Jour : 25 août 2020

NGUYỄN THỊ MẬU : BỎ QUA ĐI TÁM -NGUỒN GỐC

Inline image

Lời phi lộ :Bài này dài nhưng có liên quan với dân Saigon và Lịch Sử của Việt Nam xưa.
Trước khi đọc bài do TQĐ post , mời các ACE nghe 1 người bạn vai anh của TQĐ là nhà thơ Tha Nhân , NS Trần Chương Lương – Bắc kỳ 1954 , học ở trường Petrus – Ký và trường Luật Saigon ( Thành viên của diển đàn NTH )

***** Sàigòn Còn Mãi Trong Tôi *****

https://www.youtube.com/watch?v=IdkR8xErYYU.
Sàigòn Còn Mãi Trong Tôi

Thân mến.
TQĐ
– Vào bài :

Người Sài Gòn xưa có cách xưng hô thứ bậc thú vị:

Công chức, người có học là thầy Hai, người Hoa buôn bán là chú Ba, đại ca giang hồ là anh Tư, lưu manh là anh Năm… người lao động nghèo xếp thứ Tám. Sao lại xưng hô vậy?

Chiều muộn hôm qua có cậu bạn đi công việc ghé ngang nhà rủ làm ly cà phê tán dóc. Nói chuyện lan man một hồi, tự nhiên anh chàng kể công ty em có ông già gác cửa rất hay nói câu “bỏ qua đi Tám.

“Em không hiểu, có lần hỏi thì ổng nói đại khái là dùng khi can ngăn ai bỏ qua chuyện gì đó, nhưng sao không phải là Sáu hay Chín mà lại là Tám thì ổng cũng không biết”, cậu bạn thắc mắc.

Dựa vào những câu chuyện xưa cũ, những giai thoại, nên kể ra đây chút nguyên cớ của câu thành ngữ có lẽ sắp “thất truyền” này…

Trước hết, phải biết là câu này phát sinh ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời Pháp thuộc, khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó, cách xưng hô thứ bậc trong xã hội rất phổ biến và phần nào phản ánh vị trí xã hội, giai cấp… một cách khá suồng sã và dễ chấp nhận.

– Thứ Nhất: Đứng trên hết là các “Quan Lớn” người Pháp hoặc các quan triều nhà Nguyễn, thành phần này thì không “được” xếp thứ bậc vì giới bình dân hầu như không có cơ hội tiếp xúc đặng xưng hô hay bàn luận thường xuyên.

– Thứ Hai: Kế đến là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các “thầy Hai thông ngôn”, hay “thầy Hai thơ ký”…

– Thứ Ba: Là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống “bang hội” tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các “chú Ba Tàu” nghiễm nhiên là thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó.

– Thứ Tư: Là các “đại ca” giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và “vô thiên vô pháp” nhưng khá “tôn ti trật tự (riêng)” và “có đạo nghĩa” chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm “trẻ trâu” hiện đại. Các “anh Tư dao búa” vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.

– Thứ Năm: Là vị trí của giới lưu manh hạ cấp hơn: các anh Năm đá cá lăn dưa, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm…

– Thứ Sáu: Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các “thầy Sáu phú-lít (police)”, “thầy Sáu mã tà”, “thầy Sáu lèo”. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các “thầy Sáu” này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn “hối lộ” của họ để “nhẩm xà” (uống trà).

– Thứ Bảy: Và trong giới buôn bán thì không thể thiếu chuyện vay vốn làm ăn, mặc dù Tàu hay Việt cũng đều có tổ chức cho vay. Nhưng phổ biến và “quy củ” nhất ở cấp độ trung – cao khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó là các “anh Bảy Chà và”, các anh này là các nhà tài phiệt người Ấn, vừa giàu vừa ít bị “ghét”, vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm.

– Thứ Tám: Xếp thứ Tám chính là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lực làm vốn nuôi miệng, từ bốc vác, gánh nước bồng em, đến “sang” hơn chút xíu là phu xe kéo…

Tuy đông nhưng lại yếu thế nhất vì thất học, không có tiền như thầy Hai, anh Ba, cũng hiền lành chứ không bặm trợn phản kháng bạt mạng như các anh Tư anh Năm nên họ thường xuyên chịu sự áp bức, bắt nạt từ mọi phía. Cách để yên thân khả dĩ nhất với họ là khuyên nhau cắn răng nhẫn nhịn, quên đi để sống:

“Bỏ qua đi Tám”, bây giờ chắc là đã dễ hiểu rồi.

– Thứ Chín: Không còn liên quan nữa, nhưng nhân tiện sẵn nói luôn về thứ bậc chót cùng trong xã hội thời đó: các cô, các chị Chín xóm Bình Khang chuyên “kinh doanh” bằng “vốn tự có”.

Dài dòng tí để trình bày chút kiến giải về một câu thành ngữ đang dần bị quên lãng dùng để bày tỏ thái độ khuyên người hoặc tự an ủi mình hãy đừng để ý những chuyện không vui, hay bị ai đó “chơi không đẹp”.. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi,

“bỏ qua đi Tám”.“Anh Hai Sài Gòn” thì là cách gọi vui, thân mật, nhưng cũng thể hiện tính cách phóng khoáng, dám làm dám chịu của dân Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung. Vì sao lại là “Anh Hai” chứ không là “Anh Cả”?
***** Dòng Lịch Sử *****

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, bắt đầu gây dựng chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đây là cái mốc quan trọng của quá trình “Nam tiến” trong lịch sử Việt Nam, cũng là quá trình hình thành văn hóa vùng đất phía Nam trong xu thế mang theo và gìn giữ văn hóa cội nguồn, đồng thời tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cư dân vùng đất mới.

Đến năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập, Sài Gòn – Gia Định hình thành từ đó. Chỉ hơn 300 năm nhưng người Sài Gòn đã kịp định hình một bản sắc riêng dễ nhận biết giữa những người của vùng miền khác. Điều này hình thành từ nguồn gốc lưu dân và hoàn cảnh lịch sử xã hội của miền Nam /Sài Gòn.

Lưu dân người Việt vào Nam trước hết và đông nhất là những người “Tha phương cầu thực” vì không có đất đai, không có phương kế sinh sống ở quê hương. Thành phần thứ hai là những người chống đối triều đình, quan lại địa phương bị truy bức nên phải tìm đường trốn tránh. Thứ ba là những tội đồ bị buộc phải ly hương (một hình phạt nặng của thời phong kiến).

Ngoài ra, còn có số ít người tương đối giàu có, muốn mở rộng và phát triển việc làm ăn trên vùng đất mới nên nhập vào hàng ngũ lưu dân tới miền Nam…

Khi Sài Gòn được hình thành như một trung tâm của vùng đất phía Nam thời chúa Nguyễn, một đô thị lớn thời thuộc Pháp thì nơi đây cũng là nơi dân tứ xứ tiếp tục đổ về. Người nhập cư là thành phần hữu cơ của bất cứ đô thị nào, Sài Gòn vốn hình thành từ những lớp “người nhập cư” rồi trở thành “người Sài Gòn”, rồi lại tiếp tục thu nhận và chia sẻ cho những lớp người nhập cư mới.

Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân miền Nam /Sài Gòn đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa, nghĩa khí làm trọng…

Người Sài Gòn không phân biệt “quê”, “tỉnh”, “đồng hương” hay không…

Có thể nói, tính cách người Sài Gòn bắt nguồn từ yếu tố, điều kiện thực tế nhất ở Sài Gòn là “Làm”: “Làm ăn”, “Làm chơi ăn thiệt”, “Làm đại”, “Dám làm dám chịu”… được thể hiện một cách giản dị, thiết thực, “liều lĩnh” nhưng cũng đầy trách nhiệm

Ở Sài Gòn, “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những cái khác, cái mới. Người Nam khá dân chủ trong các mối quan hệ xã hội và cả trong gia đình, từ cách xưng hô (người Nam thường xưng “tui”) đến việc cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng.

Chỉ vậy thôi, bất kể người tỉnh nào vùng miền nào, miễn là sống ở Sài Gòn, rồi có tính cách như vậy, thì đó là Người Sài Gòn…

Có lẽ vì vậy mà người ta thường gọi người Sài Gòn một cách trìu mến là “Anh Hai Sài Gòn”.

Ở miền Bắc con trai trưởng trong nhà gọi là Anh Cả nhưng miền Nam lại gọi Anh Hai.

Vì sao là Anh Hai mà không phải là Anh Cả? Có thể từ vài giả thuyết sau:

Chúa Nguyễn Hoàng là người con trai thứ hai của Nguyễn Kim, mở đường vào Nam khai phá nên để tôn trọng ông, người dân gọi người con lớn của mình, trai hay gái, cũng chỉ là (thứ) Hai.

Hoặc, có ý kiến cho rằng, khi có phong trào lưu dân vào Nam khai khẩn, trong gia đình thường để con trai thứ ra đi vì người con trai trưởng có vai trò ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên.

Cũng có người cho rằng, trong làng quê miền Nam xưa có ông Cả (Hương Cả) là người đứng đầu, vì vậy trong các gia đình chỉ có người thứ Hai…

Tuy khác nhau về nguồn gốc “thứ Hai” của “anh Hai Sài Gòn” hay “anh Hai Nam Kỳ” nhưng có thể nhận thấy có chung một điểm:

Đó là người con thứ không bị ràng buộc trách nhiệm nặng nề “giữ hương hỏa, nền nếp” như người con trưởng nên có thể “rộng chân” ra đi, tự do hơn khi tiếp nhận cái mới, thay đổi cái cũ lạc hậu, dễ thích nghi, có khi thử, liều. Nhưng vì không có gia đình họ hàng bên cạnh để mà dựa dẫm “tại, vì, bởi…” nên phải có trách nhiệm “dám chịu” nếu lỡ sai lầm.Nguyễn Thị Hậu

Hòa tấu nhạc cụ Tây Nguyên

Hòa tấu nhạc cụ Tây Nguyên

163,952 views•Oct 31, 2018 41267ShareSaveDi sản số 1.32K subscribers Tiết mục 1: Tên loại hình: Hòa tấu nhạc cụ dân tộc “Các chàng trai cô gái Tây Nguyên” Dân tộc: Ba Na Địa điểm: Tỉnh Kon Tum Nội dung chính: Tiết mục hòa tấu nhạc cụ dân tộc “Các chàng trai cô gái Tây Nguyên” của dân tộc Ba Na ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Đó là sự phối âm của các nhạc khí độc đáo như K’ní, T’rưng, đàn Ting ning, đàn K’riêm, Klông Pút, đàn đá… và điển hình nhất vẫn là bộ nhạc khí gõ cồng chiêng. Cồng chiêng gắn bó chặt chẽ với đời sống tâm linh, nghi lễ của người Ba Na từ khi sinh ra đến khi về với đất mẹ. Dàn cồng chiêng hoàn chỉnh phải có từ 3-12 chiếc. Mỗi chiếc chiêng có tên gọi riêng như Pêt, Pơ glek, Char, Ana, Knah di, được sắp xếp theo 5 thang âm, cao thấp khác nhau: chiêng cha, chiêng mẹ, chiêng con, chiêng anh, chiêng em. Đi kèm với dàn cồng chiêng còn có các nhạc khí hỗ trợ khác như lục lạc (Krênh-nênh), xập xõa (Klenh-klep), trống lớn… Cồng chiêng có thể dùng trong các lễ thức trang trọng như lễ “thổi tai”, tế trâu, cầu mưa… cũng có thể dùng trong hát đối đáp, đám cưới, hội mùa hay các lễ hội vui nhộn, với các bài bản khác nhau, cả cộng đồng cùng tham gia biểu diễn. Bản nhạc, lời ca chủ yếu chúc tụng, ca ngợi lòng dũng cảm, hát đối đáp về tình yêu đôi lứa, ca ngợi vẻ đẹp quê hương, đất nước, cuộc sống và con người Ba Na với những tâm tư sâu lắng và khát vọng cuộc sống an lành, no đủ. Tiết mục hòa tấu nhạc cụ dân tộc “Các chàng trai cô gái Tây Nguyên” do cộng đồng dân tộc Ba Na và nhóm nhạc Ka Ly Tran, làng Klor, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum biểu diễn. Tiết mục 2: Tên loại hình: Hòa tấu hát múa “Gặt lúa đồng xuân” Địa điểm: Ba Na Địa điểm: Tỉnh Kon Tum Nội dung chính: Tiết mục Hòa tấu “Gặt lúa đồng xuân” do Nghệ sỹ Ka Ly và cộng đồng dân tộc Ba Na, làng Klor, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum biểu diễn tại Làng văn hóa, Du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội. Tiết mục 3 Tên loại hình: Hòa tấu Cồng chiêng và nhạc cụ Tây Nguyên Dân tộc: Ba Na Địa điểm: Tỉnh Kon Tum Nội dung chính: Hòa tấu Cồng chiêng và nhạc cụ Tây Nguyên do Nghệ sỹ Ka Ly , nhóm nhạc Ka Ly Tran và cộng đồng dân tộc Ba Na làng Klor, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum biểu diễn tại Làng văn hóa, Du lịch các dân tộc Việt Nam, Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội.

Hòa tấu nhạc cụ dân tộc Cồng Chiêng Tây Nguyên, đàn đá, đàn T’rưng…Cô gái vót chông, em đi hái rau

Hòa tấu nhạc cụ dân tộc Cồng Chiêng Tây Nguyên, đàn đá, đàn T’rưng…Cô gái vót chông, em đi hái rau

1,550 views•Jan 30, 2020 470ShareSaveHỮU THIỆN VLOG 7.52K subscribers Cô gái vót chông – Đàn đá Tây Nguyên em đi hái rau – đàn T’rưng tây nguyên Văn hóa nghệ thuật nhạc cụ của dân tộc tây nguyên thân thiên với thiên nhiên qua các nhạc cụ như : đàn bầu,sáo trúc,khèn,nhị,đàn t’rưng…Đàn đá chắc các bạn có nghe qua 1 vài lần ,nhưng đã thật sự cảm nhận được giai điệu từ những viên đá vô tri vô giác này qua các nghệ nhân chơi đàn. T’rưng là loại nhạc cụ gõ phổ biến ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam, đặc biệt là đối với dân tộc Gia Rai và Ba Na. Cái tên « t’rưng » xuất phát từ tiếng Gia Rai, lâu ngày trở nên quen thuộc với mọi người. Đàn t’rưng làm bằng một số ống tre lồ ô hay nứa ngộ có kích cỡ khác nhau. Đàn t’rưng chuyên nghiệp có khoảng 12 đến 16 ống xếp thành hàng trên giá đàn theo thứ tự đi dần lên từ ống lớn đến ống nhỏ, từ ống dài đến ống ngắn (loại đàn t’rưng dân gian chỉ có 5 ống với cách xếp ngược lại, ống trên cao lớn rồi đi dần xuống là những ống nhỏ hơn). Nhìn chung, ống có đường kính từ 3 đến 4 cm, dài từ 40 đến 70 cm. Mỗi đầu ống đều bịt kín do còn nguyên các đầu mấu, đầu kia được gọt vát một phần ống để tạo âm theo chuỗi hàng âm của người dân tộc. Khi dùng dùi gõ vào các ống sẽ tạo thành âm thanh cao thấp khác nhau tùy độ to, nhỏ, dài, ngắn của ống. Những ống to và dài phát ra âm trầm, còn những ống nhỏ và ngắn có âm cao. Âm sắc của đàn t’rưng hơi đục, tiếng không vang to, vang xa nhưng khá đặc biệt. Nghe tiếng đàn t’rưng ta có cảm giác như tiếng suối róc rách, tiếng thác đổ, tiếng xào xạc của rừng tre nứa khi gió thổi. Đàn đá (các dân tộc ở Tây Nguyên, Việt Nam gọi là goong lu, đọc là goòng lú, tức « đá kêu như tiếng cồng ») là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam và là một trong những loại nhạc cụ cổ sơ nhất của loài người. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau. Thanh đá dài, to, dày có âm vực trầm trong khi thanh đá ngắn, nhỏ, mỏng thì tiếng thanh. Người xưa sử dụng vài loại đá có sẵn ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ để tạo ra nhạc cụ này. Đàn đá đã được UNESCO xếp vào danh sách các nhạc cụ trong Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên. Đời người rất ngắn vì vậy tại kênh Hữu Thiện vlog này, mình muốn quay clip lại để chia sẻ cho các bạn nghe những câu chuyện và những gì mình bắt gặp được. Nếu thấy hay bạn có thể ủng hộ 1 like cho kênh Hữu Thiện vlog của mình tại đây: Link đăng ký kênh free tại: http://www.youtube.com/c/HỮUTHIỆNVLOG Facebook:https://www.facebook.com/thien.tran.9… Liên hệ: Số điện thoại, Zalo, Viber 0906.377.999 (Hữu Thiện) 👉Liên hệ để hỗ trợ cho các hoàn cảnh khó khăn 👉Chủ TK: Trần Hữu Thiện 👉STK: 070104748145 👉SACOMBANK :CHI NHÁNH BẾN TRE 👉Nội dung : tên người gửi + hoàn cảnh nhận:…………………. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn CẢ NHÀ! —————– HÃY nhấn SUBSCRIBE/ĐĂNG KÝ ngay để theo dõi video mới nhất từ Hữu Thiện vlog nhé / Please SUBSCRIBE my channel. #HUUTHIENVLOG#MaiThịMịnh

The Jimmy Show | Nhạc sĩ Trúc Hồ (Phần 3) | SET TV www.setchannel.tv

The Jimmy Show | Nhạc sĩ Trúc Hồ (Phần 3) | SET TV http://www.setchannel.tv

12,562 views•Premiered Aug 17, 2020 2716ShareSaveSaigon Entertainment Television 148K subscribers Quý vị có thể theo dõi chương trình của đài Saigon Entertainment Television (SET) phát song trực tiếp trên các hệ thống sau: Đài SET 1 phát trên băng tầng 57.11 – Miền Nam California Đài SET 2 phát trên băng tầng 16.11 – Miền Bắc California, San Jose và 27.2 – Tại Houston, Texas. Ngoài ra chương trình còn có mặt trên tất cả các thiết bị IPhone, Ipad, Android, Roku TV, Amazon Fire TV. Và đặt biệt có trên Samsung Smart TV Apps với ứng dụng tên: SET GROUP TV” Mọi chi tiết xin vui lòng liên lạc về đài SET tại địa chỉ info@setchannel.tv hoặc qua số phone (714) 266-3666 Address: 10531 Garden Grove Blvd, Suite 200 Garden Grove, CA 92843 Tel: 714-266-3666 Email: info@setchannel.tv Website: http://www.setchannel.tv