Mois : mars 2019

NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá

Published on Feb 3, 2016 NGHỆ Sĩ & HỒN QUÊ – NSND Viễn Châu, tức HuỳnhTrí Bá https://www.youtube.com/c/vafacoofficial Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá ( hay còn gọi là Bảy Bá ), sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, tỉnh Trà Vinh. Kể từ năm 1950, qua vở cải lương “ Nát cánh hoa rừng ” tên tuổi Viễn Châu bắt đầu được giới mộ điệu chú ý. Và trong thời gian này, tiếng đờn tranh của Bảy Bá cũng được các hãng đĩa thu thanh và phát hành liên tục. Cùng với ngón đờn sến Năm Cơ, ngón đờn tranh Bảy Bá là hai ngón đờn cổ nhạc đã được giới mộ điệu đánh giá cao và coi như bậc thầy. Viễn Châu vừa là danh cầm vừa là soạn giả. Trong thời gian ở Sài Gòn, ngoài đoàn Việt kịch Năm Châu, ông còn cộng tác với các đoàn hát: Kim Thanh Út Trà Ôn ( 1955 ), Thanh Tao ( 1958 ), Thanh Nga ( 1962 ), Dạ Lý Hương ( 1969 ), Tân Hoa Lan ( 1969 ). Đồng thời ông còn cộng tác với các hãng dĩa: Việt Nam ( 1950 ), Kim Long ( 1951 ), Việt Hải ( 1953 ), Thăng Long ( 1954 ), Sống Mới ( 1968 ), Nhạc ngày xanh ( 1969 ), Hồn nước ( 1973 ),… Sau năm 1975, ông cộng tác với Đoàn Văn công Thành phố ( 1975 ), hãng băng Sài Gòn Audio ( 1978 ) và nhiều đoàn hát ở các tỉnh. Năm 1984, ông cùng đoàn nghệ thuật 284 lưu diễn ở các nước Tây âu như: Đức, Bỉ, Pháp, Ý. Một sáng tạo của Viễn Châu có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật là việc ghép tân nhạc vào bản vọng cổ mà ông gọi là “ Tân cổ giao duyên ”. Bản “ Tân cổ giao duyên ” đầu tiên của ông có tựa “ Chàng là ai ” ( nhạc Nguyễn Hữu Thiết ) do Lệ Thủy ca vào năm 1964. Ngoài ra, về âm nhạc, ông cũng có sáng tác một bản nhạc tài tử ngắn tên là “ Dạ khúc ” đã được thu thanh trong băng cổ nhạc “ Hòa tấu I ” do Sài Gòn Audio thực hiện vào năm 1978. Do có nhiều thành tích và đóng góp trong lĩnh vực cổ nhạc, ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú ( năm 1988), Nghệ sĩ nhân dân (năm 2014). Ngoài danh hiệu này, ông còn được giới mộ điệu suy tôn là “ Vua viết lời ca vọng cổ ”. Sự suy tôn này kể cũng không quá đáng. Hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác phẩm đồ sộ. Trên 50 vở cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu đại ban và trên 2000 bản vọng cổ đã được các hãng dĩa, băng thu thanh và phát hành. Những vở cải lương của ông được khán thính giả biết đến nhiều nhất là: Nát cánh hoa rừng, Tình mẫu tử, Đời cô Nga, Sau bức màn nhung, Bông ô môi, Chuyện tình Hàn Mặc Tử, Quân vương và thiếp, Qua cơn ác mộng, Nợ tình, Hoa Mộc Lan, Con gái Hoa Mộc Lan, Hai nụ cười xuân, Ai điên ai tỉnh ,… Về vọng cổ, nhiều bản vọng cổ của ông được thính giả ưa chuộng như: Tình anh bán chiếu, Sầu vương ý nhạc, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Tần Quỳnh khóc bạn, Lá trầu xanh, Lòng dạ đàn bà, Lan và Điệp, Hàn Mặc Tử, Tâm sự Mai Đình, Tâm sự Mộng Cầm, Xuân đất khách, Tu là cội phúc, Gánh nước đêm trăng, Mồ em Phượng, Gánh bưởi Biên Hòa, Cô hàng chè tươi, Đêm khuya trông chồng, Mẹ dạy con, Phạm Lãi biệt Tây Thi, Phàn Lê Huê, Tự Đức khóc Bằng Phi, Bông ô môi, Ai ra xứ Huế, Đêm tàn Bến Ngự, Gió biển Hà Tiên, Đêm lạnh trong tù, Hán Đế biệt Chiêu Quân, Dương Quý Phi, Kiếp cầm ca, Đời vũ nữ, Lá bàng rơi, Biệt cố hương, Anh đi xa cách quê nghèo,… Lời ca của Viễn Châu bình dị nhưng giàu cảm xúc, giàu chất thơ và giàu hình tượng nên dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Cái đọng lại trong sáng tác của Viễn Châu là tình cảm quê hương, con người, đất nước ,… được thể hiện một cách mộc mạc, chân thật. Dựa vào bề dày sáng tác và biểu diễn, có thể coi Viễn Châu là một trong những ngôi sao sáng của bầu trời sân khấu Nam bộ nửa sau thế kỷ 20. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực nghệ thuật nước nhà rất đáng kể và đã góp phần không ít trong việc phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Thanh Hiệp: Nhạc sư 101 tuổi mở hiệu đàn dân tộc trên đất sen hồng

28/03/2019 09:13

(NLĐO) – Sau thời gian dài chuẩn bị chu đáo, ngày 29-3, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo 101 tuổi) sẽ khai trương hiệu đàn dân tộc với nhiều ý nghĩa trên vùng đất được mệnh danh là sen hồng của tổ quốc – tỉnh Đồng Tháp

Nhạc sư 101 tuổi mở hiệu đàn dân tộc trên đất sen hồng - Ảnh 1.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo tại hiệu đàn mang tên ông ở Cao Lãnh, Đồng Tháp

Bà Thu Anh – ái nữ của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo cho biết từ khi dọn về TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, sinh sống theo lời mời của Bí thư tỉnh ủy Đồng Tháp Lê Minh Hoan, cha bà nhận thấy toàn tỉnh Đồng Tháp có quá ít hiệu đàn dân tộc. Vì vậy, ông có ý định mở hiệu đàn dân tộc nhằm tạo điểm hẹn văn hóa tại Cao Lãnh cho những ai say mê về nhạc cụ dân tộc có thể tìm đến.

Nhạc sư 101 tuổi mở hiệu đàn dân tộc trên đất sen hồng - Ảnh 2.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê

Ngoài bán, cửa hiệu còn cho khách thuê đàn để tập dợt. Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo cho biết ông muốn tạo mọi điều kiện để các bạn trẻ yêu thích nhạc cụ dân tộc có thể khám phá, học tập, trao đổi kinh nghiệm. Ngoài ra, ông sẵn sàng chia sẻ những bài học từ cơ bản đến nâng cao cho thế hệ trẻ để cùng giữ gìn nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ – bộ môn đã được thế giới vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Nhạc sư 101 tuổi mở hiệu đàn dân tộc trên đất sen hồng - Ảnh 3.

Các học trò của nhạc sư tại hiệu đàn dân tộc chuẩn bị đi vào hoạt động

Nhạc sư 101 tuổi mở hiệu đàn dân tộc trên đất sen hồng - Ảnh 4.

Nhìn ngắm hiệu đàn đầy tâm huyết của mình sắp đi vào hoạt động, vị nhạc sư 101 tuổi mang nhiều cảm xúc

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong những người tiên phong trong việc dạy đàn cho người nước ngoài qua phương pháp hàm thụ. Từ những năm 1960 đến 2004, ông đã ghi âm tiếng đàn vào băng cassette gửi ra nước ngoài qua đường bưu điện. Sau này, những học trò của ông đã trang bị cho thầy dàn máy vi tính để ông chuyển sang dạy trực tuyến (online) cho học trò nước ngoài. Tới nay dù ở tuổi 101, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đàn trên mạng.

Nhạc sư 101 tuổi mở hiệu đàn dân tộc trên đất sen hồng - Ảnh 5.

Ở tuổi 101 nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vẫn còn dạy đàn qua internet và viết giáo trình giảng dạy đàn tranh

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong 5 cá nhân được vinh danh trong lễ trao giải Phan Chu Trinh năm 2015. Sự đóng góp của nhạc sư rất to lớn và chưa có một nghệ nhân nào ở Việt Nam có đủ khả năng để phát huy đờn ca tài tử như ông.

Nói về hiệu đàn sắp khai trương, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo tâm sự: « Làm sao có thể truyền bá đến thế hệ trẻ những kinh nghiệm trong việc học và chơi nhạc cụ dân tộc để nhân rộng hơn những tấm lòng mộ điệu, cùng gìn giữ nâng niu giá trị truyền thống âm nhạc của thế hệ đi trước là mục đích của tôi ».

Cách giảng dạy của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo rất khoa học. Mỗi học trò ông đều có hồ sơ riêng, ông soạn từng giáo trình cho từng người. Tự tay ông đóng đàn cho học trò rồi gửi đi khắp thế giới. « Ông là một trong số những nhạc sư hiếm hoi đã cải tiến thành công nhạc cụ dân tộc và được ứng dụng rộng rãi trong nhân dân. Ông cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn » – Tiến sĩ Lê Hồng Phước nói.

Nhạc sư 101 tuổi mở hiệu đàn dân tộc trên đất sen hồng - Ảnh 6.

Nhạc sư và con gái – cô Thu Anh tại hiệu đàn mang tên ông

Địa chỉ hiệu đàn Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo

Số: 134A đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 4, Thành Phố Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp.

Điện thoại: 0907.254.418 (cô Thu Anh)

Email: hieudannsvinhbao@gmail.com

Các đầu sách nhạc sư đã xuất bản:

« Thử tự học đàn tranh » do Trung tâm Văn Hóa Thông Tin của tỉnh Long An ấn hành năm 2003. Đây là công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị về mặt sư phạm và nghệ thuật âm nhạc cổ truyền do nhạc sư Vĩnh Bảo đã dày công nghiên cứu chú trọng về hai mặt lý thuyết và thực tạp tự học đàn tranh. Có dĩa CD kèm theo để minh họa nên rất dễ học, dễ hiểu.

– « Thử tự học đàn tranh » do một nhóm học trò Việt Nam ở Hoa Kỳ sản xuất, 4 DVD bằng tiếng Việt do nhạc sư Vĩnh Bảo dẫn giải và minh họa.

– « Self taught Vietnamese Zither » do một nhóm học trò Việt Nam của nhạc sư Vĩnh Bảo ở Hoa Kỳ sản xuất, 3 DVD bằng tiếng Anh do nhạc sư Vĩnh Bảo giải thích và minh họa. Thanh Hiệp, ảnh do nghệ sĩ cung cấp

https://nld.com.vn/van-nghe/nhac-su-101-tuoi-mo-hieu-dan-dan-toc-tren-dat-sen-hong-20190327225321275.htm?fbclid=IwAR1Za5RXn0YFGvN7A1SNlkOgdFOJYG7GE2Jfygqui4Wj1kdMY3ZY_OvGXLA

AN NGOC: Vĩnh biệt ‘Đệ nhất danh cầm’ Nguyễn Phú Đẹ của ca trù Việt

10.10am 23-03-2019

Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Phú Đẹ có nhiều đóng góp to lớn cho việc
phục hưng ca trù và truyền dạy thế hệ kế cận.Theo thông tin từ gia đình, nghệ nhân đàn đáy Nguyễn Phú Đẹ đã qua đời lúc 12 giờ 50 hôm nay (22/3), hưởng thọ 97 tuổi. Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Phú Đẹ được mệnh
danh là “đệ nhất danh cầm” bởi phong cách chơi đàn độc đáo. Hơn nữa, nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ là một trong số ít những người biết và gìn giữ được lối chơi đàn cổ trong ca trù. « Đệ nhất danh cầm » Nguyễn Phú Đẹ (phải) đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phục hưng ca trù. (Ảnh: TTXVN) Nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ sinh năm 1923 tại huyện Tứ Kỳ (Hải Dương) trong một gia đình có truyền thống đàn hát (năm đời đều là ca
nương, kép đàn nổi tiếng trong vùng). Từ năm 10 tuổi, nghệ nhân
Nguyễn Phú Đẹ đã được cha và ông nội truyền dạy đàn và sớm trở thành một kép đàn giỏi của giáo phường, theo gánh hát đi biểu diễn ở nhiều nơi. Tuy nhiên, do những biến cố lịch sử, nghệ thuật ca trù trải qua nhiều
thăng trầm, có thời kỳ bị mai một. Đến khoảng năm 2005, khi ca trù được phục hưng, khẳng định giá trị, nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ trở lại biểu diễn, tham gia tích cực vào việc phục hưng ca trù, truyền dạy thế hệ kế cận. Đặc biệt, nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ đã cùng nhiều nhà nghiên cứu văn hóa phục dựng nhiều hình thức trình diễn của ca trù như hát cửa đình.
Theo giáo sư-tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh – Chủ tịch Hội Văn nghệ
Dân gian Việt Nam, nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ có phong cách chơi đàn
rất độc đáo: ngẫu hứng, tự do và rất sáng tạo. Năm 2005, nghệ nhân
Nguyễn Phú Đẹ đã giành được huy chương vàng tại Liên hoan Ca trù
toàn quốc. Với những đóng góp to lớn cho việc phục hưng và phát triển
ca trù, năm 2006, ông Nguyễn Phú Đẹ được Hội Văn nghệ Dân gian Việt
Nam trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian. Mới đây, theo Quyết định số 356/QĐ-CTN (ngày 8/3/2019) của Chủ tịch nước, nghệ nhân Nguyễn
Phú Đẹ cùng 61 nghệ nhân khác được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân. Đây là đợt phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân đầu
tiên cho các cá nhân có nhiều cống hiến xuất sắc trong việc gìn giữ và
phát huy di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc./.Theo An Ngọc/VietnamPlus

DANG HOANH LOAN : Tài tử Văn Giỏi

Dang Hoanh Loan Published on Jul 30, 2018 Văn Giỏi họ Trần, sinh 1947 tại Long Trung, huyện Cai Lạy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình trung lưu. Hai bên nội, ngoại của Văn Giỏi rất nhiều người biết đờn hát. Năm 14 tuổi Văn Giỏi chính thức học đờn. Tới năm 22 tuổi (năm 1969) Văn Giỏi lên Sài Gòn lập nghiệp. 50 năm hành nghề, Văn Giỏi không chỉ biểu diễn và dạy đàn, ông còn bỏ công sáng tác hai bản đàn: Đoản khúc Lam Giang và Phi Vân Điệp khúc. « Mục đích sáng tác là làm bài học và bài biểu diễn cho học trò. Và cũng để có cái phần mới mẻ cho các em sau này. Những bài này còn dùng để vô trong những tuồng Cải Lương » như ông đã từng nói.

Hiêu Đàn Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo thông báo khai trương cửa hàng vào ngày👉 Thứ sáu, 29/03/2019 ⏰ lúc 9g👈/ TƯNG BỪNG KHUYẾN MÃI MỪNG KHAI TRƯƠNG

TƯNG BỪNG KHUYẾN MÃI MỪNG KHAI TRƯƠNG
🎈Hiêu Đàn Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo thông báo khai trương cửa hàng vào ngày👉 Thứ sáu, 29/03/2019 ⏰ lúc 9g👈
🎁 Các khách hàng mua sắm vào ngày khai trương đều có quà mang về 😮 😮 😮.
➡️Hân hạnh được phục vụ quý khách hàng đến tham quan và mua sắm 🍬
====================

📌“Hiệu Đàn Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo” được đặt tại địa chỉ:
🏤134A đường Đinh Bộ Lĩnh, Phường 4, Thành Phố Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp.
➡️Hotline: 0907.254.418 (cô Thu Anh)
➡️Email: hieudannsvinhbao@gmail.com
➡️Nhận giao hàng trong Nước và Ngoài nước

Trần Phước Thuận: TỔ CỔ NHẠC BẠC LIÊU /Lê Tài Khị: Hậu tổ cổ nhạc Bạc Liêu

TỔ CỔ NHẠC BẠC LIÊU

Người đã khai sinh ra trường phái cổ nhạc Bạc Liêu, thường gọi ông là Nhạc Khị (1), từ lâu đã được giới nghệ sĩ cổ nhạc tôn xưng là Hậu Tổ. Tư tưởng và sáng tác của ông không những đã làm kim chỉ nam cho các hoạt động cổ nhạc ở Bạc Liêu, mà còn gây ảnh hưởng sâu rộng đến các phong trào ca nhạc cổ ở nhiều nơi, nhiều tỉnh ở Nam bộ trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Có thể nói Nhạc Khị là cây đòn bẩy cứng cáp đã tạo được sức bật ban đầu trong quá trình phát triển cổ nhạc Nam bộ nói chung và Bạc Liêu nói riêng.

Đến nay tài liệu viết về Nhạc Khị còn quá ít, cuộc đời và sự nghiệp của ông không được ghi chép rõ ràng; mọi người đối với ông đều thực lòng tôn kính, ai cũng biết ông đối với sự nghiệp cầm ca có công rất lớn và thành quả của ông trên phương diện này mọi người đang thừa hưởng, nhưng đối với công lao của ông thì đa số anh em nghệ sĩ chỉ cảm nhận được qua trực giác, còn cụ thể như thế nào thì ít ai nắm bắt được. Khi bàn về đàn ca tài tử hay quá trình phát triển cổ nhạc người ta thường đề cập tới Nhạc Khị, nhưng đa số chỉ nói về tài nghệ hoặc vị trí của ông trong cổ nhạc chẳng khác một nhân vật huyền thoại, như trong Hồi ký 50 năm mê hát của Vương Hồng Sển có đoạn ghi : “Nếu phải kể công đầu đáng làm Hậu tổ Cải lương thì sao lại không kể ông Hai Khị ở Bạc Liêu… Ông Hai Khị đau cổ xạ, ngón tay co rút và ngo ngoe rất khó, thế mà ông có tài riêng không ai bắt chước được. Ai muốn thử tài cứ đến nhà, ban đầu ông dở mùng cho xem, chỉ thấy trống kèn, chụp choả trơ trơ ở trong ấy, thế rồi khách ra ngồi salon, ông Khị chun vô mùng một mình ên rồi bỗng nghe trọn bộ cổ nhạc khua động có tiết tấu nhịp nhàng y như có cả bốn năm người hòa tấu : trống xổ, kèn thổi, đờn kéo ò e, chụp chỏa lùng tùng xòa, các việc đều do Nhạc Khị một mình điều khiển. Không ai biết ông làm cách nào mà được như vậy … “Quả là diệu thuật”(2) và Huỳnh Minh trong tác phẩm Bạc Liêu xưa và nay cũng nói tương tự : “Nhạc sư Hai Khị tục gọi Nhạc Khị rất mực tài hoa, một mình Nhạc Khị sử dụng bốn món nhạc khí : Đẩu, bạt, kèn, phách tấu lên cùng một lúc, rất mực điêu luyện, ai cũng khen phục”(3)…

Nhạc Khị tên thật là Lê Tài Khí người trong xóm thường gọi Hai Khị. Ông sinh vào khoảng tháng 3 năm Canh Ngọ (1870) tại thôn Láng Giài thuộc tổng Thạnh Hòa (lúc đó thuộc phủ Ba Xuyên, nay là ấp Láng Giài thuộc huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu) và sống trọn đời ở đây cho đến khi mãn phần vào cuối năm Mậu Tý (1948), có vợ là bà Lê Thị Hai cũng là người cùng xóm, hai vợ chồng ông chỉ có hai con gồm một gái một trai tên Lê Thị Sang và Lê Văn Túc (Ba Chột – nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời với Cao Văn Lầu).

Cha của ông là một thầy đàn, thấy con mình bị mù lòa(4), bệnh tật không thể học được nghề nào khác nên đã đem tất cả khả năng và sự hiểu biết của mình về nhạc để truyền thụ lại cho con. Nhạc Khị vốn là một cậu bé thông minh, lại có năng khiếu về đàn nên chẳng bao lâu đã hấp thụ toàn bộ sở học của người cha. Có điều cha của ông không phải là một thầy đàn giỏi nên ông chỉ học ở cha một số ít bài bản, nhưng ông lại không cam tâm dừng ở đó mà ngày đêm chuyên cần tự học, tự tìm hiểu, lại cố tạo mọi điều kiện để học những ngón hay, bản lạ của các thầy đàn cao tuổi. Nhờ tính kiên nhẫn và trí thông minh tuyệt vời, nên chẳng bao lâu ông đã trở thành một thầy đàn nổi tiếng, có thể nói là một nhạc sư giỏi nhất ở vùng Bạc Liêu.

Theo lời ông Cao Văn Hoài con thứ tư của nhạc sĩ Cao Văn Lầu thì trí nhớ của Nhạc Khị không thể tưởng tượng được – ông chỉ cần nghe ai đàn hoặc ca bất cứ bài bản nào trong một hai lần, ông đều có thể đàn hoặc ca lại giống y như thế; dù cho chữ đàn rắc rối đến đâu ông cũng lặp lại rất dễ dàng. Cho nên tuy ông không chính thức thọ giáo với ai ngoài cha ông nhưng tinh hoa của các thầy đàn lão luyện ở đây ông đều thụ đắc. Hơn thế nữa, những gì thụ đắc được ông đều tự cải biên cho phong phú hơn; bất cứ bài bản nào qua tay ông đều được sàng lọc và đẽo gọt rất kỹ càng.

Nhạc Khị là người Bạc Liêu đầu tiên có công trong việc canh tân, hiệu đính và hệ thống hóa hai mươi bản Tổ (5) để làm cơ sở cho cổ nhạc và cải lương Nam bộ. Ông lại có công đào tạo được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như: Sáu Lầu, Cai Đệ, Mười Khói, Ba Chột, Tư Bình, Hai Tài,Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Thiện Thành, Tư Quận, Hai Tố, Năm Phát, Chín Khánh, Sáu Gáo, Mộc Thái, Tám Tu, Năm Nhu, Năm Nhỏ, Lý Khi… tạo được một lực lượng nhạc sĩ hùng hậu cho các ban nhạc cổ truyền, các phong trào đàn ca tài tử, ca ra bộ và cho sân khấu cải lương Nam bộ trong buổi đầu.

Ông được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ tối đen của đất nước, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta đặt ách thống trị trên toàn lãnh thổ, nhân dân ta phải sống trong cảnh cơ cực, lầm than. Các phong trào yêu nước liên tiếp nổi lên chống Pháp, những sĩ phu có tài thao lược thì lãnh đạo nhân dân vũ trang đánh giặc, những văn nhân thi sĩ thì sử dụng ngòi bút của mình để làm lợi khí công kích kẻ thù, trong giới cầm ca cũng có người dùng lời ca tiếng nhạc để cổ vũ tinh thần yêu nước – Lê Tài Khí là người đã từng tham gia vào việc làm tốt đẹp này.

Năm 30 tuổi, Nhạc Khị đã thành lập ban nhạc cổ, bề ngoài là một ban nhạc phục vụ các buổi ma chay, tiệc tùng, lễ lạc… để kiếm sống, nhưng thực chất đây là một “lò” đào luyện ca nhạc sĩ Bạc Liêu, cũng vừa làm phương tiện để tuyên truyền những bài ca yêu nước.

Việc đào tạo của ông cũng khác mọi người. Cách dạy đàn của ông không phải là để cho người học chỉ biết đàn mà phải biết sáng tác. Đối với ông, nghệ thuật dĩ nhiên phải mang tính nghệ thuật nhưng phải phục vụ con người và đất nước, vì vậy việc sáng tác chỉ xoay quanh các vấn đề hoàn cảnh đất nước, phải khắc họa được những hình ảnh trung thực nhất lúc bấy giờ. Để cụ thể hóa việc làm này, ông đã cải biên bài Nam ai cổ mang tên “Tô Huệ chức cẩm hồi văn” và từ đó rút ra chủ đề “Chinh phụ vọng chinh phu” để hướng dẫn học trò và các thành viên của ban nhạc sáng tác. Chủ đề này mang tính bi kịch cao, dễ làm xúc động lòng người, dễ nắn nót thành lời ca tiếng nhạc và tuy mượn tích xưa nhưng phản ánh rõ những gì trong hiện tại – đã chỉ ra cái nỗi khổ sầu, cái cảnh ly tan đau đớn có thật – cái cảnh mà người dân đang nặng mang. Ông muốn mượn câu ca tiếng đàn để gợi lại cái cảnh con xa cha, chồng xa vợ, gia đình ly tán – cái cảnh đoạn trường do giặc Pháp đã gây ra.

Học trò của ông và các thành viên ban nhạc đa số đều tiếp thu sâu xa lời dạy của ông, thừa kế tinh thần yêu nước nồng nàn của ông, họ đã sáng tác những tác phẩm tuyệt vời như : “Dạ cổ hoài lang” của Sáu Lầu; “Tam quan nguyệt”, “Liêu giang” của Ba Chột; một số lời ca: “Đưa chồng ra mặt trận”, “Chinh phụ thán”, “Sầu chinh phụ” của Trịnh Thiên Tư… Tuy mỗi người mỗi vẻ, nhưng cái chung vẫn là hình ảnh tái tê của người chinh phụ đang mỏi mắt trông chồng. Có một số người nói rằng ông Cao Văn Lầu sáng tác bản “Dạ cổ hoài lang” xuất phát từ hoàn cảnh gia đình, từ sự chia tay của hai vợ chồng ông; nhưng nếu ta so sánh bản “Dạ cổ hoài lang” và bản “Liêu giang” của ông Ba Chột thì sẽ thấy nội dung của hai bản này rất giống nhau, cũng đều là cái nỗi đau đớn tái tê của thiếu phụ đang mỏi mắt trông chồng ngoài biên ải, cũng là hình ảnh chinh phụ vọng chinh phu rất đau lòng đã được khắc họa thật sinh động trong tác phẩm “Tô Huệ chức hồi văn”. Rõ ràng các bản này đã được sáng tác cùng chung một chủ đề, dĩ nhiên nội dung của mỗi bản đều có đặc điểm riêng do hoàn cảnh chi phối, nhưng cái chung vẫn là sự hướng dẫn của thầy.

Nhạc Khị còn sáng tác nhiều nhạc phẩm được lưu hành rộng rãi ở Nam bộ từ đầu thế kỷ, tiêu biểu nhất là bốn bản: “Ngự giá đăng lâu” (14 câu nhịp 4), “Ái tử kê” (12 câu nhịp 4), “Minh Hoàng thưởng nguyệt” (18 câu nhịp 4) và “Phò mã giao duyên” (12 câu nhịp 4), đã được nghệ sĩ các nơi gọi là “Tứ Bửu”; điệu nhạc của các bản này vô cùng thống thiết, đã diễn tả được nỗi thương tâm cùng tột của con người sống trong cảnh nước mất nhà tan. Riêng bản “Ái tử kê”, khi sáng tác ông đã liên tưởng cái cảnh “chít chiu” của bầy gà con mất mẹ với cái cảnh thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình Huế đầu hàng giặc bỏ mặc người dân bơ vơ đau khổ, trong lúc xúc động ông đã sáng tác bản cổ nhạc hi hữu này – một nhạc phẩm tuyệt vời – điệu nhạc khi bổng khi trầm như oán như than, đã khắc họa được cái nỗi đoạn trường của người dân mất nước. Lúc đầu Nhạc Khị đặt tên cho tác phẩm của mình là “Ai tử kê” nhưng giữa hai từ ai và ái cũng na ná với nhau, nên sau đó người ta thường gọi bản này là “Ái tử kê Bạc Liêu”.

Nhạc Khị là người tiên phong xây dựng phong trào ca nhạc tài tử và ca ra bộ ở Bạc Liêu; có công hệ thống hóa và chỉnh tu các loại bài bản nhạc cổ ở Nam bộ; sáng tác những nhạc phẩm không những có nhiều ưu điểm về mặt nghệ thuật lại còn có tác dụng cổ vũ tinh thần yêu nước của người miền Nam trong những ngày đầu thế kỷ XX; ông đã đề ra chủ trương sáng tác rất phù hợp với nghĩa nước lòng dân, phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ và những chủ đề sáng tác đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhạc Khị còn có công đào tạo một lực lượng lớn ca sĩ, nhạc sĩ, soạn giả cho các tổ chức ca nhạc cổ và sân khấu cải lương trong buổi đầu; hơn thế nữa ông là người đã khơi động được một phong trào sáng tác hùng mạnh, có thể nói vào bậc nhất ở Nam bộ từ đầu thế kỷ XX đến nay. Trong số người thừa kế sự nghiệp của ông, chỉ riêng bốn người: Cao Văn Lầu, Ba Chột, Trịnh Thiên Tư và Mộng Vân cũng đã có một số lượng tác phẩm đồ sộ – kể cả về phẩm lẫn lượng đều chiếm một khoảng lớn trong kho tàng cổ nhạc Việt Nam.

Cũng do những đóng góp có nhiều điểm ưu việt như thế, nên không riêng gì giới nghệ sĩ Bạc Liêu mà cả một số lớn ca nhạc sĩ ở các nơi khác đều gọi Nhạc Khị là Hậu Tổ và đều thành tâm chiêm bái, tưởng niệm ông vào ngày giỗ tổ cổ nhạc 12 tháng 8 âm lịch hằng năm. Nhạc Khị quả là một con người tàn nhưng không phế – một con người tưởng chừng đã bỏ đi, nhưng lại trở thành con người hữu dụng, thật là một tấm gương cần cù lao động tốt cho mọi người; thành quả của ông đã chứng minh được trong mỗi con người chúng ta đều có một năng lực tiềm ẩn vô cùng to lớn, nếu phát huy đúng hướng đúng chỗ sẽ mang lại những lợi ích thật tuyệt vời cho đời sống con người và xã hội.



Chú thích :

(1) – Trong những thập niên trước, người Bạc Liêu ít khi gọi những thầy đàn cổ nhạc là nhạc sư hay nhạc sĩ, mà chỉ gọi vắn tắt là “nhạc” cộng thêm cái tên của người đó. Từ “nhạc” vừa để chỉ nghề nghiệp vừa để chỉ tính chất chuyên nghiệp, lâu dần trở thành một thành tố của tên người .

(2) – Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát, trang 37-38, Nxb Phạm Quang Khai, Sài Gòn – 1966.

(3) – Huỳnh Minh, Bạc Liêu xưa và nay – 1966, trang 191.

(4) – Thật ra Nhạc Khị chỉ bị thông manh, hai mắt ông tuy không trông thấy nhưng người ngoài nhìn vào vẫn tưởng như người mắt sáng.

(5) – Sáu bản Bắc (Lưu thủy, Phú lục, Bình bán, Cổ bản, Xuân tình, Tây thi); bảy bản Lớn (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá, Xàng xê); ba bản Nam (Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung); bốn bản Oán (Phụng hoàng, Phụng cầu, Giang nam, Tứ đại). Hai mươi bản Tổ này đã được Nhạc Khị cải biên và áp dụng giảng dạy; sau đó đã được các đệ tử của ông là Cao Văn Lầu, Lê Văn Chột, Trịnh Thiên Tư, Trần Tấn Hưng, Lý Khi ghi chép và truyền bá ở Nam bộ.


Trần Phước Thuận

DUONG KIM THOA : Nghe nhạc cổ điển đâu đến nỗi quá khó và thật thú vị làm sao

25/03/2019 19:00 GMT+7 4 0 Lưu

TTO – Nhiều ý kiến chỉ trích hệ thống giáo dục của ta chưa quan tâm, chăm chút cho việc giáo dục âm nhạc cổ điển. Thay vì đăng đàn tranh luận, có một người phụ nữ 15 năm qua đã lặng lẽ tìm giải pháp cho câu chuyện này.

Nghe nhạc cổ điển đâu đến nỗi quá khó và thật thú vị làm sao - Ảnh 1.

Nghệ sĩ opera Khánh Trang biểu diễn trong chương trình hòa nhạc cho giới trẻ đêm 23-3 – Ảnh: ĐỖ DƯƠNG

1. « Có thể trong số quý vị ở đây, có người lần đầu tiên đến với khán phòng của Nhạc viện TP, có người đã tới những phòng hòa nhạc sang trọng và đẳng cấp hơn nhiều lần nhưng xin quý vị hãy nhớ giúp điều này, đây là một chương trình chúng tôi muốn dành cho những khán thính giả trẻ, những người đang học hoặc chưa học nhưng muốn biết về nhạc cổ điển« .

Đó là lời mở đầu của chị Nguyễn Thúy Uyển – giảng viên piano Nhạc viện TP.HCM, tại chương trình Hòa nhạc cho giới trẻ số đặc biệt nhân kỷ niệm tròn 15 năm thực hiện dự án giáo dục âm nhạc này trong tối 23-3.

15 năm qua, người phụ nữ đầy tâm huyết đó đã tự « giao việc » cho mình: sáng lập và kết nối những người « đồng thanh tương ứng », nỗ lực duy trì từng số chương trình hòa nhạc dành cho cộng đồng.

Kể từ chương trình hòa nhạc đầu tiên mang tên Những giai điệu cổ điển được yêu thích ra đời vào tháng 4-2004, tới năm 2013 lấy tên là Hòa nhạc cho thính giả trẻ (vốn được gợi ý từ các buổi hòa nhạc có thuyết trình của nhạc trưởng, nghệ sĩ dương cầm người Mỹ Leonard Bernstein), tới nay hơn 50 chương trình đã được thực hiện với hàng ngàn thính giả, đặc biệt là công chúng trẻ.

Theo dõi cách dẫn dắt về cả kiến thức lẫn lối thưởng ngoạn âm nhạc trong kịch bản chương trình, rồi cách thể hiện của « MC đặc biệt » Nguyễn Thúy Uyển, người ta không thể không nghĩ về một triết lý giáo dục tuyệt vời từng được nhà văn, nhà triết học nổi tiếng người Pháp thế kỷ 16 – ông Michel de Montaigne – chia sẻ: Người thầy giỏi không phải là một người đứng trên đỉnh núi cao và vẫy gọi học trò leo lên đó với mình, mà phải là người tận tình đi xuống chân núi để dẫn dắt học trò leo từng bậc lên đỉnh núi đó.

Nghe nhạc cổ điển đâu đến nỗi quá khó và thật thú vị làm sao - Ảnh 2.

Giảng viên Nguyễn Thúy Uyển

Trong giáo dục âm nhạc, có một sức mạnh rất lớn là khơi gợi được niềm cảm hứng trong tâm hồn chúng ta. Rất tiếc là những cách giảng dạy cũng như các chương trình giáo dục âm nhạc đang được áp dụng hiện nay chưa làm được chuyện này.

Giảng viên Nguyễn Thúy Uyển

2. Trong khuôn khổ một chương trình có thời lượng hai giờ, người nghe được hiểu và thưởng thức nhiều phong cách âm nhạc cổ điển khác nhau, từ Ciel de Séville của Mario Maciocchi (Ý), Verano Porteno của Astor Piazzolla (Argentina), Cancion y Danza của Antonio Ruiz-Pipó (Tây Ban Nha) tới Etude No.3 của Franz Liszt (Hungary) và Eine Kleine Nachtmusik của Mozart (Áo)… mà không cảm thấy khó khăn hay quá tải.

Đó là bởi cách vừa trình bày những điểm nhấn thú vị về kiến thức, vừa minh họa trực tiếp bằng chính những đoạn nhạc cụ thể của người dẫn chương trình, bởi cách chọn những tiết mục biểu diễn tương đối gần gũi có thời lượng vừa phải, trung bình từ 4-6 phút, để không « làm khó » những khán thính giả không chuyên.

Chính bởi sự không « tham » cả về kiến thức lẫn dung lượng đã khiến nhiều em nhỏ trong khán phòng vẫn có thể tập trung với sự thích thú đầy đủ nhất mà không cần phải cố gắng.

Nhiều khán giả hào hứng với trò chơi kiến thức khi người dẫn chương trình mời mọi người vỗ tay bắt chước một tiết tấu trong bản nhạc của Mozart, và sau đó chị thể hiện chính những tiết tấu đó lại trên piano. Không ít người thích thú ồ lên, giống như kiểu « nếu hiểu được tiết tấu rõ ràng như vậy thì việc nghe nhạc cổ điển đâu đến nỗi quá khó và thật thú vị làm sao! ».

Nhưng không chỉ là kiến thức, là cách dẫn dắt, cảm nhận trực quan khi xem và nghe âm nhạc tại khán phòng còn có một tác động rất đặc biệt với mỗi người.

Hãy cứ nhìn vào gương mặt say sưa, hạnh phúc và sự nâng niu trong mỗi ca từ cất lên của ca sĩ opera giọng soprano Khánh Trang với bản Ave Maria của Giulio Caccini, khán giả còn như được lan tỏa và bị thuyết phục bởi một tình yêu không cần giải thích với âm nhạc bác học.

3. Chia sẻ với Tuổi Trẻ, nghệ sĩ Thúy Uyển – « bà mẹ » đã « sinh và dưỡng » chương trình hòa nhạc cho giới trẻ suốt 15 năm qua – cho rằng sở dĩ chương trình thành công vì « đã đem đúng những gì mà thính giả trẻ đang cần, đó là nguồn cảm hứng.

Ở bất cứ giai đoạn nào của việc học, không phải chúng ta học thêm nhiều kiến thức là tốt mà điều quan trọng hơn là nuôi dưỡng và duy trì nguồn cảm hứng, năng lượng cảm xúc và âm nhạc chính là phương tiện tốt nhất của việc này ».

Đồng hành cùng chương trình « Hòa nhạc cho thính giả trẻ » là nghệ sĩ dương cầm Trần Như Vĩnh Lạc, giảng viên guitar Nguyễn Thị Phương Thư, nghệ sĩ guitar cổ điển Nguyễn Thanh Huy, nghệ sĩ oboe Đặng Phú Vinh, ca sĩ opera Nguyễn Khánh Trang, giảng viên khoa thanh nhạc Cổ Tấn Thu Hương, nghệ sĩ saxophone Quách Tiến Dũng, nghệ sĩ piano Trần Thị Minh Nguyệt.

Theo thạc sĩ Nguyễn Thúy Uyển, chương trình đứng được tới hôm nay là nhờ đã kết hợp được những đồng nghiệp say mê biểu diễn. Họ cũng là những người rất chân thành và nghiêm túc trong việc tập luyện chương trình, vẫn dành một sự trọn vẹn của tâm hồn cho âm nhạc, dù bản thân mỗi người đều có những áp lực riêng về cơm áo gạo tiền.

https://tuoitre.vn/nghe-nhac-co-dien-dau-den-noi-qua-kho-va-that-thu-vi-lam-sao-20190325102121858.htm

Bích Trà nói chuyện âm nhạc cổ điển

Bích Trà nói chuyện âm nhạc cổ điển

TT – Nghệ sĩ piano Bích Trà (đang sống và làm việc tại Anh) sẽ có buổi gặp gỡ với bạn yêu âm nhạc cổ điển tại TP.HCM trong buổi trò chuyện mang chủ đề Talk Classical – trò chuyện cùng Bích Trà vào 14g30 ngày 19-8 tại Tea Coffee Tree (86 Nguyễn Du, Q.1). D.KIM THOA

Bonjour Vietnam 68 – Trần Quang Hải et Quách Vĩnh Thiện – Causerie Musicale.

Bonjour Vietnam 68 – Trần Quang Hải et Quách Vĩnh Thiện – Causerie Musicale.

Vinh-Thien Quach Published on Mar 23, 2019 Bonjour Vietnam 68 – Trần Quang Hải et Quách Vĩnh Thiện – Causerie Musicale. Voix : Quỳnh Lan et Hải Phương – Poème : Nguyễn Du 1766-1820. Réalisation et Musique : Quách Vĩnh-Thiện. Musique générique : Quách Vĩnh-Thiện. http://www.thienmusic.com http://www.youtube.com/user/thienmusic http://www.facebook.com/vinhthien.quach https://twitter.com/thienmusic Trần Quang Hải et Quách Vĩnh Thiện, Causerie Musicale. Centre Mandapa 6, rue Wurtz 75013 Paris Métro : Glacière Dimanche 21 avril 2019 à 15H. Tarif : 10 euros. Infos et réservations : 01 45 89 99 00 reservations@centre-mandapa.fr Trần Quang Hải, né le 13 mai 1944   à Linh Dong Xa au Vietnam, est un ethnomusicologue dont le domaine de recherche est la musique vietnamienne, la musique asiatique, et le chant diphonique sibérien. Trâǹ Quang Hải est issu d’une famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations. Il est le fils de l’ethnomusicologue Trâǹ Văn Khê. Il a été ethnomusicologue au Centre de recherche en ethnomusicologie (CNRS) de 1968 á 2009 et a pris sa retraite en mai 2009. Quách Vĩnh Thiện. 1943 : né le 18 Mai 1943 à 6h30 du matin à Saigon 1956 -1963 : lycée Pétrus-Ký (voir Truong-Vinh-Ky) – Saigon 1963 : Ecole Normale Supérieure Saigon, – section Mathématiques. 1964 : départ pour la France. 1964 -1965 : Faculté des Sciences – Section Math-Physique – Faculté des Sciences Bordeaux 1965 -1968 : sélectionné par IBM via un concours de 500 candidats, en vue d’une formation d’Ingénieur en Informatique. 1968 -1971 : Diplômé de Cnam – Conservatoire national des arts et métiers, France. Début 2018 : nommé ‘Responsable de l’organisation des manifestations scientifiques, culturelles et musicales’ de l’Académie Européenne des Sciences, des Arts et des Lettres.

Fontefina festival 2018 – Alberi di Maggio – Ascoli Piceno

Alberi di maggio Published on Mar 20, 2019 Eccoci con il racconto in video di ciò che è successo al Fontefina festival 2018, nella sua prima edizione. Grazie ad Alessandro Scillitani per questo prezioso montaggio e grazie a tutti coloro che hanno partecipato alla realizzazione di questo micromondo che sta crescendo giorno per giorno. Fontefina è un luogo in cui poter conoscere direttamente la cultura di tradizione orale, ascoltando i suoni , lavorando con le mani su azioni semplici come mietere il grano, fare il pane, impastare la terra, ma soprattutto incontrare in un contesto di rispetto i portatori di questa cultura e poter comprendere anche se per pochi momenti in cosa consiste il rito del passaggio di queste conoscenze, un rito fatto di ascolto, empatia e apertura verso ciò che non si conosce, l’altro. Ci stiamo già preparando per la nuova edizione, il grano è già verde e bello! Già dal 2015 abbiamo iniziato a piantare il miscuglio di grani antichi ideato dal professor Salvatore Ceccarelli, ringraziamo anche lui per aver speso una vita nella ricerca su questo elemento primario per un esistenza sana. Vi aspettiamo 12,13,14 luglio 2019, quest’anno a San Benedetto di Folignano http://www.alberidimaggio.com