Mois : novembre 2020

JIMMY NHỰT HÀ:Vĩnh biệt Tiếng hát Mai Hương (1941-2020)

Vĩnh biệt Tiếng hát Mai Hương 😥

Xiết bao đau buồn báo tin đến quý khán thính giả và thân hữu khắp nơi:
Nữ danh ca Mai Hương đã được Chúa gọi về lúc 2 giờ 52 phút chiều hôm nay, ngày 29 tháng 11 năm 2020. Hưởng thọ 79 tuổi.

Từ đây « Tiếng Hát Quay Tơ » sẽ không còn dệt nên những sợi Tơ Vàng lấp lánh cho nền âm nhạc Việt Nam ,những sợi thương sợi nhớ về hình ảnh đất nước những ngày khói lửa chiến tranh, cũng như một quê hương xa ngàn dặm đã thuộc về quá khứ.

Jimmy xin thành tâm chia buồn cùng gia đình chú Duc Truong và các anh Tùng – TD Truong, anh Đức chị Mai Huynh, Mai Park
Nguyện cầu cô Mai Hương an nghỉ trong tình yêu Thiên Chúa

PHƯƠNG LAN : Hát xẩm – Hành trình đến di sản – Bài 1: Nghệ thuật của cội nguồn dân gian

Chủ Nhật, 29/12/2019 08:02 | 

Đời sống văn hoá

Cho đến nay, nhiều người vẫn cho rằng xẩm là lối hát của người khiếm thị, ăn xin. Trên thực tế, hát xẩm là thể loại âm nhạc dân gian với lối diễn xướng độc đáo, gắn bó với con người Việt Nam, đặc biệt là với cuộc sống dân dã, thị thành và kẻ chợ.

Diễn xướng dân gian độc đáo

Chú thích ảnh
Tiết mục « Giăng sáng vườn chè » do các nghệ sĩ Trung tâm Âm nhạc truyền thống Thăng Long (Hà Nội) biểu diễn. Ảnh: Minh Đức/TTXVN

Theo nhạc sỹ Thao Giang, Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam, từ khi ra đời đến khoảng nửa đầu thế kỷ 20, hát xẩm thường được gọi với những cái tên khác nhau như hát rong, hát dạo… Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu xẩm là lối hát của người khiếm thị, ăn xin nhưng đúng ra là người khiếm thị đã dùng nghệ thuật hát xẩm làm phương tiện kiếm sống.

Trên thực tế, hát xẩm là thể loại âm nhạc dân gian chuyên nghiệp, chỉ khác ở chỗ, sân khấu của họ chính là đường phố, là gốc đa, bến nước, sân đình… hoặc đơn giản chỉ là một góc chợ quê nghèo. Có thể nói, hát xẩm là món ăn tinh thần của quần chúng lao động. Trước đây hát xẩm gắn với hoạt động của nhân dân ta trong những vụ nông nhàn. Thường thì sau vụ mùa bội thu, những gánh hát xẩm thường được mời về hát tại tư gia của những gia đình giàu có quyền quý.

Hát xẩm là loại hình âm nhạc vô cùng đặc sắc bởi ở đó là cả một thế giới nội tâm, chứa đựng tâm tư, tình cảm của con người đối với quê hương, đất nước, ca ngợi công cha nghĩa mẹ, ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình anh em, bạn bè…

Các bài hát xẩm thường đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống. Đặc biệt, các nghệ nhân hát xẩm thường chọn thơ văn có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm để thể hiện trong các làn điệu xẩm. Thời phong kiến, hát xẩm là tiếng nói phản kháng lên án những bất công cường quyền, áp bức, bênh vực thân phận bất hạnh nghèo khổ bị chà đạp. Các nghệ nhân hát xẩm còn thường xuyên cập nhật những vấn đề mang tính thời sự, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của xã hội đương thời…

Bên cạnh giá trị nghệ thuật, hát xẩm còn là loại hình âm nhạc dân gian mang đậm tính nhân văn, thẩm mỹ và giáo dục về đạo đức, lối sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Với lối kể sâu sắc, khéo léo và hấp dẫn, hát xẩm là một loại hình âm nhạc có một lối diễn xướng dân gian độc đáo trong kho tàng âm nhạc cổ truyền của dân tộc ta. Không chỉ phục vụ cho đám đông ngoài xã hội, người nghệ sỹ xẩm còn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu như trong những dịp hội hè, cưới xin, ma chay, giỗ kỵ. Thậm chí, nhiều khi chỉ đơn giản là “nhờ bác xẩm đánh tiếng giùm” với cô nàng thôn nữ đang đứng bên đàng…

Có một điều đặc biệt là, dù nội dung là nói về tình yêu hay đề tài mang tính đấu tranh, dân vận… các bài xẩm đều được các nghệ nhân « kể » bằng âm nhạc một cách hóm hỉnh, dễ nghe, dễ nhớ. Là sản phẩm của người lao động nên tính chất âm nhạc, lời ca trong xẩm hết sức mộc mạc chân thành, song nó cũng chứa đựng những nội dung tư tưởng sâu sắc. Lời ca trong hát xẩm không chỉ phong phú về thể loại như ca dao, tục ngữ, thơ của các tác giả nổi tiếng, mà còn rất đa dạng về mặt nội dung. Những ca từ của xẩm hàm chứa những triết lý, những lời răn dạy đạo lý ở đời.

Thăng trầm hát xẩm

Chú thích ảnh
Tiết mục hát xẩm “Mục hạ vô nhân” của NSƯT Xuân Diệu – Thành Nam. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN

Nhạc sỹ Thao Giang cho biết, tham khảo từ các nguồn tài liệu nghiên cứu cho thấy, nghệ thuật hát xẩm xuất hiện từ sớm, có thể được hình thành khoảng thế kỷ thứ 14. Những nghệ nhân trong “làng xẩm” vẫn truyền tai nhau truyền thuyết về ông tổ nghề xẩm. Tương truyền, vua Trần có 2 hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực, hoàng tử Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt và bỏ giữa rừng sâu. Trong một lần ngủ mơ, Trần Quốc Đĩnh mơ thấy bụt dạy ông cách làm đàn từ vỏ quả khô và dây rừng. Tỉnh dậy, Trần Quốc Đĩnh mầy mò làm theo hướng dẫn và thật kỳ lạ, cây đàn vang lên những âm thanh tuyệt vời. Những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm đến và đưa ông về.

Thời điểm lưu lạc ở dân gian, Trần Quốc Đĩnh đã dạy đàn cho người nghèo, người khiếm thị, giúp họ có được niềm vui và cách kiếm sống. Tiếng đồn về tài năng âm nhạc của ông lan đến tận hoàng cung. Nhà vua cho vời ông vào cung hát và cha con nhận ra nhau. Tuy đã trở lại cuộc sống cung đình, nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục dạy mọi người đàn hát kiếm sống. Sau này, hoàng tử Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ của nghề hát xẩm. Hàng năm, để ghi nhớ công ơn của ông, những người hành nghề hát xẩm đã lấy ngày 22/2 và 22/8 âm lịch là ngày giỗ tổ nghề hát xẩm.

Trong các loại nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam, có lẽ chỉ duy nhất hát xẩm được gọi với tư cách là một nghề để kiếm sống. Trong quá trình phổ biến lối hát xẩm, có người mù hoặc nghèo khổ nhưng rất có năng khiếu về âm nhạc đã vận dụng hát xẩm làm phương tiện kiếm sống, điều này vô hình chung đã đưa hát xẩm trở thành « đặc sản » của những người ăn xin, trở thành một nghề để kiếm sống của những người nghèo nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 là thời gian thịnh đạt nhất của hát xẩm. Lượng người hát xẩm đông nhất là thời kỳ Pháp thuộc và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Tới giữa thế kỷ 20, nghề hát xẩm vẫn còn với các tên tuổi nghệ nhân tài ba, như: Nguyễn Văn Nguyên – tức cụ Trùm Nguyên, Vũ Đức Sắc (Hà Nội); Thân Đức Chinh (Bắc Giang); Nguyễn Phong Sắc (Hải Dương), cụ Trùm Khoản (Sơn Tây), cụ Chánh Trương Mậu (Ninh Bình); cụ Đào Thị Mận (Hưng Yên); cụ Trần Thị Nhớn (Nam Định); Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn Khôi (Hà Đông)… và nhiều nghệ nhân khuyết danh khác.

Từ thập niên 60 trở lại đây, do nhiều nguyên nhân khác, đặc biệt là do quan niệm sai lầm nên nhiều người hát xẩm, các phường xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa. Các nghệ nhân xẩm tài danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo các giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành. Đời sống xã hội của nghệ sỹ xẩm không còn, nghệ thuật hát xẩm đã bị lãng quên, tưởng như đã thất truyền.

Bài 2: Những giá trị độc đáo về văn hóa – xã hộiPhương Lan (TTXVN) Hát xẩm – Hành trình đến di sản – Bài cuối: Tìm chỗ đứng cho nghệ thuật hát xẩm

Nghệ thuật hát xẩm đã lan tỏa và có một chỗ đứng trong làng âm nhạc dân tộc, tuy nhiên loại hình nghệ thuật độc đáo này vẫn đang đối mặt với những khó khăn, cần được sự quan tâm của các cơ quan quản lý văn hóa.

https://baotintuc.vn/doi-song-van-hoa/hat-xam-hanh-trinh-den-di-san-bai-1-nghe-thuat-cua-coi-nguon-dan-gian-20191228075639147.htm

PHƯƠNG LAN : Hát xẩm – hành trình đến di sản – Bài 2: Những giá trị độc đáo về văn hóa – xã hội

Chủ Nhật, 29/12/2019 09:07 | 

Đời sống văn hoá

Nghệ thuật hát xẩm chứa đựng những giá trị độc đáo về văn hóa. Dù tính chất âm nhạc, lời ca hết sức mộc mạc chân thành, nhưng các bài xẩm đều có nội dung tư tưởng sâu sắc, hàm chứa các triết lý, lời răn dạy đạo lý ở đời.

Phong phú các làn điệu xẩm

Chú thích ảnh
Tiết mục « Ninh Bình đẹp lắm mình ơi » do các nghệ sĩ CLB Xẩm Yên Phong 2 (Ninh Bình) biểu diễn. Ảnh: Minh Đức/TTXVN

Nhạc sỹ Thao Giang, Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam cho biết: Theo tài liệu của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Việt Ngữ công bố năm 1964, hát xẩm có 8 làn điệu chính: Xẩm chợ, xẩm xoan (Chênh bong), huê tình (riềm huê), Xẩm nhà trò (ba bậc), nữ oán (Phồn huê), hò bốn mùa, hát ai, thập ân.

Tuy nhiên, dân gian cũng thường gọi tên các loại xẩm theo một số tiêu thức khác, đó là gọi theo tên bài xẩm nổi tiếng như “xẩm anh Khóa” (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khóa xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải), hoặc theo mục đích, nội dung bài xẩm như “Xẩm dân vận” là những bài xẩm được sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng. Một số nơi gọi xẩm theo môi trường biểu diễn như “xẩm chợ” và “xẩm cô đầu” (hay còn gọi là xẩm nhà tơ, xẩm ba bậc, xẩm nhà trò, xẩm huê tình)…

Riêng tại Hà Nội, còn có một dòng xẩm rất đặc trưng, khác hẳn các địa phương khác, đó là xẩm tàu điện, vì nó thường được hát trên tàu điện. Khi xưa, các nghệ nhân xẩm từ chốn thôn quê ra Hà Nội biểu diễn, để làm vừa lòng nhu cầu thẩm mỹ của người dân chốn đô thị, vốn am hiểu và có trình độ trong việc thưởng thức văn hóa, các gánh xẩm đã khéo léo lồng những bài thơ của các thi sỹ như “Anh khóa”, “Cô hàng nước” (của Á nam Trần Tuấn Khải), “Giăng sáng vườn chè”, “Em đi tỉnh về” của Nguyễn Bính… vào các điệu xẩm, đưa xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố vô cùng độc đáo, góp phần tạo nên nét đặc sắc riêng văn hóa phố phường của Thăng Long – Hà Nội.

Trong hệ thống làn điệu của xẩm, có những làn điệu hấp dẫn, đặc sắc đến mức các bộ môn nghệ thuật khác như chèo, quan họ và thậm chí ca trù đều phải “vay mượn”, như các điệu xẩm huê tình, xẩm chợ, xẩm xoan… Bài xẩm huê tình khi được các đào nương, kép đàn ca trù du nhập vào trong hình thức ca quán, thường gọi là điệu xẩm cô đầu (hay xẩm nhà trò). Nói vậy để thấy các nghệ sỹ giáo phường ca trù rất tôn trọng nghệ thuật xẩm, họ vẫn giữ chữ “xẩm” ở làn điệu này nhằm chỉ rõ gốc gác của làn điệu.

So với các loại hình nghệ thuật dân gian khác, hát xẩm có một chức năng vô cùng độc đáo – đó là một kênh truyền thông bằng âm nhạc rất hữu hiệu. Theo nhạc sỹ Nguyễn Quang Long, ngay từ khi ra đời, xẩm luôn là một “kênh” thông tin thời sự bằng âm nhạc, được dùng để truyền tải tình yêu quê hương, đất nước, truyền tải những thông điệp mang tính thời sự của xã hội. Điều này đã được minh chứng một cách rõ nét qua những bài xẩm của các nghệ nhân từ xưa đến nay.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, xẩm địch vận đã xuất hiện và phát huy vai trò tích cực của mình. Để động viên tinh thần đấu tranh anh dũng của các chiến sĩ trong trận tuyến quyết giữ mạch máu lưu thông cầu Hàm Rồng, nghệ nhân xẩm Minh Sen (Thanh Hóa) đã ôm cây đàn nhị đi khắp mọi nơi trên mặt trận để mang những lời ca hóm hỉnh, mang lại tiếng cười sảng khoái cho các chiến sĩ.

Rồi nghệ nhân xẩm đất Ninh Bình là bà Hà Thị Cầu, người được mệnh danh là “người đàn bà hát xẩm” cuối cùng của thế kỷ 20, tuy không hề biết đến mặt chữ, nhưng cách đây hơn nửa thế kỷ đã sáng tác ra bài xẩm “Theo Đảng trọn đời” theo điệu thập ân với những câu thơ: “Vững tâm theo Đảng nghe con/ Đạp bằng sóng gió sắt son lời thề”. Hay nghệ nhân Vũ Ðức Sắc với bài “Tiễu trừ giặc dốt” hưởng ứng phong trào Bình dân học vụ do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động…

Nói về giá trị của nghệ thuật hát xẩm, nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan đánh giá: Nghệ thuật hát xẩm đã sáng tạo cho âm nhạc Việt Nam một hình thức âm nhạc gọi là “âm nhạc xẩm” với cả một hệ thống các làn điệu khác nhau. Mỗi làn điệu ấy biểu hiện một khía cạnh tình cảm, với cách thưởng thức riêng phù hợp với từng đối tượng khán giả. Tùy theo không gian biểu diễn và đối tượng thưởng thức mà người hát xẩm trình bày những làn điệu riêng.

Không những thế, xẩm là môn nghệ thuật đặc biệt mà người hát xẩm vừa có khả năng chơi nhạc cụ vừa hát. Các nghệ sỹ xẩm rất giỏi trong việc kể chuyện bằng âm nhạc, thông qua mọt bài hát, một trích đoạn xẩm, các nghệ nhân có thể phản ánh đời sống hay các hiện tượng xã hội một cách nhanh nhất. “Tôi cho rằng, xẩm cần được nhìn nhận là một môn nghệ thuật dân gian có giá trị văn hóa nghệ thuật cao”, nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.

Gian nan hành trình gìn giữ, bảo tồn

Chú thích ảnh
Lớp truyền dạy nhạc cụ hát xẩm tại huyện Yên Mô (Ninh Bình). Ảnh: Hải Yến/TTXVN

Nhận thấy được thấy giá trị văn hóa độc đáo cũng như tầm quan trọng của nghệ thuật hát xẩm đối với đời sống văn hoá của người dân Việt, khoảng những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nghệ sỹ tâm huyết đã tìm cách khôi phục lại nghề hát xẩm, nhưng không thành công.

Cho đến năm 2005, nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam gồm Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Minh Khang (nguyên chủ nhiệm Khoa Lý luận – Sáng tác – Chỉ huy), nhạc sỹ Thao Giang, nhạc sỹ Hạnh Nhân, Nghệ sỹ nhân dân Xuân Hoạch, Nghệ sỹ nhân dân Thanh Ngoan, Nghệ sỹ ưu tú Văn Ty, nhạc sỹ Nguyễn Quang Long, nghệ sỹ ưu tú Mai Tuyết Hoa… quyết tâm phục hồi nghệ thuật hát xẩm.

Các nghệ sỹ trong nhóm nghiên cứu vừa tìm kiếm ở nhiều nguồn tư liệu khác nhau, không quản ngại khó khăn, lần tìm đến các nghệ nhân hát xẩm còn sót lại để tìm hiểu, nghiên cứu và ghi nhớ và học lại những điệu hát xẩm, bài xẩm rồi từng bước khôi phục nghệ thuật hát xẩm, đưa loại hình nghệ thuật này trở lại với công chúng. Và thế là, những điệu xẩm chợ, xẩm chênh bong, xẩm riềm huê, xẩm tàu điện, xẩm ba bậc, xẩm thập ân… dần được phục hồi.

Không chỉ nghiên cứu, phục hồi các điệu xẩm, nhóm nghiên cứu còn từng bước đưa nghệ thuật hát xẩm trở lại với công chúng bằng việc cho ra đời của album “Xẩm Hà Nội” cùng một “chiếu xẩm” dân gian mang tên “Hà Nội 36 phố phường” tại chợ đêm Hàng Đào – Đồng Xuân. Từ đó đến nay đã gần 15 năm, chiếu xẩm Đồng Xuân đã thu hút đông đảo người dân thủ đô cũng như du khách trong và ngoài nước, trở thành một điểm đến văn hóa đặc sắc của chợ đêm Hàng Đào – Đồng Xuân vào mỗi tối thứ 7 hàng tuần.

Cùng với việc biểu diễn hàng tuần tại phố cổ Hà Nội, trong một thời dài, Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam còn tổ chức dạy hát xẩm miễn phí cho những người muốn học, với mong muốn nghệ thuật hát xẩm ngày càng được nhiều người biết đến, đặc biệt là các bạn trẻ. Trong nỗ lực đưa hát xẩm trở lại với cộng đồng, năm 2008, Trung tâm phát triển âm nhạc Việt Nam còn tổ chức phục dựng lại lễ Giỗ Tổ nghề hát xẩm truyền thống sau 50 năm gián đoạn.

Sau này, nhóm các nghệ sỹ trẻ gồm Nghệ sỹ Mai Tuyết Hoa (truyền nhân của nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu), nhạc sỹ Nguyễn Quang Long cùng một số người yêu xẩm thành lập nhóm Xẩm Hà Thành (thuộc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc). Các nghệ sỹ vừa  nghiên cứu, bảo tồn nghệ thuật hát xẩm, vừa quảng bá đưa nghệ thuật hát xẩm đến đông đảo công chúng trong và ngoài nước.

3 năm trở lại đây, các nghệ sỹ nhóm Xẩm Hà Thành đều đặn tổ chức các chương trình nghệ thuật tại khu vực đền Vua Lê, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội vào các tối thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật hàng tuần. Chương trình dành phần lớn thời lượng giới thiệu và biểu diễn nghệ thuật hát xẩm cùng một số loại hình nghệ thuật dân gian phục vụ du khách trong và ngoài nước.

Trải qua hành trình gần 15 năm nỗ lực bảo tồn, gìn giữ và phát triển, đến nay, nghệ thuật hát xẩm đã có một chỗ đứng trong gia đình âm nhạc cổ truyền dân tộc.

Bài cuối: Tìm chỗ đứng cho nghệ thuật hát xẩmPhương Lan (TTXVN) Hát xẩm – Hành trình đến di sản – Bài 1: Nghệ thuật của cội nguồn dân gian

Cho đến nay, nhiều người vẫn cho rằng xẩm là lối hát của người khiếm thị, ăn xin. Trên thực tế, hát xẩm là thể loại âm nhạc dân gian với lối diễn xướng độc đáo, gắn bó với con người Việt Nam, đặc biệt là với cuộc sống dân dã, thị thành và kẻ chợ.

https://baotintuc.vn/doi-song-van-hoa/hat-xam-hanh-trinh-den-di-san-bai-2-nhung-gia-tri-doc-dao-ve-van-hoa-xa-hoi-20191228131632055.htm

PHƯƠNG LAN : Hát xẩm – Hành trình đến di sản – Bài cuối: Tìm chỗ đứng cho nghệ thuật hát xẩm

Hát xẩm – Hành trình đến di sản – Bài cuối: Tìm chỗ đứng cho nghệ thuật hát xẩm

Chủ Nhật, 29/12/2019 10:03 | 

Đời sống văn hoá

Nghệ thuật hát xẩm đã lan tỏa và có một chỗ đứng trong làng âm nhạc dân tộc, tuy nhiên loại hình nghệ thuật độc đáo này vẫn đang đối mặt với những khó khăn, cần được sự quan tâm của các cơ quan quản lý văn hóa.

Chú thích ảnh
Biểu diễn hát xẩm trong một phiên chợ Xuân. Ảnh: Bá Linh 

Lan tỏa nghệ thuật hát xẩm

Theo nhạc sỹ Thao Giang, Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam, từ năm 2005 đến nay, 15 năm nghệ thuật hát xẩm trở lại với công chúng, đến nay, nghệ thuật hát xẩm đã có một chỗ đứng trong làng âm nhạc dân tộc Việt. Điều chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhất là hát xẩm đã tự thân lan tỏa và hiện diện ở nhiều môi trường, không gian khác nhau. Hát xẩm xuất hiện trong các chương trình biểu diễn văn hóa nghệ thuật lớn, tại các sân chơi âm nhạc, trong phim, trên sân khấu kịch… xẩm đã đi vào trong đời sống văn hóa. Các câu lạc bộ hát xẩm ngày càng nhiều lên. Từ một câu lạc bộ năm 2005, đến nay cả nước đã có trên 20 câu lạc bộ hát xẩm trải dài từ  Bắc vào Nam. . Một số địa phương có câu lạc bộ hát xẩm hoạt động hiệu quả như ở Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Quảng Ninh, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thành phố Hồ Chí Minh…

Không những thế, hát xẩm còn trở thành “sứ giả văn hóa” được các nghệ sỹ mang ra nước ngoài biểu diễn. Các nghệ sỹ đã mang xẩm đi giới thiệu và biểu diễn ở nhiều nước như Nhật Bản, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc… và nhận được sự đón nhận nhiệt tình của khán giả. Có cộng đồng người Việt ở nước ngoài vì mê xẩm nên cũng đã thành lập câu lạc bộ hát xẩm. Có những sinh viên nước ngoài còn xin học bổng để sang Việt Nam học hát xẩm…

Thành quả của việc nỗ lực bảo tồn và lan tỏa nghệ thuật hát xẩm là Liên hoan các câu lạc bộ hát xẩm được tổ chức vào tháng 12/2019 vừa qua tại Ninh Bình, do Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình phối hợp với Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc đã tổ chức. Đây là hoạt động mang tính “chính danh” đầu tiên cho nghệ thuật hát xẩm sau 15 năm các nhà nghiên cứu, các nghệ sỹ, nghệ nhân nỗ lực bảo tồn, gìn giữ và đưa hát xẩm trở lại với công chúng.

Nghệ sỹ ưu tú Mai Tuyết Hoa cho biết, lần tổ chức Liên hoan đầu tiên này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng về giá trị của nghệ thuật hát xẩm, về việc khôi phục, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nói chung, nghệ thuật hát xẩm nói riêng. Với gần 20 câu lạc bộ hát xẩm tham gia Liên hoan vừa qua đã cho thấy, dù chưa được quan tâm, nhưng nhờ tình yêu với nghệ thuật hát xẩm, nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ của các nghệ sỹ, nghệ nhân mà nghệ thuật hát xẩm đang dần trở lại với công chúng.

Từ Liên hoan đầu tiên cho thấy, các nghệ sỹ, nghệ nhân hát xẩm đã có những sáng tạo linh hoạt, để nghệ thuật hát xẩm tốt hơn, đẹp hơn gần gũi hơn với công chúng. Liên hoan cũng là dịp để các nghệ nhân, nghệ sỹ, nhóm nghệ sỹ hát xẩm trên cả nước có cơ hội gặp gỡ, giao lưu và học hỏi nhằm nâng cao chuyên môn về nghệ thuật hát xẩm, là cơ hội để nhiều bạn trẻ tiếp cận với văn hoá truyền thống.

Nhạc sỹ Thao Giang, Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam chia sẻ,  điều đáng mừng nhất là trong Liên hoan vừa rồi, là có tới 80% các các câu lạc bộ trẻ, phần lớn là thanh thiếu niên. Trong đó, nghệ nhân trẻ tuổi nhất mới có 4 tuổi đã đi hát xẩm. “Sự xuất hiện của các câu lạc bộ trẻ đã cho thấy sức sống của xẩm đang trỗi dậy”. nhạc sỹ Thao Giang nói.

Những tín hiệu vui

Chú thích ảnh
Một tiết mục xuất sắc tại đêm khai mạc Liên hoan các câu lạc bộ hát xẩm các tỉnh khu vực phía Bắc. Ảnh: Đức Phương/TTXVN

Nhà nghiên cứu âm nhạc, nhạc sỹ Nguyễn Quang Long cho biết, anh đã tham gia rất nhiều hoạt động, ở nhiều góc độ khác nhau: Từ đi điền dã đến nghiên cứu, sưu tầm, sáng tác, thông tin báo chí, biên tập, tổ chức biểu diễn… với mục tiêu lớn nhất là xẩm có vị trí xứng đáng như nó đã có được trong đời sống tinh thần của người dân cả nước. Bây giờ, ít nhất xẩm cũng đã được nhận diện trong gia đình âm nhạc cổ truyền dân tộc, tương đương như quan họ, chèo, hát xoan, hát ghẹo…

Không chỉ bảo tồn, gìn giữ nghệ thuật hát xẩm, một số nhạc sỹ nhạc sỹ, nghệ sỹ còn cho ra đời những sáng tác mới, mang hơi thở thời đại để nghệ thuật hát xẩm tiếp tục “sống” trong lòng khán giả. Có thể kể đến một số những bài xẩm được các nghệ sỹ thuộc nhóm xẩm Hà Thành viết lời mới như bài xẩm “Tiễu trừ cướp biển” thể hiện tiếng nói mạnh mẽ về bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Bài xẩm « Rượu bia tối kỵ lái xe » và « Dặn chồng chớ uống rượu bia » góp phần nâng cao ý thức của người dân khi tham gia giao thông.  

Một số bài xẩm được sáng tác ca ngợi những nét văn hóa như bài xẩm “Trà đá”, xẩm “Bốn mùa hoa Hà Nội” ca ngợi nét đẹp truyền thống đan xen với hiện đại của Hà Nội. Rồi xẩm “Tứ vị Hà thành” nói lên 4 món ăn vừa đặc trưng mà sang trọng của Hà Nội là phở, bún đậu mắm tôm, bún chả, bánh tôm Hồ Tây.

Trung tuần tháng 12 vừa qua, nhạc sỹ Nguyễn Quang Long chính thức ra mắt  album xẩm « Trách ông Nguyệt Lão ». Album gồm 9 bài xẩm, là những sáng tác chọn lọc của nhạc Nguyễn Quang Long trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019. Trong đó, có 3 bài được khai thác từ hai thi sĩ thuộc hai thế hệ mà anh cảm thấy đồng điệu về tâm hồn, đó là Nguyễn Bính và Hồng Thanh Quang để lồng điệu xẩm trở thành những bài hoàn chỉnh là « Chân quê » (Nguyễn Bính), « Thôi em cứ việc lấy chồng » và « Nghĩ kỹ mà xem » (Hồng Thanh Quang). 6 bài còn lại trong album do Nguyễn Quang Long sang tác gồm: « Trách ông Nguyệt Lão », « Dặn con », « Bốn mùa hoa Hà Nội », « Duyên phận tơ vòng », « Xẩm phố thu », « Ơ này, em gì đấy ơi »… Album xẩm vừa ra mắt đã nhận được sự yêu mến, cổ vũ nhiệt tình của khán giả cho thấy, hát xẩm đang ngày càng đến gần hơn với công chúng.

Mặc dù xẩm đã từng bước đi vào lòng công chúng, nhưng các nghệ sỹ, những người yêu xẩm vẫn không khỏi chạnh lòng, bởi nhiều năm qua, nghệ thuật hát xẩm hầu như chưa nhận được sự quan tâm của ngành văn hóa.

Nghệ sỹ ưu tú Mai Tuyết Hoa chia sẻ, sau 15 năm gắn bó với nghệ thuật hát xẩm, chị thấy buồn bởi những người yêu nghệ thuật hát xẩm vẫn đang “tay không bắt giặc”. Nghĩa là các nghệ sỹ chuyên hay không chuyên đến với xẩm, gìn giữ nghệ thuật hát xẩm bằng chính tình yêu của mình với loại hình nghệ thuật này, chứ chưa hề nhận được sự quan tâm, đầu tư của cơ quan quản lý văn hóa từ trung ương đến địa phương.

Nhạc sỹ Thao Giang, Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam thừa nhận, đến nay, hát xẩm vẫn đang bị coi nhẹ, chưa được quan tâm đúng mức so với các loại hình nghệ thuật dân gian khác cũng như chưa tương xứng với giá trị quý báu của di sản.

Nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan cũng cho rằng, hiện nay xẩm rất thiệt thòi vì chưa được quan tâm nhiều, trong khi nghệ thuật này có sức lan tỏa khá mạnh mẽ, ấy là dễ đi vào lòng người, dễ tiếp nhận và có khả năng phản ánh đời sống xã hội một cách nhanh nhạy, kịp thời. Vì thế, các nhà quản lý văn hóa cần nhìn nhận xẩm là loại hình nghệ thuật dân gian có giá trị văn hóa nghệ thuật cao, cần có sự hỗ trợ để các nghệ sỹ làm tốt hơn, đào tạo thêm nhiều người hát xẩm chuyên và không chuyên.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao tỉnh Ninh Bình (tỉnh Ninh Bình) đang có kế hoạch phối hợp cùng các tỉnh khu vực phía Bắc lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ công nhận hát xẩm là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Đây là mong muốn của đông đảo các nghệ sỹ, nghệ nhân hát xẩm cũng như những người yêu xẩm.

Hy vọng, trong một ngày không xa, nghệ thuật hát xẩm sẽ được ghi nhận một cách đúng đắn, có vị trí xứng đáng trong công chúng trong nước và bạn bè quốc tế.Phương Lan (TTXVN) Hát xẩm – hành trình đến di sản – Bài 2: Những giá trị độc đáo về văn hóa – xã hội

Nghệ thuật hát xẩm chứa đựng những giá trị độc đáo về văn hóa. Dù tính chất âm nhạc, lời ca hết sức mộc mạc chân thành, nhưng các bài xẩm đều có nội dung tư tưởng sâu sắc, hàm chứa các triết lý, lời răn dạy đạo lý ở đời.

https://baotintuc.vn/doi-song-van-hoa/hat-xam-hanh-trinh-den-di-san-bai-cuoi-tim-cho-dung-cho-nghe-thuat-hat-xam-20191229074939347.htm

Lê Quang Thanh Tâm: Tác phẩm Lục Vân Tiên trong nghệ thuật Việt Nam

Tác phẩm Lục Vân Tiên trong nghệ thuật Việt Nam

06:17:37 09/07/2019

Tác phẩm Lục Vân Tiên của Cụ Đồ Chiểu là một trong những tác phẩm lớn của nền Văn học nước nhà. Vậy chúng ta hãy xem qua có bao nhiêu vở diễn sân khấu và điện ảnh đã từng được thực hiện theo tác phẩm này nhé!

Cải lương ngay từ những năm thập niên 1920 – 1930 đã từng dựa theo danh phẩm “Lục Vân Tiên” của đại thi hào Nguyễn Ðình Chiểu, soạn thành vở diễn hát trên sân khấu và rất được khán giả hoan nghênh.

Ðến thập niên 1940, soạn giả Mộng Vân có sáng kiến lồng thêm vài câu “Thơ Vân Tiên” vào tuồng hát cho thi vị.

Giai đoạn những năm 1960 – 1970,  sân khấu và băng đĩa tại Sài Gòn cũng có diễn tích truyện Lục Vân Tiên, nhưng không mấy thành công, nếu so với những tuồng tích tạo tiếng vang khác của nền nghệ thuật cải lương miền nam.

Ở miền bắc, Đoàn cải lương Nam bộ cũng từng dựng vở diễn này của soạn giả Ngọc Cung và cũng rất thành công với tài danh Ái Liên, Công Thành, Ngọc Thanh, Văn Kiểng, Tấn Nghĩa, Thanh Xuân,… Trình chơi Video00:0001:16

Sau ngày nước nhà thống nhất, đầu thập niên 1980 nhà hát Trần Hữu Trang cũng đã rất thành công với hàng trăm xuất diễn kéo dài liên tục của nàng Kiều Nguyệt Nga – Bạch Tuyết và chàng Lục Vân Tiên – Thanh Sang. Hai vai diễn của họ vẫn sáng ngời và được yêu thích cho đến tận hôm nay. Ngoài Bạch Tuyết và Thanh Sang, các vai diễn Kiều Nguyệt Nga và Lục Văn Tiên còn ghi đậm tài năng của các nghệ sĩ khác như Phượng Liên, Mộng Tuyền, Bạch Lê, Thanh Thanh Tâm, Minh Thiện, Huỳnh Thái Dũng, Ngọc Giàu,…

Mộng Tuyền trong vai Kiều Nguyệt Nga

Có thể nói cải lương đã có những kết quả thành công nhất định khi “đụng” vào danh tác này. Thế còn trong lĩnh vực điện ảnh thì sao?

Khoảng năm 1957 có một cái tên lạ hoắc với lĩnh vực điện ảnh lại nhảy ra thực hiện cuốn phim mầu và tự đóng vai chính luôn. Đó là nhà tư sản kiêm tài tử Tống Ngọc Hạp, ông đã lấy truyện Lục Vân Tiên để dựng phim, và nữ tài tử đóng vai Kiều Nguyệt Nga chính là hoa hậu kiêm nhà báo Thu Trang.

Lúc bấy giờ cả ngàn tiệm cà phê, tiệm ăn trong các ngõ hẻm đâu đâu cũng thấy hình ảnh quảng cáo Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

Tuy là phim mầu đầu tiên của Việt Nam, đi dự nhiều liên hoan phim tại Hồng Kông, Nhật Bản,Tây Đức,… nhưng thật sự mà nói ngay tại quê nhà, phim không thành công.

Nhưng dù gì đi nữa thì cuốn phim Lục Vân Tiên cũng đi vào lịch sử là bộ phim mầu đầu tiên của nền điện ảnh nước nhà, đồng thời Tống Ngọc Hạp và Thu Trang cũng là nam nữ tài tử Việt Nam đầu tiên đóng phim mầu.

Sau ngày miền Nam giải phóng, nguyên vở cải lương “Kiều Nguyệt Nga” do Bạch Tuyết diễn xuất cho sân khấu Trần Hữu Trang được Hãng phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh quay hình bằng phim nhựa mầu 35 ly và trình chiếu liên tục ở màn ảnh rộng, doanh thu thật đáng kể, gọi là phim cũng được nhưng đó thật sự là điện ảnh hóa sân khấu thì đúng hơn.

Sang đến thập niên 1990, Xí nghiệp phim Thành Phố hợp tác với tư nhân sản xuất bộ phim truyện nhựa mầu Kiều Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên, phim do Khương Mễ đạo diễn, hai vai diễn chính do Lý Hùng và Diễm Hương diễn xuất. Ngoài ra còn có sự tham gia của Lê Tuấn Anh, Nguyễn Huỳnh, Mộng Vân, Công Hậu,…Phim dài 2 tập và nếu chỉ nhìn vào doanh thu ta thấy rất khả quan. Bộ phim này cũng giới thiệu một Mộng Vân ấn tượng trong làng diễn xuất khi cô chỉ vụt thoáng qua trong vai diễn Phật Bà Quan Âm.

58419160_10215314162515048_39451310428258304_n
58419633_10215314117713928_1446461478243663872_n
58441471_10215314115753879_7601187988944453632_n
58383571_10215314127274167_5868702781371580416_n

Vào đầu thế kỷ 21 thì hãng phim truyền hình TFS sản xuất bộ phim truyền hình nhiều tập “Lục Vân Tiên”.

Vai diễn này do anh chàng diễn viên Chi Bảo đảm nhận, riêng vai Kiều Nguyệt Nga thì quả là “quá” lận đận khi phải “sang tay” từ Hà Kiều Anh sang Hồng Ánh sau vụ án điện thoại Đông Nam.

Không những thế những chuyện rắc rối “hậu” bộ phim cũng rất nhiều như vụ Mỹ Uyên thưa kiện vì bị tung ảnh khỏa thân tắm suối trên mạng….

Bộ phim này được đầu tư rất “mạnh” tay với ê kíp làm phim gồm rất nhiều đạo diễn trong đó có Đỗ Phú Hải, phần trang phục do nhà tạo mẫu Kiều Việt Liên thực hiện. Nhìn chung, các nhà làm phim cũng có nhiều cố gắng và tâm huyết khi đưa tác phẩm nổi tiếng của cụ đồ Chiểu lên phim như do năng lực, do hoàn cảnh và do trình độ làm phim của nước nhà nên các bộ phim dựa theo tác phẩm này vẫn chưa tạo nên sự thu hút, sự thuyết phục nếu không muốn nói là không thành công.

Mới nhất là có vở nhạc kịch Tiên – Nga sáng đèn và ăn khách của sân khấu kịch Idecaf. Vở nhạc kịch Tiên Nga được Nghệ Sỹ Ưu Tú Thành Lộc ấp ủ trong bốn năm, anh vừa là đạo diễn, vừa là biên kịch. Tiên – Nga có câu chuyện lạ, âm nhạc hay, dàn diễn viên tốt, phục trang, cảnh trí đẹp, nên sáng đèn nhiều thời điểm và luôn cháy vé.

Lê Quang Thanh Tâm

(ảnh tư liệu)

Ý NHI: Tưởng nhớ GS.TS Trần Văn Khê một thời tâm huyết với bảo tồn Nhã nhạc cung đình Huế

Cập nhật ngày: 01/09/2016 08:54:36

Trần Văn Khê (tên khai sinh là Trần Quang Khê) sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như « Lưu Thuỷ », « Bình Bán vắn », « Kim Tiền », « Long Hổ Hội ». Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng.

Cố GS.TS Trần Văn Khê (24/7/1921- 24/7/2016)

Ông là người Việt Nam đầu tiên đỗ tiến sĩ ngành âm nhạc học tại Pháp. Sau đó, ông trở thành giáo sư tại Đại học Sorbonne (Pháp), thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế âm nhạc, UNESCO… Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.  Một trong những đóng góp không nhỏ của GS.TS Trần Văn Khê đối với nền văn hóa nghệ thuật nước nhà là đã mang văn hóa – nghệ thuật Việt Nam đến với năm châu, để từ đó họ yêu hơn, cảm mến hơn và hiểu hơn một xứ sở Việt Nam, một tâm hồn và sức mạnh nội sinh của Việt Nam.  Đối với những giá trị di sản của nghệ thuật truyền thống cung đình Huế, trong đó có Nhã nhạc cung đình Huế, GS.TS Trần Văn Khê chính là người đã có nhiều đóng góp trong việc khôi phục và bảo vệ vốn quý này. Ông đã nhiều lần đến Huế, gặp gỡ các nghệ sỹ cung đình, các nhà nghiên cứu Huế và những người làm quản lý trong ngành văn hóa để nói chuyện và trao đổi về vấn đề bảo tồn Nhã nhạc – Âm nhạc cung dình Việt Nam. Tháng Ba năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể tại Huế. Trong một cuộc họp tiểu ban nghệ thuật, giáo sư Trần Văn Khê cùng các giáo sư của Việt Nam là Trần Quốc Vượng và Tô Ngọc Thanh, các giáo sư Nhật Bản là Tokumaru và Yamaguti, giáo sư người Philippines là Jose Marceda đệ trình UNESCO và Chính phủ Việt Nam về một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã nhạc cung đình Huế. Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa – Thông tin và tỉnh Thừa Thiên – Huế đã giao Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế lập hồ sơ ứng cử cấp quốc gia Nhã nhạc Huế – Âm nhạc Cung đình Việt Nam để đệ trình UNESCO đề nghị công nhận là Kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của nhân loại (năm 2002). 

GS. TS. Trần Văn Khê đồng hành cùng Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Huế tại UNESCO Paris năm 2003

Năm 2003, khi Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, GS. TS. Trần Văn Khê đã đồng hành cùng Nhã nhạc cung đình đến với nhiều nước trên thế giới. Tháng 1 năm 2004, ông đã có buổi thuyết trình đàu tiên giới thiệu Nhã nhạc tại Trụ sở UNESCO ở Paris (Pháp) trong buổi lễ đón nhận bằng công nhận của Nhã nhạc. Tiếp đó là chuỗi biểu diễn tại một số thành phố lớn của Pháp, Bỉ, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản,.. từ năm 2004 đến 2009. Tại mỗi nơi diễn ra sự kiện giới thiệu Nhã nhạc ở những nước trên, ông thường là người dẫn chương trình, giới thiệu rõ nội dung của từng tiết mục để bạn bè quốc tế hiểu hơn về những giá trị di sản mà Huế-Việt Nam đang nắm giữ. Có lẽ vậy, nên tại những đất nước các nghệ sỹ Nhã nhạc đã từng đến và biểu diễn luôn nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ khán giả.  Đối với nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung, Nhã nhạc cung đình Huế nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê không chỉ là một diễn giả uyên bác về văn hóa, về âm nhạc, mà còn là một con người tâm huyết đã dành trọn đời mình cho việc học tập, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc dân tộc Việt Nam, trong đó có Nhã nhạc cung đình Huế đến với bạn bè quốc tế.

Cố GS. Trần Văn Khê cùng GS. Tô Ngọc Thanh và Cố Nghệ nhân Trần Kích
GS. Trần Văn Khê cùng các cố vấn xem lại nội dung đề nghị dự án bảo tồn Nhã nhạc năm 2004
GS. Trần Văn Khê tại lễ khai giảng lớp đào tạo nhạc công Nhã nhạc năm 2006

Đặc biệt, trong Dự án thực hiện chương trình quốc gia bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạc – Âm nhạc (giai đoạn 2005-2009), với tư cách là thành viên Ban Cố vấn của dự án, GSTS. Trần Văn Khê đã dốc hết tâm sức tham gia từ khi đề cương dự án được khởi thảo, trực tiếp giảng dạy khóa đào tạo Nhạc công trẻ, thực hiện các buổi nói chuyện giới thiệu Nhã nhạc đến với cộng đồng trẻ, dẫn chương trình cho phim giới thiệu các tiết mục biểu diễn chọn lọc,… cho đến khi hoạt động cuối cùng của dự án hoàn tất với việc thành lập tủ sách nghiên cứu về Nhã nhạc, trong đó riêng Giáo sự đã trao tặng cho Trung tâm BTDT Cố đô Huế hàng chục tài liệu, sách nghiên cứu, phim và băng đĩa tư liệu. Rạng sáng ngày 24/06/2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, GS.TS Trần Văn Khê đã về cõi vĩnh hằng vào hưởng thọ 94 tuổi. Giáo sư ra đi để lại cho nền âm nhạc dân tộc Việt Nam một sự tiếc nuối lớn lao.

Lễ tưởng niệm GS Trần Văn Khê tại Nhà hát Duyệt Thị Đường ngày 26/6/2015

Chiều ngày 26.6.2015, tại Nhà hát Duyệt Thị Đường (Đại Nội – Huế), Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trang trọng tổ chức Lễ tưởng niệm và tri ân Giáo sư Trần Văn Khê, người đã có đóng góp cực kỳ to lớn cho sự bảo tồn, phục hưng và vinh danh Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam, với tấm lòng thành kính tiếc thương vô hạn.  Nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày sinh của GS.TS Trần Văn Khê (24/7/1921- 24/7/2016) và cũng tưởng nhớ đến ngày Giáo sư về với cõi vĩnh hằng cách đây 1 năm (24/6/2015), các nghệ sỹ Nhã nhạc Cung đình Huế và những người làm công tác bảo tồn di sản của Huế xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc đến Giáo sư, chân thành cám ơn những gì Giáo sư đã đóng góp cho Huế trong việc gì giữ bản sắc riêng của Nhã nhạc – Âm nhạc cung đình Việt Nam.

Ý Nhi

In bản tin này

Các tin khác:Hoàng Cung Huế (Đại Nội) vinh dự lọt top 5 điểm tham quan du lịch hàng đầu Việt NamKý kết thỏa thuận ghi nhớ hợp tác giữa Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Viện Bảo tồn Di tíchHội thi vẽ tranh thiếu nhi “Ước mơ Thành phố Festival của chúng em” và bình chọn Huế là thành phố Xanh Quốc tế 2016Lễ công bố Di sản Tư liệu Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của UNESCOTưởng niệm 100 năm khởi nghĩa Duy TânTRIỂN LÃM TẠP CHÍ HERITAGE VỚI DI SẢN VĂN HÓA HUẾKHÁNH THÀNH DỰ ÁN “BẢO TỒN, TU BỔ DI TÍCH TRIỆU TỔ MIẾU – PHẦN TIỀN ĐIỆN – ĐẠI NỘI, HUẾ”TẾ NAM GIAO-MỘT GIÁ TRỊ VĂN HOÁ ĐẶC SẮC CỦA CUNG ĐÌNH NGUYỄNTriển lãm phong lan 3 miền và cây kiểng Huế 2016.Triển lãm « Sắc gốm Lý-Trần qua bản phục chế của nghệ nhân ưu tú Trần Độ »

Nguyễn Đan Tâm: Món Ăn Trên Hè Phố Sài Gòn (Kỳ 1)

Món Ăn Trên Hè Phố Sài Gòn (Kỳ 1) – Nguyễn Đan Tâm

Gánh xôi nếp than trên hè phố Sài Gòn. (Hình: Foody.vn)

Trời tờ mờ sáng. Trong lúc nhiều người còn say ngủ, đã thấy gánh xôi nằm ở đầu hẻm chờ những người thợ đi làm sớm, học sinh đi bộ đến trường. Xôi có hai thứ: xanh và vàng. Xanh nhờ lá dứa, vàng là do phẩm màu. Màu xanh tươi mát cùng hương thơm của lá dứa khiến gói xôi quá hấp dẫn. Xôi được trét thành một lớp mỏng trên miếng bánh phồng lớn hơn bàn tay đôi chút, thêm một lớp đậu xanh tán nhuyễn, vài miếng dừa nạo, muối mè, đường cát mỡ gà, nước cốt dừa. Nhờ miếng bánh phồng dẻo mà gói xôi được cuộn tròn như đòn bánh tét nhỏ. Tất cả được gói lại bằng lá chuối tươi. Thực khách cầm gói xôi còn nóng hổi, vừa thổi, vừa ăn. Hạt nếp dẻo, cái béo của dừa, mè, đậu phọng, vị mặn, ngọt hòa hợp tạo nên cái ngon đặc biệt. Thỉnh thoảng có những gánh bán xôi nếp than hay xôi gấc. Xôi nếp than có màu đen, thơm ngon, dẻo hơn nếp thường. Còn xôi gấc có màu đỏ tươi, lấy từ phần cơm bao quanh hột gấc. Màu sắc càng tăng thêm phần hấp dẫn của gói xôi. Ngoài ra, còn có xôi đậu phộng (nếp và đậu phộng), xôi đậu xanh (nếp và đậu xanh), xôi vò (nếp, đậu xanh và nước cốt dừa). Trong ba thứ xôi nầy, chỉ có xôi vò là không cần thêm muối hoặc đường. Gói xôi vò được vo tròn như nắm tay. Xôi giúp no dai, là món ăn sáng lý tưởng cho người nghèo.

Cùng với xôi, còn có bắp hột nấu nhừ thành một thứ cháo bắp, sền sệt. Món nầy ăn với dừa nạo, muối mè và đường. Đồ đựng là những miếng lá chuối, được xếp thành hình chiếc xà lan. Muỗng để múc bắp làm từ sóng lá dừa. Thật là tiện lợi vào thời buổi chưa có đồ chứa bằng giấy và nhựa.

Có bà con với xôi là món xôi bắp từ miền Bắc vào Nam. Nếp được nấu chín với những hột bắp nở đều. Thêm đậu xanh tán nhuyễn, đường cát, muối mè, hành phi. Món xôi bắp cho ta hương vị ngọt, béo, bùi, của một ngày ở Sài Gòn.

Ba món xôi hè phố, từ trái: Xôi bắp gà, xôi bát bửu, xôi sầu riêng. (Hình: Foody.vn)

Kề bên gánh xôi, là mấy thúng khoai lang, khoai mì luộc còn nóng hổi. Khoai lang là loại vàng hay trắng đều có nhiều bột, ngọt bùi. Khoai mì cắt khúc trắng tinh, dẻo. Có người thích ăn khoai mì sượng để thưởng thức cái giòn của củ khoai. Khoai mì chà bông được chế biến từ những củ khoai mì nhiều bột. Trước tiên, dùng cối quết nhuyễn, sau đó thêm dừa nạo. Ăn với muối đậu phọng và đường. Trẻ em nhà nghèo, ôm củ khoai nóng hổi đến trường. Hơi nóng lan qua lớp áo, đem đến cảm giác ấm áp trong buổi mai gió lạnh.

Cũng nóng hổi vào buổi sáng là thúng chuối nấu. Chuối xiêm, trái bự, được nấu vừa chín tới, không quá mềm mà dẻo, ngọt bùi, là món điểm tâm nhẹ khó quên của các cậu học trò.

Buổi sáng, nếu có thời giờ, và để cho ấm bụng, thì một tô cháo đậu đỏ cũng đủ no. Đậu đỏ được nấu thật mềm, hạt gạo nở nhừ. Cháo đặc sệt, có màu đỏ sậm, ăn với muối mè, nước cốt dừa, hay dưa mắm. Thêm tí tiền thì ăn cháo với cá lóc kho, hay khô cá lóc chấy. Những con cá lóc bằng cườm tay trẻ em, xắt lát thật mỏng, kho khô với tiêu. Người làm món cá kho nầy xứng đáng là đầu bếp giỏi vì miếng cá kho bùi, ngon ngọt làm sao.

Một món khác cũng được bán từ sáng sớm. Đó là cơm tấm. Một chảo cơm nấu sẵn, bắt trên bếp than âm ỉ. Dĩa cơm bốc khói, ăn với bì, chả hay sườn nướng. Bì là thịt heo ướp gia vị, chiên chín rồi xắt như sợi chỉ, thêm da heo cũng xắt nhỏ. Chả, là hột vịt trộn thịt heo băm nhỏ, bún tàu, nấm mèo, củ hành, tiêu. Sườn nướng là những miếng thịt heo nạc hoặc thịt dính vào xương, rất mỏng, chiên trước ở nhà, hơ nóng trên lửa than riu ríu. Mùi sườn nướng lan tỏa đi xa, mời gọi thực khách chiếu cố. Món nầy ngon nhờ nước mắm pha với tỏi, ớt, giấm, đường. Pha nước mắm cho ngon là một nghệ thuật nêm nếm, không phải ai cũng làm được, dù có công thức. Ở đây, phải nói tới món đặc biệt của cơm tấm: đó là cơm cháy. Nhờ chảo cơm để lâu trên bếp lửa nhỏ, cơm dưới đáy biến thành cơm cháy. Cơm cháy rưới mỡ hành, chan nước mắm, ăn giòn rụm, ngon lạ. Nếu thêm một ít bì thì tuyệt. Món cơm tấm chỉ bán buổi sáng, chưa đến trưa đã dẹp. Sạp cơm tấm ở ngả sáu Chợ Lớn, nổi tiếng, qua ba đời trong gia đình bán cơm tấm. Sau này, những năm 1970, có những sạp cơm tấm bán cả ngày từ sáng đến tối, như cơm tấm Trần Quý Cáp.

Hai loại bánh mì hè phố Sài Gòn. (Hình: lazoko.com)

Bánh mì thịt. Tiếng bình dân gọi như thế. Thật ra, ngoài thịt heo còn có cá hộp Sumaco, chả lụa, xúc xích. Trước 1960, những chiếc xe đẩy, bán bánh mì thịt đậu tại góc đường, rất nhỏ, khiêm tốn, không tên tuổi. Thịt heo ba rọi được ướp gia vị, rồi cuộn tròn và bó bằng dây lác như đòn bánh tét. Sau đó luộc hay hấp chín. Lớp da phết màu hơi đỏ như da heo quay. Khi bán, thịt được cắt thành khoanh tròn, mỏng như tàu lá chuối non. Bánh mì baguette, lấy từ lò được để giữ nóng trên bếp than âm ỉ. Khúc bánh mì được mổ theo chiều dài. Thịt, dưa leo, đồ chua, ít muối tiêu hay xì dầu. Thêm ớt trái xắt mỏng cho những ai thích cay. Bánh mì giòn rụm, thịt béo ngậy. Cắn một miếng, lại muốn cắn tiếp. Cá hộp Sumaco có mùi thơm độc đáo, được pha loãng bằng nước sauce cà chua cho thêm lời. Khi bán bánh mì cá, khúc cá chừng 1/3 được dẻ nhỏ theo bề dài của ổ bánh, thêm xốt cà chua, vài lát hành tây, ít muối tiêu. Ổ bánh mì giòn, cá hộp mềm, bùi, vị chua của xốt, mặn của muối, cay nồng của củ hành, tiêu. Ai có thể không bị cám dỗ. Đòn chả lụa làm theo kiểu miền Bắc. Xúc xích (saucisse) được làm theo kiểu Pháp. Người bán, cắt từng khoanh mỏng. Bánh mì xúc xích hay chả lụa ăn với muối tiêu. Phải nói đến cách ăn bánh mì của người nghèo. Họ chỉ mua bánh mì không, rồi xin người bán cho ít xì dầu hoặc nước xốt cà chua của hộp cá Sumaco. Như vậy thôi, cũng đủ no tới bữa cơm chiều.

Bánh mì nóng giòn, mới ra lò đây.” Đó là câu rao hàng trong buổi sớm mai, của các trẻ em nhà nghèo chừng 13-14 tuổi, bưng thúng bánh mì mới lãnh ở lò nướng. Vừa đi, vừa chạy, cố bán hết thúng bánh trong khoảng thời gian ngắn nhứt để bánh còn nóng và còn kịp giờ đến trường. Đây là nguồn cung cấp ổ bánh mì cho một số dân thành thị, không muốn hoặc không thể ăn bánh mì thịt.

Từ năm 1960, xe bánh mì mọc lên như nấm sau cơn mưa. Xe với bề thế lớn hơn, có tên hiệu đàng hoàng. Những xe nổi tiếng như Ba Lẹ, Tám Cẩu, vang dội khắp Sài Gòn. Lúc đó, ổ bánh mì không những là món ăn sáng mà còn là chiều và tối nữa. Thịt cuốn nhường chỗ cho jambon, pâté gan, xốt mayonnaise. Tất cả được làm theo kiểu Pháp. Cá hộp, xúc xích biến mất. Vài xe vẫn còn bán bánh mì chả lụa. Bánh mì nóng, giòn, jambon thơm phức, pâté gan, xốt mayonnaise béo ngậy làm sao. Ổ bánh mì dài độ 20cm, gói bằng giấy trắng, quấn sợi thun, rất lịch sự. Tên “bánh mì thịt nguội” có từ đó. Tất cả đã đưa ổ bánh mì thịt Sài Gòn lên đỉnh cao nghệ thuật ăn uống. Một vài xe bán thêm món bánh mì xíu mại (được làm theo kiểu Chợ Lớn). Nói đến bánh mì thịt, không thể thiếu các xe hay gánh bánh mì trước cổng các trường trung học, nhứt là nữ trung học Gia Long, Trưng Vương. Cô, cậu học sinh không kịp ăn ổ bánh mì nóng hổi vừa mua xong vì tới giờ vào lớp. Ổ bánh mì thịt quỉ quái cứ thoảng mùi thơm kích thích, dù đã được cất vào hộc bàn, khiến cô, cậu khó cầm lòng, phải ăn vụng. Chẳng may, thầy cô bắt gặp là bị phạt điểm hạnh kiểm. Đúng ra, không nên có hình phạt vì ông bà mình thường nói: “Ăn học” hay “Có thực mới vực được đạo.”

Khoảng 7, 8 giờ sáng, mọi người đã thấy chiếc xe cháo huyết lù lù đậu bên lề đường. Khi nắp nồi mở ra, một mùi thơm mời mọc, hấp dẫn lan đi. Nồi cháo sôi sùng sục trên bếp lửa hồng. Cháo nấu lỏng theo kiểu tàu Quảng Đông, Chợ Lớn. Huyết heo cắt thành miếng bằng lóng tay.  Vài con tôm khô nhỏ. Tô cháo nóng hổi còn một món đặc biệt không thể thiếu: đó là giò cháo quảy, được cắt bằng kéo thành miếng nhỏ. Giò cháo quảy giòn rụm, cháo ngọt nước, huyết heo dai dai, tôm khô mặn mà, hành lá, gừng sợi, tiêu hoặc ớt. Tất cả khiến cho tô cháo buổi mai nhiều hương vị ấm lòng.

Xe bột chiên cũng xuất hiện từ sáng sớm. Bột đã hấp chín sẵn, được cắt thành khối chữ nhựt bằng con cờ Domino. Chảo đáy bằng với dầu bốc khói. Những miếng bột được xếp thành một lớp trên chảo. Chiên cho đến khi vàng đều hai mặt. Ăn với nước xì dầu pha giấm, tương ớt. Ai muốn cục bột cháy khét thì dặn người bán chiên thêm một lúc. Thêm ít tiền, thì có hột vịt đổ trên miếng bột chiên tạo thành cái bánh tròn chiếm trọn dĩa, rải một nhúm hành lá. Bột chiên vàng, giòn hai mặt, ruột dẻo, nước tương chua cay, khiến thực khách vừa nhai vừa xuýt xoa.

Xế trưa, một món không thể quên: Phá lấu. Người bán đội một mâm chứa đầy tim, gan, bao tử, lưỡi, ruột heo, v.v… Tất cả đã được làm sẵn. Từng miếng lòng heo được xắt mỏng như tờ giấy. Phết thêm lớp tương đen, ớt đỏ. Cây tăm xỉa răng trở thành đồ xiên lòng heo cho thực khách cầm ăn. Thỉnh thoảng, có thêm món chim quay vàng ươm, hấp dẫn. Đây là món ăn chơi ngon hơn ăn thiệt. Cứ nhìn đám thầy thợ, ăn xâu nầy đến xâu khác thì rõ.

Bò bía trứng chợ Tân Định, Sài Gòn. (Hình: Foody.vn)
Gánh
 hay xe bò bía thường được bán trước cổng trường hay đi rảo khắp phố. Một nồi củ sắn xắt sợi, xào chín, được giữ nóng trên bếp. Hai miếng bánh tráng mỏng được đặt kế nhau. Que tre dùng để phết tương đen và tương ớt. Một miếng cải sà lách, vài lá rau quế. Một đũa củ sắn. Vài con tôm khô, đậu phộng chiên. Vài lát lạp xưởng, được xắt thiệt mỏng, có thể nhìn xuyên qua. Cuốn tất cả lại thành món bò bía. Trước khi đưa cho khách, người bán nhúng đầu cuốn vào nước củ sắn nóng, làm cuốn mềm, trở nên dễ nhai. Đậu phọng rất giòn, béo, củ sắn ngọt, nhai kêu sừng sực. Lạp xưởng béo, tôm khô mặn mà, tương cay khiến món bò bía ăn hoài không chán. Bò bía chỉ cuốn khi có khách mua. Thành thử, những lúc đông khách, người bán phải cuốn liền tay mới kịp cho khách dùng. Bò bía tại Công Trường Con Rùa nổi tiếng một thời.

Xe bánh ướt chả lụa. Xin đừng lộn với món bánh cuốn nhưn thịt của miền Bắc. Một ngăn tủ kiếng chứa bánh ướt tráng sẵn, xếp thành lớp. Ngăn chứa bánh cống và chả lụa. Ngăn khác chứa giá trụng, dưa leo, rau quế xắt nhỏ. Bánh ướt được xắt thành miếng chữ nhựt cỡ 3×6 cm. Từng miếng chả lụa thiệt mỏng bày đều trên bánh. Bánh cống giòn, xắt nhỏ. Giá, rau quế, dưa leo, hành phi, mỗi thứ một nhúm. Rưới nước mắm pha tỏi, ớt, chanh hay giấm, đường. Món nầy ăn nguội. Ai đã ăn món nầy một lần là phải trở lại vì người bán pha nước mắm xuất sắc. Nhìn thực khách húp nước mắm thì biết. Một điều không thể hiểu được là người bán không ăn nước mắm vì 99.9% là người tàu Chợ Lớn. Tại sao họ có thể nêm nếm món nước mắm ngon đến như vậy.

Thịnh hành sau 1954, bánh cuốn được tráng và bán tại chỗ cho nóng. Thường là một cái sạp gần chợ. Một nồi nước sôi. Một dụng cụ để hấp. Người bán tráng một lớp bột pha sẵn trên miếng vải thưa trùm lấy miệng đồ hấp. Đậy nắp lại. Khi bánh chín, bánh được cạy ra bằng hai que tre. Một miếng nhôm dùng để trải lớp bánh mỏng. Nhưn bánh gồm thịt heo băm nhỏ, ướp gia vị, tiêu, nấm mèo, củ  hành, được xào trước tại nhà. Dĩa bánh cuốn nóng hổi, thêm vài cọng ngò, giá trụng, mấy lát chả lụa. Ăn với nước mắm pha. Bánh cuốn ngon thì bột phải dẻo, chả lụa giòn, béo, bùi, nhưn thịt ngọt và nước mắm pha đúng điệu.

Những gánh bò viên được bán dạo hay tại các cổng trường học. Những năm 1955-1956, chỉ có bò viên là món duy nhứt. Vài cục bò viên trong chén nhỏ, nước lèo nóng hổi với hành lá xắt nhỏ. Bò viên dai, ngọt thịt, chấm với tương đen và saté cay. Xong một chén, muốn thêm chén nữa. Một vài gánh bày trò “đổ hột xí ngầu” ăn thua bằng bò viên, để dụ dỗ người thích cuộc đỏ đen. Ví dụ chén bò viên giá 1 đồng, ai có 50 xu cũng được đổ. Thua thì mất tiền. Nếu thắng thì được 1 chén. Có thể “đổ nhồi,” 1 chén thành 2, rồi thành 4… Vì thế, có ngày xui xẻo, hoặc gặp tay lão luyện, người bán thua cả gánh mà không thu được đồng nào. Chắc chắn, hôm đó về nhà hắn ta bị vợ quần cho một trận. Đến những năm 1960, các xe bò viên đậu tại chỗ. Chuyện cờ bạc biến mất. Món hủ tíu bò viên ra đời. Từ đó, xe bán thêm lá sách, lưỡi, gan, tim…

Xe hủ tíu mì của người Hoa Chợ Lớn. (Hình: dansaigon.com)

Xe hủ tíu và  với nét đặc trưng là các tranh vẽ trên những miếng kiếng trang trí quanh xe. Các tranh nầy thường diễn tả các điển tích nổi tiếng trong Tam Quốc Chí.

Hủ tíu nấu theo kiểu Chợ Lớn. Bánh hủ tíu bề ngang cỡ 1cm, giá, hẹ được trụng sơ trong nước sôi. Thêm vài miếng xá xíu mỏng, thịt heo bằm nhỏ, một muỗng tóp mỡ, một lá cải sà lách ngắt đôi. Một nhúm hành lá. Nước lèo rưới ngập bánh. Sợi hủ tíu mềm, dẻo. Thịt bằm, xá xíu ngọt. Nước lèo thơm ngon. Tô hủ tíu cũng có cái hấp dẫn của nó.

-Có hai loại sợi mì: loại sợi lớn cỡ 1cm, loại nhỏ như sợi dây nhợ. Kêu tắt là mì lớnmì nhỏ. Vắt mì được trụng nhanh trong nồi nước đang sôi. Rưới mỡ đều trước khi cho vào tô. Mì khác hủ tíu là không có giá và thịt bằm. Thay vào đó là hẹ và sà lách son, lá nhỏ. Thịt xá xíu. Thêm một món không thể thiếu: bánh tôm chiên. Mì ngon thì sợi mì dai, nhai nghe sừng sực. Vị béo nhờ thịt xá xíu và tóp mỡ. Sà lách son cay nồng. Bánh tôm giòn rụm Đây là món độc đáo của người Tàu Chợ Lớn đã lôi kéo thực khách bao năm.

Mì khô, không có nước lèo nhưng có nước tương rưới vào cho vừa ăn.

Hủ tíu mì là sự kết hợp của hai món hủ tíu và mì làm một.

Hoành thánh là những miếng mì vuông cỡ 8×8 cm, gói thịt bằm. Trụng nước sôi cho tới khi miếng mì đổi màu trắng đục là được. Vớt ra cho ráo nước. Thêm nước lèo, hành lá.

Mì hoành thánh gồm một vắt mì và mấy cục hoành thánh.

-Một món đặc biệt của xe mì, hủ tíu là: xíu quách. Đó là xương heo được hầm qua đêm với nước để làm nước lèo. Phần thịt dính trên xương, thấm gia vị nên rất ngon. Sụn thì giòn, khoái khẩu. Tủy xương rất béo. Đây là món lý tưởng để nhâm nhi vài chai bia 33.

Sau năm 1954, món hủ tíu (gốc Tàu) bị món phở (gốc Việt) lấn át. Chỉ còn món mì cố giữ số thực khách trung thành.

Những gánh mì, hủ tíu  được bán dạo khắp hang cùng, ngõ hẻm, từ chập tối đến nửa đêm. Rất tiện cho người đi làm về trễ hay khách đi chơi về khuya. Một thằng tửng đi trước, tay trái cầm miếng cây lớn cỡ 10 x 20cm, tay phải cầm cây dùi. Vừa đi, vừa gõ thành điệu nhạc, nghe dồn dập như thúc giục người mua. Đây là lối rao hàng độc đáo. Thằng nhỏ kiêm luôn việc bưng tô và lấy tiền nhưng chẳng ai cho nó “tip.”

Con hẻm ngoằn ngoèo chấm dứt với quán cháo vịt trước khi đổ ra đường lớn. Gọi là quán nhưng chỉ có cái bàn cao với chén, dĩa, tô, một thau gỏi, mâm thịt vịt luộc chín. Một nồi cháo lớn, lúc nào cũng bốc khói. Mùi thơm thật quyến rũ. Gỏi trộn bắp chuối xắt mỏng, củ hành tây, rau thơm, giấm, đường. Khoảng từ 4 giờ chiều trở đi là đông khách. Mấy bác đạp xích lô, thợ thuyền chen chúc ngồi nhâm nhi cái đầu, cái cánh, dĩa gỏi, chén nước mắm gừng. Tô cháo ngọt với củ hành phi, hành lá, gỏi chua, nước mắm mặn, ngọt, cay đều đủ. Vịt luộc không quá mềm. Tất cả cho người ăn, cảm giác sảng khoái, no lòng.

Đu đủ khô bò có bán khắp nơi nhưng nổi tiếng nhứt là gánh ở đường Pasteur, bên hông Bộ Công Chánh, có lẽ do món gan cháy kèm theo khô bò. Đu đủ còn xanh, được bào nhỏ như sợi chỉ. Một cái kéo to bản dùng để cắt khô bò thành miếng nhỏ. Rau quế cắt nhuyễn. Nước tương, giấm, ớt. Đu đủ khô bò giòn, chua, ngọt, cay xé miệng. Ai ăn xong cũng bước qua đường dùng ly nước mía chữa cay. Đó là xe nước mía Viễn Đông, lúc nào cũng đông nghẹt khách hàng. Nước mía ngọt lịm, có trái tắc hay quít cho thêm hương vị đặc biệt. Xe nước mía gần như có mặt khắp nơi từ góc đường đến chợ búa. Nước mía là một thức uống quen thuộc với dân thành thị Sài Gòn.

Buổi trưa, trời nóng, hay sau khi ăn món cay, muốn tìm nơi giải nhiệt thì xề qua xe nước đá. Giản dị hơn hết là ly nước đá chanh tươi hay chanh muối. Kế đến là đậu đỏ, bánh lọt. Cho đậu đỏ đã nấu mềm vào ly. Một vá bánh lọt cùng nước cốt dừa. Thêm một muỗng nước đường. Bào đá vào ly. Ly đá bào với đậu đỏ, mềm, bùi, bánh lọt dai, nước dừa béo, đã sẵn sàng, Ngoài ra, còn có sương sáosương sa, hột lựu. Sương sáo màu đen chế biến từ một loại lá cây xay nát, nấu với nước và bột gạo. Sương sa màu trắng do rau câu nấu sôi để nguội. Gọi là hột lựu vì những cục bột nhỏ có màu như hột của trái lựu. Tất cả đều ăn với đá bào, nước cốt dừa, nước đường, một ít tinh dầu chuối. Hột é, đười ươi, hai thứ nầy thường được ăn chung. Hột é nhỏ như hột mè, có màu đen, khi ngâm vào nước, hột é hút nước, nở ra một lớp màu trắng bao bọc xung quanh. Trái đười ươi lớn bằng trái táo tàu phơi khô. Khi ngâm nước, trái đười ươi nở thành một loại rong màu nâu. Hột é và đười ươi trộn đá bào, nước đường là thức uống giải nhiệt trong những ngày Hè nóng bức của Sài Gòn. Có một món không ăn, không uống mà chỉ mút: đó là đá nhận. Bào đá đầy 1 cái ly nhỏ. Dùng tay nhận đá xuống cho đá dính thành khối hình cái ly. Xong, lật ngược cái ly, trút khối đá ra. Rưới nước đường đều khắp khối đá. Món nầy thu hút trẻ em, kỷ niệm một thời thơ ấu. Người mua cầm đá nhận bằng tay, mút cho tới khi cục đá tan hết. Nước đường do hãng BGI sản xuất dưới ba dạng: bạc hà, chanh và cam. Ai thích hương vị nào cứ chọn. Đa số người bán pha loãng nước đường BGI, hoặc làm nước đường pha màu, cho có lợi.

Mời các bạn cùng tôi đi một vòng, đến cổng các trường trung học, nhứt là các trường nữ sinh. Có đủ thứ, từ bò bía, bánh mì thịt, chè, ổi, cóc, xoài tượng sống ngâm nước cam thảo, me ngào, me sống ngâm đường, đu đủ chín,… Trái cóc được gọt vỏ và tách ra thành nhiều múi dính nhau. Những miếng ổi và xoài được cắt mỏng và xiên bằng que tre. Thoa nhẹ ít muối ớt là sẵn sàng. Xe nào cũng đông khách. Các nàng tiên áo trắng tranh nhau ăn cho kịp giờ vào học. Không biết tại sao các cô gái lại thích ăn hàng như thế. Chưa có ai giải thích. Nhưng đây là sự thật:Đi học thì hay ăn hàng.Chàng yêu, nhắm mắt, rước nàng về dinh.

Nguyễn Đan Tâm 

(Còn tiếp)

nhacxua.vn tổng hợp: Đôi nét về nghệ sĩ đàn bầu Đức Thành – Hình ảnh quen thuộc với khán giả hải ngoại trên Paris By Night

2019/12/04 in Bàn Tròn Âm Nhạc

Từ khoảng năm 1997 trở đi, những khán giả yêu mến chương trình Thúy Nga Paris đều rất thích thú khi thấy xuất hiện trên sân khấu một người nghệ sĩ tóc dài, mặc áo dài khăn đóng, chơi đàn bầu rất điêu luyện…

Click để nghe đàn bầu Đức Thành trong 1 tiết mục trên Paris By Night

Cây đàn đó chỉ có một dây, nhưng với ngón tay tài hoa của người nghệ sĩ đã rung lên những giai điệu du dương lạ thường. Người nghệ sĩ đó chính là Phạm Đức Thành, khi còn ở trong nước từng đoạt giải thưởng về đàn bầu toàn quốc trong kỳ thi các loại đàn cổ truyền Việt Nam năm 1985.

Tiếng đàn bầu của Phạm Đức Thành rất khác biệt, vừa nghệ thuật lại vừa mang tính giải trí, kết hợp nhạc cụ dân tộc với dàn nhạc âm nhạc hiện đại, làm cho khán giả như đắm chìm trong những âm thanh mộc mạc, da diết trên một sân khấu đại nhạc hội.

Click để nghe nghệ sĩ Đức Thành biểu diễn ca khúc 999 Đóa Hồng tại Trung Quốc

Nghệ sĩ Phạm Đức Thành sinh năm 1956 tại thôn Đoan Bình, xã Gia Phú, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây là một vùng quanh năm nước lụt đồng chua, nhưng rất thịnh về chèo cổ, chầu văn và lên đồng, vì vậy ông rất say mê âm nhạc dân tộc của vùng Bắc Bộ. Tuy không xuất thân từ gia đình nghệ sĩ, nhưng Đức Thành nói rằng ông đã chịu nhiều ảnh hưởng về nhạc dân tộc khi còn nằm trong bụng mẹ. Trong thời gian này, mẹ ông thường xuyên nghe những đĩa nhạc cổ, đó là loại đĩa đá điược phát từ máy hát đĩa lên dây cót. Ban đầu từ việc chỉ nghe thụ động theo mẹ, dần dần cậu bé Đức Thành thuở nhỏ đã đam mê đến nỗi thuộc nằm lòng nhiều nhạc phẩm dân ca.

Ông đã tập làm quen với trống chèo ngay từ khi mới lên 4. Được gia đình khuyến khích, mới lên 5 ông tiếp tục làm quen với đàn Mandolin, sau đó là đàn Bầu, rồi đàn Nhị…

Cuối cùng chọn cho mình chiếc đàn Bầu để gắn liền với sự nghiệp, ông chia sẻ lý do với nhà báo Trường Kỳ như sau:

“Tôi sinh ra ở một vùng quê, ở miền Bắc Việt nam nên xung quanh là những cánh đồng lúa và những cái điệu hát chèo cổ. Chính những cái yếu tố đó đã làm cho tôi giống như mình sống trong một cái dòng nước về dân tộc.

Vì vậy khi mà trưởng thành thì tôi thấy là nhạc dân tộc rất là gần gũi, không thể thiếu được với người dân quê ở Việt Nam. Thế là tôi đã theo nhạc dân tộc ngay từ lúc nhỏ….”

Click vào hình để thưởng thức tiếng đàn bầu Đức Thành

Sau khi học xong phổ thông, khi mới 18 tuổi, nghệ sĩ Đức Thành xin phép gia đình để lên thành phố lập nghiệp. Từ đó cuộc đời hoạt động về nghệ thuật của nghệ sĩ Đức Thành bắt đầu từ khi đến với Nhà Hát Chèo Hà Nội vào năm 1974. Sau 4 năm vừa học vừa trình diễn đàn bầu và một số nhạc cụ cổ truyền khác, ông tốt nghiệp hạng ưu của chương trình trung cấp âm nhạc. Từ đó Đức Thành bắt đầu nghiên cứu nhiều về nhạc tây phương, ngoài ra ông còn tìm cách khai thác khả năng của cây đàn bầu đã gắn bó với mình đã một thời gian dài.

Khi sử dụng đàn bầu vào các loại nhạc của từng miền, nghệ sĩ Đức Thành đã dày công nghiên cứu để tạo cho mình được một nghệ thuật thẩm âm chính xác, đồng thời ông cũng tìm hiểu sâu xa về từng loại nhạc, nắm vững luật về cao độ và trường độ.

Ngoài khả năng chính là diễn tả âm thanh bằng nhạc, Đức Thành cho biết đàn bầu còn có nhiều khả năng diễn đạt âm thanh độc đáo khác khi được sử dụng trong cải lương. Để diễn tả tâm trạng buồn sầu, ai oán, có lẽ là không một nhạc cụ cổ truyền nào có khả năng diễn tả hoàn hảo như cây đàn bầu. Đây vốn là một cây đàn có gốc từ miền Bắc, trước kia chưa được khai thác trong cải lương, nhưng hiện nay âm thanh của đàn bầu đã trở thành quen thuộc với những người yếu thích vọng cổ… Một điểm thú vị khác là cây đàn một dây này còn có khả năng bắt chước giống như tiếng người.

Dù những âm thanh phát ra từ cây đàn bầu có phầm não nùng và ai oán, nhưng với nghệ thuật sử dụng khéo léo của đôi bàn tay cùng với cái hồn âm nhạc của một người chuyên về nghiên cứu nhạc cổ truyền, Đức Thành đã biến những âm thanh sầu thảm đó thành những tiết điệu rộn rã và tươi vui như trong nhạc phẩm mang âm điệu viễn tây Hoa Kỳ “Riders In The Sky”, đã từng được ông thu thanh trong một CD cũng như trình tấu trên sân khấu làm cho khán giả rất thích thú.

Ngoài đàn bầu, Đức Thành còn sử dụng được nhiều loại nhạc cụ dân tộc kác như đàn nguyệt , đàn nhị, đàn tranh, và loại đàn rất ít người biết là đàn đáy.

Với thời gian nghiên cứu khá lâu và sâu sắc về âm nhạc, nghệ sĩ Đức Thành biết rằng việc trình diễn nhạc cổ truyền làm sao để có thể đi sâu vào lòng khán giả của từng miền không phải là việc dễ dàng. Vấn đề là làm sao có thể phát ra tiếng đàn đặc người miền Trung, làm sao cho ra đặc người miền Nam. Đó mới là chuyện khó. Không phải từ note nhạc Tây Phương mà từ cái thần thái của mình phát ra ngón đàn.

Theo người nghệ sĩ lão luyện về âm nhạc dân tộc này, tiếng đàn cũng như ngôn ngữ. Người sử dụng nó phải biết một số đặc điểm. Thí dụ sau khi nghiên cứu về dân ca Huế, ông đã có nhận xét là ”Dân ca Huế rất quan trọng về những cái dấu vỗ, về dấu rung hay sự đảo phách”. Từ đó Đức Thành đưa ra sự so sánh khi trình tấu một nhạc phẩm Tây Phương và một tác phẩm dân nhạc cổ truyền:

“Khi đàn nhạc Tây Phương thì phải biết thật chính xác note nhạc, đấy là điều quan trọng nhất. Không được đàn sai. Bởi vì những phím đàn piano được chia rất nhỏ thành 12 bán cung đều. Nếu đàn chệch ra note đó là sai hết tất cả hoà âm. Nhưng khi đàn cổ nhạc dân ca thì mình phải biết cái độ cao của note nhạc đó so với Tây Phương ra làm sao mà người ta không gọi là note nhạc mà mình phải biết ”chữ nhạc”. “Chữ nhạc” là gì? Là phải biết phải rung cái gì, không được rung cái gì, được vỗ cái gì… Nếu chúng ta học nhạc dân tộc mà không biết “chữ nhạc” có nghĩa là không biết cái rung thì không khác nào ông Tây hát vọng cổ, rất là khó nghe, mà đàn rất là khô cứng”.

Ông đưa ra thêm một thí dụ khác: ”Cũng như những người nghệ sĩ cổ nhạc mà đi đàn nhạc Tây mà không thoát ra được. Nghĩa là cứ dính cái hơi cổ nhạc hoài. Mình không có biết cái luật của phương Tây là phải đúng note, đúng cái note nhạc đó thì mới đúng với hoà âm. Nhiều khi trong những màn tân cổ giao duyên, có những nghệ sĩ không nghiên cứu thì hát rất là buồn cười. Cứ bị lai, bị dính hoài cái chất cổ nhạc”.

Click để nghe CD Đàn Bầu của Đức Thành

Trong thời gian còn ở Việt Nam, vào năm 1978, nghệ sĩ Đức Thành cũng đã được trao bằng danh dự của giải Đại Nhạc Hội Đàn Bầu Toàn Quốc lần đầu tiên tổ chức tại Hà Nội. Đây là giải thi đua về đàn bầu quy tụ tất cả những người biết sử dụng cây đàn độc huyền, không phân biệt tuổi tác, thành phần, địa phương.

Cũng trong năm 1978, ông được đề cử làm đại diện cho sân khấu Chèo, được giải nhất về đàn bầu. Sau đó được nhận vào Nhạc Viện ở Sài Gòn để chuyên nghiên cứu âm nhạc, đặc biệt về dân nhạc Việt Nam dưới sự hướng dẫn của giáo sư Trần Văn Khê. Năm 1983 ông tốt nghiệp Thủ Khoa toàn quốc về nghiên cứu và sử dụng đàn bầu.

Đến năm 1985, một lần nữa Đức Thành được nhận thêm một vinh dự khi đoạt giải nhất đàn bầu toàn quốc ở phía Nam trong cuộc thi các loại nhạc khí cổ truyền gồm đàn Kìm, đàn Cò và đàn Bầu.

Từ năm 1980, Đức Thành quy tụ một số nhạc sĩ để thành lập một ban nhạc cổ truyền cộng tác với khách sạn Rex trong cho đến cuối năm 1990 trước khi sang Tây Đức. Trong thời gian này ông sử dụng đàn bầu để biểu diễn những bài dân ca Việt Nam, nhạc cổ Việt Nam và dân ca của thế giới cho đối tượng chính là khán thính giả ngoại quốc. Ngoài ra ông còn cộng tác với nhà hàng trên khách sạn nổi của Úc tại bến Bạch Đằng. Với mục đích đi tìm một giọng hát thích hợp với dân ca để cùng trình diễn với ban nhạc, Đức Thành đã để ý đến tiếng hát Nguyệt Lan qua những chương trình truyền hình và đài phát thanh để sau đó mời cô vào hợp tác. Và sau khi diễn chung ở Đà Lạt, họ nảy sinh tình cảm và làm đám cưới vào năm 1987.

Đức Thành và Nguyệt Lan trở một đôi nghệ sĩ nổi tiếng, họ cùng nhau sang Đức năm 1990, rồi sau đó là Canada năm 1996. Tuy nhiên sau đó cuộc hôn nhân của họ tan vỡ, nghệ sĩ Đức Thành tái hôn với người vợ mới là ca sĩ Nguyễn Phương Linh.

Vợ chồng nghệ sĩ Đức Thành

Nghệ sĩ Đức Thành từng được đài truyền hình ART của Canada bình chọn là nghệ sĩ có đóng góp lớn trong việc truyền bá, gìn giữ và phát triển âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Để đạt được danh hiệu này, theo Đức Thành thì có 3 yếu tố cần phải có, đó là người nghệ sĩ không được làm nghề nào khác, đồng thời phải đào tạo được những học trò chuyên nghiệp, và phải có sự ảnh hưởng để lan tỏa được niềm đam mê âm nhạc cổ truyền đến với quần chúng.

Ngoài ra Đức Thành cũng từng biểu diễn cùng nghệ sĩ đàn tỳ bà nổi tiếng Trung Quốc – Liu Fang, tham gia biểu diễn cùng cố giáo sư Trần Văn Khê ở nhiều festival âm nhạc dân tộc quốc tế.

Hiện nay, hình ảnh nghệ sĩ Đức Thành ngồi trước cây đàn bầu trong mỗi tiết mục của chương trình Paris By Night vẫn là hình ảnh rất quen thuộc với khán giả khắp nơi trên thế giới.

Vào năm 2018, nghệ sĩ Đức Thành có về Việt Nam thực hiện liveshow lần đầu tiên sau gần 30 năm xa quê hương.

nhacxua.vn tổng hợp