Jour : 6 mars 2021

WIKIPEDIA: Từ mượn trong tiếng Việt

Từ mượn trong tiếng Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếm

Bài viết hay đoạn này có thể chứa nghiên cứu chưa được công bố. Xin hãy cải thiện bài viết bằng cách thêm vào các chú thích tham khảo. Những khẳng định chứa các nghiên cứu chưa công bố cần được loại bỏ.

Căn cứ vào nguồn gốc của các từ, các nhà nghiên cứu chia từ vựng tiếng Việt thành hai lớp: từ thuần Việt và từ mượn hay còn gọi là từ ngoại lai. Nội dung của hai khái niệm từ thuần Việt và từ mượn không có ranh giới rõ ràng vì từ vựng có xu hướng biến đổi, phát triển qua nhiều giai đoạn, cho nên người ta chỉ có thể xác định ranh giới một cách tương đối chắc chắn nếu xét chúng trong những giai đoạn lịch sử cụ thể. Những từ mượn trong giai đoạn này có thể được coi là từ thuần Việt trong giai đoạn tiếp theo. Tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay chứa đựng nhiều từ ngữ giống hoặc tương tự với các từ ngữ trong nhiều thứ tiếng khác như: tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Tày-Nùng, tiếng Bana, tiếng Gialai, tiếng Êđê, tiếng Khmer, tiếng Hán (bao gồm cả từ Hán-Việt gốc Nhật), tiếng Pháp, tiếng Nga,… và đặc biệt trong thời gian gần đây là tiếng Anh[1]. Tiếng Việt mượn khá nhiều từ tiếng Anh trong ẩm thực, thể thaogiải trí. Dù nhiều từ đã có từ thuần Việt nhưng mọi người vẫn quen sử dụng từ mượn tiếng Anh[2]. Tuy nhiên do trình độ tiếng Anh khác nhau, sự khác nhau về ngữ âm giữa các phương ngữ của tiếng Việt và do quan niệm về cách đọc của các biên tập viên mà chưa có sự thống nhất cách đọc, cách viết của nhiều từ mượn. Ví dụ, cùng bắt nguồn từ từ tiếng Anh Valentine /ˈvæləntaɪn/ có hai cách nói là « va-len-tin » và « va-len-thai ».

Theo thống kê của H. Maspéro, vào năm 1972 thì có hơn 60% từ Việt có gốc Hán. Về từ mượn tiếng Pháp, thống kê của Nguyễn Quảng TuânNguyễn Đức Dân, vào năm 1992 cho biết có khoảng hơn 2.000 từ gốc Pháp được sử dụng tại Việt Nam. Từ điển từ mới (Viện Ngôn ngữ học, 2002) đã thu thập khoảng 3.000 từ mới các loại trong vòng 15 năm (1985 – 2000) từ mượn chủ yếu từ tiếng Anh.[3]

Mục lục

Sự Việt hóa từ mượn

Cũng giống như những ngôn ngữ khác, hiện tượng tiếp nhận từ ngữ của một ngôn ngữ vào tiếng Việt không diễn ra một cách đơn giản mà các từ mượn phải chịu sự biến đổi theo quy luật của tiếng Việt. Quá trình đồng hoá các từ ngoại lai diễn ra trên cả bốn mặt là chữ viết, ngữ âm, ngữ nghĩangữ pháp[4].

Việt hóa ngữ âm

Cách phát âm của các từ mượn cần phải phù hợp với hệ thống ngữ âm tiếng Việt, những âm mà tiếng Việt không có hoặc có nhưng xuất hiện ở những vị trí bất thường, trái với ngữ âm tiếng Việt sẽ bị biến đổi thành các âm tiếng Việt có cách phát âm gần giống hoặc bị bỏ qua, không chuyển đổi thành âm tiếng Việt nào. Ví dụ như ba từ tiếng Pháp « poupée » /pupe/, « équipe » /ekip/ và « valise » /valiz/ được phiên âm là « búp bê », « ê kíp » và « va li ». Tiếng Việt gọi sự chuyển đổi ngữ âm này là « phiên âm ». Đây là một từ Hán Việt, viết bằng chữ Hán là « 翻音 », trong đó « phiên » có nghĩa là « dịch ».

Tiếng Việt không có các tổ hợp phụ âm nên khi được phiên âm sang tiếng Việt các tổ hợp phụ âm sẽ bị loại bỏ theo các cách sau:

  1. Âm tiết hóa các phụ âm cấu thành nên các tổ hợp phụ âm đó. Nguyên âm thêm vào để tạo thành âm tiết thường là « ơ ». Ví dụ: địa danh tiếng Pháp « Genève » /ʒə.nɛv/ được phiên âm là « Giơ-ne-vơ », phụ âm /v/ được âm tiết hóa thành « vơ ».
  2. Bỏ qua một bộ phận của tổ hợp phụ âm. Ví dụ: từ tiếng Pháp « gramme » /gram/ được phiên âm là « gam », phụ âm /r/ trong phụ âm kép /gr/ bị bỏ qua.
  3. Áp dụng đồng thời cả hai cách trên.

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, hầu hết các âm tiết trong tiếng Việt đều mang một ý nghĩa nào đó, các từ trong tiếng Việt thường chỉ gồm một hoặc hai âm tiết, do đó người Việt có xu hướng lược bớt âm tiết của những từ ngoại lai thường dùng có từ hai âm tiết trở lên miễn là không gây hiều nhầm. Ví dụ: « ét-xăng » (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp « essence ») được rút gọn thành « xăng ».

Khi đã được Việt hóa, từ mượn chịu sự biến đổi theo quy luật riêng của tiếng Việt. Từ mượn và từ gốc mà nó xuất thân có thể phát triển theo những hướng hoàn toàn khác nhau. Thí dụ: Vào thời kì của tiếng Hán cổ, cả tiếng Việt và tiếng Hán đều có phụ âm vô thanh. Từ « can » của tiếng Hán cổ khi chuyển sang tiếng Việt vẫn giữ nguyên diện mạo như vậy. Nhưng sau đó, các từ trong tiếng Hán biến đổi theo quy luật vô thanh hoá, còn các từ trong tiếng Việt lại biến đổi theo quy luật hữu thanh hoá. Do đó, từ « can » trong tiếng Hán hiện đại vẫn đọc như vậy, còn trong tiếng Việt, « can » đã đổi thành « gan »[4]. Một ví dụ khác, từ « tết » trong tiếng Việt bắt nguồn từ từ « tiết« . Tuy cùng có gốc là tiếng Hán song việc sử dụng chúng hiện nay khác nhau, « tiết » để chỉ các tiết khí như tiết Thanh minh, tiết Lập Xuân, tiết Đông Chí…, « tết » để chỉ ngày lễ lớn hằng năm, thường có cúng lễ, vui chơi, hội hè, theo truyền thống dân tộc Việt Nam như tết Nguyên Đán, tết Trung Thu, tết Đoan Ngọ

Việt hóa chữ viết

Về mặt chữ viết không phải bao giờ các từ mượn trong tiếng Việt cũng được ghi lại giống như cách chúng được phát âm, tức là nói một đằng viết một nẻo. Hiện nay các từ mượn trong tiếng Việt có hai cách viết:

Một là ghi lại bằng chữ cái La-tinh các từ mượn sao cho càng giống với cách chúng được viết trong ngôn ngữ gốc càng tốt. Ví dụ: « phét-ti-van » được viết là « festival ». Các chữ cái La-tinh được sử dụng thường chỉ giới hạn trong 26 chữ cái của bảng chữ cái La-tinh cơ bản do Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế đặt ra dựa trên bảng chữ cái tiếng Anh đương đại. Cách viết này thường áp dụng với các ngôn ngữ sử dụng ký tự Latinh, với các ngôn ngữ không sử dụng ký tự Latinh thì sẽ chuyển tự sang ký tự Latinh. Khi sử dụng cách viết nguyên dạng mà không hướng dẫn cách đọc thì cách phát âm được dùng trên các chương trình phát thanh, truyền hình đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành cách đọc chung của công chúng.

Hai là viết bằng chữ quốc ngữ theo đúng cách phát âm trong thực tế của từ mượn. Trong tiếng Việt chúng được nói như thế nào thì ghi lại bằng chữ quốc ngữ đúng như thế. Các âm tiết có thể được viết liền nhau hoặc viết tách rời, có khoảng trắng giữa các âm tiết hoặc nối với nhau bằng các dấu gạch ngang đặt giữa các âm tiết, ví dụ như: vali, va li, va-li. Các từ mượn được viết tách rời các âm tiết thường là từ có hai âm tiết. Trong một số trường hợp khi các âm tiết được viết liền nhau, không có khoảng trắng hoặc dấu gạch ngang xen vào giữa các âm tiết, nếu không được chỉ rõ cách đọc từ trước người đọc có thể đọc sai hoặc phân vân không biết nên đọc thế nào mới đúng vì không biết một chữ cái nào đó là chữ cái cuối cùng của một âm tiết hay là chữ cái đầu tiên của một âm tiết khác sau âm tiết đó.

Việt hóa ngữ nghĩa

Quá trình đồng hóa ngữ nghĩa cũng diễn ra tương tự như ngữ âm. Khi tiếp nhận, tiếng Việt có thể thể không tiếp nhận tất cả các ý nghĩa của từ trong ngôn ngữ khác hoặc mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Thí dụ: từ « balle » trong tiếng Pháp có các nghĩa là « quả bóng » và « đầu đạn », nhưng tiếng Việt chỉ tiếp nhận từ này với ý nghĩa « quả bóng ».[4]

Việt hóa ngữ pháp

Các từ ngoại lai cũng được đồng hoá theo tiếng Việt về ngữ pháp. Chẳng hạn, tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, hiện tượng biến đổi từ loại xảy ra rất dễ dàng. Nhiều từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Pháp cũng tuân theo quy luật đó: « double », « blue » là tính từ, vào tiếng Việt là « đúp », « lơ » có thể làm động từ.[4]

Phân loại từ mượn theo nguồn gốc

Từ mượn tiếng Hán

Bài chi tiết: Từ Hán-ViệtDanh sách từ Hán-Việt gốc Nhật

Từ mượn tiếng Pháp

Việt Nam từng là thuộc địa của Pháp nên tiếng Pháp có điều kiện du nhập vào Việt Nam. Trong quá trình giao lưu văn hóa và ngôn ngữ đó người Việt đã vay mượn nhiều từ gốc Pháp để chỉ những khái niệm mà thường thì trong tiếng Việt không có. Phần lớn các từ đó đã bị thay đổi cả về cách đọc lẫn chữ viết để phù hợp với đặc trưng của tiếng Việt, vốn là ngôn ngữ không biến hình[5].

Bảng dưới đây liệt kê một số từ tiếng Việt thông dụng hiện nay bắt nguồn từ tiếng Pháp. Các từ tiếng Pháp được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái, âm đọc của chúng được ghi trong cột IPA bằng ký hiệu ngữ âm quốc tế (IPA) của Hiệp hội Ngữ âm học Quốc tế.

Tiếng PhápIPATiếng ViệtGhi chú
acide/asid/a-xít
affiche/afiʃ/áp phích
allô/alo/a lôTừ được sử dụng để hỏi « bên kia có nghe rõ không? » được giùm thường xuyên khi liên lạc với ai đó.
antenne/ɑ̃tεn/ăng ten
auto/oto/ô tô
auvent/ovɑ̃/ô văng
balcon/balkɔ̃/ban công
ballot/balo/ba lô
béton/betɔ̃/bê tông
bière/bjεr/bia« Bia » trong « bia hơi »
biscuit/biskɥi/bánh quy, bánh bích quy
blockhaus/blɔkos/lô cốt
blouse/bluz/(áo) bờ luTừ « áo bờ lu » thường dùng để chỉ đồng phục áo choàng màu trắng của các bác sĩ
brosse/bʀɔs/bót (bàn chải) đánh răng
bus/bys/(xe) buýt
cacao/kakao/ca cao
café/kafe/cà phê
calot/kalo/(mũ) ca lô
canot/kano/(tàu) ca nô
carotte/karɔt/cà rốt
cerise/səriz/sơ riTên một loại cây. Từ này bắt nguồn từ từ « cerise » trong tiếng Pháp, nhưng tiếng Pháp không gọi theo tên này để chỉ « sơ ri » trong tiếng Việt mà gọi là « acérola »
champagne/ʃɑ̃paɲ/(rượu) sâm banh, sâm panh
chef/ʃεf/sếp« Chef » trong tiếng Pháp có nghĩa là người đứng đầu, thủ trưởng.
chemise/ʃ(ə)miz/(áo) sơ mi
chèque/ʃεk/sécCòn gọi là « chi phiếu »
chou-fleur/ʃuflɶr/súp lơ
chou-rave/ʃurav/su hào
ciment/simɑ̃/xi măng
cirque/sirk/xiếc, xiệc
clé/kle/cờ lê
coffrage/kɔfraʒ/cốt pha, cốp pha
compas/kɔ̃pa/com pacông cụ dùng để vẽ hình tròn
complet/kɔ̃plε/com lêtrang phục nam giới
coupe/kup/cúp« Cúp » trong « cúp vô địch »
cravate/kravat/cà vạt, ca-ra-vát
cresson/kresɔ̃/cải xoong
crème/krεm/kem, cà rem
essence/esɑ̃s/xăngTrước đây còn gọi là « ét-xăng »
équerre/ekεr/ê ke
équipe/ekip/ê kíp, kíp« Équipe » trong tiếng Pháp có nghĩa là tốp, tổ, nhóm, đội
film/film/phim
fosse septique/fos sεptik/(bể) phốt (phương ngữ miền Bắc)Phương ngữ miền Nam gọi là « hầm cầu ». « Fosse septique » dịch sát nghĩa từng chữ sang tiếng Việt là « hố vi khuẩn », trong đó « fosse » /fos/ có nghĩa là cái hố.
fromage/frɔmaʒ/pho mát (phương ngữ miền Bắc), phô mai (phương ngữ miền Nam)
galant/galɑ̃/ga lăng
garde/gard/gác« Gác » trong « canh gác ». « Garde » trong tiếng Pháp có nghĩa là canh giữ, trông coi
garde-manger/gaʁd mɑ̃ʒe/Gạc-măng-rêbố trí lắp đặt trong nhà bếp dùng để cất trữ thực phẩm
gare/gar/(nhà) ga« Gare » trong tiếng Pháp có nghĩa là bến tàu hỏa
gaz/gaz/ga« Ga » trong « bếp ga », « nước uống có ga », « xe tay ga »
gâteau/gato/(bánh) ga tô
gilet/ʒilε/(áo) gi lê« Gi » trong « gi lê » đọc là /zi/.
glaïeul/glajɶl/(hoa) lay ơn
gant/gɑ̃/găng (tay)Bao tay, tất tay
guitare/gitar/(đàn) ghi ta
jambon/ʒɑ̃bɔ̃/giăm bôngGiăm bông hay còn gọi là thịt nguội, đừng nhầm lẫn với chà bông.
kiosque/kjɔsk/ki ốt« Kiosque » trong tiếng Pháp có nghĩa là quán bán hàng
lavabo/lavabo/la-va-bô
lipide/lipid/li-pít
maillot/majo/áo may ô
manchette/mɑ̃ʃεt/măng sét
mandoline/mɑ̃dɔlin/(đàn) măng-đô-lin
maquette/mæ.ˈkɛt/ma kétBản thiết kế mẫu, bản mô hình chưa hoàn thiện.
meeting/mitiŋ/mít tinh
molette/mɔlεt/mỏ lết
mouchoir/muʃwar/khăn mùi soaKhăn tay
moutarde/mutard/mù tạt
Noël/nɔεl/Nô-enLễ Giáng sinh
olive/ɔliv/ô liu
pédé/pede/bê đê, pê đêNgười đồng tính luyến ái nam. Còn gọi là « gay ».
pile/pil/pin
poupée/pupe/búp bê
radio/radjo/ra-đi-ôMáy phát âm thanh hoặc gọi là máy phát đài truyền hình.
salade/salad/xa lát, xà láchrau cải
salon/salɔ̃/(ghế) xa lông
sauce/sos/(nước) xốt
saucisse/sosis/xúc xích
savon/savɔ̃/xà phòng, xà bông
scandale/skɑ̃dal/xì căng đan
seau/so/Cái xô đựng nước.
série/seri/xê ri
signal/siɲal/xi nhanđèn tín hiệu
slip/slip/quần xịt, quần sịp, xi líp
talus/taly/ta luy
tank/tɑ̃k/(xe) tăng
taxi/taksi/tắc xi
tournevis/turnəvis/tua vít, tuốc-nơ-vít, tuốt vít
tôle/tol/tôn« Tôn » trong « mái tôn »
tube/tyb/tuýp« Tuýp » trong « tuýp thuốc đánh răng ». « Tube » trong tiếng Pháp có nghĩa là cái ống.
turbine/tyrbin/tuốc bin, tua bin
type/tip/típ« Típ » trong « típ người », hay bị nhầm thành « tuýp ». « Type » trong tiếng Pháp có nghĩa là kiểu, loại.
un deux trois/œ̃ dø tʁwɑ/« uyn đô xì », gọi tắt là « (chơi) uyn »trò này từ hồi Pháp thuộc. (Xem « oẳn tù tì » bên dưới)
vaccin/vaksε̃/vắc xin
valise/valiz/va li
veine/vεn/ven« Ven » trong « tiêm ven ». « Veine » trong tiếng Pháp có nghĩa là tĩnh mạch.
veston/vεstɔ̃/(áo) vét-tôngcũng gọi tắt là vest
vin/vε̃/(rượu) vang
vidéo/video /vi-đê-ôMột số người phát âm sai là « vi deo » theo chữ Quốc ngữ.
violon/vjɔlɔ̃/vi-ô-lông
vitamine/vitamin/vi-ta-min
volant/vɔlɑ̃/vô lăngĐôi khi còn gọi là « tay lái » hay « bánh lái »
yaourt/jaurt/da-ua (phương ngữ miền Nam)Sữa chua

Từ mượn tiếng Nga

Danh sách các từ mượn tiếng Anh gốc Pháp trong tiếng Việt

Bài viết này không được chú giải bất kỳ nguồn tham khảo nào. Mời bạn giúp cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích cho từng nội dung cụ thể trong bài viết tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Tiếng NgaPhiên âm BGN/PCGNTiếng ViệtGhi chú
БольшевикBolshevikBôn-sê-vích
ЛенинецLeninetsLê-nin-nítNgười theo chủ nghĩa Lênin
МарксистMarksistMác-xítNgười theo chủ nghĩa Mác
СоветSovietXô Viết
ЛитваLitvaLít-vatên tiếng bản địaLietuva, tên tiếng Anh là Lithuania

Từ mượn tiếng Anh

Tiếng Anh được coi là ngôn ngữ giao tiếp quốc tế. Ở Việt Nam tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông và cũng là ngoại ngữ được sử dụng rộng rãi. Trong tiếng Việt đã xuất hiện nhiều từ mượn tiếng Anh như:

Tiếng AnhIPATiếng ViệtGhi chú
camera/ˈkæmrə/Ca-mê-raTuỳ trường hợp nó sẽ là máy ảnh hoặc máy quay
clip/klɪp/cờ-líp
damage/ˈdamɪdʒ/đam (sát thương)Giới trẻ Việt hay viết sai chính tả thành « dame ». Dame mang nghĩa khác trong tiếng Anh
depot/ˈdepəʊ/ /ˈdiːpəʊ/đê-pô, đề-pâu, đì-pâuNơi điều hành tuyến đường sắt, tập kết tàu đường sắt để bảo trì. Một số người phát âm sai là « đề-pót » theo chữ Quốc ngữ.
developer/dɪˈveləpə/đépKỹ sư lập trình, phát triển ngành công nghê thông tin. Viết tắt là « dev ».
dollar/ˈdɒlə/đô-laĐơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia
font/fɑnt/phông, phông chữLỗi phông: máy tính hiển thị sai nội dung văn bản, hiển thị rác.
gay/ɡeɪ/gayNgười đồng tính luyến ái nam. Còn gọi là « bê đê », « pê đê ».
internet/ˈɪntərnet/in-tơ-nétMạng máy tính, thế giới mang
jeans/dʒiːnz/quần jeansCòn gọi là quần bò
jeep/dʒiːp/xe gíp
laptop/ˈlæptɑːp/láp-tópMáy tính xách tay
lesbian/ˈlezbiən/létNgười đồng tính luyến ái nữ. Trên sách báo thường được viết là « les ».
one two three/wʌn tuː θriː/oẳn tù tì, oẳn tù xì.‘One two three’ có nghĩa là « một hai ba », đây là khẩu lệnh dùng khi chơi, không phải là tên gọi trong tiếng Anh của trò chơi này.
PC/ˌpiː ˈsiː/pi-ximáy tính cá nhân
PR/ˌpiː ˈɑːr/pi-aQuan hệ công chúng, chỉ sự quảng bá
rock/rɑːk/nhạc rốc
sandwich/ˈsæn(d)wɪtʃ/xăng-uýchHay « bánh mì kẹp »
scag/’skæg/xì ke (phương ngữ miền Nam)« Scag » là từ tiếng lóng tiếng Anh Mỹ chỉ hê-rô-in. Phương ngữ miền Nam dùng từ « xì ke » để chỉ ma tuý và người nghiện ma tuý.
sex/seks/xếchQuan hệ tình dục
selfie/ˈselfi/seo-phichụp ảnh tự sướng
shorts/ʃɔː(ɹ)ts/quần soóc, quần soọc
same/seim/xêmTrong « xêm xêm », có nghĩa là gần giống.
radar/’reidɑː/ra đa
(Maria) Schellsến
show/ˈʃoʊ/trong « bầu sô », « chạy sô »…
smartphone/ˈsmɑːtfəʊn/sờ-mát-phônđiện thoại di động thông minh
tablet/ˈtæblət/ta-bờ-létmáy tính bảng
tiny/ˈtaɪni/tí nịDùng đặt tên gọi trong nhà cho trẻ em
TV/ˌtiː ˈviː/ti viMáy thu hình, vô tuyến truyền hình

{fan}

Liên kết ngoài

xtsHệ thống tiếng Việt
Âm vị học Bộ gõ Telex VNI Chính tả Chữ viết Chữ Quốc ngữ (Chữ Latinh) Chữ Hán Chữ Nôm Hệ chữ nổi Ngữ pháp Phương ngữ Thư pháp Thư pháp chữ Quốc ngữ Tiếng lóng Từ đồng âm Từ Hán Việt Từ mượn Từ thuần Từ vựng Viết tắt
  1. ^ Từ bản ngữ và từ ngoại lai (phần 1). Theo Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1998, trang 129–134. http://ngonngu.net/ dẫn lại. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015
  2. ^ Từ mượn tiếng Anh trong tiếng Việt. Theo Australia Plus, ngày 16 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015
  3. ^ Tiếng Việt đang “lệch chuẩn”: Chẳng đáng lo!. VOV online phỏng vấn PGS-TS Phạm Văn Tình (Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam), 22/02/2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014.
  4. ^ a ă â b Từ bản ngữ và từ ngoại lai (phần 2). Theo Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Giáo dục, H., 1998, trang 129–134. http://ngonngu.net/ dẫn lại. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015
  5. ^ SỰ ĐỒNG HOÁ CÁC TỪ GỐC PHÁP TRONG TIẾNG VIỆT PGS.TS. Phan Thị Tình khoa Pháp- ĐHNN-ĐHQGHN

Thể loại:

Quy tắc chính tả tiếng Việt và phiên chuyển tiếng nước ngoài của Từ điển Bách khoa Việt Nam

Quy tắc chính tả tiếng Việt và phiên chuyển tiếng nước ngoài của Từ điển Bách khoa Việt Nam

22:25:29 30/04/2012 1. Bảng chữ cái tiếng Việt gồm các chữ cái xếp theo thứ tự: A, Ă, Â, B, C, D, Đ, E, Ê, G, H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.

2. Các từ tiếng Việt viết theo quy tắc chính tả hiện hành (tham khảo các từ điển chính tả), chú ý phân biệt:
c/k: ca, co, cô, cơ; ke, kê, ki.
d/gi: da, dô, dơ; gia, gio, giơ, giô.
g/gh: ga, go, gô, gơ; ghe, ghê, ghi.
Viết rời các âm tiết, không dùng dấu gạch nối.

3. Dùng i thay cho y ở cuối âm tiết mở. Ví dụ: hi sinh, hi vọng, biệt li.
Trừ trong các âm tiết uy và các trường hợp sau qu hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết. Ví dụ: ý nghĩa, ý chí, yêu mến.
Một số từ có i làm thành tố thì vẫn viết theo thói quen: ỉ eo, ầm ĩ; hoặc i đứng đầu một số âm tiết: in, im, inh, ít ỏi, ụt ịt, ỉu xìu.
Ngoại lệ: trong cách viết tên riêng (tên người, tên đất), tên các triều đại đã quen dùng y thì vẫn viết theo truyền thống. Ví dụ: triều Lý, Lý Bôn, Lý Thường Kiệt, xã Lý Nhân, Nguyễn Thị Lý, vv.

4. Viết hoa.

4.1. Viết hoa tên người:
– Tên người Việt Nam, Trung Quốc (đọc theo âm Hán – Việt) bao gồm tên thật, tên tự, tên hiệu, …đều viết hoa tất cả các chữ đầu của âm tiết và không dùng gạch nối. Ví dụ: Trần Quốc Tuấn; Nguyễn Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên.
– Một số tên gọi vua chúa, quan lại, trí thức Việt Nam, Trung Quốc thời phong kiến được cấu tạo theo kiểu danh từ chung (đế vương, hoàng hậu, tông, tổ, hầu, tử, phu tử, vv.) kết hợp với danh từ riêng thì viết hoa tất cả các  chữ đầu của âm tiết, ví dụ: Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng, Hùng Vương, Lạc Long Quân, Bố Cái Đại Vương, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Phù Đổng Thiên Vương, Khổng Tử, La Sơn Phu Tử, vv.
– Một số tên người Việt Nam cấu tạo bằng cách kết hợp một danh từ chung (ví dụ: ông, bà, thánh, cả hoặc từ chỉ học vị, chức tước, vv.) với một danh từ riêng dùng để gọi, làm biệt hiệu, … thì danh từ chung đó cũng viết hoa. Ví dụ: Bà Trưng, Ông Gióng, Cả Trọng, Đề Thám, Lãnh Cồ, Cử Trị, Nghè Tân, Trạng Lường, Đồ Chiểu, Tú Xương, Đội Cấn, vv.
– Tên người trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng viết hoa tất cả các chữ đầu của âm tiết và không dùng gạch nối, Ví dụ: Lò Văn Bường, Giàng A Páo, Y Niêm, A Ma Pui, vv.

4.2. Viết hoa tên địa lí:
– Tên địa lí Việt Nam và tên địa lí đọc theo âm Hán – Việt viết hoa các chữ đầu của âm tiết và không dùng gạch nối, ví dụ: Hà Nội, Trung Quốc, Trường Giang, vv.
– Tên địa lí thế giới phiên gián tiếp qua tiếng Hán và đọc theo âm Hán – Việt cũng viết hoa tất cả các chữ cái đầu của âm tiết và không dùng gạch nối, ví dụ: Hà Lan, Phần Lan, Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Ai Cập, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, vv.
– Từ chỉ phương hướng kết hợp với từ chỉ phương hướng hoặc một từ chung đơn tiết nào đó dùng để chỉ một vùng, một miền, một khu vực nhất định thì viết hoa tất cả các thành phần của nó, ví dụ: Tây Bắc Kỳ, Đông Nam Kỳ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Hà, Nam Hà, Đàng Trong, Đàng Ngoài, Đông Nam Bộ, Trường Sơn Tây, Bắc Bán Cầu, Nam Bán Cầu, Bắc Cực, Trung Phi, Cận Đông, khu Đông Bắc, vùng Tây Nam, quan hệ Đông – Tây, đối thoại Bắc – Nam, các nước phương  Đông, văn học phương Tây, vv.
– Địa danh Việt Nam cấu tạo bằng cách kết hợp danh từ chung (biển, cửa, bến, vũng, lạch, vàm, buôn, bản, vv.) với danh từ riêng (thường chỉ có một âm tiết thì viết hoa tất cả các chữ đầu tạo nên địa danh đó, ví dụ: Cửa Lò, Bến Nghé, Vũng Tàu, Lạch Trường, Vàm Cỏ, Vàm Láng, Buôn Hồ, Bản Keo, Sóc Trăng, vv.

4.3. Tên các tổ chức:
– Tên các tổ chức được viết hoa chữ đầu của thành tố đầu và các từ, cụm từ cấu tạo đặc trưng (nét khu biệt) của tổ chức và tên riêng nếu có. Ví dụ: Chính phủ Việt Nam, Quốc hội Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Nhà Xuất bản Từ điển bách khoa, Đài Truyền hình Việt Nam, Ban Tổ chức Trung ương, nước Cộng hoà Hồi giáo Pakixtan, vv.

4.4. Viết hoa các trường hợp khác:
– Tên các năm âm lịch: viết hoa cả hai âm tiết. Ví dụ: năm Kỉ Tị, Cách mạng Tân Hợi, Cuộc chính biến Mậu Tuất, Tết Mậu Thân, vv.
– Tên các ngày tiết và ngày tết: viết hoa âm tiết thứ nhất. Ví dụ: tiết Lập xuân, tiết Đại hàn, tết Đoan ngọ, tết Trung thu, tết Nguyên đán.
– Từ chỉ số trong những đơn vị là tên gọi các sự kiện lịch sử: không viết bằng con số mà viết bằng chữ hoa. Ví dụ: Cách mạng tháng Tám, Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười.
– Tên gọi một số thời kì lịch sử, sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng: viết hoa âm tiết đầu. Ví dụ: thời kì Phục hưng, Chiến tranh thế giới I, phong trào Cần vương.
– Viết hoa tên các ngành, lớp, bộ, họ, giống (chi) trong phân loại sinh vật. Ví dụ: họ Kim giao; bộ Mười chân, lớp Thân mềm; chi Tôm he; lớp Nhện; cây họ Đậu; họ Dâu tằm, vv.
– Tên các niên đại địa chất: viết hoa chữ đầu của âm tiết thứ nhất, ví dụ: đại Cổ sinh, kỉ Cacbon, loài người xuất hiện từ đầu kỉ Đệ tứ
– Tên gọi các huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự,… viết như sau: huân chương Độc lập, Sao vàng, Cờ đỏ, Lênin, Hồ Chí Minh; huân chương Quân công, Chiến công, Kháng chiến, Chiến sĩ vẻ vang; Kỉ niệm chương; Tổ quốc ghi công; Bảng vàng danh dự; giải thưởng Nhà nước; danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Anh hùng lao động, vv.
– Tên gọi các tôn giáo, giáo phái viết bằng tiếng Việt hoặc Hán – Việt: viết hoa tất cả các chữ đầu của âm tiết, ví dụ: Tin Lành, Cơ Đốc, Thiên Chúa, Hoà Hảo, Cao Đài, Bà La Môn, Tiểu Thừa, Đại Thừa, Mật Tông, Thiền Tông, vv. Chú ý: Nho giáo, Thiên Chúa giáo, đạo Hồi, Hồi giáo.
– Tên các tác phẩm, sách báo, văn kiện,… để trong ngoặc kép và viết hoa như sau:
+ Nếu tên người, tên địa lí, tên triều đại,… dùng làm tên tác phẩm thì viết hoa tên người, tên địa lí, tên triều đại đó, ví dụ: “Thạch Sanh”, “Hồ Chí Minh toàn tập”, “Nghệ An” , “Lĩnh Nam chích quái”, “Việt sử lược”, “Hậu Hán thư”, “Tam Quốc chí”, vv.
+ Ngoài các trường hợp trên, chỉ viết hoa âm tiết thứ nhất, ví dụ: “Làm gì”, báo, “Nhân dân”, tạp chí “Khảo cổ học”, “Dư địa chí”, “Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước”.
– Tên chức vụ, học vị chung không viết hoa, ví dụ: tổng thống, chủ tịch, tổng bí thư, đại sứ, thái thú, tổng đốc, tiến sĩ, cử nhân, viện sĩ,… trừ một số trường hợp đặc biệt.

5. Trật tự các dấu thanh điệu: không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng.
Đánh dấu các dấu thanh điệu trên âm chính: hoà, thuý, quả, khoẻ, ngoằn ngoèo.

II- Phiên chuyển tên riêng và thuật ngữ tiếng nước ngoài

Cho đến năm 1990, trên thế giới có gần 5.000 ngôn ngữ, trong đó có khoảng 1/10 ngôn ngữ có chữ viết. Song không có một ngôn ngữ nào ngay từ đầu đã có đủ vốn từ ngữ mà đều phải nhập một số từ ngữ mới từ tiếng nước ngoài. Hình thức phổ biến của việc nhập từ ngữ mới là phiên âm, nghĩa là ghi đúng hoặc gần đúng âm của từ nước ngoài bằng các âm, vần của bản ngữ. Ngoài ra còn có cách chuyển tự từ tiếng nước ngoài này sang bản ngữ hoặc viết nguyên dạng chữ nước ngoài. Chúng ta sử dụng biện pháp vừa phiên âm vừa chuyển tự và gọi chung là phiên chuyển tiếng nước ngoài.

  1. Nguyên tắc chung: phiên chuyển tên riêng nước ngoài  bằng các âm, vần và chữ Việt dựa vào cách đọc trực tiếp của nguyên ngữ có thể biết được. Trường hợp chưa đọc được nguyên ngữ thì phiên chuyển gián tiếp qua ngôn ngữ khác.
 
    1.1. Đối với các ngôn ngữ có chữ viết dùng hệ thống chữ cái Latinh (Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia, vv.): phiên âm theo cách đọc trực tiếp các ngôn ngữ đó kèm theo chú thích nguyên dạng tên gốc đặt giữa hai ngoặc đơn (hoặc có bảng đối chiếu kèm theo sách).
Ví dụ: Camaguây (Tây Ban Nha: Camaguey), thành phố ở Cuba
Aizơnac (Đức: Eisenach), thành phố ở Đức.
Oelinhtơn (Anh: Wellington), thủ đô của Niu Zilân.
Vacsava (Ba Lan: Warszawa), thủ đô của Ba Lan.
Oasinhtơn (Anh: Washington), thủ đô của Hoa Kì.
Clintơn Jâuzip Đâyvixơn (Anh: Clinton Joseph Davisson), nhà vật lí học Hoa Kì.
 
    1.2. Đối với các ngôn ngữ không dùng hệ thống chữ cái Latinh như các ngôn ngữ Arập, Triều Tiên, Lào: nếu chưa phiên âm được theo cách đọc trực tiếp thì phiên âm qua ngôn ngữ trung gian (tuỳ theo ngôn ngữ đó sử dụng tiếng Anh, Pháp hay tiếng khác) kèm theo chú thích ngôn ngữ trung gian giữa hai ngoặc đơn, ví dụ Niu Đêli (Anh: New Delhi), thủ đô của ấn Độ; hoặc phiên qua dạng Latinh của ngôn ngữ đó (nếu có), ví dụ Maxcat (Masqat), thủ đô của Ôman (so sánh tiếng Pháp: Mascate).
 
    1.3. Đối với tiếng Nga: phiên âm trực tiếp từ tiếng Nga, không nhược hoá lược bỏ trọng âm. Ví dụ: Lômônôxôp M.V. (ломоносов M.B.) Tatiana (татяна)
 
    1.4. Đối với tiếng Hán: phiên âm theo âm Hán – Việt (có chú thích âm dạng Latinh của chữ Hán). Ví dụ: Đỗ Phủ (Du Fu), Bắc Kinh (Beijing).
Một số trường hợp không đọc theo âm Hán – Việt thì phiên theo âm dạng Latinh của tiếng Hán. Ví dụ: Alasan (Alashan), sa mạc ở phía Bắc Trung Quốc.
 
    1.5. Đối với tên riêng nước ngoài đã quen dùng (nhất là phiên theo âm Hán – Việt) thì giữ nguyên. Ví dụ: Pháp, Anh, Mĩ, Thuỵ Sĩ, Kim Nhật Thành.
Tuy nhiên nếu có những thay đổi mới về tên riêng theo hướng phiên âm gần với nguyên ngữ (hoặc nước đó đã thay đổi tên gọi) thì sẽ phiên âm tên riêng nước ngoài theo cách mới, có chú thích nguyên ngữ và tên gọi cũ đặt trong ngoặc đơn. Ví dụ: Ôxtrâylia (cũ: Úc); Italia (cũ: Ý); Myanma (cũ: Miến Điện); Đôn Kihôtê (cũ: Đông Kisôt).
 
2. Quy định cách viết tên riêng nước ngoài bằng chữ Việt như sau: viết liền các âm  tiết theo đơn vị từ, trừ một số trường hợp đặc biệt viết rời dùng dấu gạch nối giữa các âm tiết (ví dụ: Lu-i = Louis), không đánh dấu thanh điệu của tiếng Việt.
Ví dụ: Gôxen Xanvađo Alienđê (Tây Ban Nha: Gossen Salvador Allende); Hainơrich Bruyninh (Đức: Heinrich Bruning).
 
3. Bổ sung một số âm và tổ hợp phụ âm đầu từ, đầu âm tiết để phiên chuyển.
 
   3.1. Cấu tạo tổ hợp phụ âm đầu âm tiết gồm 2 phụ âm: br, khr, xc, đr, vv.
Ví dụ: Đruyông (Pháp: Druon);  Xcaclati (Italia: Scarlatti).
   
    3.2. Các phụ âm cuối vần, cuối từ vẫn giữ nguyên các phụ âm cuối tiếng Việt: n, m, p, l, c, ch, ng, nh, t.
Ví dụ: Mađrit (Tây Ban Nha: Madrid); Aptaliông (Pháp: Aftalion).
 
    3.3. Sử dụng bốn chữ cái F, J, W, Z (f, j, w, z) để:
– Viết các đơn vị đo lường, các kí hiệu quốc tế trong hoá học và khoa học tự nhiên, tên viết tắc các tổ chức quốc tế.
Ví dụ: W = Oat, J = Jun, Fe = Sắt, WTO = Tổ chức Thương mại Thế giới.
– Phiên âm tên riêng (tên người, tên địa lí) nước ngoài. Ví dụ: Frăngxoa Busê (Pháp: François Bouchet), Jêm Biucanơn (Anh: James Buchanan).
 
4. Các cặp chữ cái i và y; ph và f; j và gi đều được dùng để phiên âm căn cứ vào nguyên ngữ: nguyên ngữ dùng chữ cái nào thì chuyển sang tiếng Việt dùng chữ cái tương ứng.
 
5. Một số trường hợp thêm ơ, ví dụ: Marơ (Marr), Tơroa (Troie).
 
6. Tên người và tên địa lí của các dân tộc thiểu số Việt Nam viết theo tiếng Việt và ghi chú tên dân tộc trong ngoặc đơn như trong Từ điển bách khoa Việt Nam; ví dụ: Đắc Lắc (Đăk Lăk), Bắc Cạn (Bắc Kạn).
 
7. Thuật ngữ gốc tiếng nước ngoài cũng được phiên chuyển theo các nguyên tắc trên. Sử dụng thuật ngữ đã dùng thống nhất trong từng chuyên ngành và liên ngành. Thuật ngữ hoá học tạm thời dùng theo quy định do Ban biên soạn hoá học đề nghị. Ví dụ: dùng i thay cho y (oxi, hiđro) trừ các kí hiệu nguyên tố, các kí hiệu chỉ chức và gốc hoá học al, ol, yl (etanol, metyl); ví dụ: dùng ozơ trong hệ thống hiđrat cacbon (glucozơ), aza trong hệ thống các enzim (lipaza).
 
8. Tên thuốc không phiên âm sang tiếng Việt mà sử dụng nguyên dạng theo tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Biệt dược cũng được dùng theo nguyên dạng viết trên nhãn mác của loại thuốc đó./.Tin liên quan

http://longminh.vn/Quy%20t%E1%BA%AFc%20ch%C3%ADnh%20t%E1%BA%A3%20ti%E1%BA%BFng%20Vi%E1%BB%87t%20v%C3%A0%20phi%C3%AAn%20chuy%E1%BB%83n%20ti%E1%BA%BFng%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20ngo%C3%A0i%20c%E1%BB%A7a%20T%E1%BB%AB%20%C4%91i%E1%BB%83n%20B%C3%A1ch%20khoa%20Vi%E1%BB%87t%20Nam