Jour : 31 mars 2019

NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá

Published on Feb 3, 2016 NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá https://www.youtube.com/c/vafacoofficial Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá ( hay còn gọi là Bảy Bá ), sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, tỉnh Trà Vinh. Kể từ năm 1950, qua vở cải lương “ Nát cánh hoa rừng ” tên tuổi Viễn Châu bắt đầu được giới mộ điệu chú ý. Và trong thời gian này, tiếng đờn tranh của Bảy Bá cũng được các hãng đĩa thu thanh và phát hành liên tục. Cùng với ngón đờn sến Năm Cơ, ngón đờn tranh Bảy Bá là hai ngón đờn cổ nhạc đã được giới mộ điệu đánh giá cao và coi như bậc thầy. Viễn Châu vừa là danh cầm vừa là soạn giả. Trong thời gian ở Sài Gòn, ngoài đoàn Việt kịch Năm Châu, ông còn cộng tác với các đoàn hát: Kim Thanh Út Trà Ôn ( 1955 ), Thanh Tao ( 1958 ), Thanh Nga ( 1962 ), Dạ Lý Hương ( 1969 ), Tân Hoa Lan ( 1969 ). Đồng thời ông còn cộng tác với các hãng dĩa: Việt Nam ( 1950 ), Kim Long ( 1951 ), Việt Hải ( 1953 ), Thăng Long ( 1954 ), Sống Mới ( 1968 ), Nhạc ngày xanh ( 1969 ), Hồn nước ( 1973 ),… Sau năm 1975, ông cộng tác với Đoàn Văn công Thành phố ( 1975 ), hãng băng Sài Gòn Audio ( 1978 ) và nhiều đoàn hát ở các tỉnh. Năm 1984, ông cùng đoàn nghệ thuật 284 lưu diễn ở các nước Tây âu như: Đức, Bỉ, Pháp, Ý. Một sáng tạo của Viễn Châu có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật là việc ghép tân nhạc vào bản vọng cổ mà ông gọi là “ Tân cổ giao duyên ”. Bản “ Tân cổ giao duyên ” đầu tiên của ông có tựa “ Chàng là ai ” ( nhạc Nguyễn Hữu Thiết ) do Lệ Thủy ca vào năm 1964. Ngoài ra, về âm nhạc, ông cũng có sáng tác một bản nhạc tài tử ngắn tên là “ Dạ khúc ” đã được thu thanh trong băng cổ nhạc “ Hòa tấu I ” do Sài Gòn Audio thực hiện vào năm 1978. Do có nhiều thành tích và đóng góp trong lĩnh vực cổ nhạc, ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú ( năm 1988), Nghệ sĩ nhân dân (năm 2014). Ngoài danh hiệu này, ông còn được giới mộ điệu suy tôn là “ Vua viết lời ca vọng cổ ”. Sự suy tôn này kể cũng không quá đáng. Hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác phẩm đồ sộ. Trên 50 vở cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu đại ban và trên 2000 bản vọng cổ đã được các hãng dĩa, băng thu thanh và phát hành. Những vở cải lương của ông được khán thính giả biết đến nhiều nhất là: Nát cánh hoa rừng, Tình mẫu tử, Đời cô Nga, Sau bức màn nhung, Bông ô môi, Chuyện tình Hàn Mặc Tử, Quân vương và thiếp, Qua cơn ác mộng, Nợ tình, Hoa Mộc Lan, Con gái Hoa Mộc Lan, Hai nụ cười xuân, Ai điên ai tỉnh ,… Về vọng cổ, nhiều bản vọng cổ của ông được thính giả ưa chuộng như: Tình anh bán chiếu, Sầu vương ý nhạc, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Tần Quỳnh khóc bạn, Lá trầu xanh, Lòng dạ đàn bà, Lan và Điệp, Hàn Mặc Tử, Tâm sự Mai Đình, Tâm sự Mộng Cầm, Xuân đất khách, Tu là cội phúc, Gánh nước đêm trăng, Mồ em Phượng, Gánh bưởi Biên Hòa, Cô hàng chè tươi, Đêm khuya trông chồng, Mẹ dạy con, Phạm Lãi biệt Tây Thi, Phàn Lê Huê, Tự Đức khóc Bằng Phi, Bông ô môi, Ai ra xứ Huế, Đêm tàn Bến Ngự, Gió biển Hà Tiên, Đêm lạnh trong tù, Hán Đế biệt Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Kiếp cầm ca, Đời vũ nữ, Lá bàng rơi, Biệt cố hương, Anh đi xa cách quê nghèo,… Lời ca của Viễn Châu bình dị nhưng giàu cảm xúc, giàu chất thơ và giàu hình tượng nên dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Cái đọng lại trong sáng tác của Viễn Châu là tình cảm quê hương, con người, đất nước ,… được thể hiện một cách mộc mạc, chân thật. Dựa vào bề dày sáng tác và biểu diễn, có thể coi Viễn Châu là một trong những ngôi sao sáng của bầu trời sân khấu Nam bộ nửa sau thế kỷ 20. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực nghệ thuật nước nhà rất đáng kể và đã góp phần không ít trong việc phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.