để giới thiệu và khen ngợi những gì mà học trò của mình đạt được. Lời khen đúng lúc, đúng chỗ của ông đã giúp cho biết bao lớp học trò ông vượt qua mặc cảm, tự tin để mạnh mẽ nối bước ông trên hành trình khoa học và nghệ thuật.

Mỗi người chỉ có một cuộc đời để nếm trải thành công và thất bại, hạnh phúc và bất hạnh, tình yêu thương và nỗi cô đơn, sự ngọt ngào và niềm cay đắng… Có người thấy mình chết thật xứng đáng, cũng không ít người trước khi nhắm mắt xuôi tay vẫn đầy ân hận và hối tiếc. Với chúng tôi, GS-TS Trần Văn Khê đã có một cuộc đời xứng đáng (ông mất lúc 2 giờ 55 phút, ngày 24-6-2015 tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, TP. Hồ Chí Minh).

Ông đã mang tình yêu của mình làm rộng mở tâm hồn những ai yêu mến những giá trị truyền thống của dân tộc. Ông đã như cánh chim không mỏi trong suốt hai phần ba đời người rao truyền những tinh hoa của âm nhạc Việt Nam. Ông đã thắp lên trong mỗi người trẻ tuổi (khi tiếp xúc với ông) một ngọn lửa tình yêu quê hương, dân tộc, khơi dậy những khả năng tiềm ẩn và thúc đẩy họ biết tạo lập những giá trị mới cho khoa học và nghệ thuật nước nhà.

Và vì vậy, ông sẽ mãi còn trong mỗi chúng tôi!

TP. Hồ Chí Minh, ngày 25-6-2015.

TS. http://baoapbac.vn/van-hoa-nghe-thuat/201506/gs-ts-tran-van-khe-ngon-lua-khong-bao-gio-tat-618993/MAI MỸ DUYÊN

(Giảng viên Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh)

http://baoapbac.vn/van-hoa-nghe-thuat/201506/gs-ts-tran-van-khe-ngon-lua-khong-bao-gio-tat-618993/ https://widgets.wp.com/likes/index.html?ver=20210413#blog_id=20296160&post_id=19933&origin=tranquanghai1944.wordpress.com&obj_id=20296160-19933-60981ba6beb5f&domain=tranquanghai1944.com

BÍCH NGÂN : Giới trẻ với đờn ca tài tử

Giới trẻ với đờn ca tài tử

29/08/2019 10:55 AM

 « Đờn ca tài tử tồn tại song hành với từng bước đi của lịch sử của dân tộc. Mỗi lời ca tiếng đàn đều chất chứa một câu chuyện khác nhau và có giá trị thiết thực đối với cuộc sống. Vấn đề là cần phải quảng bá làm sao cho giới trẻ hiểu biết, yêu thích và tiến tới bảo tồn loại hình di sản văn hóa này ».

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên – nhà nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ đã chia sẻ với các bạn trẻ tại buổi tọa đàm « Nghệ thuật âm nhạc dân tộc với giới trẻ và biểu diễn một số loại hình di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ».

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên (giữa) phát biểu tại buổi tọa đàm

Buổi tọa đàm mang đến thông điệp hết sức ý nghĩa vì đã giới thiệu đến tuổi trẻ thành phố các loại hình di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Qua đó, giới trẻ được dịp hiểu biết nhiều hơn và thêm yêu loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo trong bối cảnh hội nhập như hiện nay.

Đến dự buổi tọa đàm, Nhà nghiên cứu – Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên đã mang đến những góc nhìn mới, hướng tiếp cận mới về nguồn gốc của âm nhạc dân tộc cho các bạn trẻ thông qua phần báo cáo chuyên đề: « Nghệ thuật âm nhạc dân tộc với giới trẻ ». Đặc biệt trong phần này, Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên đã chia sẻ với giới trẻ nhiều kiến thức hay và sâu rộng về Đờn ca tài tử – một loại hình âm nhạc đặc sắc của Vùng đất Nam bộ xưa và nay. Nhận thấy sự khan hiếm về số lượng người nghe cũng như sự quan tâm của người trẻ ở loại hình nghệ thuật này, Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên đã lồng ghép vào phần báo cáo các tiết mục Đờn ca tài tử vừa để giới trẻ không bị nhàm chán vừa làm cho tọa đàm trở nên sinh động và gần gũi hơn.

Thông qua các tiết mục Đờn ca tài tử, giới trẻ có dịp được nghe và ôn lại những giai điệu, tiết tấu đúng với tên gọi « vang bóng thời đại » của loại hình nghệ thuật này như: Tứ đại quán (nhịp 4), Trích lớp của đoạn Nam Xuân và Nam Đảo mang tên Non sông thanh bình, Tình anh bán chiếu, Dạ cổ Hoài Lang, Đêm mưa nhớ mẹ, …qua phần biểu diễn của các nghệ sĩ đã hết lòng nguyện đem lời ca tiếng hát của mình làm giàu đẹp thêm cho một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc.

Mỗi ca khúc luôn mang trong mình một chiếc hồn rất riêng, nhưng cái chung nhất là đều mang hơi thở và nhịp điệu của cuộc sống nơi nó được sinh ra. Đờn ca tài tử có mặt trên Vùng đất Nam Bộ từ khi khai hoang mở đất và ngấm sâu vào tâm thức của con người nơi đây không chỉ bằng những làn điệu dân ca hay những câu hò mà còn bằng những tiếng đàn chỉ cần nghe qua đã thấy xua tan mệt nhọc.

Mặc dù có không ít người trẻ có xu hướng quay lưng với âm nhạc dân tộc, nhưng ở đâu đó vẫn còn những tâm hồn am hiểu và chịu động lòng vì loại hình âm nhạc này. Và có thể không phải người trẻ đang quay lưng với Cải lương hay Đờn ca tài từ mà do họ chưa được nghe nhiều, hiểu nhiều về ý nghĩa và giá trị cốt lõi của loại hình này. Nên nhiệm vụ của những nhà nghiên cứu và các nghệ sĩ biểu diễn phải làm sao đưa được phần hồn của nền âm nhạc này đến với công chúng, xóa bỏ khoảng cách giữa âm nhạc dân tộc với giới trẻ.

« Đờn ca tài tử tồn tại song hành với từng bước đi của lịch sử của dân tộc. Mỗi lời ca tiếng đàn đều chất chứa một câu chuyện khác nhau và có giá trị thiết thực đối với cuộc sống. Vấn đề là cần phải quảng bá làm sao cho giới trẻ hiểu biết- yêu thích và tiến tới bảo tồn loại hình di sản văn hóa này. Minh chứng nhiều bài hát vừa rồi cho thấy đã có biết bao tình cảm mặn nồng, biết bao thăng trầm và biến cố trong cuộc sống được các nghệ sĩ tiên phong mang đi phổ thành lời ca và biểu diễn trên các loại nhạc cụ như: Đàn Guita, Đàn Violin, … vẫn luôn sống mãi trong lòng bao thế hệ cho đến ngày hôm nay » Nhà nghiên cứu – Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên chia sẻ.

Cuối buổi tọa đàm, giới trẻ có cơ hội bày tỏ nguyện vọng và suy nghĩ của bản thân về loại hình nghệ thuật âm nhạc dân tộc cùng Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên, đồng chí Đoàn Kim Thành – Giám đốc Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ trẻ và Nhạc sĩ, Thạc sĩ Huỳnh Khải -Trưởng khoa Âm nhạc tại Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh.

Nguyễn Văn Trí (Sinh viên lớp cao học Trường ĐH Văn hóa TP. Hồ Chí Minh) chia sẻ, giới trẻ ngày nay ít có cơ hội được tiếp xúc với âm nhạc dân tộc vì chưa có một phương tiện hay điều kiện nào giúp các bạn được gần gũi và nghe loại hình này thường xuyên. Trên thực tế, 1 số trường có môn học liên quan loại hình này nhưng chỉ 1 vài tiết học thì không đủ để giới trẻ làm quen, am hiểu, yêu thích và tiến tới bảo tồn loại hình này. Hi vọng sẽ có thêm nhiều cơ hội để các bạn trẻ được tiếp xúc và hiểu hơn về loại hình nghệ thuật đặc sắc này.

BÍCH NGÂN

http://thanhdoan.hochiminhcity.gov.vn/ThanhDoan/webtd/News/32737

VĂN TRUYÊN: TS. Mai Mỹ Duyên: Tạo dấu ấn cho đờn ca tài tử

Cập nhật lúc 22:44, Thứ Sáu, 13/12/2013 (GMT+7)

Vừa là “con nhà nòi” (cha là Chủ nhiệm CLB đờn ca tài tử huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) lại vừa tham gia nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ với luận án “Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa cư dân Tây Nam bộ”, TS. Mai Mỹ Duyên, Phó trưởng khoa sau đại học Trường đại học văn hóa TP.Hồ Chí Minh đã có những chia sẻ với bạn đọc Báo Đồng Nai nhân sự kiện nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trao đổi với phóng viên Báo Đồng Nai, TS. Mai Mỹ Duyên cho hay:

Biểu diễn đờn ca tài tử trong chương trình giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản tại Đồng Nai.
Biểu diễn đờn ca tài tử trong chương trình giao lưu văn hóa Việt Nam – Nhật Bản tại Đồng Nai.

– Cũng như bao người yêu mến môn nghệ thuật đờn ca tài tử trong cả nước, khi hay tin nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, tôi cảm thấy rất vui và tự hào. Niềm vui này theo tôi không chỉ riêng đối với người Việt Nam mà còn lan tỏa ra nhiều vùng miền, đất nước khác. Bởi ngay cả những người bạn ngoại quốc của tôi cũng gọi điện chúc mừng với một tâm trạng hân hoan.

* Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là điều làm nức lòng người dân cả nước. Tuy nhiên, sau khi kết quả được công bố, nhiều ý kiến cho rằng, hiện tại môn nghệ thuật này đang đứng trước nhiều vấn đề đáng lo ngại. Ý kiến của bà như thế nào?

– Trước hết, phải nói rằng việc đánh giá xem một địa phương có phát triển loại hình đờn ca tài tử tốt hay chưa không thể dựa vào số lượng các CLB đờn ca tài tử nhiều hay ít, mà cái chính là chất lượng. Bởi hiện nay, có tình trạng ở một số địa phương, số lượng các CLB được thành lập rất nhiều nhưng hoạt động không thường xuyên. Điều này đang gây ảnh hưởng trực tiếp, đe dọa đến việc bảo tồn cũng như phát huy bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử.

Một điều đáng lo ngại khác là việc tạo điều kiện để tổ chức sân chơi cho người yêu đờn ca tài tử; kết nối, quảng bá nghệ thuật này đối với người dân, đặc biệt là giới trẻ hầu như còn đang bỏ ngỏ. Thêm vào đó, chế độ hỗ trợ của Nhà nước, đối với môn nghệ thuật này hầu như là rất ít. Vậy nên, đây chủ yếu là sân chơi của người có tâm, yêu nghề tụ họp nhau lại để đàn ca.

* Dưới góc độ là nhà nghiên cứu và truyền dạy những giá trị của đờn ca tài tử cho nhiều thế hệ, bà có kiến nghị gì đối với công tác bảo tồn và phát huy môn nghệ thuật đờn ca tài tử?

– Hiện nay, số nghệ sĩ nắm giữ những bí quyết, kỹ thuật trong đờn ca tài tử đã lớn tuổi và còn lại không nhiều. Vì thế, việc sớm tận dụng thời gian hạn hẹp còn lại của các nghệ sĩ dân gian vào việc tổ chức các hoạt động trao truyền cho thế hệ trẻ là việc làm hết sức cần thiết để giữ gìn và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của đờn ca tài tử hiện nay.

TS. Mai Mỹ Duyên: “Đồng Nai không phải là cái nôi của nghệ thuật đờn ca tài tử, nhưng lại là tỉnh được đánh giá khá mạnh về nghệ thuật đờn ca tài tử. Thời gian tới, tôi mong rằng các cấp chính quyền ở Đồng Nai sẽ tạo điều kiện hơn nữa để môn nghệ thuật này ngày một có chỗ đứng trong sinh hoạt văn hóa của người dân trong tỉnh”.

Thêm vào đó, việc quảng bá, giới thiệu nghệ thuật đờn ca tài tử cũng nên được xem là cách làm ưu tiên trong việc bảo tồn, nhân rộng và phát huy giá trị của nó. Một điều đặc biệt nữa là, trong thời buổi hiện nay khán giả của đờn ca tài tử rất ít, chủ yếu là người có tuổi. Vì vậy, việc để cho giới trẻ hiểu, ý thức được tầm quan trọng và yêu mến môn nghệ thuật này của dân tộc là điều cần sớm thực hiện. Bởi nếu người trẻ hiểu và có thiện cảm với môn nghệ thuật này thì tôi tin chắc rằng, nghệ thuật đờn ca tài tử của dân tộc Việt Nam sẽ ngày càng được bảo tồn và phát huy tốt hơn.

* Vậy theo bà làm thế nào để có thể thu hút, lôi kéo  người trẻ đến với môn nghệ thuật này?

– Tôi có một chia sẻ như thế này, một khi con người biết dù chỉ là biết sơ nét về một việc nào đó thì cũng sẽ để lại một ấn tượng nhất định trong tâm trí. Vậy thì tại sao chúng ta không thể để nghệ thuật đờn ca tài tử đem lại một dấu ấn, một ấn tượng trong tâm trí của người trẻ bằng một phương thức sẵn có là giáo dục – đào tạo trong nhà trường. Có làm được như vậy thì học sinh – lớp trẻ của Tổ quốc mới hiểu được nghệ thuật truyền thống dân tộc. Để làm được điều này, tôi cho rằng cần có sự phối hợp của nhiều ngành nhằm giúp nghệ thuật đờn ca tài tử mới không bị mai một mà ngược lại, còn ngày càng trở nên thịnh hành trong sinh hoạt văn hóa. 

 Xin cảm ơn bà!

Văn Truyên (thực hiện)

TS. Mai Mỹ Duyên: Tạo dấu ấn cho đờn ca tài tử

Cập nhật lúc 22:44, Thứ Sáu, 13/12/2013 (GMT+7)

Vừa là “con nhà nòi” (cha là Chủ nhiệm CLB đờn ca tài tử huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) lại vừa tham gia nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ với luận án “Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa cư dân Tây Nam bộ”, TS. Mai Mỹ Duyên, Phó trưởng khoa sau đại học Trường đại học văn hóa TP.Hồ Chí Minh đã có những chia sẻ với bạn đọc Báo Đồng Nai nhân sự kiện nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trao đổi với phóng viên Báo Đồng Nai, TS. Mai Mỹ Duyên cho hay:

Biểu diễn đờn ca tài tử trong chương trình giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản tại Đồng Nai.
Biểu diễn đờn ca tài tử trong chương trình giao lưu văn hóa Việt Nam – Nhật Bản tại Đồng Nai.

– Cũng như bao người yêu mến môn nghệ thuật đờn ca tài tử trong cả nước, khi hay tin nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, tôi cảm thấy rất vui và tự hào. Niềm vui này theo tôi không chỉ riêng đối với người Việt Nam mà còn lan tỏa ra nhiều vùng miền, đất nước khác. Bởi ngay cả những người bạn ngoại quốc của tôi cũng gọi điện chúc mừng với một tâm trạng hân hoan.

* Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là điều làm nức lòng người dân cả nước. Tuy nhiên, sau khi kết quả được công bố, nhiều ý kiến cho rằng, hiện tại môn nghệ thuật này đang đứng trước nhiều vấn đề đáng lo ngại. Ý kiến của bà như thế nào?

– Trước hết, phải nói rằng việc đánh giá xem một địa phương có phát triển loại hình đờn ca tài tử tốt hay chưa không thể dựa vào số lượng các CLB đờn ca tài tử nhiều hay ít, mà cái chính là chất lượng. Bởi hiện nay, có tình trạng ở một số địa phương, số lượng các CLB được thành lập rất nhiều nhưng hoạt động không thường xuyên. Điều này đang gây ảnh hưởng trực tiếp, đe dọa đến việc bảo tồn cũng như phát huy bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử.

Một điều đáng lo ngại khác là việc tạo điều kiện để tổ chức sân chơi cho người yêu đờn ca tài tử; kết nối, quảng bá nghệ thuật này đối với người dân, đặc biệt là giới trẻ hầu như còn đang bỏ ngỏ. Thêm vào đó, chế độ hỗ trợ của Nhà nước, đối với môn nghệ thuật này hầu như là rất ít. Vậy nên, đây chủ yếu là sân chơi của người có tâm, yêu nghề tụ họp nhau lại để đàn ca.

* Dưới góc độ là nhà nghiên cứu và truyền dạy những giá trị của đờn ca tài tử cho nhiều thế hệ, bà có kiến nghị gì đối với công tác bảo tồn và phát huy môn nghệ thuật đờn ca tài tử?

– Hiện nay, số nghệ sĩ nắm giữ những bí quyết, kỹ thuật trong đờn ca tài tử đã lớn tuổi và còn lại không nhiều. Vì thế, việc sớm tận dụng thời gian hạn hẹp còn lại của các nghệ sĩ dân gian vào việc tổ chức các hoạt động trao truyền cho thế hệ trẻ là việc làm hết sức cần thiết để giữ gìn và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của đờn ca tài tử hiện nay.

TS. Mai Mỹ Duyên: “Đồng Nai không phải là cái nôi của nghệ thuật đờn ca tài tử, nhưng lại là tỉnh được đánh giá khá mạnh về nghệ thuật đờn ca tài tử. Thời gian tới, tôi mong rằng các cấp chính quyền ở Đồng Nai sẽ tạo điều kiện hơn nữa để môn nghệ thuật này ngày một có chỗ đứng trong sinh hoạt văn hóa của người dân trong tỉnh”.

Thêm vào đó, việc quảng bá, giới thiệu nghệ thuật đờn ca tài tử cũng nên được xem là cách làm ưu tiên trong việc bảo tồn, nhân rộng và phát huy giá trị của nó. Một điều đặc biệt nữa là, trong thời buổi hiện nay khán giả của đờn ca tài tử rất ít, chủ yếu là người có tuổi. Vì vậy, việc để cho giới trẻ hiểu, ý thức được tầm quan trọng và yêu mến môn nghệ thuật này của dân tộc là điều cần sớm thực hiện. Bởi nếu người trẻ hiểu và có thiện cảm với môn nghệ thuật này thì tôi tin chắc rằng, nghệ thuật đờn ca tài tử của dân tộc Việt Nam sẽ ngày càng được bảo tồn và phát huy tốt hơn.

* Vậy theo bà làm thế nào để có thể thu hút, lôi kéo  người trẻ đến với môn nghệ thuật này?

– Tôi có một chia sẻ như thế này, một khi con người biết dù chỉ là biết sơ nét về một việc nào đó thì cũng sẽ để lại một ấn tượng nhất định trong tâm trí. Vậy thì tại sao chúng ta không thể để nghệ thuật đờn ca tài tử đem lại một dấu ấn, một ấn tượng trong tâm trí của người trẻ bằng một phương thức sẵn có là giáo dục – đào tạo trong nhà trường. Có làm được như vậy thì học sinh – lớp trẻ của Tổ quốc mới hiểu được nghệ thuật truyền thống dân tộc. Để làm được điều này, tôi cho rằng cần có sự phối hợp của nhiều ngành nhằm giúp nghệ thuật đờn ca tài tử mới không bị mai một mà ngược lại, còn ngày càng trở nên thịnh hành trong sinh hoạt văn hóa. 

 Xin cảm ơn bà!

Văn Truyên (thực hiện)

VĨNH TRÀ: Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên: Cần kinh phí để Đề án phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử thực hiện hiệu quả

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên: Cần kinh phí để Đề án phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử thực hiện hiệu quả

25/04/2017 | 08:08 GMT+7

Nhân dịp về giảng dạy lớp bồi dưỡng nghệ thuật đờn, ca tài tử tỉnh Hậu Giang, tiến sĩ Mai Mỹ Duyên (ảnh), nguyên giảng viên Khoa Sau đại học, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, đã dành cho phóng viên Báo Hậu Giang cuộc trao đổi xoay quanh nghệ thuật đờn ca tài tử (ĐCTT), cách bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng.

Thưa tiến sĩ, cơ duyên nào đưa bà đến với văn hóa dân gian, đặc biệt là ĐCTT ?

– Tôi sinh ra và lớn lên ở Cai Lậy, Tiền Giang, may mắn có cha là nghệ nhân Ba Thế, nên mang sẵn trong mình dòng máu đam mê. Hồi còn rất nhỏ, đã tập tành hát bài lưu thủy hành vân, lý giao duyên. Rồi những lần theo cha đi đàn, nghe hát, đã in sâu trong tiềm thức và dần hình thành trong tôi tình yêu nghệ thuật tài tử sâu đậm. Chính cha tôi đã cho tôi vốn hiểu biết và lòng đam mê nhạc tài tử, cải lương. Dù không nối nghiệp, nhưng tôi đã làm công việc mà mình hài lòng là nghiên cứu về văn hóa dân gian, đặc biệt là ĐCTT.

Tiến sĩ đã có quá trình nghiên cứu nhiều về nghệ thuật ĐCTT, vậy bà có cảm nhận gì về sức sống của loại hình nghệ thuật độc đáo này ở ĐBSCL ?

– Tôi hết sức bất ngờ với sức sống mãnh liệt này, dù nghiên cứu và có vốn liếng kiến thức khá dày về nó. Các tỉnh, thành trong khu vực vẫn duy trì được hoạt động của hệ thống các câu lạc bộ, lực lượng nghệ nhân đông đảo, có kế thừa. Sau khi được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, ĐCTT có điều kiện để phát huy sức mạnh của mình. Cùng với đó, Đề án phát huy nghệ thuật ĐCTT được các tỉnh, thành xây dựng, giúp việc bảo tồn, phát huy giá trị của di sản này tiến thêm một bậc.

Nhìn qua, thấy phong trào phát triển rầm rộ, nhưng đi vào thực chất, chất lượng sinh hoạt của các CLB vẫn chưa đồng đều, tiến sĩ có thấy điều này ?

– Các nghệ nhân ĐCTT rất tài tử, họ đến với nhau vì tình yêu nghệ thuật không tính thiệt so hơn. Có điều một thực tế là không phải ai biết ca, biết đờn đều có thể truyền nghề. Vì trình độ không đồng đều và đôi khi cách truyền đạt không chuẩn, khó hiểu nên việc tiếp thu cũng chưa thật tròn vẹn. Cũng có CLB có người ca nhưng không có người đờn, phải thuê; đa phần họ phải tự bỏ tiền hùn với nhau cho những cuộc chơi… Vì thế, chất lượng không đồng đều là chuyện đương nhiên. Thế nên mới có những lớp truyền nghề như ở Hậu Giang mà tôi đang thực hiện như thế này, để các nghệ nhân hiểu đúng, hiểu sâu về ĐCTT, giúp truyền nghề bài bản hơn, chất lượng hơn.

Tiến sĩ có điều gì trăn trở với môn nghệ thuật đặc trưng này ?

– Thật sự nói về vấn đề này, vài tiếng đồng hồ khó thể nói hết. Những nơi thật sự quan tâm, có đầu tư, có lộ trình, có kinh phí thực hiện, thì hiệu quả sẽ thấy ngay. Tôi lấy ví dụ ở Bến Tre, khi phê duyệt Đề án bảo tồn và phát huy nghệ thuật ĐCTT, kinh phí cũng chưa phải là nhiều, nhưng vẫn có để đơn vị thực hiện sắp xếp lộ trình thực hiện một cách hiệu quả. Tôi thấy trong 21 tỉnh, thành phía Nam, chỉ có khoảng 50% là phê duyệt đề án có kèm kinh phí, còn lại cũng phê duyệt, nhưng làm tới đâu xin tiền đến đó. Như vậy là không bài bản, khó phát huy một cách hiệu quả…

Một chuyện nữa là phải tạo được một lớp công chúng yêu tài tử, sao không ai nghĩ cần phải đưa môn học về nghệ thuật này vào nhà trường. Từ cấp tiểu học các em đã có thể làm quen với nhạc cụ, tập đờn và ca những nhạc cụ đơn giản, bài dễ, ngắn. Mình có thừa nghệ nhân để làm điều này mà !

Vậy tiến sĩ có lời khuyên gì  để phong trào ĐCTT ở Hậu Giang tiếp tục được bảo tồn và phát huy hiệu quả ?

– Hậu Giang cũng có những thuận lợi và khó khăn gần giống các tỉnh, thành trong khu vực. Một điều đáng tự hào là nơi đây vẫn duy trì sinh hoạt ở các CLB ĐCTT, dù những nghệ nhân vẫn phải tự thân vận động là chính, khi sự quan tâm của các ngành, các cấp chưa đủ để làm cho phong trào phát triển hơn. Tuy nhiên, lực lượng nghệ nhân ở đây nhiều, những người làm văn hóa có nhiều tâm huyết và được lãnh đạo quan tâm, từng bước đầu tư. Đây là một tín hiệu mừng, đáng trân trọng, rất cần được duy trì, phát huy, để cùng các tỉnh, thành khác trong khu vực đưa ĐCTT phát triển lên một bước mới, tiếp tục đi sâu vào trong đời sống cộng đồng…

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên có nhiều năm giảng dạy tại Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, đã cùng nhóm nghiên cứu hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu văn hóa dân gian: Lễ giỗ các họ người Việt ở Tiền Giang, Hò cấy Gò Công, Nghệ thuật đờn ca tài tử… Luận án thạc sĩ, tiến sĩ của bà cũng là những đề tài văn hóa dân gian: “Đờn ca tài tử Tiền Giang”, “Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa của dân cư miền Tây Nam bộ”. Dù đã nghỉ hưu, nhưng bà vẫn dành thời gian đi sưu tầm, nghiên cứu, truyền nghề tại các trường văn hóa nghệ thuật trong và ngoài khu vực ĐBSCL.

Xin cảm ơn tiến sĩ !

VĨNH TRÀ thực hiện

http://www.baohaugiang.com.vn/van-hoa-trong-nuoc/tien-si-mai-my-duyen-can-kinh-phi-de-de-an-phat-huy-nghe-thuat-don-ca-tai-tu-thuc-hien-hieu-qua-53702.html

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên một đời trăn trở với văn hóa dân gian

Đăng lúc: Thứ ba – 12/11/2013 22:01 Lẽ ra chị có tên là Phạm Hữu Mỹ Duyên, nhưng vì là con thứ thất nên mang họ mẹ. Sinh ra ở thị trấn Cai Lậy, 4 tuổi đã lên sân khấu ca bài Lưu thuỷ hành vân, Tam pháp nhập môn; 5 tuổi ca được Ngựa Ô Nam, Ngựa Ô Bắc, Lý Tâm thất, Lý Giao duyên; 6 tuổi biết ca bản Vọng cổ nhịp 32, 12 câu Phụng hoàng; 8 tuổi ca được 3 bản Nam, Giang Nam, Bình sa lạc nhạn,… qua ngón đờn kìm của cha là nghệ nhân Ba Thế, còn gọi là soạn giả Thế Hữu hay Bầu Thế. Mai Mỹ Duyên nhận bằng tiến sĩ văn hóa.

Mai Mỹ Duyên nhận bằng tiến sĩ văn hóa.

ÔngThế đã bán hàng chục mẫu đất thừa kế để lập gánh cải lương Sống chung (ông tên thật là Phạm Hữu Thế, cháu nội ông Phạm Hữu Hằng tức Bộ Ninh – người nổi tiếng về tài ăn nói). Cuộc đời ông tuy có bao sự thăng trầm nhưng cây đờn kìm vẫn trên tay ông cho đến lúc nhắm mắt. Năm 2006, Mai Mỹ Duyên đã tặng cây đờn 150 tuổi ấy cho Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

Biết cha mẹ không muốn con nối nghiệp cầm ca, chị đã cố gắng học tập. Năm 1982, chị tốt nghiệp Đại học Văn hóa (ngành Văn hóa quần chúng ở Hà Nội; năm 1997 bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ văn hóa với đề tài « Đờn ca tài tử ở Tiền Giang ». Năm 2007, chị bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ văn hóa với đề tài « Đờn ca tài tử trong đời sống văn hoá của dân cư miền Tây Nam Bộ ». Hiện nay, chị là Phó khoa Sau đại học của Trường Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh.

Hành trình đi tìm tri thức

Mùa lũ năm 1978, Mai Mỹ Duyên giã biệt quê nghèo trong cơn mưa tầm tã, trên đầu đội mấy quyển tập và hai cuốn sách « Giương cao ngọn cờ CNXH » của chú Tư Thông – Phó Phòng Văn hóa thông tin Cai Lậy cho. Trên đầu mưa như trút nước, dưới chân nước lũ dâng cao quá ngực, bì bõm bên cạnh chị là người mẹ sớm già trước tuổi, bởi tần tảo sớm khuya. Má đội cái túi sờn, đựng chiếc mền cũ vá ba chỗ, hai bộ đồ bà ba và mười hai đồng bạc. Đó là tất cả  » tài sản » má có được để cho con gái lên đường vào đại học.

Hà Nội năm ấy rét như cắt da, áo quần đem theo không đủ ấm, Duyên quấn luôn chiếc mền cũ lên giảng đường. Má biết được, bán hai công đất ruộng trả nợ, dành lại ít tiền gửi cho con gái bộ đồ và một gói chuối ngào đường. Nghèo thế mà bọn trộm cũng chẳng buông tha! Đồ đạt, áo quần bị chúng dọn sạch. Bạn học sáng cho mượn áo mặc, tối cho đắp chung mền. Nhưng chẳng lẽ cứ mặc « đồ khính » bạn hoài, nghĩ vậy Duyên nhờ các anh xin bao đựng đồ tiếp tế nhu yếu phẩm cho bộ đội Tiền Giang chiến đấu ở biên giới phía Bắc (thứ vải dày như bao bồng bột, được ngành Thương nghiệp thời bao cấp duyệt mua 8m mỗi khi gia đình nào có đám tang, vậy là chị thức liền mấy đêm tháo ra, tự cắt quần áo rồi may tay để mặc. Thuốc nhuộm xanh lè, mỗi lần giặt dính đầy tay rửa không ra. Thấy chị không đủ áo ấm, anh Nguyễn Đắc Hỷ (nguyên Phó Giám đốc Nhà Văn hóa Tiền Giang, lúc đó đang học Đại học Văn hóa Hà Nội trên chị một khóa) cho biết: « Anh có cái áo ruột bông của anh bạn học chung, ảnh về Nam bị bệnh chết rồi. Duyên dám mặc anh đưa! ». Chị đem chiếc áo cáu bẩn về giặt sạch (đó là chiếc lỏi áo bông thô dùng mặc lót bên trong áo khoác cho ấm), nhờ chiếc áo ấy mà qua được 4 mùa đông giá lạnh.

Nhờ vào biên chế trước khi đi học, Duyên được lãnh học bổng mỗi tháng là 36 đồng. Mặc dù hết sức tiện tặn, nhưng vẫn không đủ trang trải, chị và người bạn cùng phòng cùng ăn chung một suất lương thực, còn một suất đem bán, chia nhau mua đồ dùng học tập. Lúc ấy, một tô phở cũng là món xa xỉ của đời sinh viên.

Những ngày chủ nhật, Duyên rủ bạn đi khiêng gạch mướn,…nhưng chỉ khi thiếu công nhân Duyên mới có việc làm. Những năm đó ở quê lũ, lụt mất mùa, nhà lại nghèo, má không có tiền gởi cho chị. Mỗi năm sinh viên miền Nam chỉ được thanh toán tiền về quê nghỉ hè, về ăn tết thì xe tỉnh rước. Có năm xe không rước, các bạn miền Bắc, bàn nhau đưa Duyên về nhà mình ăn tết. Duyên khăn gói theo bạn về bản Mường ở Sông Thao – Vĩnh Phú. Tủi thân trước cảnh sum họp gia đình của bạn, chị lặn lội về ký túc xá ở một mình. Sống trong cảnh da diết nhớ nhà và thiếu thốn mọi bề, nhưng năm học nào Duyên cũng vượt qua, là tấm gương vượt khó học tập của các bạn. Lớp học có 63 sinh viên, Duyên là một trong 13 người được chọn làm luận văn tốt nghiệp. Bài luận văn tốt nghiệp đại học với đề tài « Bàn về chức năng, nhiệm vụ nhà văn hoá thiếu nhi cấp thành phố », do thầy Đoàn Văn Chúc hướng dẫn, đã mở ra cho chị một cánh cửa để bước vào con đường nghiên cứu khoa học sau này.

Nặng tình với văn hóa dân gian

Khi hỏi, vì sao chị lại nặng tình với nghệ thuật văn hóa dân gian? Chị nói rằng vì tuổi thơ của chị may mắn được sống gần với người mẹ hết mực thương chồng con và người cha luôn xem nghệ thuật như là lẽ sống. Ông đã cho chị vốn hiểu biết và lòng đam mê nhạc tài tử, cải lương. Những lần theo cha đờn cho bà bóng múa, rồi những đám cúng đình, những đám giỗ, đám cưới,… ở quê, tất cả đã ăn sâu trong tiềm thức của chị. Nó lớn dần trong chị và chị yêu nó như yêu chính bản thân mình.

Sau này, khi có cơ hội tìm hiểu sâu về nghệ thuật dân gian, càng thấy giá trị của nó thì càng thôi thúc trong lòng chị phải tìm cách khôi phục và lưu giữ ». Nghĩ là làm! Chị tổ chức các cuộc liên hoan « Giai điệu quê hương » (hát dân ca, ru con Nam bộ), Hò cấy, Nhạc Lễ tang, lễ hội « cô Tấm »…, các trò chơi dân gian, liên hoan ẩm thực dân gian, liên hoan nghệ thuật múa bóng rỗi, liên hoan đờn ca tài tử ,…để văn hóa dân gian được tôn vinh và trân trọng.

Mai Mỹ Duyên và GSTS Trần Văn Khê trong hội thảo Quốc tế Nghệ thuật đờn ca tài tử.

Năm 1997, được sự chỉ đạo của Ban Giám đốc Sở Văn hoá – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), chị với tư cách quản lý nghiệp vụ và nhà nghiên cứu đã kết hợp với Viện Văn hóa – Nghệ thuật Việt Nam thực hiện và hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu văn hóa dân gian như: Lễ giỗ các họ người Việt ở Tiền Giang, Hò cấy Gò Công, lễ hội Kỳ yên, Nghệ thuật đờn ca tài tử, Các món bánh dân gian Nam bộ, Kiểng cổ Tiền Giang, Mắm còng lột Phú Thạnh,… Say mê nghiên cứu, chị đã dành thời gian, kể cả ngày nghỉ, cùng với những đồng nghiệp của mình miệt mài đi xuống tận xã – ấp để thực hiện những chuyến điền dã, khảo sát, điều tra và sưu tầm. Có cụ Trương Văn Nghĩa 90 tuổi – nghệ nhân hò cấy nổi tiếng của Tân Tây – Gò Công nghe tin chị xuống thăm, cụ đã chống gậy đi từ nhà ra Ủy ban xã gần 5 cây số để hò cho chị nghe. Ông cảm động rơi nước mắt khi biết có người còn quan tâm đến câu hò, mà từ lâu, nó đã không còn hiện diện trên đồng ruộng quê hương!

Mỗi lần xuống cơ sở, chị thường tìm đến các nghệ nhân, thăm hỏi sức khoẻ, lắng nghe nghệ nhân tâm tình, kể lể, chia sẻ với họ những nỗi buồn lo trước xu thế xa rời nguồn cội văn hóa và những khát vọng về một tương lai phục hồi giá trị cổ truyền. Chị yêu tiếng đàn, lời ca chân quê của nghệ nhân đờn ca tài tử, mê tay nghề khéo léo của những nghệ nhân làm bánh, chưng nghi, múa bóng rỗi,… Chị sợ tất cả sẽ bị mai một, mất đi, cho nên chị đã làm những việc gì mình có thể làm, để bảo tồn và phát huy, chớ không chỉ vì trách nhiệm. Việc làm của chị đã được Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phối hợp hỗ trợ và chính quyền địa phương cũng như tất cả nghệ nhân trong tỉnh đồng lòng ủng hộ.

Người Tiền Giang còn biết chị qua nhiều chương trình lễ hội đại chúng. Với giọng dẫn chương trình rành mạch, truyền cảm, với những kịch bản sân khấu hóa giàu hình tượng, như: Đường ta đi tới (kỷ niệm 30 năm ngày 30/4/2005); Hào khí Sông Tiền (220 năm Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút – 2005); Gò Công hồng trang sử (40 năm Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 2008); Con cháu Rồng Tiên (Lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương 2008);Mỹ Tho khát vọng vươn lên (330 năm Mỹ Tho Đại phố – 2009); Những trang sử vẻ vang (65 năm thành lập ngành Công an nhân dân – 2010)…

Khán giả truyền hình trong và ngoài nước còn biết chị qua các chương trình giới thiệu về văn hóa Nam bộ và quê hương Tiền Giang mà chị đã cùng với những cán bộ biên tập, quay phim tâm huyết của Đài VTV, HTV thực hiện. Lúc đó dù bận bịu cách mấy, chị cũng gác công việc lại để cùng nhà Đài lặn lội qua cù lao, ra cửa biển, lội ruộng sâu, … để tìm cho được một câu hò mái trường, mái đoản còn lẫn khuất trong những cánh đồng; những khuôn mặt đầy vết chân chim đã qua thời xuân sắc mà giọng hò, giọng ca tài tử vẫn còn da diết nỗi niềm chân quê; những mái đầu như mây trắng và đôi tay run run nắn nót trên phím đàn để nhả những sợi tơ cuối mùa nghệ thuật,… Khi hỏi vì sao chị lại làm như vậy? Chị cười bỏ lửng câu : « Mỗi người phải mê một thứ gì đó… »

Chị như anh nông dân cần mẫn không thể đếm được mồ hôi cho những đường cày trên mảnh đất quê hương. 31 năm với ngành Văn hóa Tiền Giang, bạn bè đồng nghiệp quen thấy chị làm việc không phân biệt thứ bảy hay chủ nhật. Suốt ngần ấy thời gian, từ một cán bộ bình thường đến khi trở thành Trưởng phòng Nghiệp vụ văn hóa, chị chưa hề đòi hỏi phải có một sự biệt đãi nào về vật chất hay cương vị xã hội.

Người yêu nhạc Trịnh không thể quên câu hát: « Sống trong đời sống cần có một tấm lòng… », nói theo kiểu Việt Nam là sống cho tử tế. Sống cho tử tế thật không dễ dàng! Nhưng chị đã làm được những điều tử tế cho cuộc đời, cho nghệ thuật, cho những người mà chị luôn yêu mến, kính trọng và cho quê hương Tiền Giang – nơi mà tuổi thơ của chị đã đắm mình trong nghệ thuật dân gian, nơi mà tình yêu văn hóa dân gian của chị đã truyền được cảm xúc cho nghệ nhân, cho các cộng tác viên, cho những học trò thân yêu của chị!

Ngọc Lệ

https://vannghetiengiang.vn/news/Tac-gia-Tac-pham/Tien-si-Mai-My-Duyen-mot-doi-tran-tro-voi-van-hoa-dan-gian-5179/

MAI MỸ DUYÊN (1959 -)bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2007 về Đờn ca tài tử nam bộ

MAI MỸ DUYÊN (1959 -)bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2007 về Đờn ca tài tử nam bộ

    

Trang chủQuy địnhChính sáchLiên hệ

Trang chủĐào tạo Nghiên cứu sinh

Nghiên cứu sinh

Mai Mỹ Duyên

Cập nhật ngày: 29 Tháng Giêng 2011

I. Thông tin cá nhân

Họ và tên: Mai Mỹ Duyên

Giới tính: Nữ

Sinh ngày 21-01-1959

Nơi sinh: Tiền Giang

Quê quán: Thị trấn, Cai Lậy, Tiền Giang

Dân tộc: Kinh

Chức vụ, đơn vị công tác hiện nay: Phó trưởng khoa Sau đại học-Trường Đại học Văn hóa Tp.Hồ Chí Minh

Địa chỉ liên lạc: Đại học Văn hóa Tp.HCM số 51 Quốc Hương, Phường Thảo Điền, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại cq: 08.35011788 (Khoa SĐH)

Điện thoại dđ: 0983210159

Fax: 08.38980740 Email: maimyduyen1959@yahoo.com.vn

II. Luận án tiến sĩ

– Mã số: 62 31 70 05
– Hướng nghiên cứu: Đờn ca Tài tử trong đời sống văn hóa cư dân Tây Nam Bộ
– Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
– Người hướng dẫn: PGS Tô Vũ
– Thời gian bảo vệ: 06-8-2007
– Nơi bảo vệ: Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

III. Hoạt động khoa học

3.1. Sách

60 năm Đề cương Văn hóa Việt Nam, viết chung, Viện Văn hóa Thông tin, 2004.

05 bài báo khoa học đăng trên tạp chí chuyên ngành. Tham dự nhiều hội thảo trong nước và quốc tế.

http://vicas.org.vn/fellow.aspx?sitepageid=587&id=38

Hát Xẩm – Thái Bình là đất ăn chơi – NS Tuyết Tuyết

Hát Xẩm – Thái Bình là đất ăn chơi – NS Tuyết Tuyết

15,104,561 views•Feb 11, 201926K8.4KShareSaveThanh Hải Camera Các bạn thấy hay hãy chia sẻ cho mọi người cùng xem. Nhấn « ĐĂNG KÝ » kênh và nhấn chuông để theo dõi Video mới nhất. 💝 Chúc các bạn vui vẻ ! Các bạn yêu thích Lan Nhấn vào link dưới đây nha 👉https://www.youtube.com/channel/UCgkL…​ ————————————– 👉 Bản quyền thuộc về: Thanh Hải Camera.

Hát xẩm trên đường đến với danh hiệu di sản quốc gia

Hát xẩm trên đường đến với danh hiệu di sản quốc gia

1,075 views•Mar 22, 202010ShareSaveTruyền Hình Nhân Dân 1.55M subscribers Hát xẩm trên đường đến với danh hiệu di sản quốc gia | Truyền Hình Nhân Dân Xem Tin Tức hấp dẫn, Tổng Hợp Video Mới nhất về #thoitiet​ – Tin Thế Giới mới nhất đang diễn ra trong thời gian qua trên kênh truyền hình nhân dân – Kênh Tin Báo Nhân Dân sẽ cập nhật đến các bạn các thông tin đầy đủ nhất tại đây. Mời bạn đón xem nhé ! Đăng Ký Xem Video #tintuc​ Miễn Phí: http://goo.gl/dVkSzA

LÊ CÔNG SƠN: Quỹ học bổng Trần Văn Khê ra đời đúng 100 năm ngày sinh của ông

Quỹ học bổng Trần Văn Khê ra đời đúng 100 năm ngày sinh của ông

Lê Công Sơn

lecongsontn@gmail.com 06:13 – 08/03/2021 0 Thanh Niên

UBND TP.HCM quyết định cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ quỹ học bổng mang tên Giáo sư – nhạc sĩ Trần Văn Khê.

 /// Ảnh: GIA KHIÊM

Ảnh: GIA KHIÊM Theo đó, Quỹ học bổng Trần Văn Khê chịu sự quản lý nhà nước của Sở GD-ĐT TP.HCM, đồng thời có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng, tự đảm bảo kinh phí, phương tiện hoạt động. GS-TS Trần Văn Khê (ảnh) là nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam nổi tiếng thế giới. Ông từng được tặng thưởng Huân chương Văn hóa nghệ thuật của chính phủ Pháp và tháp tùng Tổng thống Pháp Francois Mitterrand sang thăm Việt Nam, đồng thời là Ủy viên danh dự Hội đồng âm nhạc thế giới của UNESCO. Ông đã đặt chân qua hàng chục quốc gia để nói chuyện và giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam đến với bạn bè năm châu. Trước khi qua đời năm 2015, trong di nguyện của mình, ông mong muốn có một quỹ học bổng trao cho các sinh viên âm nhạc dân tộc có thành tích học tập, các nghệ sĩ xuất sắc trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật dân tộc và những công trình nghiên cứu có giá trị về âm nhạc dân tộc. Năm nay, đúng kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS-TS Trần Văn Khê (1921 – 2021), quỹ học bổng mang tên ông đã được chính thức cho phép hoạt động như ước nguyện của “cây đại thụ” âm nhạc dân tộc.

https://thanhnien.vn/van-hoa/quy-hoc-bong-tran-van-khe-ra-doi-dung-100-nam-ngay-sinh-cua-ong-1350707.html

Tin liên quan

MAI ANH : GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt

GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt
Con người đã có một sự nghiệp lừng lẫy ở nơi từng được coi là thủ đô văn hoá của châu Âu, Giáo sư – Tiến sĩ của Đại học Sorbonne lừng danh, từng được tặng Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp, từng được tháp tùng Tổng thống Pháp Mitterand thăm Việt Nam, Uỷ viên danh dự của Hội đồng Âm nhạc thế giới của UNESCO, người thầy về dân tộc nhạc học được chào đón nồng nhiệt tại hơn 67 quốc gia, sau hơn 50 năm bôn ba đã trở về quê nhà – đó chính là GS.TS Trần Văn Khê. Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921 trong một gia đình 4 đời làm nhạc sĩ ở làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội ông Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị); được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện dạy đàn tranh. Từ đó ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng ở Paris. Trần Văn Khê mồ côi mẹ năm 9 tuổi và mồ côi cha năm 10 tuổi. Ba anh em Trần Văn Khê đã được cô Trần Ngọc Viện (tức cô Ba Viện) nuôi và dạy dỗ chu đáo. Khi học tại Trường Pétrus Ký (còn gọi là Trường Trương Vĩnh Ký), (1934 – 1941), Trần Văn Khê đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục (SAMIPIC). Năm 1941, được học bổng của chính phủ thuộc địa và học bổng của Hội SAMIPIC, Trần Văn Khê ra Hà Nội học Y khoa tại Đại học Đông Dương. Ông tâm sự: « Ngày khai giảng ở trường đại học (nay ở số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) để lại ấn tượng không phai mờ trong tôi. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, mỗi lần có lễ lạc gì chỉ nghe bài La Marseillaise trỗi lên cùng với lá cờ tam tài, là quốc ca và quốc kỳ của nước Pháp. Nhưng trong ngày khai giảng này, sau khi dứt bài La Marseillaise thì có một điệu nhạc lạ tai trỗi lên tiếp theo cùng với một lá cờ màu vàng được kéo lên. Một anh bạn miền Bắc đứng kế bên khẽ nói: « Quốc kỳ và Quốc ca của ta đấy! ». Tôi vô cùng xúc động, ngây người ngắm lá cờ đang lần lần vươn lên cao, lắng nghe giai điệu mới mẻ mà cả hai dòng nước mắt chảy dài« … Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời ông ý thức được rằng dân tộc mình phải có một đất nước độc lập. Và cũng kể từ ngày đó, trong ông có một ý nghĩ thôi thúc tìm hiểu thêm về đất nước, dân tộc thời xa xưa… Tại Đại học Đông Dương, ông cùng các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Huỳnh Tấng (tức Phạm Hữu Tùng)… hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội sinh viên, tham gia ban nhạc của trường, cùng nhau khuấy động nên phong trào thanh niên lành mạnh, cũng như khơi dậy tình dân tộc thể hiện qua các hành khúc đầu tay của Lưu Hữu Phước như: « Người xưa đâu tá« , « Bạch Đằng giang« , « Ải Chi Lăng« … Ngay từ những năm đầu tiên bậc đại học, Trần Văn Khê tuy thuộc lớp đàn em nhỏ nhất nhưng đã có những suy nghĩ độc lập của riêng mình. Năm 1941, chàng thanh niên 20 tuổi Trần Văn Khê đã đứng trên sân khấu nhà hát lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bài hát tiếng Pháp « Le petit doigt de maman » để nhằm mục đích chính là được giới thiệu dân ca ba miền tiếp sau đó. Ngay từ lúc ấy, ông đã có ý thức giới thiệu âm nhạc dân tộc. Sau buổi biểu diễn, báo La Volonté Indochinoise đã viết bài khen ngợi: « Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề« . Đó là một kỷ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của Trần Văn Khê – nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống và văn hóa dân tộc nổi tiếng của Việt Nam sau này. Năm 1943, Trần Văn Khê lập gia đình với Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết ở Trường Pétrus Ký. Sau khi thi đỗ từ năm thứ nhất sang năm thứ nhì Trường Đại học Y – Dược, vì bị sốt rét rừng rất nặng, nạn đói ở miền Bắc bắt đầu hoành hành, lại có phong trào « xếp bút nghiên lên đường » Trần Văn Khê và nhiều bạn bè phải rời trường về Nam. Đầu năm 1944, ngoài việc tham gia dạy học tại hai trường tư thục ở Sài Gòn (Trường Lê Bá Cang và Trường Nguyễn Văn Khuê), Trần Văn Khê còn tham gia Ban tuyên truyền của tỉnh Bến Tre, đi khắp tỉnh để hát các bài hát của Lưu Hữu Phước nhằm nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Năm 1945, Trần Văn Khê bắt đầu tham gia kháng chiến, hoà mình vào cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Trần Văn Khê tình nguyện tham gia kháng chiến nhưng không muốn cầm súng mà xin được hoạt động văn nghệ. Ông cùng Lưu Hữu Phước đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các điệu kèn Tây thổi lúc sáng sớm thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ; tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà, đi khắp vùng Đồng Tháp, chợ Thiên Hộ, đi tới Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… vừa giúp Ban tuyên truyền trong việc vận động toàn dân kháng chiến, vừa quyên góp tiền để giúp nhà thương quân đội, đàn hát những điệu hò dân gian cho thương binh nghe. Cuối năm 1946, Trần Văn Khê trở về Sài Gòn tham gia nhóm « kháng chiến tại thành ». Ông vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh Văn tại hai trường Huỳnh Cẩm Chương, Ngô Quang Vinh, và mở lớp dạy tư Anh văn tại nhà. Được phân công phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần Văn Khê thường gặp gỡ các đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển của cải lương. Năm 1948, các tổ kháng chiến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và giam tại khám Catinat cùng một lúc với các Giáo sư tư thục Nguyễn Văn Hiếu (sau này là Bộ trưởng Văn hoá, Trần Thọ Phước (sau này là Giám đốc Air Vietnam ở Đông Nam Á). Năm 1949, vì bị lộ nên Trần Văn Khê, sau khi bàn với các bạn, rời Việt Nam sang Pháp, vừa « lánh nạn », vừa du học với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical và bản hợp đồng với các báo kể trên để làm « phóng viên ». Ông bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người bằng cách vừa học, vừa làm nhiều việc để sinh sống. Suốt thời gian từ 1949 tới 1951, ông đọc các báo Pháp để viết mục « điểm báo », làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều; viết du ký, phóng sự; cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Trần Văn Khê thử thi vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po (Sciences Po, Institut d’Etudes Politiques de Paris), không ngờ đỗ vào năm thứ hai của Viện. Và rồi, ông đã tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch Quốc tế sau hai năm miệt mài học tập trên ghế nhà trường và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Tháng 8.1951, 2 tháng sau khi tốt nghiệp, tới tháng 10.1954, do phát sinh nhiều bệnh, ông phải đi từ bệnh viện này tới trung tâm dưỡng bệnh nọ, bị giải phẫu 4 lần. Ngay trên giường bệnh ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đọc nhiều sách tại thư viện Paris và học tiếng Ả Rập từ những bệnh nhân cùng phòng. Cuối năm 1954, ông theo học và chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris. Để lấy tiền sinh hoạt, ông đã làm nhiều công việc khác nhau như: thuyết trình về các đề tài âm nhạc, kịch nghệ, kể chuyện cổ tích Việt Nam cho đài BBC; đóng phim; lồng tiếng cho phim… Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài chính: « Âm nhạc truyền thống Việt Nam » và hai đề tài phụ: « Khổng Tử và âm nhạc« , « Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam« . Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam không phải bởi thấy âm nhạc Việt Nam độc đáo hay đẹp hơn âm nhạc của các dân tộc khác mà đơn giản bởi ông yêu âm nhạc, ông là người Việt Nam. Với ông, đó là một thứ « quốc hồn », « quốc tuý ». Luận án tiến sĩ của ông là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về nền âm nhạc Việt Nam thống nhất được giới thiệu trên thế giới khi đất nước còn bị chia cắt. Kể từ khi ông trở thành một giáo sư – tiến sĩ ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thế giới bắt đầu biết đến hình ảnh một « thầy đờn » Việt Nam độc đáo và hấp dẫn kỳ lạ. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc. Sống nơi đất khách, điều mong mỏi của ông là đem hồn nhạc Việt đi xa, quảng bá rộng rãi cho mọi người yêu nhạc. Bằng tài năng và bầu nhiệt huyết của mình ông đã bước vào làng nhạc quốc tế và thực hiện được điều mong ước đó. Năm 1975, ông trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu trong Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, một chuyên gia hàng đầu về âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Ông không ngần ngại thừa nhận công khai rằng công trình khoa học về âm nhạc truyền thống Việt Nam làm nên tấm bằng tiến sĩ của ông thực ra còn nhiều thiếu sót, hạn chế do được thực hiện trong hoàn cảnh xa đất nước. Bởi vậy, từ năm 1976 đến năm 1990, năm nào ông cũng về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình được trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng; kêu gọi gìn giữ cái hay, cái đẹp cho thế hệ sau. Đồng thời, mỗi năm ông dành ra 2 – 3 tháng để thuyết trình tại các trường đại học trong cả nước. Tới mỗi trường đại học của Việt Nam, ngoài việc truyền bá những kiến thức âm nhạc; đem nhiệt huyết, tình yêu âm nhạc dân tộc thổi vào những lớp thanh niên thời đại mới ở Việt Nam, ông còn muốn gửi tới sinh viên Việt Nam một lời nhắn nhủ: Người sinh viên đại học không phải chỉ thụ động như học sinh trung học mà phải chủ động, ngoài những lời thầy giảng phải tự tìm sách báo, tư liệu để hiểu thêm các vấn đề. Dầu được thiên phú có một trí nhớ tốt, luôn luôn phải chăm chỉ nghe thầy giảng, tự học hỏi thêm và luyện tập cả trí nhớ. Khi gặp khó khăn phải bền chí và can đảm để tìm cách vượt qua những khó khăn. Có quyết tâm, có ý chí thì « tự không mình sẽ tạo ra có, tự khó mình sẽ biến thành dễ« . Học văn hóa của nhiều nước để mở rộng kiến văn nhưng luôn luôn nên nhớ văn hóa Việt Nam là cơ bản. Nên tự cho mình một khẩu hiệu: « Ngày nay ta phải hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay« . Phải dự những buổi nói chuyện của GS.TS Trần Văn Khê, nghe ông nói về cội nguồn âm nhạc dân tộc, mới cảm được hết cái tình của một người nhạc sĩ suốt đời say mê nghiên cứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông rất bác học, tinh tế qua những cuộc diễn thuyết, minh họa về chèo, tuồng, hát bội, cải lương, hát bài chòi, hò Huế, hò lục tỉnh… Ông không chỉ nổi tiếng là người phổ biến âm nhạc dân gian Việt Nam với thế giới mà còn là người cực kỳ am hiểu âm nhạc dân tộc của nhiều nước, vì với ông: « Hạnh phúc nhất là được làm những điều mình tha thiết mong muốn: đem tiếng nhạc, lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tinh thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền, chống lại tệ nạn vọng ngoài, sùng bái nhạc phương Tây« . Gần nửa thế kỷ nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở nước ngoài, GS. Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Với ngón đàn điêu luyện và khả năng truyền cảm, ông đảm nhận giới thiệu các chương trình âm nhạc dân tộc Việt Nam trên làn sóng phát thanh, truyền hình, đồng thời ông cũng tham gia thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều hội nghị và các trường đại học lớn tại hơn 50 quốc gia. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về Âm nhạc và Âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu. GS. Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội quốc tế về âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc như: Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO, Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống, Hội đồng Quốc tế Giáo dục Âm nhạc, Hội đồng Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc, Hội Âm nhạc học, Dân tộc âm nhạc học, Hội nhà văn (Pháp), Hội dân tộc âm nhạc học Mỹ, Hội nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ. Ông cũng đã tham gia giảng dạy, đào tạo gần 7000 sinh viên, hướng dẫn gần 40 học viên cao học và nghiên cứu sinh về âm nhạc học. Ông thường tâm sự: « Tuy thân ở nước ngoài nhưng tâm tôi luôn ở trong nước vì đất nước thể hiện trọng tiếng đờn của tôi, trong những món ăn Việt Nam hàng ngày tự tay tôi nấu, nên lúc nào tôi cũng thấy mình gắn bó và gần gũi với quê hương, xứ sở« . Năm 2003, sau hơn nửa thế kỷ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài, GS. Trần Văn Khê đã trở về Tổ quốc với dự định: tiếp tục làm công việc nghiên cứu, giảng dạy, gặp gỡ bạn bè trong và ngoài nước để góp phần bảo vệ, bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc truyền thống. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS. Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn « Đại từ điển âm nhạc thế giới », được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng « Vinh danh nước Việt » (2003). Và tháng 11.2005 vừa qua, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hiến Việt Nam đã tổ chức lễ mừng thọ GS.TS Trần Văn Khê tròn 85 tuổi và trao tặng ông giải thưởng Đào Tấn – giải thưởng tôn vinh những cá nhân, tập thể có đóng góp lớn cho văn hóa, nghệ thuật Việt Nam. Người ta thường nói: Đằng sau thành công của người đàn ông có bóng dáng của người phụ nữ. Điều này quả rất đúng với Trần Văn Khê. Được mẹ giáo thai, cho hấp thụ âm nhạc một cách bài bản ngay từ khi chưa chào đời, vừa lớn bà đã truyền cho con tình yêu đất nước. Khi mẹ mất, được người cô thứ ba là Trần Ngọc Viện thay cha mẹ nuôi dưỡng, giáo dục về mọi mặt, nhất là về môn âm nhạc. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Sương đã mang lại cho dòng họ Trần 4 người con: hai trai (Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, một chuyên gia về hát đồng song thanh nổi tiếng nhất thế giới sau 32 năm nghiên cứu; Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở thành phố Hồ Chí Minh) và hai gái (Trần Thị Thuỷ Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thuỷ Ngọc, nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia ở Paris). Khi xa gia đình và quê hương, ở ngoại quốc lúc nào cũng có một phụ nữ là em, con hay bạn, giúp ông công việc nhà để ông có thể dành hết tâm trí vào việc sưu tầm nghiên cứu âm nhạc. Lòng say mê âm nhạc của ông đã truyền sang các con, hiện nay các con ông đều đã trưởng thành và đang cùng ông viết tiếp trang sử thứ năm – đó chính là hạnh phúc lớn nhất của ông lúc tuổi già. Dầu tuổi cao, sức yếu nhưng dường như chẳng lúc nào GS. Trần Văn Khê rảnh rỗi. Sau những giờ làm việc căng thẳng, ông thường nghe nhạc, dạo vườn xem hoa, so dây độc tấu, thưởng thức vài chung trà trên bàn thạch… để thư giãn, hay luyện tập khí công, xem những chương trình tin tức hoặc nghệ thuật trên truyền hình, đọc vài tờ báo hay quyển sách mà ông thích, ngâm những bài thơ mình mới viết hoặc bạn bè mới cho. Với trí nhớ tuyệt vời được tạo hoá ban tặng, sự nhạy cảm của một tinh nhân, với phương pháp của một nhà khoa học, với sự kiên nhẫn và chuyên cần của một con kiến nhỏ, Trần Văn Khê hôm nay đã trở thành một thư viện sống, một bách khoa thư sống về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Với sự tín nhiệm của UNESCO ông đã có cơ hội góp sức vào việc thẩm định Hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và được giao trọng trách thẩm định hồ sơ Cồng chiêng của Việt Nam. Ông đã chứng minh được những nét đặc sắc, độc nhất vô nhị của hai loại hình nghệ thuật này và Nhã nhạc cung đình Huế rồi mới đây là cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tới đây, ông sẽ cùng Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Viện Âm nhạc đề cử ca trù, quan họ và múa rối nước để UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho Việt Nam. Trong ông bấy lâu nay vẫn ấp ủ một nỗi niềm với âm nhạc truyền thống Việt Nam. « Tôi mong có một giáo trình dạy nhạc truyền thống Việt Nam ở bậc đại học và một chương trình đào tạo quốc gia cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ về âm nhạc dân tộc. Bởi thực tế đáng buồn hiện nay là các sinh viên Việt Nam thi bằng thạc sĩ âm nhạc dân tộc lại phải dựa vào lý luận… âm nhạc phương Tây« , GS. Trần Văn Khê tâm sự. Dự định của ông còn nhiều, dù sức khoẻ có hạn, nhưng mỗi khi thấy ông xuất hiện trên tivi, lúc ở thành phố Hồ Chí Minh, khi ở Hà Nội, chúng tôi vô cùng cảm phục tinh thần làm việc miệt mài của ông và thầm cầu mong cho ông được dồi dào sức khoẻ, tiếp tục thực hiện hoài bão của mình: giữ gìn những giá trị tinh thần của dân tộc và của nhân loại!
Mai Anh [100 Years-VietNam National University,HaNoi]

http://100years.vnu.edu.vn/BTDHQGHN/Vietnamese/C1778/C1779/2006/05/N7812/

  Trang chủ ĐHQGHN |   Trang nhất  
Ngày 4 Tháng 5 Năm 2021