Mois : mai 2020

Nguyễn Vĩnh Bảo/Điểm qua một số nhạc sư, nhạc sĩ vang bóng một thời

Điểm qua một số nhạc sư, nhạc sĩ vang bóng một thời

Nguyễn Vĩnh Bảo

  • Ông Nguyễn Văn Kỳ (Chín Kỳ), vợ là bà Hai Quạ, một danh ca vào thập niên 1935 cùng thời với một số danh ca khác như:
  • Bà Tám Song, (phu nhân ông giáo Lý văn Đồ),
  • Bà Hồ thị Bửu (Bà Mười Ba), phu nhân nhạc sư Phạm văn Nghi, Giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài gòn,
  • Bà Tư Cầu Mồng gà, ái nữ nhạc sư Năm Tịnh (Cần đước),
  • Bà Ba Vàm Lẻo, (Bạc liêu),
  • Bà Hồ thuyết Loan, (Mười Tân châu),
  • Cô Ngọc Ánh….

Ông Nguyễn Văn Kỳ (Chín Kỳ)

Sở trường của ông Chín Kỳ là cây đàn Tranh. Nắm vững nhiều bài bản, với phong cách đàn là Tài tử Nam bộ. Môn sinh của ông phần đông thuộc thượng lưu trí thức như:

  • Cố Bác sĩ Nguyễn Văn Nhã, (thân phụ của nữ luật sư Nguyễn Phước Đại),
  • Cố Bác sĩ Nguyễn Văn Bửu, Giàm đốc Bịnh viện Nhi đồng Sàigòn,
  • Cố tham tá (Commis) Bùi Văn Hai, tùng sự tại Bộ Ngoại giao,
  • những ái nữ của Cố bác sĩ Phan Văn Đệ, Giám đốc Bịnh viện Chợ Rẫy (Hôpital Lalung Bonnaire) Chợ lớn.

Là con người bình dị, vui tính, dễ mến, nhưng đôi khi cũng hóm hỉnh, không bí hiểm dấu nghề, lúc nào cũng sẵn sàng xan xẻ sự hiểu biết của minh với mọi người, ai cần bản gi chạy đến hỏi thì ông đọc miệng cho chép để mang về học và sau đó trở lại đàn cho ông nghe để góp ý.

Xin mở dấu ngoặc tại đây để nói lên cái hóm hỉnh của ông.

Thập niên 1954, hằng tháng ít nhứt cũng là hai tối thứ bảy, Bác sĩ Nguyễn văn Bửu tổ chức đàn ca tại tư gia.

Giàn đờn gồm có Nhạc sư Nguyễn văn Kỳ (Chín Kỳ) (Tranh), Cao hoài Sang (Tỳ bà), Nguyễn văn Thinh (Kìm), Lê văn An (Tranh), Bảy Phuông (Cò), Bùi văn Hai (Tỳ bà), và tôi là Vĩnh Bảo (Kìm, Tranh, Gáo).

Ca: Bà Hai Quạ (phu nhân ông Chín Kỳ), Bà Hồ thị Bửu (Bà Mười Ba), Hồ tuyết Loan (Mười Tân châu).

Thính giả phần đông là bạn bè của ông, có địa vị cao trong xã hội.

Một hôm, Bác sĩ Bửu căn dặn ông Chín Kỳ chọn giùm cô ca sĩ nào ca hay nhứt. Thế là ông Chín Kỳ mời cô Ngọc Đáng. Cô nầy ca hay, nhưng không đẹp gái, da ngâm, và ốm như con khô hố.

Theo thông lệ, cơm tối xong mới tới cái màn đàn ca.

Hôm ấy, tại bàn ăn, Bác sĩ Bửu vói nói với ông Chín Kỳ: “Bộ hết người ca rồi sao mà anh lại chọn cô ca si nầy không có ngực”.

Ông Chín Kỳ nhanh miệng phản phé “Bác sĩ dặn tôi kiếm ca chớ nào có dặn kiếm vú”. Mọi người trong bàn ăn cười rộ lên.

Năm 1956, tôi mời Nhạc sư Nguyễn văn Kỳ (Chín Kỳ) vào dạy môn đàn Tranh. Dạy được khoảng 4 tháng, thì ông bị cảm nặng. Vì là Thầy dạy đàn Tranh cho các con gái mình, nên khi hay tin, Bác sĩ Phan Văn Đệ, Giám độc Bịnh viện Chợ rẩy, liền cho xe rước ông về nhà riêng ở đường Trần Hoàng Quân, Chợ lớn săn sóc và chữa trị. Ông Chín Kỳ vốn là người tế nhị, cảm thấy ngại làm rộn người khác, nên qua ngày thứ thấy kha khá trong người, lúc 4 giờ sáng thừa lúc mọi trong nhà đang ngon giấc, ông lén mở cửa ra kêu xe cyclo chở thẳng vê nhà ở Hòa Hưng. Đêm khuya sương gió, ông bị trúng lạnh, nên khi về đến nhà thì năm vùi. Tôi có đến thăm và hỏi sao không ở nhà Bác sĩ Đệ cho dứt bịnh hay về, thì ông nói hai ông Bà Đệ rất là tử tế, ông đâm ra ngại. Về nhà đuợc 5 ngày thì ông qua đời, để lại đứa con gái 7 tuổi, về sau ông bà Phạm Văn Nghi (Giáo sư đàn Tranh và đàn Cò) ôm về nuôi, dạy cho ca hát múa. Cái buồn khó quên của tôi là ông chết trong khi chưa kịp lãnh một xu lương tiền dạy đàn của nhà trường.

Bà Hai Quạ, phu nhân Ô. Chín Kỳ.

Kể về Ô. Chín Kỳ thiết nghĩ cũng nên nói sơ qua về Bà Hai Quạ để các bạn nghe chơi cho vui, đồng thời giúp cho các bạn khi đàn, chẳng nên xem thường những thính giả lãng hay nặng tai..

Một sáng của năm 1938, ở Xóm gà tại nhà Ô. Hai Én (tư chức hãng Descours & Cabaud). Ô. Hai Én đàn Guitare, anh Ba Cân (làm việc Phòng Thông tin Pháp AFP) đàn Kìm, và tôi đàn Gáo. Bà Hai Quạ ca. Bà hỏi tôi đàn bản gì cho Bà ca.

Tôi nói là đàn Bản Phụng cầu hoàng.

Bà hỏi tới hỏi lui “bản gì, bản gì” mãi.

Tôi nói: Bà lãng tai quá mà ca cái nỗi gì?

Bà phất tay, ra hiệu “đàn đi, tôi ca”.

Ba chúng tôi bèn vào đàn, Bà ca rất hay, đúng giọng, đúng hơi, đúng nhịp. Tôi hỏi Bà: Tại sao lúc tôi nói, tai Bà không nghe, mà khi đàn thì Bà lại ca được. Bà trả lời: “Tiếng người nói không nghe, nhưng tiếng đàn thì nghe rất rõ”.

Ông Nguyễn Văn Thinh (Thầy Giáo Thinh)

Ông Thinh, sinh năm 1908 (Mậu Thân) tại Bình-hàng, tổng Phong Nẫm, tỉnh Sađéc, tốt nghiệp Trường Sư phạm (École Normale) Sàigòn, Giáo viên từ năm 1928 đến năm 1959, biệt phái về Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ năm 1960. giữ chức Giám học. Ông sử dụng đàn Kìm (Nguyệt), Tranh và Tỳ bà. Ngoài đời, từ năm 1945, ông nằm trong nhóm Lão thành Nhạc Tài tử Nam bộ gồm có Quý Ông:

  • Cao hoài Sang.
  • Nguyễn văn Kỳ (Chín Kỳ),
  • Lê văn An,
  • Bác sĩ Nguyễn văn Bửu,
  • Bùi văn Hai (Tham tá) (Commis) Bộ Ngoại giao,
  • ca si Bà Hồ thị Bửu (Bà Mười Ba, phu nhân Giáo sư Phạm văn Nghi)
  • và tôi là Nguyễn vĩnh Bảo.

Ô. Nguyễn văn Thinh, năm 14 tuổi, học lớp nhứt trường Tiểu học Thủ dầu một. Thời điểm nầy học đàn với ông Mười (thầy đàn tên tuổi ở Thủ dầu một), sau đó với Cụ Tám Hạnh ở đường Faucault (Lý trần Quán và nay là Thạch thị Thanh) Tân định, và Cụ Sáu Thới (thân phụ của nhạc sĩ Tư Bường). Khoảng năm 1930, ông tham gia vào Ban Tài tử Cao hoài Diêu, một trong những Ban nổi tiếng nhứt ở miền Đông.

Năm 1938, trình diễn tại Société Philarmonique (nay là Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ), số 112 đường Nguyễn Du, Quận 1. Ban nhạc gồm có Quý Ông:

  • Nguyễn văn Thinh (đàn Kìm)
  • Châu văn Sáu (ông Ba Laitière) (đàn Tranh)
  • Tám Đuổi (đàn Cò)
  • Ba Đồng ( đàn Cò)
  • Cụ Sáu Thới (thổi Tiêu)
  • Tư Bường (con Cụ Sáu Thới) (đàn Bầu)
  • Tư Kiên (đàn Tam)
  • Bác sĩ Châu (đàn Tỳ bà)
  • Bác sĩ Nguyễn văn Nhã (Thân phụ Luật sư Nguyễn phước Đại) (đàn Tranh)

CA: các Bà:

  • Tư Cần đước,
  • Bà Hai Quạ (phu nhân nhạc sư Chín Kỳ)
  • Bà Ba Nhơn.

Ô. Nguyễn văn Thinh là nhà giáo xuất thân từ trường sư phạm (École normale) SàiGòn. Ông sử dụng đàn Kìm, Tranh và Tỳ bà. Bài bản nhiều và căn bản. Anh em của ông toàn là Tiến sĩ, Bác sĩ, Họa sĩ, phu nhân của ông là Nữ-hộ-sanh và là chủ nhà Bảo Sanh Ngọc Lành ở hẻm đường Audouit (Cao Thắng), còn nhà thi quay mặt ra đường Testard (nay là Trân quý Cáp, Trần cao Vân). Là nhà giáo, trước đây âm nhạc là thú vui môn giải trí của ông, và không dạy hay truyền bá lại cho cho ai.

Năm 1958, ông sắp về hưu, tôi đứng ra vận động cho ông được lưu dụng để Trường mời về đảm nhiệm chức Giám Học thay cho Giáo sư Nguyễn Hữu Ba. Ông Thinh làm việc từ năm 1959, và nghỉ hưu năm 1964.

Sau 30-04-1975, mặc dù tuổi cao, ông cộng tác với Viện âm nhạc, số 2 đường Nguyễn Quý Khoách, Tân Định, qua đời vào tuổi 86 tại Sàigòn, và an táng tại quê nhà Sađéc.

Ông Cao Hoài Sang

Sanh ngày 11-09-1901 tại làng Thái Bình, tỉnh Tây Ninh.

Thân phụ của Ông là CAO HOÀI ÂN, thân mẫu là HỒ THỊ LỰ.

Ông là Công chức cao cấp trào Pháp thuộc (Tham tá Sở Quan thuế – Commis des Doaunes & Régies)

Ông và 2 em:

  • Ô. Cao đức Trọng (Thiên Phong TIẾP ĐẠO – Hiệp Thiên Đài),
  • Cao thị Cường (Thiên Phong Nữ Giáo sư – Cửu Trùng Đài),

Ông Cao hoài Sang (Thiên Phong THƯỢNG SANH – Hiệp Thiên Đài). Ông chơi đàn Tỳ Bà, thuộc nhiều bài bản, và soạn lời ca rất có giá trị cho Quyển dạy đàn Tranh do 3 ông: Nguyễn văn Kỳ (Chín Kỳ), Bác sĩ Nguyễn văn Bửu và Bùi văn Hai biên soạn và xuất bản.

Ngày 14-05-1957, Ông thay mặt Phạm Hộ Pháp (Phạm công Tắc) về Tòa Thánh Tây Ninh cầm giềng mối Đạo. Ông ngọa bịnh và qua đời ngày 21-04-1971 tại tư gia số 36/24 đường Cô Giang, hưởng thọ 71 tuổi.

Từ ngày 14-05-1957 về Tòa Thánh Tây Ninh đến ngày quy thiên, tính ra là 14 năm thiếu 20 ngày.

Ông Lê Văn An (Năm An)

Ông An tư chức cảng Nhà rồng (Messageries Maritimes) Khánh Hội, chuyên về đàn Tranh, bài bản nhiều, tương tợ như ông Thinh. Khoảng năm 1960 ông có dạy năm tháng tại trường Quốc Gia Âm nhạc Sài gòn.

Ông Phạm Văn Nghi (Tư Nghi)

Ông Nghi, thư ký Quận Gò Vấp. Phu nhân là danh ca Hồ Thị Bửu (tục danh Bà Mười Ba, chị Bà Mười bốn, phu nhân Ô. Nguyễn văn Lượng, chủ nhà thuốc Nhành Mai sản xuất cao đơn huờn tán, nổi danh nhứt là thuốc dán con rắn và thuốc trị ghẻ ngứa). Ông Nghi sử dụng nhiều loại nhạc khí như: Tranh, Kìm, Cò, Gáo. Bài bản nhiều, và cơ bản.

Hai Ông Bà không con, nên ông bà nuôi lủ khủ 7, 8 trẻ khoảng 9, 10 tuổi, dạy cho chúng đàn ca múa hát, trong đó có cô Ngọc Dung, trước đây nằm trong nhóm Hoa Sim (Phạm thúy-Hoan, Ngọc Dung, Phương-Oanh). Cô Ngọc-Dung từ lâu dạy đàn Tranh tại California, Hoa Kỳ. Tại Trường nhạc, Ô. Tư Nghi dạy đàn Tranh và đàn Cò, còn Bà thì dạy ca. Ông bà qua đời khoảng 15 năm tại Định Quán.

Cụ Trần Văn Triều (Bảy Triều)

Sanh trưởng tại chợ giữa Mỹ Tho, Cụ là thân phụ của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê và nghệ sĩ Trần Văn Trạch. Chính Cụ đã sáng chế ra dây Tố-Lan cho đàn Kìm (Nguyệt) – tương tợ như dây Hò nhì và Bắc Hò nhì – để diển tả bản Văn thiên Tường.

Cách lên dây Tố-Lan:

  • Dây trơn (open string): dây to (Tồn) (sol), dây nhỏ (công) (fa).
  • chủ âm: (fundamental note): dây nhỏ bấm phím 1, khảy chung với dây to trơn là đồng âm (unisson) (Hò-Liêu) (Sol-sol).

Dây Tố Lan cung bực tương tợ như dây Hò nhì, nhưng dây Hò nhì 2 dây to và nhỏ lên như sau:

Cách lên dây Hò nhì:

  • Dây trơn (open string): dây to (Xề) (Ré), dây nhỏ (công) (fa).
  • chủ âm: dây nhỏ bấm phím 1, khảy chung với dây to trơn là (xàng-liêu) (Do-sol).

Tại sao là tên Tố-Lan?

(nơi đây, xin bạn Trần Văn Khê cho tôi được tóm lược lời kể lại của Giáo sư Hồ Hữu Tường như sau): Cụ Bảy Triều và cụ Nguyễn An Ninh học cùng lớp tại trường Bổn Quốc (Chasseloup Laubat) (nay là Lê Quý Đôn). Ngày xưa tại Sài gòn có nhiều trường như: Huỳnh khương Ninh, Nguyễn xích Hồng, Nguyễn phan Long, Lê bá Cang, Chấn Thanh, Nguyễn văn Khuê, Général De Gaulle, Lanzarotte, Lycéum Paul Doumer. Nhưng chỉ có hai trường khó xin cho con cái vào học là Trường Bổn Quốc và Trường Taberd. Trường Bổn Quốc thực chất là dành cho con Tây hay dân Tây học (chỉ có gia đình giàu, có vi cánh mới vận động cho con được vào). Học sinh Trường Bổn Quốc, ngày chủ nhựt nghỉ, học sinh đi dạo ngoài đường phố, bị bắt buộc phải đội kết và mang phù hiệu, nhìn trông vừa đẹp vừa oai, còn học sinh Trường Taberd thì áo dài đen. Phần đông nữ sinh Trường Áo tím (École des Jeunes Filles) (nay là Trường Gia Long) ưa nhìn và làm quen với học sinh Trường Bổn Quốc (bởi nghĩ rằng mấy cậu ấm nầy là con nhà giàu, gia đình danh giá) hơn là học sinh Trường Taberd mà họ gọi là “con Quạ”.

Hai Cụ Nguyễn an Ninh và Bảy Triều ai cũng có một bạn gái. Cụ Nguyễn An Ninh là cô Chín Phòng, học sinh Trường Áo trắng (Saint Paul ), Cụ Bảy Triều thì cô Tố Lan, học sinh Trường Áo tím. Cô Tố-Lan biết đàn lẫn ca, nên đối với cụ Bảy Triều, cô vừa là tri âm vừa là tri kỷ. Học tới năm thứ 4, chuẩn bị thi bằng Thành Chung (Diplôme d’Études Primaires Supérieures Indochinoises) – viết tắt là DEPSI –, thì thình lình Cụ Bảy Triều hay tin người yêu qua đời. Phải chăng vì buồn mà xao lãng việc học, nên năm ấy cụ thi rớt.

Về nhà, ví mình như Bá Nha bị mất đi Tử Kỳ, nên Cụ lấy đàn Kìm ra vừa đàn vừa đặt lời ca cho bài Tứ Đại Oán nói về người yêu. Bài ca đặt chưa xong thì vì có việc gấp phải đi, nên Cụ treo cây đàn trở lại trên vách. Vừa đi vừa sáng tác, nên khi về tới nhà, bởi sợ quên, nên cụ vói lấy cây đàn Kìm để viết tiếp lời ca. Nhưng không ngờ cây đàn bị tuột dây to (nốt Tồn), Cụ không buồn chỉnh lại, cứ để vậy mà đàn, nhưng không ngờ cái dây nầy nó tạo cho Cụ cái hào hứng lạ thường, nên Cụ giữ dây nầy luôn và đặt cho nó cái tên là Tố-Lan.

Ngón đàn Kìm của cụ Bảy Triều tươi mát ngọt ngào mùi mẫn, làm xoáy tim người nghe, nên có tiếng đồn rằng “ai mà chưa được dịp nghe Cụ Bày Triều đàn Kìm trên dây Tố-Lan thì kể như người ấy còn thiếu trong việc nghe nhạc Việt nam”.

Ông Hồng Tấn Phát (Hai Phát)

Người gốc Trà Vinh, nghiện á-phiện, điêu luyện trên 3 nhạc khí như Đàn Tam, đàn Cò, và đàn Violon. Chẳng những giỏi bên tài tử Nam Bộ, ông còn giỏi về nhạc lễ, nhứt là đường roi (đánh trống). Ngoài tính cách giòn tan, lại còn thêm cao siêu về tiết tấu (rythme). Môn đệ của ông là hai danh cầm Hai Thơm (Violon) và Văn Vĩ (Guitare).

Đàn tam là loại đàn ba dây nylon. Thùng đàn hình chữ nhật dài 18 phân, ngang 14 phân, dày 10 phân. Một bên bịt bằng da trăn hay da con kỳ đà, một bên để trống, cần đàn dài nhưng lại không có phím. Âm thanh của đàn Tam tương tợ âm thanh đàn Banjo; nhưng khác hơn Banjo, âm thanh của đàn tam đã cứng ngắc, lại kém dư âm. Giá dùng nó để tả tiếng nấc của người Chinh Phu trong phòng the gối chiếc thì không gì đúng hơn.

Những ai từng nghe bản Lưu thủy trường – Hai Phát đàn Tam – Vĩnh Bảo đàn Tranh 21 dây trong băng Nam Bình hai[1] thì sẽ ngạc nhiên thấy dưới đầu 4 ngón tay thần dịu của ông, cung bậc trở thành phân minh chững chạc, âm vang tròn trịa phong phú như bất cứ loại đàn dây nào có phím. Đó là những đoạn chuyển biến khoan thai; nhưng khi chạy chữ nhanh (vélocité) thì âm thanh dồn dập như thác đổ, nhịp điệu gút mắc, chứng tỏ một tài năng và sự điêu luyện đã đến mức tột đỉnh. Nếu chạy chữ trên cây đàn Vĩ cầm (Violon) đòi hỏi phải có thính giác mẫn tiếp, ngón đàn chính xác thế nào, thì chạy chữ trên đàn Tam cũng như vậy, mà còn cao hơn thế nữa, vì Vĩ cầm với 4 dây âm hưởng hơn, âm thanh phát ra dễ hơn, nghe rõ hơn. Đàn cò: lối đàn của ông Hai Phát là kéo cung dài; đàn mực thước đạo mạo thật là sâu sắc theo thế hệ cổ.

Một buổi sáng vào hạ tuần tháng 11 năm 1972, từ Tòa Thánh Tây Ninh về, ông cùng nhạc sĩ Bảy Hàm đến thăm tôi (Vĩnh Bảo). Lần này gặp lại, tôi thấy ông yếu đi nhiều, hai chân sưng to lên, lở loét, bên ngoài băng vải. Sau nửa giờ thăm hỏi, tôi mang đàn ra để cùng đàn và thâu thanh chơi. Ông đàn Cò, Bảy Hàm đàn Kìm, tôi đàn Tranh, hòa tấu bản Tây Thi Vắn. Lúc nầy ông lên dây đàn không còn chính xác như xưa, khiến tôi phải điều chỉnh giúp ông. Hòa tấu tới câu 8 thì ông Hai Phát đàn lộn câu lẫn sai nhịp. Ông Bảy Hàm yêu cầu tôi xóa đi để đàn lại. Nhưng ông Hai Phát và tôi không đồng ý. Ông Hai Phát nói: “Mặc kệ, đàn trúng trật hay dở không là vấn đề. Lần nầy đến thăm Vĩnh Bảo để nói chuyện và hòa đàn chơi và xem như gặp nhau lần chót để rồi về Trà Vinh chết. Trước khi nhắm mắt, điều mà tôi mãn nguyện là được Vĩnh Bảo mời đàn cho 2 cuốn băng Nam Bình I và II, lưu lại cho hậu thế tiếng đàn của một nhạc sĩ nhiều truân chuyên và bất hạnh. Đây là lời trối trăn, mười ngày sau đó, tôi được báo cho biết là Ông đã qua đời. Vì hay tin trễ, tôi không dự đuợc đám tang Ông. Tuy nhiên nhóm Duy Lân cùng một số nhạc sĩ đã xuống Trà Vinh lo ma chay cho ông và tiễn ông đến phần mộ.

Ông Huỳnh Văn Sâm (Sáu Tửng)

Người gốc Gò Công, nghiện á-phiện, thân phụ của tay trống có hạng Huỳnh Anh và nữ ca sĩ Bạch Huệ. Cái tên Huỳnh văn Sâm, nhứt là cái tên Sáu Tửng, thì không xa lạ gì đối nhạc sư nhạc sĩ miền Nam lẩn Trung và Bắc, kể ca những người yêu nhạc. Nhiều nhạc sĩ đàn Kìm ảnh hưởng đến lối đàn của ông và đàn giông giống ông.

Sở trường của ông là cây đàn Kìm và Xến. Đàn Kìm, đàn Xến, thay vì tay trái bấm dây đủ 4 ngón (trỏ, giữa, áp út và út) như vậy mới nhấn được chữ đàn có gân, chuyền chạy chữ mới nhanh. Đằng nầy ông chỉ sử dụng 2 ngón (trỏ và giữa), lướt một cách nhanh nhẹn, lưu loát trên phím đàn không thua gì người sử 4 ngón.

Tôi quen ông vào năm 1930, lúc ấy ông đàn Kìm chánh cho gánh Hồng Nhựt hát tại Cao Lãnh (quê của tôi) và tôi được dịp nghe ông đàn Kìm trên dây Hò Ba cho chị Hai Thân và chị Sáu Liềng (danh ca Cao Lãnh) ca, và dây Bắc Oán cho Anh Bé ở Nha Mân (Cái Tàu Hạ – đồng hương với danh ca Tám Thưa -) ca Vọng cổ và Tây Thi hơi Quảng. Thời điểm nầy tôi không thấy nhạc sĩ đàn Kìm nào sử dụng hai loại dây Hò Ba và Bắc Oán nầy, và riêng tôi, tôi cho rằng ông Sáu Tửng là người sáng chế. Năm 1935, xuyên qua dĩa nhựa Béka, tôi có nghe ông độc tấu Tây Thi Hơi Quảng đàn Kìm trên dây Bắc Oán.

Từ năm 1928, ông luôn luôn là tay đàn Kìm chánh cho nhiều gánh hát Cải lương như: Văn Hí Ban, Võ Hí Ban, Phước Cương, Trần Đắt, Hồng Nhựt, Thanh Niên, Phụng Hảo, đàn thu rất nhiều dĩa nhựa như Béka, Pathé, Asia, Hoành sơn, Hồng Hoa, Việt Hải, Tri âm, Kim Khánh…. Tuồng hát nào mà Cô Bảy Phùng Há có vai, thì đàn Kìm nhứt định phải là Sáu Tửng, Cô mới chịu, y hệt như ca sĩ Thành Công, ca thì phải có Hai Long đệm đàn Guitare-mando.

Thập niên 1940, ông ra Bắc dạy đàn Kìm.

Năm 1955, ông Ba Quan (Chủ tiệm hột xoàn Ba Quan Chợ cũ), mời ông, Duy Lân, Tám Thưa, Việt Hùng, Cô Tư Bé, và nhạc sĩ Nguyễn thế Huyện (Tư Huyện) (đàn Cò và Violon) sang Pháp làm dĩa nhựa mang nhãn hiệu Kim Khánh.

Năm 1960, tối ông đàn cho gánh hát, trưa quay về Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ để cùng hai nhạc sĩ Ba Dư (đàn Tranh), Chín Trích (đàn Cò) đệm cho học sinh lớp Sân Khấu ca diễn. Lối đàn Kìm và Xến của ông rất là độc đáo. Tiéng đàn phát ra nghe rất anh hùng và tự tin. Chữ đàn sắp xếp sắc sảo, câu cú tròn vành rõ nghĩa, hơi nào ra hơi nấy, tiết tấu mắc mỏ, mùi, dễ gợi cảm cho người cùng đàn. Trong hòa tấu, lối đàn rất là sôi động, ra vô, quăng bắt của ông rất là mạch lạc, tạo hào hứng cho người cùng đàn. Có những lúc đang đàn, ông đơn phương ngưng nghỉ, rồi một lát sau đó, bất thần nhào đại vô, làm cho người cùng đàn giựt mình, có khi bị rơi đàì. Mỗi lần có dịp hòa đàn với ông, tôi luôn bắt gặp nơi ông có mốt số câu đàn mới, lạ và hay. Có lần ông tâm sự với tôi: “Về đêm, sau vãn hát, mọi người lo đi ngủ, còn tôi thì sau khi kéo vài điếu (ông nghiện á phiện) tôi ôm đàn Kìm, chế ra nhửng câu đàn mới”. Cái sợ nhứt của tôi là đàn vào đêm thanh vắng, chữ đàn ma nhấn chưa chín, tai mình nghe rõ mồn một. Không như Vĩnh Bảo có cách ghi ra giấy, mổi khi sáng tác ra câu nào thì tôi ôm đàn, đàn đi đàn lại cho thật thuộc câu nấy, nếu không thì ngày mai lai quên mất. Băng Nam Bình I, qua nhửng hòa tấu: Ngũ Đối Hạ, Lưu Thủy Trường, 6 câu Vọng cổ nhịp 32 (Sáu Từng (Kìm), Chín Trích (Cò), Vĩnh Bảo (Tranh), người nghe có thể nhận thấy lối đàn độc đáo của ông Sáu Tửng.

Năm 1938 tôi có dịp đàn 20 câu Vọng cổ nhịp 16 vô dĩa nhựa Béka (Năm Nghĩa (Trà Ôn) đàn Tranh, Ba Cân (Xóm Gà) đàn Kìm, tôi đàn Gáo, Cô Ba Thiệt (chị ca sĩ Năm Cần thơ) ca).

Thường khi 20 câu Vọng cổ nhịp 16 gói gọn trong 2 dĩa. Mỗi mặt qui định là 3 phút (không dư một giây).

  • Dĩa 1, mặt A: Rao, và câu 1, 2, 3 và 4, mặt B: câu 5, 6, 7, 8, 9, 10.
  • Dĩa 2, mặt A: câu 11, 12, 13, 14, 15 câu, mặt B: 16, 17, 18, 19, 20.

Phần đông nhạc sĩ phải đàn đi đàn lại nhiều mới xong một mặt dĩa. Riêng ông Sáu Tửng, ông canh trường tống (tempo) rất chính xac. Chỉ một keo là ăn tiền. Ông sống nghèo tại hẻm Taberd (Nguyễn Du). Có lần tôi đề nghị ông để tôi nhờ Bác sĩ quen thân (Bác sĩ Phạm kim Tương) giúp ông cai á phiện. Ông đáp lại tôi bằng một câu xanh rờn: “Vĩnh Bảo phải biết, Sáu Tửng sống là để hút và đàn”. Không bao giờ tôi quên được lần cuối cùng găp ông tại nhà may Nguyễn văn Phú ở đường d’Ormay Sàigòn vào năm 1980. Đêm ấy có tổ chức đàn ca tận trên lầu bốn. Thính giả phần đông là cao tuổi và tri âm. Tay đờn thì có nhạc sĩ Thanh Tuyền đàn Kìm, Tư Huyện đàn Cò và violon, tôi đàn Tranh, 2 Cô Thanh Trang và Thanh Hoa ca. Sở dỉ không mời ông Sáu Tửng vì anh em ngại cho sức khỏe của ông.

Nhưng bất ngờ ông tự động đến, vạnh bên là cô ca sĩ Huệ Nhi dìu ông lên lầu. Gặp ông tôi rất mừng bởi có tay đàn ưng ý. Nhưng vì thương và lo cho sức khỏe của ông, tôi trách ông đến làm chi. Trước mặt mọi người ông nói: Dù không đựoc mời, nhưng tối cố gắng đến cốt là để nghe Vĩnh Bảo đàn. Tôi đỡ lời: anh Sáu, anh có lạ gì với tiếng đàn của tôi?. Bắt đầu đàn, ông ôm đàn Kìm rao trước, Tranh, violon cùng rao theo, cô Thanh Trang nói lối. Khi vào Vọng cổ, Ông ngưng đàn, nghẻo đầu tựa vào vành đàn, nhắm mắt nghe. Tôi thầm nghĩ rằng từ đây sẽ không còn dịp nghe tiếng đàn Sáu Tửng hay cùng hòa đàn với ông nữa. Đúng vậy, một tuần sau nghe tin ông qua đời ….

Tôi quen với ông từ năm 1930 tại Cao Lãnh. Nhửng dịp theo gánh lên hát ở Nam vang vào năm 1935, 1936, ông đến nhà tôi gần như hằng đêm sau khi vãn hát. Giữa ông và tôi có nhiều kỷ niệm khó quên.

______________

[1] Băng Nam Bình 1 và 2 mang tên “Tiếng Đàn Tranh” do Nguyễn công Bình và Vĩnh Bảo thực hiện, phát hành vào năm 1969.Nguyễn Vĩnh Bảo

28-7-2015
Nguồn: https://nguyenvinhbao.wordpress.com/category/bai-viet-am-nhac/

Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt | Khánh Ly thâu năm 1978 / chương trình truyền hình Việt Nam đầu tiên của người tỵ nạn tại Hoa Kỳ do Hội Nghệ Sĩ VN 1978

Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt | Khánh Ly thâu năm 1978

khanh ly hát bản Saigon ơi vĩnh biệt (Nam Lộc)
nhạc sĩ Nam Lộc

Một tài liệu quý mà hôm nay Jimmy xin chia sẻ cùng quý vị, chương trình truyền hình Việt Nam đầu tiên của người tỵ nạn tại Hoa Kỳ do Hội Nghệ Sĩ VN do cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm hội trưởng, tài tử Kieu Chinh làm hội phó phối hợp với Hội Người Việt tại California thực hiện, dưới sự bảo trợ của cơ quan Bác Ái Công Giáo

Chương trình truyền hình đầu tiên này được quay vào tháng Tư năm 1978 đài truyền hình KSCI-Channel 18 tại Los Angeles đã dành cho hội Nghệ Sĩ VN và cộng đồng Người Việt California một chương trình kỷ niệm 3 năm ngày xa xứ, có tên là Giao Chỉ, do hai tài tử Lê Quỳnh và Kiều Chinh giới thiệu

Một tài liệu quý mà hôm nay Jimmy xin chia sẻ cùng quý vị, chương trình truyền hình Việt Nam đầu tiên của người tỵ nạn tại Hoa Kỳ do Hội Nghệ Sĩ VN do cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm hội trưởng, tài tử Kieu Chinh làm hội phó phối hợp với Hội Người Việt tại California thực hiện, dưới sự bảo trợ của cơ quan Bác Ái Công Giáo

Chương trình truyền hình đầu tiên này được quay vào tháng Tư năm 1978 đài truyền hình KSCI-Channel 18 tại Los Angeles đã dành cho hội Nghệ Sĩ VN và cộng đồng Người Việt California một chương trình kỷ niệm 3 năm ngày xa xứ, có tên là Giao Chỉ, do hai tài tử Lê Quỳnh và Kiều Chinh giới thiệu, cô Khánh Ly đã trình bầy ca khúc “Sài Gòn Ơi, Vĩnh Biệt!” của nhạc sĩ Nam Lộc lần đầu tiên trên hệ thống truyền hình. Mời quý vị cùng nghe và xem lại sau đây, cùng âm thanh và hình ảnh, tuy rất thô sơ nhưng đầy kỷ niệm của 42 năm về trước…

HOÀNG LAN : Nhạc sĩ Hùng Lân (1922 – 1986)

Hoàng Lan‎ toSalut Saigon & Salut Les Copains2 hrsHoàng LanJune 1, 2019

Nhạc sĩ Hùng Lân (1922 – 1986)

Tên thật là Hoàng Văn Hương , tên khai sinh là Hoàng Văn Cường, chính gốc họ Nguyễn. Ông được sinh trong một gia đình Công Giáo, đông anh em, bố mẹ mất sớm

Bút hiệu Hùng Lân ra đời, được ghép từ hai tên của người em thứ năm và thứ tám của ông. Ngoài ra, ông còn dùng bút danh Nam Hoa, Lâm Thanh

Năm 1951, Hùng Lân lập gia đình với bà Nguyễn Thị Dung – một thiếu nữ hát rất hay, đã từng hát đơn ca trong ca kịch “Tục lụy” của Lưu Hữu Phước và Thế Lữ – và có sáu con gái, một trai

Từ năm 8 tuổi, ông được theo học nhạc linh mục người Pháp P. Depautis và linh mục J. Bouis, được tuyển vào ban hợp xướng Nhà Thờ Lớn Hà Nội
Sự nghiệp âm nhạc của ông dành phần lớn cho nhạc thánh ca nhà thờ

Năm 1945, Ông là đoàn trưởng ca đoàn Lê Bảo Tịnh .Sự thành công nhất định của ca đoàn Lê Bảo Tinh đã có phần góp không nhỏ của ông .Ngoài ra, nhạc sĩ Hùng Lân còn là người khởi xướng và phát huy phong trào dùng tiếng Việt trong Thánh ca. Nhạc phẩm nổi tiếng Silent Night đã được ông chuyển lời Việt Đêm Thánh Vô Cùng mà hầu như ai cũng thuộc lòng , được hát vang trong mùa Giáng Sinh
Hùng Lân sáng tác ba tập Thánh ca mang tựa đề “Ca vang lời Chúa” và khoảng 80 bài Thánh Vịnh Ứng Tác.
Năm 1948, Ông dạy âm nhạc tại trường Trung học Nguyễn Trãi , Chu Văn An , Hà Nội
Năm 1954, Hùng Lân di cư vào Nam
Năm 1963, ông tốt nghiệp cử nhân văn chương Pháp tại Đại học Văn khoa Sài Gòn
Ông tu nghiệp một khóa ngắn hạn tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và truyền thông tại Đại học Syracuse, tiểu bang New York (Hoa Kỳ).
– Ông là giáo sư âm nhạc của trường Ca vũ nhạc Phổ thông Sài Gòn
– Trưởng ban Phát thanh Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao Sài Gòn,
– Là một trong những sáng lập viên , giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn
– Người chủ xướng chương trình Đố Vui Để Học , do Trung Tâm Học Liệu phát hành trên Truyền Hình Việt Nam năm 1969
– Phụ trách chương trình Phát thanh Học đường cho trẻ em, thiếu niên ở đài phát thanh Sài Gòn VTVN
– Từ năm 1971 cho đến năm 1975, ông về Trường Sư phạm thuộc Đại học Đà Lạt dạy môn Sư phạm Âm nhạc.
Theo nhạc sĩ Phạm Duy,” nhạc đời
của nhạc sĩ Hùng Lân có thể chia làm ba thể loaị

– Tình yêu thiên nhiên
– Tình cảm cá nhân
– Kêu gọi thanh niên,”

Trong đó thể loại Kêu gọi Thanh Niên là nổi bật nhất và tiêu biểu cho khuynh hướng nhạc Hùng Lân Những bài hùng ca của ông đã thôi thúc, hun đúc ý chí giúp nước nhà , mang tầm ảnh hưởng lớn đến thanh niên như Khoẻ Vì Nước, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Rạng Đông, Cô Gái Việt, Mùa Hợp Tấu…

Ông được xem là người đầu tiên soạn sách giáo khoa âm nhạc và đưa âm nhạc vào dậy học sinh chính khoá trong trường học và được xem là bậc thầy trong khai phá nhạc đồng dao : Chi Chi Chành Chành, Nu Na Nu Nống,Kéo Cưa Lừa Xẻ,Tập Tầm Vông . Chắc chúng ta cũng không xa lạ với bài Em Yêu Ai, Thằng Tí Sún…

Ông xuất bản” Khai tâm và Sơ đẳng” gồm 2 tập, Cây Đàn Sống ( NXB Thế giới Hà Nội ) , Giáo khoa Âm nhạc ( lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ, Đệ tứ)
Theo Hồi ký Phạm Duy :
“… Khi Tân nhạc Việt Nam đang thành hình và phát triển, có một người hoạt động rất mạnh mẽ trong cả hai lĩnh vực nhạc đạo và nhạc đời, đó là Hùng Lân. Là người Công giáo, xuất thân từ nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh, ông là một trong những người tạo dựng nhạc Thánh ca.

Trong lĩnh vực nhạc đời, Hùng Lân là người có công lớn trong việc tạo dựng một nền nhạc vui khỏe. Nhạc vui tươi đã có người khởi đầu là Nguyễn Xuân Khoát, nay Hùng Lân là người tiếp tục, cùng với Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước v.v…”

Sách và nhạc phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Hùng Lân
Sách
• 1970: Tìm Hiểu Dân Nhạc Việt Nam
• 1971:Nhạc Ngữ Việt Nam
• 1972: Tìm hiểu dân ca Việt Nam (giải nhất Biên khảo Nghệ thuật)
• 1973: Vui Ca Lên 1 và 2
• 1975-1986: Nhạc lý tân biên (Di cảo)
Sách giáo khoa âm nhạc của giáo sư Hùng Lân đã xuất bản:
• 1952: Giáo khoa âm nhạc (giải thưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa)
• 1960: Nhạc lý toàn thư
• 1964: Hỏi và đáp nhạc lý, nhạc hòa âm và nhạc đơn điệu
• 1974: Thuật sáng tác ca khúc, Sư phạm âm nhạc thực hành
Ngoài ra ông còn soạn 100 bài viết cho phong cầm (Accordion) độc tấu hay đệm nhạc.
Ca khúc
• Cô Gái Việt
• Em yêu ai
• Hận Trương Chi
• Hè về
• Khỏe vì nước
• Lính mới tò te
• Một mùa xuân huyền ảo
• Mùa hợp tấu
• Rạng đông
• Sầu lữ thứ
• Thằng « Tí Sún »
• Tiếng gọi lên đường
• Trăng lên
• Việt Nam minh châu trời đông
• Vườn xuân
• Xóm nghèo
Thánh ca[
• Ai lên núi Chúa
• Cao vời khôn ví
• Chúa sống trong tôi
• Con nay trở về
• Con vươn hồn lên
• Có bao giờ
• Dâng hồn xác
• Đồng cỏ tươi
• Hai người tiên phong
• Hãy tiếp nhận con
• Hoan ca Phục Sinh
• Lên núi Sion
• Mẹ là mùa xuân
• Một giọt sương
• Nguyện cầu Thánh Linh
• Thắp ngọn nến hồng
• Thầy là cây nho
• Tôi không còn cô đơn
• Trèo lên cao sơn
• Trên núi Cây Dầu
• Vinh quang Chúa
• Vườn địa đàng
• Xin chỉ cho con
• Xin Thánh Thần

Bốn ái nữ của nhạc sĩ Hùng Lân Loan Hoang Hanh Liên , Hong Lang và Dieu Anh

Văn Môn cùng ban nhạc Quê Mẹ hòa đờn Phụng hoàng cầu – Trọn bản

Văn Môn cùng ban nhạc Quê Mẹ hòa đờn Phụng hoàng cầu – Trọn bản

50 views•Premiered 64 minutes ago 80ShareSavePhạm Văn Môn 1.8K subscribers Hòa tấu Phụng hoàng cầu (trọn bản), dàn nhạc: – NNND Út Tỵ đờn Gáo, NNUT Duy Kim đờn Tranh; NSUT Văn Môn đờn guitar VN và NNUT Huỳnh Tuấn đờn Kìm.

Nem Thủ Đức | Học cách làm nem chua, tìm hiểu làng nghề Sài Gòn | Sắc Màu Sài Gòn

Nem Thủ Đức | Học cách làm nem chua, tìm hiểu làng nghề Sài Gòn | Sắc Màu Sài Gòn

2,403 views•Nov 18, 2019 191ShareSaveCuuLong Films Nem Thủ Đức mang hương vị rất đặc trưng của nem miền Nam. Nghề làm nem chua ở Thủ Đức đã tồn tại từ lâu, trở thành một trong những làng nghề lâu đời ở Sài Gòn. Làng nghề Việt Nam không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa “nghề” với “nghiệp” mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác. Các làng nghề truyền thống đã từng là nguồn mưu sinh của rất nhiều hộ gia đình nhưng hiện tại đang có nguy cơ bị mai một theo thời gian bởi cơn lốc đô thị hóa và sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Sắc Màu Sài Gòn được CuuLong Films thực hiện với mong muốn mang đến cho khán giả góc nhìn đa chiều về Sài Gòn, một thành phố không ngừng đổi mới và phát triển. Thông qua quá trình trải nghiệm của các bạn trẻ, Sắc Màu Sài Gòn đã phản ánh được phần nào vai trò của giới trẻ đối với sự phát triển và thay đổi của thành phố, nơi mình đang sống và cống hiến. _________ CuuLong Films là kênh Youtube chính thức của Công Ty TNHH Hãng Phim Cửu Long. Kênh mang đến cho quý khán giả những sản phẩm Phim truyền hình chất lượng với nội dung sâu sắc, kịch tính, đầy hấp dẫn. Những chương trình truyền hình ý nghĩa, giàu cảm xúc, cùng những thông tin bổ ích sẽ được cập nhật và cung cấp đến quý khán giả. Quý khán hãy nhấn Đăng Ký (Subscribe) để cập nhật những thông tin mới nhất từ Kênh nhé. Chân thành cám ơn quý khán giả! Đăng ký (Subscribe) kênh Youtube: https://bit.ly/35Gzh2v Website: http://cuulongfilms.com/ Email: office@cuulongfilms.com

Khám phá công thức bí truyền nghề nem Thủ Đức

Khám phá công thức bí truyền nghề nem Thủ Đức

6,573 views•Oct 7, 2018 985ShareSaveNgon TV 179K subscribers Nhiều thương hiệu nổi tiếng một thời của làng nem Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) dần bị mai một, thì cơ sở nem Bà Chín vẫn trụ vững và phát triển. Gần 50 năm tuổi, nhưng nếu so với các cơ sở nem ở Thủ Đức thì nem bà Chín thuộc thế hệ « sinh sau đẻ muộn ». Tuy nhiên không vì thế mà chịu lép vế. ————- Ngon TV, kênh giới thiệu món ngon, văn hóa ẩm thực, cách thức chế biến các món ngon. Ngon TV là nơi hội tụ của những người mê ăn uống. Ngon TV là kênh chính thức của Báo Thanh Niên. Hãy truy cập: video.thanhnien.vn

Lan man chuyện món nem Thủ Đức

Trang chủVăn Hóa

Lan man chuyện món nem Thủ Đức

Đã có từ hơn 200 năm nay, chợ Thủ Đức là chứng nhân của biết bao thăng trầm hưng phế, là nơi không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân nơi đây. Chợ Thủ Đức có sau hành trình xuôi về phương nam của Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào thế kỷ 17.

Người lập ra chợ này vốn là một thương gia người Hoa bỏ nước ra đi sau khi phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại, đó chính là ông Tạ Dương Minh (Tạ Huy) hiệu Thủ Đức. Ông đã góp phần khai khẩn lập ấp vùng Linh Chiểu xưa và xây dựng ngôi chợ đầu tiên tại đây mang tên hiệu của ông là chợ Thủ Đức. Cũng có thuyết rằng tên gọi Thủ Đức là lấy từ tên một vị quan trấn thủ một khu đồi xưa trên khu vực này tên là Đức. Về sau, một thương gia tên Tạ Dương Minh đến đây lập chợ, lấy tên và chức của vị quan trấn thủ tên Đức kia đặt cho chợ Thủ Đức để tỏ lòng biết ơn, từ đó có địa danh Thủ Đức.

Lan man chuyện món nem Thủ Đức

Thủ Đức là một vùng nửa chợ nửa quê hấp dẫn đối với người dân Sài Gòn, có những chỗ vui chơi giải trí thơ mộng, không ồn ào náo nhiệt. Cuối tuần nếu dân Sài Gòn không đi tắm biển Vũng Tàu thường đến Thủ Đức tắm hồ, tắm suối, ăn nem nướng gói lá vông – nem Thủ Đức là một đặc sản nổi tiếng qua nhiều thập niên. Dọc các quán ăn, cửa hiệu ven đường, những chùm nem xanh tròn đầy treo lủng lẳng trông thật hấp dẫn:

Tay cầm bầu rượu nắm nem,
Mải vui quên hết lời em dặn dò.

Món nem Thủ Đức này cũng có chuyện riêng của nó.

Lan man chuyện món nem Thủ Đức

[x]

Theo lời kể của cháu ngoại người sáng tạo ra món nem Thủ Đức – cô Jeannette Anna Villaria, thì gần ga xe lửa Thủ Đức những năm đầu thế kỷ XX có một người phụ nữ góa chồng sớm, dựng quán cóc ven đường, tần tảo nuôi 6 đứa con thơ dại. Bà tên là Nguyễn Thị Kỳ nhưng vì có mái tóc quăn nên thường được gọi là Tư Quăn. Thường ghé quán bà Tư Quăn có ông “gác nhíp” xe lửa. Một hôm, bà Tư Quăn cầm trên tay miếng thịt heo tươi rói, định vô bếp nấu nướng cho khách, ông gác nhíp đang ngồi chờ đồ nhậu xuýt xoa: “Thịt ngon quá, bà sắt cho tôi một dĩa, cứ để sống, kèm món chuối chát, khế nhậu chơi”.

Bà Tư Quăn trợn tròn mắt hỏi lại: “Thịt sống như vầy mà ăn cái gì. Ông này ăn uống thiệt là…” Ông gác nhíp nói: “Bà không biết chớ thịt sống nhậu bắt lắm, chỉ cần… thêm củ tỏi, vài trái ớt, chút giấm.”

Bà Tư Quăn không mấy hào hứng với cách nhậu thịt sống này nhưng chiều khách, bà đề nghị: “Thôi, để tôi quết thịt cho nhuyễn, thêm chút ớt, tiêu tỏi dậy mùi chắc dễ nhậu hơn”. Nói là làm, chỉ vài phút sau, bà đã dọn lên dĩa thịt tươi bắt mắt, có rau sống đi kèm. Ông gác nhíp vừa lấy rau gói thịt, chấm nước mắm, khen tấm tắc.

Thấy khách khen ngon, bà cũng thấy vui trong bụng, thầm nghĩ: “Món thịt quết nhuyễn này chắc ngon hơn nếu như mình trộn thêm chút muối, nước mắm, thêm tỏi. À, còn mấy miếng da, mình sắt nhuyễn trộn vô luôn…” Nói là làm; lại thấy cây vông sau nhà ra lá xanh mơn mởn, bà hái xuống lau bụi, tiện tay vắt từng nắm thịt gói kín để ủ trong tô, đậy kín.

Quần quật công việc buôn bán, bà Tư Quăn quên phứt món thịt quết nhuyễn. Ba ngày sau, bà chợt nghe mùi thơm nức mũi từ cái tô để trong chạn bếp. Bà mở ra, ăn thử một miếng, thấy thơm ngon khác thường, mừng quá, kêu mọi người cùng nếm. Ai đã nếm một lần cũng chép miệng khen ngon. Vậy là bà Tư Quăn đặt món ăn mới của mình là Nem.

Lan man chuyện món nem Thủ Đức
Nem Thủ Đức. (Ảnh qua monngonsaithanh.vn)

Từ hôm đó, quán bà Tư Quăn tấp nập khách tới đòi ăn nem. Khách đông, bà Tư Quăn chế thêm nhiều món nữa. Thịt quết nhuyễn gói trong lá vông để ba ngày sau thành nem sống; muốn ăn liền đem chiên lên nóng sốt thành nem chiên; thêm trứng chiên lên thành ốp-lết nem…

Nhờ món nem, việc buôn bán của bà Tư Quăn ngày càng phát đạt. Từ quán lá ven đường bên ga xe lửa, bà cất thêm tòa nhà ngói, rồi sau này là nhà lầu, đến đời con gái bà phát triển thành nhà hàng, khách sạn; nhưng dù có bán thêm nhiều món ăn thì món nem vẫn là chủ đạo. Nhà hàng Thiên Lợi Thành ra đời từ những chiếc nem bé xíu, xinh xinh. Thấy bà Tư Quăn làm ăn phát đạt, nhiều người dân ở Thủ Đức đến học làm nem, cũng mở quán bán buôn. Nhưng hiệu nem Thiên Lợi Thành của bà Tư Quăn vẫn ngon nhất, đắt khách nhất. Dần dần, nem Thủ Đức trở thành món đặc sản ở ngoại thành Sài Gòn…

Lan man chuyện món nem Thủ Đức
Nhà hàng Thiên Lợi Thành.

Chuyện kể rằng năm 1928, thi sĩ Tản Đà được ông chủ bút tờ Đông Pháp Thời báo mời vào Sài Gòn làm việc. Khi tới Thủ Đức, Tản Đà đã mê mẩn món nem ở đây. Ông khoái nhất là món nem gói lá vông nhắm với rượu Gò Đen Bến Lức ở nhà hàng Thiên Lợi Thành này.

Lan man chuyện món nem Thủ Đức
Biển quán nem Thiên Hương Viên thời xưa.

Nem Thủ Đức đã từng độc tôn ở Sài Gòn và các tỉnh miền Đông, miền Tây một thời. Có những quán nem lừng lẫy thời ấy như Tư Liên, Sáu Trọc, Bảy Khá, Mười Sồi, Phước Tường Phát, Thiên Hương Viên…

Người Thủ Đức vốn tự hào:

Ở đâu mà chẳng biết ta,
Ta ở Thủ Đức, vốn nhà làm nem.

Theo Saigonxua.org và Fanpage Saigonxua
Độc giả quan tâm có thể ghé thăm Fanpage để tìm hiểu về Sài Gòn xưa.

PHAN ANH DŨNG biên soạn : NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019

tranquanghai1944Leave a comment       2 Votes

NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019
              Đại Học Cal State Long Beach, California
vinh danh GS Trần Quang Hải                                NGUỒN https://vietbao.com/ – 21/02/2019
                                        Trịnh Thanh Thủy thực hiện Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.
GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS Trần Quang Hải Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Cal State và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự. Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp (Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông (Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)
 Ban đại diện nhóm NVNT&TTG
Ban hợp ca Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại Đại học Cal State Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải. Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông. GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho Cộng đồng VN vì hiếm khi Khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt Đại học Cal State Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ. Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di
Quan Khách Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, Ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân NV Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v… Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời. Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền VN có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero VN gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.          Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải (ngồi)
Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là Trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh. GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại. Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.
Triển lãm tranh Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng. Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình… Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms. Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc Tây Phương. Người theo nhạc Tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của Tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.” Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Orange County, CA                                Tham khảo thêm                                    Bài viết của BĂNG HUYỀN – Viễn Đông Daily News Bộ hình của Thúy Vân  

    Ngày 2 tháng 10, năm 2018
Lời Nói Đầu Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.
Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra
dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạngcủa dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác
hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,về những nghiên cứu và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music)
và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.
Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải. Thay mặt,
GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.
Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam
Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam.
Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn. Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968. Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc. « Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. » Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới. Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.) Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình. Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ. Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove. Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp). ——————————————————————————————————————————————————————————
L’ethnomusicologue Tran Quang Hai contribue à honorer la musique vietnamienne
Tran Quang Hai est un musicien talentueux qui vit en France et a donné plus de 3000 concerts dans 65 pays à travers le monde. Avec son père, le professeur renommé Dr Tran Van Khe, et sa femme, le célèbre chanteur Bach Yen, il contribue depuis de nombreuses années à la recherche, à la promotion et au respect de la musique vietnamienne. Tran Quang Hai est né dans une famille avec cinq générations de musiciens dans le sud du Vietnam. Son père, le professeur Tran Van Khe, est bien connu pour aider à promouvoir la musique traditionnelle vietnamienne dans le monde et à l’honorer dans les domaines de la recherche et de la performance. M. Hai est diplômé du Conservatoire National de Saigon avant de s’installer en France pour étudier et étudier la musicologie à l’Université de la Sorbonne et l’ethnomusicologie au Collège des Sciences Sociales de Paris. Il a commencé ses recherches sur la musique orientale au Musée de l’Homme en 1968. L’année suivante, M. Hai a été nommé à un poste au Centre national de la recherche scientifique, alors qu’il était encore étudiant. Il a décidé de se concentrer sur les techniques de chant diphonique, qu’il a découvert en 1969. L’art, qui implique la production de deux sons simultanément à partir de la gorge, l’a rendu célèbre dans le monde entier comme l’expert numéro un en chant diphonique. « Après plusieurs mois de recherche, j’ai développé un système de méthodes pour le chant diphonique », rappelle l’ethnomusicologue. « Jusqu’à présent, j’ai eu 8 000 apprenants pour ce sujet dans 65 pays. » Le professeur Quang Hai a reçu plus de 30 prix internationaux pour ses études musicales. En 2002, le président français Jacques Chirac a décerné la médaille d’honneur de la Légion au Dr Hai en reconnaissance de sa contribution à la recherche sur le chant diphonique mondial. Un maître de l’acoustique, le chercheur de musique renommé peut jouer virtuellement divers instruments traditionnels vietnamiens tels que la cithare à 16 accords, le violon à deux accords, la flûte et même la cuillère. (Il a apporté beaucoup d’améliorations à la technique de jeu de cuillère.) Dr Quang Hai se considère comme un mélange de plusieurs types de musique – orientale et occidentale, traditionnelle et contemporaine. Sa musique est donc sans frontières. Il a dit qu’il a forgé une vision universelle du monde et de la musique vietnamienne. Il vise à combiner tous les genres de musique traditionnelle dans un typique de la musique du monde. Bien qu’ayant vécu à l’étranger pendant 45 ans, M. Hai a toujours regardé sa patrie avec un sentiment particulier. Il pratique le patriotisme à sa manière. L’interprète de musique-compositeur non seulement étudie la musique traditionnelle avec enthousiasme, mais fait aussi des efforts pour la préserver. Il a donné 3000 concerts dans plus de 60 pays pour présenter la musique diversifiée du pays. L’homme dédié a également produit plus de 30 CD audio et vidéo sur la musique vietnamienne en France, en Italie et aux États-Unis. Le professeur Quang Hai a composé plus de 400 chansons et morceaux de musique de toutes sortes, y compris le chant diphonique et la musique pour les instruments traditionnels vietnamiens. L’éminent scientifique a écrit de nombreux articles et livres pour des revues de renommée mondiale telles que Le Monde de la Musique (UNESCO), Journal of Asian Music Society (Université Cornell, États-Unis), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Suisse) et Koukin Journal (Tokyo, Japon). Ses articles sur la musique vietnamienne et asiatique ont également été publiés sur New Grove Dictionary. L’ethnomusicologue Tran Quang Hai est membre de nombreuses sociétés de recherche musicale aux États-Unis, en France, au Royaume-Uni et en Belgique. Il a été conférencier invité de plus d’une centaine d’universités dans le monde et a donné plus de 1 500 discours à des élèves d’écoles européennes. Dr Hai a également assisté à plus de 130 festivals de musique internationaux. Son nom est apparu dans de nombreux livres, y compris le Dictionnaire de Biographie internationale (RU), International Who’s Who dans la musique (Royaume-Uni), les dirigeants de l’Europe 500 pour le nouveau siècle (US) et Officiel Planete (France).  Danh sách bài viết TQH bằng ngoại ngữ  Chủ đề hát đồng song thanh
1.Tran Quang Hai & Denis Guillou : Oriiginal Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing
2.Tran Quang Hai & Hugo Zemp : Recherches expérimentales sur le chant diphonique
3.Tran Quang Hai : About the terminology used in overtone/ undertone for the throat singing/ overtone singing
4.Tran Quang Hai : Recherches introspectives et expérimentales sur le chant diphonique
5.Tran Quang Hai : Throat Singing vs. Overtone Singing / Tradition vs. Experiment: A Case of Harmonic Singing
6.Tran Quang Hai : Method of Learning of Overtone Singing Khoomei
7.Tran Quang Hai : Harmonic Resonantial Voice vs. Diphonic or Formantic Voice – Physiology and Acoustics of Vocal Production in Religious Music
8.Tran Quang Hai : Ethnomusicology: The Contemporary use of Tuvan Overtones in Western Music
9. Tran Quang Hai : Musique Touva
Chủ đề nhạc Việt Nam
1. Tran Quang Hai : An Introduction to Vietnamese Music
2. Tran Quang Hai : Musique de la Diaspora vietnamienne
3. Tran Quang Hai : Vietnamese Music in Exile since 1975
4. Tran Quang Hai : Music of the Montagnards of Vietnam
5. Tran Quang Hai : Westernizatiiion & Modernization of the Gong of the Highlands of Central Vietnam
6. Tran Quang Hai : Entretien avec Tran Quang Hai , ethnomusicologue
7. Tran Quang Hai : An Interview with Prof.Dr Tran Van Khe
  MUA SÁCH QUA AMAZON: TRAN QUANG HAI: 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing Paperback – January 29, 2019 – $ 15 Tran Quang Hai – 50 nam nghien cuu nhac Dan toc Viet (Vietnamese Edition)
Paperback – October 11, 2018   Trò chuyện với Nhạc sĩ Trần Quang Hải                                The Jimmy Show – Tháng 2, 2019: Youtube              MỘT SỐ HÌNH ẢNH KỶ NIỆM CHUYẾN RA MẮT SÁCH                             Ở NAM CALIFORNIA – THÁNG 2, 2019  
                         Tiểu sử TRẦN QUANG HẢI NGUỒN – https://tranquanghai.info/tieu-su/ Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921). Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới . Xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời, anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh . Gia đình nhạc sĩ cổ truyền Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của TQH là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. là người có trình độ đáng nói về nhã nhạc Huế . Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của TQH là người rất giỏi về đàn tỳ bà , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh . Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê). Trần Văn Khê (1921-2015), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Hiện ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và đang là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới bây giờ (2006). Trình diễn trên 3,000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ. Sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm). Ngoài ra đã khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới . Thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris). Cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996. Hội Viên các hội nghiên cứu Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969 Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978 ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976 (đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005) Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977 International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978 Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997 Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980 Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên) CIMCIM (Unesco) từ 1983 Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983. Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979 Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975) Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987 Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986. Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980 International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995. International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên) Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992. Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự) American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế) International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế) Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot) American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên) World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên). Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006. NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi:
• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc
• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc
• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2008), Anh quốc
• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc
• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .
• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc
• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc
• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2008), Hoa Kỳ
• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ
• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc
• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2008), Pháp
• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ
• Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ
• Vẻ Vang Dân Việt – The Prid of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ
• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ
• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada
• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2008), Pháp
• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ
• QUID, từ 2000 tới nay (2008) , Pháp
• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ
• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2008), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI
Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới
• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc
• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp
• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ
• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada
• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus
• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn
• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì
• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức
• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý
• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp
• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập . Nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon) Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard. Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 65 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh.                                                       Đánh muỗng                                                     Đờn môi                                        Nhạc sĩ TS Trần Văn Khê & con trai Trần Quang Hải                                         Danh ca Bạch Yến & phu quân Trần Quang Hải 2018 Riêng đối với GS-TS Trần Quang Hải, ông nói: “Khi biết mình bị ung thư máu, thời gian đầu tôi rất sốc. Cứ nghĩ sẽ không còn đủ thì giờ làm những việc cần làm cho bản thân, cho sự nghiệp. Nhưng bên cạnh tôi đã có Bạch Yến, người vợ hiền, người bạn chí cốt đồng hành cùng tôi qua biết bao gian nan, khó nhọc, đã động viên, an ủi để tôi có đủ nghị lực và nguồn sống mới, đối diện với bệnh tật và tìm phương thức điều trị. Bạch Yến lo lắng chu đáo cho tôi từng bữa ăn, giấc ngủ, lên kế hoạch để chúng tôi tiếp tục làm những công việc cần thiết. Nhờ đó, tôi đã vượt qua, vẫn đi dạy, nói chuyện về âm nhạc dân tộc và biểu diễn giao lưu với bạn bè, khán giả quốc tế. kỷ niệm 40 năm ngày thành hôn là dấu mốc quan trọng với đời người. Bạch Yến đã mang lại nguồn sống cho tôi, giúp tôi vượt qua tâm bệnh để vui sống”.
Ông còn cho biết hai bài thơ mà ông và bà viết cho nhau trong ngày kỷ niệm 40 năm chung sống: “Tôi đã xướng thơ kỷ niệm 40 năm thành hôn vào ngày 17-6 như sau: Bốn mươi năm hạnh phúc bên nhau Kỷ niệm hôm nay lắm ngọt ngào Chồng vợ ngày ngày chung cuộc sống Tình yêu gìn giữ suốt đời sau! Và Bạch Yến đã hoạ lại, cũng vào ngày 17-6: Đã bốn mươi năm diễn với nhau, Nhờ ca đàn hát bạn đông ngào Năm châu bốn biển không chùn bước Mong mãi còn vui tới kiếp sau”. http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1393&Itemid=47

Share this:

BĂNG HUYỀN: Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt

In « TRAN QUANG HAI »PHAN ANH DŨNG biên soạn:NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA - Tháng 2, 2019

PHAN ANH DŨNG biên soạn:NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019

In « TRAN QUANG HAI »Trần Việt Hải : Đôi dòng liên lạc giới thiệu GS NS Trần Quang Hải nhân dịp ra mắt sách tại CSU Long Beach, California ngày 10.02.2019

Trần Việt Hải : Đôi dòng liên lạc giới thiệu GS NS Trần Quang Hải nhân dịp ra mắt sách tại CSU Long Beach, California ngày 10.02.2019

In « TRAN QUANG HAI »2019PHAN ANH DŨNG biên soạn : NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2

Post navigation

Previous PostConcert de musiques traditionnelles et innovantes avec Tran Quang Hai , Bach Yen et Mai Thanh Nam, au Centre Mandapa,6 rue Wurtz 75013 Paris, Dimanche 17 mars 2019 à 15hNext PostPHAN ANH DŨNG biên soạn:NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019