Jour : 5 novembre 2020

NGUYỄN VIỆT ĐỨC : ÂM NHẠC DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI

Văn hóa nghệ thuật

ÂM NHẠC DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI

Chuyên mục chính: Tạp chí Chuyên mục: Văn hóa nghệ thuật Được đăng ngày 07-07-2011

1.Về bản sắc văn hoá dân tộc.

Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng, một cốt cách riêng được phản ánh thông qua những giá trị tinh thần và vật chất cụ thể, đó là bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc đó. 

Chúng ta đều biết, không ai có thể phủ nhận được giá trị lịch sử, giá trị nhân văn của nền âm nhạc dân tộc, bởi vì không có nó, dân tộc sẽ không thể vượt qua khỏi đêm trường nghìn năm Bắc thuộc, không thể vượt qua những khúc quanh cam go, khắc nghiệt của chiến tranh nối tiếp chiến tranh và lịch sử dựng nước và giữ nước của dòng dõi Lạc Hồng. Đó là các làn điệu hát ru, hát đồng dao, hát giao duyên, hát mừng nhà mới, mừng được mùa… của 54 dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S (Việt Nam). Đó là các giá trị quí hiếm của sân khấu Tuồng, Chèo, Cải Lương, Ca Huế, các lối hát Cửa đình, Hầu văn, Quan họ, các điệu Hò – Vè – Ví – Lý đặc sắc của mỗi vùng đất, đã tạo nên vẻ đẹp lấp lánh, hun đúc nên hồn thiêng dân tộc. Đó chính là ý chí Việt Nam, tâm hồn Việt Nam qua mọi thời đại, qua mọi thăng trầm mà vẫn giữ được cốt cách của chính dân tộc mình.

Nói như vậy để thấy rằng: Trong xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập và mở cửa hiện nay, một mặt chúng ta có điều kiện giới thiệu bản sắc văn hoá nghệ thuật Việt Nam với bạn bè thế giới, mặt khác, nhiều trào lưu tư tưởng nghệ thuật, nhiều dòng âm nhạc tràn vào nước ta bằng nhiều hình thức, dưới mọi góc độ, và nhìn chung, chất lượng audio – video đều tốt hơn chúng ta, giá thành lại hạ. Đây chính là một thách thức với âm nhạc dân tộc và những người làm công tác âm nhạc tâm huyết với di sản nghệ thuật của cha ông.

Vậy phải làm thế nào để gìn giữ vẻ đẹp của âm nhạc dân tộc trường tồn với thời gian, đồng thời, vẫn tiếp thu được những tinh hoa của âm nhạc thế giới để làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân. Tất cả đều phải xem xét trên góc độ hiện thực của đời sống hiện tại một cách chi tiết, cụ thể, ngõ hầu mới mong tìm được một lối đi khả dĩ để dư luận và công chúng chấp nhận được.

2. Về đối tượng thưởng thức.

Phải nói rằng, đa số thanh thiếu niên – lực lượng thưởng thức đông đảo của xã hội lại ít mặn mà với âm nhạc dân tộc, ngược lại, họ rất sành các bài hát tiếng Anh của trong các trào lưu âm nhạc Jazz – Rock – Pop đang thịnh hành hiện nay. Điều này cũng dễ hiểu, vì trong đời sống hiện đại, các giá trị truyền thống của « Văn hoá Làng » ngày một rơi rụng theo sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ. Như vậy, nếu nhìn nhận một cách phiến diện, người ta dễ lầm tưởng giá trị của đời sống hiện đại, tỷ lệ nghịch với các chuẩn mực văn hoá, đạo đức truyền thống dân tộc. Bởi vì ở nơi thành phố rất hiếm khi bắt gặp cảnh mẹ hát ru con, lại càng khó tìm hơn những trò chơi diễn xướng dân gian, mà ở đó, thanh niên nam nữ tìm hiểu nhau qua các làn điệu dân ca trữ tình, thâm thuý của cha ông để nên duyên chồng vợ… Thậm chí, các thiếu phụ ngày nay không biết hát ru (có người còn ru con bằng cassette), và như vậy, chính họ đã đánh mất đi phần tâm hồn thiêng liêng nhất trong thiên chức làm mẹ của mình.

Có phải vì âm nhạc dân tộc không hay, không hợp « gu » thời đại, không phù hợp với tâm sinh lý tuổi trẻ, khó phổ cập trong đời sống hiện đại? Hay vì thiếu một chính sách, một phương pháp khả thi? Là những người làm công tác âm nhạc, chúng ta có quyền tự hào về vốn liếng âm nhạc dân tộc mà cha ông chúng ta để lại. Vì ở đó có đầy đủ các chuẩn mực nghệ thuật làm cho người nghe rung động, đầy đủ các thể loại cho từng lứa tuổi cảm nhận, có tiếng nói riêng, đặc trưng riêng của ngôn ngữ âm nhạc dân tộc Việt Nam đối với thế giới. Và các dân tộc khác sẽ hiểu Việt Nam một phần qua âm nhạc dân tộc đầy bản sắc của chúng ta. Như vậy, âm nhạc là tiếng nói thiêng liêng của giống nòi Lạc Việt, là sự sinh tồn, hưng thịnh của ngày mai. Vậy mà sao thế hệ trẻ hôm nay lại ít thích, thậm chí có người còn không biết. Đây thực sự là hồi chuông cảnh báo cho tương lai của nền âm nhạc dân tộc chúng ta. Sở dĩ có thực trạng như vậy là vì sao?

– Thứ nhất: Chúng ta chưa nhất quán và triệt để trong các giáo trình và phương pháp giảng dạy âm nhạc ở các trường phổ thông, các trường đào tạo chuyên nghiệp; Số giờ cho âm nhạc truyền thống còn ít, số lượng bài bản âm nhạc dân tộc còn khập khiễng, chưa phù hợp.

  – Thứ hai: Trên các phương tiện thông tin đại chúng như phát thanh, truyền hình, báo viết… chúng ta truyền phát, đăng tải các bài hát mới, các ca khúc tiếng Anh yêu thích (điều này rất cần), nhưng lại thiếu chương trình dạy các bài bản dân ca hay và đặc sắc của Việt Nam, thiếu các chương trình truyền thông, diễn giải về vẻ đẹp của âm nhạc truyền thống trên các phương diện như cấu trúc hình thức, ca từ, hoà thanh, hoà tấu dàn nhạc, và các phương thức diễn trình ca nhạc dân gian…

– Thứ ba: Chúng ta chưa thường xuyên khuyến khích các hoạt động văn hoá ở làng, cùng các lễ hội, diễn xướng dân gian, là những nét đặc trưng văn hoá cội nguồn, mà nhờ đó, dân tộc chúng ta mới tồn tại và phát triển.

3.Về đối tượng gìn giữ – bảo tồn.

Có thể nói từ đề cương văn hoá văn nghệ năm 1943, Đảng ta đã rất chú trọng đến vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, đặc biệt là từ khi đất nước mở cửa trong chính sách đổi mới, các giá trị văn hoá dân tộc đặc biệt được chú trọng dưới góc độ xã hội hoá, trong đó có âm nhạc.

– Trên phạm vi rộng, âm nhạc dân tộc vẫn được lưu giữ và phát triển trong dân gian bằng các phương pháp truyền khẩu, truyền ngón, truyền nghề bởi các nghệ nhân.

– Trên phạm vi hẹp, âm nhạc dân tộc được bảo tồn do các nghệ sỹ, diễn viên chuyên nghiệp ở các đoàn ca múa nhạc dân tộc, các viện nghiên cứu, các khoa âm nhạc truyền thống ở các Nhạc viện… Tuy nhiên, công việc gìn giữ, bảo tồn âm nhạc dân tộc trong cơ chế thị trường hiện nay là cực kỳ khó khăn, đặc biệt trên nhiều phương diện như trình độ chuyên môn, sự tâm huyết, gắn bó với âm nhạc truyền thống và cuối cùng là vấn đề kinh phí! Mặt khác, âm nhạc dân tộc chúng ta luôn luôn có tính dị bản, do lưu truyền bằng phương thức truyền khẩu, truyền ngón, truyền nghề; bài bản, làn điệu lại mang tính khuyết danh, do hình thức sáng tạo dân gian tạo nên, không có tác giả, tác phẩm cụ thể. Mặt khác, lối ký tự âm nhạc dân tộc đến nay vẫn chưa thống nhất. Hơn nữa, chúng ta chưa khai thác hết khả năng của các nghệ nhân về các bài nhạc, bản đàn dân tộc, tuổi tác của các nghệ nhân nay đều đã quá cao. Các « kho tư liệu sống » đó, nếu chúng ta không khai thác nhanh, khai thác khéo, sẽ là một thiệt thòi lớn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Một thực trạng khác cũng không lấy gì làm phấn khởi, đó là các đoàn ca múa nhạc truyền thống, cũng như sân khấu Tuồng – Chèo – Cải Lương – Ca kịch hàng năm vẫn phải sống theo kinh phí bao cấp của các hội thi, hội diễn, còn doanh thu thì có mấy người xem? Trong khi đó, để tìm được một kịch bản hay, tìm được một diễn viên giỏi đâu có dễ dàng gì!.

4. Về đối tượng kế thừa – sáng tạo.

Đây chính là công việc của các nhạc sỹ sáng tác – lý luận và đào tạo, công bằng mà nói, trong những năm qua đã có nhiều nhạc sỹ thực sự tâm huyết, trăn trở với âm nhạc dân tộc. Trên lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc dân gian phải kể đến các nhạc sỹ: Tô Vũ, Lê Yên, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Thụy Loan, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Thị Nhung, Dương Viết Á… Trên lĩnh vực sáng tác dựa trên cơ sở khai thác chất liệu dân ca, dân vũ phải kể đến các nhạc sỹ: Nguyễn Cường, Ngô Quốc Tính, Đặng Hữu Phúc, Nguyễn Trọng Tạo,… Trên lĩnh vực đào tạo nhiều giáo sư – nhạc sỹ đã đóng góp công sức, tài năng, tâm huyết cho tiếng nói của âm nhạc dân tộc lắng đọng trong lớp lớp các thế hệ sinh viên. Và như tất cả chúng ta đều biết, mọi sự tồn tại đều có qui luật vận động riêng và đặc thù của nó. Đối với âm nhạc, một loại hình nghệ thuật trừu tượng nhưng hết sức cụ thể, nó luôn luôn gợi mở trí tưởng tượng phong phú của con người, vì bản chất của nghệ thuật âm nhạc là khi âm thanh vang lên đúng với cảm xúc và tâm thức dân tộc, phù hợp với tần số rung động (nhận thức cảm tình) của từng người, thì « cái hay » của âm nhạc đi thẳng vào trái tim con người mà không cần qua khâu trung gian xúc tác (tính đặc thù của âm nhạc), lúc này, đối tượng thưởng thức như đắm mình trong khoái cảm của nghệ thuật âm nhạc.

Chính vì vậy, thiên chức của những người kế thừa và sáng tạo âm nhạc dân tộc là hết sức nặng nề, vì không làm tốt với tinh thần dân tộc cao cả thì vốn liếng âm nhạc của cha ông sẽ mai một dần theo thời gian. Trên thực tế cũng còn khá nhiều chuyện đáng buồn, chẳng hạn như dùng nhạc cho phim truyện, phim truyền hình của chúng ta. Trớ trêu thay! Cảnh trong phim rõ ràng là cảnh làng quê Việt Nam, nhân vật trong phim là người Việt một trăm phần trăm, vậy mà âm nhạc vang lên lại không thấy âm nhạc dân tộc Việt Nam đâu cả. Hoặc một số nhạc sỹ sáng tác, một số nhà xuất bản băng đĩa nhạc chạy theo thị hiếu thời thượng, sản xuất nhiều bài hát nghe đến « chóng mặt », một bài cũng vậy, mười bài cũng thế, cứ na ná một « môđen », không thấy sự diệu kỳ của âm nhạc đâu cả, không có hình tượng và cái thần thái của tác phẩm âm nhạc.Và điều quan trọng là dường như họ đã quên đi rằng, mình đang đứng trên nền văn hoá âm nhạc nào?

5. Về đối tượng quản lý văn hoá.

Đây là một hoạt động mang nặng tính chất hành chính Nhà nước, và theo chúng tôi đây là yếu tố cực kỳ quan trọng cho việc giữ gìn, phát huy vốn liếng âm nhạc dân tộc trong đời sống hiện đại. Muốn vậy, những người làm công tác này, ngoài hiểu biết chuyên môn cao còn phải nhanh nhậy trong tổ chức điều hành, có những kiến nghị, giải pháp kịp thời, chính xác với các cấp lãnh đạo trong việc bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc ở nhiều cấp độ khác nhau. Mặt khác, quản lý văn hoá còn là chiếc cầu nối trong việc đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục âm nhạc, một nhu cầu cấp bách trước thềm thế kỷ 21. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta rất chú trọng việc chấn hưng nền văn hoá dân tộc, trong đó có nghệ thuật âm nhạc mà biểu hiện rõ nhất là các liên hoan Hát ru toàn quốc, hội thi Hát dân ca khu vực, hội diễn kịch hát dân tộc, hội thi hát đồng dao, liên hoan ca nhạc « Búp sen hồng »… Chính vì vậy, nhiệm vụ quản lý văn hoá là phải làm cho dòng chảy âm nhạc dân tộc đi đúng hướng theo tinh thần nghị quyết của Đảng về văn hoá văn nghệ trong thời kỳ đổi mới. Đó không những là chức năng, nhiệm vụ của những người làm công tác quản lý văn hoá mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, là ý thức của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc Việt Nam trong đời sống hiện đại.

NGUYỄN VIỆT ĐỨC[Trở về]

Tin mới

Các tin khác

VƯƠNG HÀ phỏng vấn Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Toàn : “Âm nhạc dân tộc học” góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận âm nhạc Việt Nam, (01.2018)

print

Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Toàn

“Âm nhạc dân tộc học” góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận âm nhạc Việt Nam

QĐND – Là một trong 8 tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất sắc năm 2017 vừa được Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao thưởng, Công trình nghiên cứu và đào tạo “Âm nhạc dân tộc học Việt Nam” được đánh giá gợi mở cho sự ra đời ngành đào tạo bậc đại học hoặc nâng cao đưa vào hệ thống giáo dục-đào tạo tại Việt Nam.

Phóng viên Báo Quân đội nhân dântrao đổi với PGS, TS Lê Văn Toàn, nguyên Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Chủ biên công trình nghiên cứu này.

Phóng viên (PV): Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học về âm nhạc dân tộc, Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, tác giả trong và ngoài nước quan tâm, công bố. Vậy công trình “Âm nhạc dân tộc học Việt Nam” ra đời có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?

PGS, TS Lê Văn Toàn: Việt Nam là quốc gia đa sắc tộc với nền văn hóa âm nhạc lâu đời, phong phú về thể loại, đa dạng và đậm bản sắc tộc người. Biết vậy và nói vậy, song cho đến nay, khi chúng ta đã bước sang thế kỷ 21 được gần 20 năm, nhưng nhìn lại các công trình nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam nói chung và công tác đào tạo đội ngũ các nhà nghiên cứu lĩnh vực này nói riêng, mới thấy còn nhiều khoảng trống. Nếu trong lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều thể loại âm nhạc chưa được đúc kết, nhiều dòng nhạc của các dân tộc thiểu số còn chưa khai phá, hoặc mới chỉ là được xới lên, thì trong lĩnh vực đào tạo còn khó khăn hơn nhiều. Bởi để đào tạo ra đội ngũ cán bộ nghiên cứu âm nhạc truyền thống cần phải có một ngành đào tạo riêng, tuân thủ theo những yêu cầu của đối tượng nghiên cứu thì hiện ở nước ta ngành đào tạo Âm nhạc dân tộc học (Dân tộc nhạc học) vẫn chưa có. Trong khi đó, ở thế giới, ngành đào tạo này đã hình thành và phát triển từ thế kỷ trước.

PGS, TS Lê Văn Toàn.

Đứng trước thực tế của đời sống, tính cấp thiết trong công tác nghiên cứu đào tạo Dân tộc nhạc học tại Việt Nam, tôi khi đó là Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam kiêm Viện trưởng Viện Âm nhạc đã cùng với các nhà nghiên cứu, như: GS, TSKH Tô Ngọc Thanh; PGS, TS Nguyễn Trọng Ánh; PGS, TS Bùi Huyền Nga; PGS, TS Nguyễn Bình Định và TS Đỗ Thị Thanh Nhàn dựa trên kho tàng lưu trữ âm nhạc đồ sộ của quốc gia tiến hành nghiên cứu. Cụ thể, có gần 30 nghìn bài dân ca, dân nhạc, hàng vạn giờ băng hình, băng tiếng tư liệu âm nhạc dân gian, hàng nghìn ảnh tư liệu chân dung nghệ nhân, nghệ sĩ của 54 dân tộc Việt Nam đã được các thế hệ cán bộ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu của Viện Âm nhạc sưu tầm, lưu giữ. Đặc biệt, trong đó là các loại hình âm nhạc dân tộc được UNESCO vinh danh, như: Ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử, dân ca ví, giặm, bài chòi… Việc triển khai công trình nghiên cứu này là cơ hội tốt để nhóm tác giả có điều kiện tập hợp, tổng hợp các tư liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đào tạo Âm nhạc dân tộc học tại Việt Nam trong thời gian tới.

Các nghệ nhân biểu diễn ca Huế – một trong những loại hình âm nhạc mang đậm bản sắc vùng, miền tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ảnh: CHÂU XUYÊN

PV: Thưa ông, mục tiêu của cuốn sách hướng đến là gì?

PGS, TS Lê Văn Toàn: Cuốn sách có 200 trang, không chỉ dừng lại ở vấn đề tổng kết, đánh giá tình hình nghiên cứu và giảng dạy môn Âm nhạc dân tộc Việt Nam trong thời gian qua, mà còn muốn tìm một giải pháp tốt cho việc nghiên cứu tất cả các thành tố văn hóa nghệ thuật hợp thành hình thức, sắc thái của văn hóa âm nhạc các dân tộc Việt Nam; trong đó có văn hóa âm nhạc mỗi vùng, miền, mỗi tộc người. Đặc biệt là hướng tới mở ngành đào tạo mới với tên gọi “Âm nhạc dân tộc học Việt Nam”. Đây sẽ là cơ sở tốt để từng bước tiến tới xây dựng, hoàn thiện hệ thống lý luận về chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học Việt Nam trong tương lai.

PV: Theo lộ trình, công trình nghiên cứu sẽ được triển khai vào thực tế giáo dục, đào tạo như thế nào, thưa ông?

PGS, TS Lê Văn Toàn: Nhiều năm qua, tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam vẫn có bộ môn Âm nhạc dân tộc trong khoa Âm nhạc học; nhiều cơ sở đào tạo nghệ thuật trong cả nước cũng có bộ môn này, nhưng chưa có mã ngành đào tạo khoa Âm nhạc dân tộc học. Cuốn sách là một luận cứ khoa học giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiên cứu để đưa ra những chỉ đạo kịp thời cho việc mở mã ngành đào tạo Âm nhạc dân tộc học, cũng như có những hỗ trợ kinh phí cho các công trình nghiên cứu nghiêm túc.

Do đó, chúng tôi xác định, sau công trình nghiên cứu sẽ tiếp tục tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu văn hóa, nhà khoa học lĩnh vực giáo dục, đào tạo để lấy ý kiến mở mã ngành đào tạo. Bởi để chuẩn bị cho sự ra đời một mã ngành đào tạo nghệ thuật chuyên sâu, cụ thể là Âm nhạc dân tộc học, cần hội đủ rất nhiều yếu tố cả về lịch sử, lễ hội, mỹ thuật, nguồn nhân lực…

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

VƯƠNG HÀ

http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/van-hoc-nghe-thuat/am-nhac-dan-toc-hoc-gop-phan-hoan-thien-he-thong-ly-luan-am-nhac-viet-nam-530345

PGS TS LÊ VĂN TOÀN

PGS TS NGUYỄN THỊ MỸ LIÊM , nhạc viện TP HCM

NHẠC VIỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chương trình biểu diễn

NGUYỄN THỊ MỸ LIÊM Học hàm/Học vị: Phó Giáo sư – Tiến sĩ
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

  • 1973 – 1982: Trung cấp Ngành Biểu diễn Đàn Tranh, Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn – nay là Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.
  • 1982 – 1987: Đại học ngành Biểu diễn Đàn Tranh Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.
  • 1990 – 1995: Đại học chuyên ngành Lý Luận âm nhạc Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.
  • 1995 – 1997: Cao học ngành Lý Luận âm nhạc Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.
  • 1997 – 2000: Cao học và lấy bằng Thạc sĩ ngành Âm nhạc học – chuyên ngành Âm nhạc dân tộc học tại Đại học Montreal – Canada.
  • 2002 – 2007: nghiên cứu sinh và lấy bằng Tiến sĩ tại Viện Văn hóa – nghệ thuật Việt Nam.

CÔNG TÁC:

  • 1987 – 1997: giảng dạy các môn Ký xướng âm, Dân ca Khoa Lý luận – Sáng tác – Chỉ huy Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh.
  • 2000 – nay: giảng dạy các môn: Ký Xướng Âm, Dân Ca, Âm nhạc Việt Nam, Âm Nhạc Học (Phương Pháp luận chuyên ngành Lý Luận), Lý luận Âm nhạc, Phương Pháp nghiên cứu Khoa học… tại Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh.
  • 2002 – nay: cộng tác với các báo chuyên ngành như Nghiên cứu Văn hóa Nghệ Thuật, Thông báo Khoa học của Viện Âm nhạc, báo Âm nhạc Việt Nam (Hội Nhạc sĩ Việt Nam), Sóng Nhạc (Hội Âm nhạc Tp. Hồ Chí Minh)…

CÁC CHỨC VỤ ĐẢM NHẬN:

  • 2002 – 2004: Phó trưởng Phòng Quản Lý khoa học và Sau Đại học Nhạc viện Tp.Hồ Chí Minh
  • 2004 – 2006: Trưởng Phòng Quản Lý khoa học và Sau Đại học Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh
  • 2006 đến nay: Phó giám đốc Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh
  • Ủy Viên BCH Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh (nhiệm kỳ 2010 – 2015)
  • Ủy Viên BCH Hội Nhạc Sĩ Việt Nam

THÀNH TỰU

  • Năm 2007, Giải hai, chuyên ngành Lý luận – Hội Nhạc sĩ Việt Nam “Những bài báo nghiên cứu – Lý Luận”
  • Năm 2008, Huy chương “Vì sự nghiệp Văn Hóa, Thể thao và Du Lịch”
  • Năm 2008, Giải ba chuyên ngành Lý luận – Hội Nhạc sĩ Việt Nam “Giáo trình Hát Dân Ca”.
  • Năm 2009, chủ nhiệm đề tài Công trình khoa học Cấp Bộ (đã được nghiệm thu) « ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN

ÂM NHẠC DÂN TỘC TẠI CÁC TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT ».

  • Năm 2012, được Hội đồng chức danh Giáo Sư Nhà nước công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Phó Giáo Sư nghệ thuật.
  • Năm 2012, Giải hai (không có giải nhất), chuyên ngành Lý luận – Hội Nhạc sĩ Việt Nam “ Góp phần nghiên cứu đờn ca Tài tử Nam bộ »

Địa chỉ: 112 Nguyễn Du st, Q.1, Tp.Hồ Chí

http://hcmcons.vn/lanh-dao-tien-nhiem/5