Mois : janvier 2019

THANH HIỆP : Ca sĩ Đức Vượng – « Bô lão » pop-rock qua đời


30/01/2019 10:30

(NLĐO) – Ca sĩ Đức Vượng – nam ca sĩ tài hoa chuyên « trị » nhạc ngoại ở các quán bar, phòng trà tại Sài Gòn từ trước năm 1975 đến tận bây giờ – đã ra đi ở tuổi 67.

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 1.

Ca sĩ Đức Vượng

Ca sĩ Đức Vượng sinh năm 1952 tại Hải Phòng, ông bị đột quỵ cách đây không lâu và được gia đình đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Dù được sự cứu chữa tận tình của các bác sĩ, ông đã trút hơi thở cuối cùng lúc 21 giờ 41 phút ngày 29-1, hưởng thọ 67 tuổi.

Ca sĩ Đức Vượng luôn tự nhận mình là « em út » của thế hệ ca sĩ trên 60 tuổi từng đi hát khắp các phòng trà trước 1975 và vẫn đeo đuổi nghề đến nay. Ông bắt đầu theo nghề ca sĩ từ 17 tuổi, lúc đó các ca sĩ như Tuyết Loan, Lan Ngọc, Hồng Vân đã trên 20 tuổi.

NSƯT – ca sĩ Hồng Vân cho biết Đức Vượng là một trong những giọng ca chuyên « trị » nhạc ngoại ở các quán bar, phòng trà ở Sài Gòn từ trước năm 1975. « Mỗi khi anh cất tiếng hát, cảm xúc lúc nào cũng dâng trào. Anh chiếm lĩnh sân khấu bởi nhiệt huyết cháy bỏng và sự rung động chân thật của một người đam mê ca hát. 

Dù không nổi tiếng như các ca sĩ trẻ hiện nay, cát sê cũng không cao cho mỗi sô diễn nhưng anh luôn có khán giả của riêng mình. Những người yêu tiếng hát Đức Vượng đều cảm nhận rất rõ hơi ấm cuộc sống và niềm hạnh phúc anh trao gửi nên họ lúc nào cũng được anh dìu vào niềm đam mê ca hát một cách nhẹ nhàng » – nữ ca sĩ chuyên hát dòng nhạc mang âm hưởng dân ca nhận xét.

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 2.

Ca sĩ Đức Vượng

Từ năm 1968, ca sĩ Đức Vượng và một số người bạn lập ban nhạc « Công ty Đá lửa » diễn rất thành công ở các đại hội nhạc trẻ. Sau năm 1975, anh hát chung với ban nhạc Đại Dương và lập ban nhạc Công ty Biểu diễn, diễn khắp nơi tại TP HCM.

Ban đầu, ông hát nhạc Việt nhưng sau đó chọn cho mình hướng đi riêng, anh chuyển sang chơi nhạc ngoại, phát huy sở trường và được đông đảo khán giả đón nhận. Thời đỉnh điểm của sự thành công, mỗi tối ca sĩ Đức Vượng hát đến 7 vũ trường tại Sài Gòn. 

Cả đời đam mê âm nhạc, một trong những niềm vui lớn của ca sĩ Đức Vượng là có một người con trai theo âm nhạc là nhạc sĩ Nguyễn Đình Vũ. Thời gian sau này ông vẫn gắn bó với phòng trà ca nhạc của vợ chồng ca sĩ Khắc Triệu – Cẩm Vân.

Mỗi khi được mang những ca khúc rock kinh điển của nhóm CCR, Tom Jones, những giai điệu rock’n roll của Elvis Presley hay các nhạc phẩm bất hủ của The Beatles lên sân khấu, khán giả yêu tiếng hát của ca sĩ Đức Vượng đã thấy ông « cháy » hết mình cùng ban nhạc.

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 3.

Ca sĩ Đức Vượng

« Khi đất nước thống nhất, ban nhạc trước 1975 của ca sĩ Đức Vượng ngưng hoạt động, anh tham gia ban nhạc Mây Trắng và hát ca khúc cách mạng của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu: « Một trái tim một quê hương ». Thời gian đó, Đức Vượng gặp chúng tôi thường xuyên, lúc nào cũng vui vẻ, hòa nhã. Nghe tin anh mất, tôi đau buồn. Còn vài ngày nữa bước sang năm Kỷ Hợi, anh ấy không đón mùa xuân với chúng tôi nữa rồi » – ca sĩ Lan Ngọc xúc động.

Nghe tin ca sĩ Đức Vượng mất, các ca sĩ nhiều thế hệ cũng bày tỏ lời chia buồn. Ca sĩ Khắc Triệu đã viết trên trang cá nhân: « Tạm biệt anh. Hãy yên nghỉ và ra đi thanh thản. Anh đã có một đời sống trọn vẹn hạnh phúc với nghề, khán giả. Anh em đồng nghiệp mãi nhớ đến anh. Khi còn vui khoẻ, em hay nói « nếu anh chết em buồn lắm ». Giờ thì thì buồn thiệt rồi. Sẽ không bao giờ còn có những đêm cười vui khi nghe anh kể chuyện nữa. Tạm biệt anh Đức Vượng – một tài hoa của nhạc trẻ Sài Gòn trước 1975. Sẽ rất nhớ anh ».

Ca sĩ Đức Vượng - Bô lão pop-rock qua đời - Ảnh 4.

Đức Vượng, Tuyết Loan là hai giọng ca thành công khi hát nhạc ngoại quốc tại Việt Nam

Thanh Hiệp (ảnh do gia đình nghệ sĩ cung cấp)

https://nld.com.vn/van-nghe/ca-si-duc-vuong-bo-lao-pop-rock-qua-doi-20190130080735478.htm

Nghệ Sĩ VĂN HƯỜNG – Cải Lương Gìn Vàng Giữ Ngọc với Hồng Loan (Part 1)

Nghệ Sĩ VĂN HƯỜNG – Cải Lương Gìn Vàng Giữ Ngọc với Hồng Loan (Part 1)

officialVietFaceTV

Published on Jan 13, 2019 Nghệ Sĩ VĂN HƯỜNG – Cải Lương Gìn Vàng Giữ Ngọc với Hồng Loan (Part 1) Chương trình được thực hiện 1/2015

Mùa xuân trong các ca khúc Việt Nam

Trang chủ / Giai điệu quê hương

Mùa xuân trong các ca khúc Việt Nam

22 Tháng Hai 2018 | 19:06:24 (VOV5) –  Mỗi một ca khúc viết về mùa xuân đều được khai thác ở những khía cạnh khác nhau, những lát cắt cuộc sống khác nhau nhưng hầu như tất cả những ca khúc viết về mùa xuân đều khiến người nghe thêm yêu cuộc sống.

Mùa xuân khởi đầu của một năm mới. Lá hoa khoe sắc, trời đất giao hòa mang sức sống mới cho vạn vật khiến lòng người ngập tràn bao cảm xúc và khát vọng. Mùa xuân cũng là nguồn cảm hứng dào dạt để các nhạc sĩ viết lên những giai điệu, thanh âm, ca từ mượt mà, sâu lắng. Nhiều ca khúc viết về mùa xuân đã lưu lại trong ký ức những người yêu nhạc Việt Nam.

Nghe âm thanh bài viết tại đây:

 

« Mùa xuân đầu tiên » là một trong những ca khúc nổi tiếng viết về mùa xuân của tân nhạc Việt Nam. « Mùa xuân đầu tiên » được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác vào thời điểm giáp tết Bính Thìn 1976, sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Cả giai điệu lẫn ca từ của bài hát rất nhẹ nhàng, như một bức tranh quê yên bình, hiền hòa, quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam. Nhạc sĩ Cát Vận nói về ca khúc này: “Khi đất nước thống nhất, cảm giác của nhạc sĩ Văn Cao lúc đó mới là mùa xuân thực sự của dân tộc. Đây là một bài hát dung dị, lời ca thì sâu sắc, rất thân thiết, chân tình. Trong các sáng tác của nhạc sĩ Văn Cao, đây là một sáng tác mà sức sống của nội tâm rất đằm thắm, mãnh liệt và tinh tế”.

Cùng với “Mùa xuân đầu tiên” của nhạc sĩ Văn Cao là nhiều tác phẩm tiêu biểu viết về mùa xuân như:  “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh”,Mùa xuân bên cửa sổ” của cố nhạc sĩ Xuân Hồng; “Mùa xuân đến rồi đó” của nhạc sĩ Trần Chung. Nếu như mùa xuân của nhạc sĩ Xuân Hồng chất chứa sự hứng khởi tràn đầy, thăng hoa trời đất thiên nhiên giao thoa vần vũ thì mùa xuân của nhạc sĩ Trần Chung lại nhẹ nhàng, tinh khôi như tiếng gọi êm đềm, tha thiết của người yêu trong nhạc phẩm “Mùa xuân đến rồi đó”.

Với nhạc sĩ Ngọc Khuê, mùa xuân – mùa của sự sống lại được cảm nhận theo một góc khác. Đó là sự tươi mới, ấm áp của tình yêu, giai điệu, ca từ rộn rã với nhiều cung bậc rất đỗi riêng tư. Nhắc đến nhạc sĩ Ngọc Khuê, người ta sẽ nghĩ ngay đến những sáng tác thắm đượm tình yêu quê hương, mối tình nồng nàn, man mác về mảnh đất Hà Nội yêu dấu như: “Mãi là em – mùa Xuân”; “Khoảnh khắc mùa Xuân”; “Trở về mùa Xuân”, “Mùa Xuân làng lúa làng hoa”. Nếu xét về số lượng thì các tác phẩm viết về chủ đề mùa xuân của nhạc sĩ không nhiều so với hàng trăm nhạc phẩm của ông, nhưng hầu hết các tác phẩm ấy lại gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng. Nhạc sĩ Ngọc Khuê cho biết:“Khi mùa Xuân về, tiết trời bắt đầu thay đổi, cây lá bắt đầu đâm chồi nảy lộc…luôn tạo cho người sáng tác cảm xúc mới, lạ và có khi không năm nào giống năm nào cả. Tôi cũng đã có một số bài hát về mùa Xuân và tôi vẫn cảm thấy có thể viết nhiều bài hát, ý tưởng mới nữa về mùa Xuân. Về bài “Mùa Xuân làng lúa làng hoa”, tôi viết cuối năm 1980 và mùa xuân năm 1981, bài hát được phát lần đầu tiên trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong một chương trình giới thiệu các tác phẩm mới viết về mùa Xuân”.

Với nhạc sĩ Phó Đức Phương, các hình ảnh mới của mùa xuân mà ông miêu tả là sức lao động và tình yêu trong lao động. Cái đẹp của mùa xuân có thêm thành quả của các công trình lao động và cái vui say của mùa xuân có thêm cái vui say của tuổi trẻ của tình yêu gắn bó với công trình lao động làm đẹp giàu cho đất nước.

Mùa xuân trong ca khúc « Tình ca trên những công trình mới » chính là cái không khí hội hè của tình cảm nó phảng phất như có những làn điệu dân ca, những câu hát trao duyên của nam nữ ở ngay trên mặt trận mới: lao động và dựng xây Tổ Quốc. Nhạc sĩ Phó Đức Phương cho biết: “Mùa Xuân thì người ta nghĩ đến sự sinh sôi, nảy nở, đến tuổi trẻ. Tôi viết bài hát này khi còn trẻ. Mùa Xuân là vĩnh viễn, luôn là biểu tượng của tuổi trẻ, trong đó gắn với sự dựng xây. Mùa Xuân với công trình mới dường như cũng là một khái niệm gắn bó với nhau”.

Mỗi một ca khúc viết về mùa xuân đều được khai thác ở những khía cạnh khác nhau, những lát cắt cuộc sống khác nhau nhưng hầu như tất cả những ca khúc viết về mùa xuân đều khiến người nghe thêm yêu cuộc sống. “Mùa xuân gọi”, “Tạm biệt chim én” của nhạc sĩ Trần Tiến là tiếng nói tươi trẻ nhưng cũng đi vào chiều sâu của tâm hồn.  “Một nét ca trù ngày xuân” của nhạc sĩ Nguyễn Cường, “Hơi thở mùa xuân” của nhạc sĩ Dương Thụ, “Lời tỏ tình của mùa xuân” của nhạc sĩ Thanh Tùng, “Hoa cỏ mùa xuân” của nhạc sĩ Bảo Chấn, “Thì thầm mùa xuân” của nhạc sĩ Ngọc Châu… đều là cách hòa quyện giữa tình yêu với thiên nhiên. Không gượng ép, không khô cứng, sự đắm say trong hơi thở, trong vòng tay của tình yêu làm cho người thưởng thức càng khát khao, càng quý trọng, thêm cuộc sống. 

http://vovworld.vn/vi-VN/giai-dieu-que-huong/mua-xuan-trong-cac-ca-khuc-viet-nam-621349.vov

NGUYỆT NHI : Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà


16/01/2019 15:48 GMT+7 24 2 Lưu

TTO – Giữa lòng Sài Gòn nhộp nhịp, vào một buổi chiều của những ngày cuối năm Mậu Tuất, có một căn nhà ở Q.12, TP.HCM đang hun hút khói bếp, rôm rả gói bánh tét truyền thống để cúng giỗ ông bà.

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 1.

Các khâu ngâm đậu, lau lá chuối đã chuẩn bị từ hôm qua – Ảnh: NGUYỆT NHI

Bánh tét là một món ăn truyền thống không còn xa lạ với nhiều người, nhưng điều đặc biệt đáng nói chính cách mà gia đình của ông Nguyễn Văn Cân nhiều năm nay vẫn thường làm trong dịp giỗ ông bà.

Thay vì đặt bánh để cúng và đãi khách, bà con của ông Cân mang lá chuối, dây lát, đậu, nếp…từ quê lên để gói bánh tét truyền thống.

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 2.

Bà Tăng Cô (bìa phải) cùng cả nhà dậy từ 5h30 sáng để chuẩn bị gối bánh – Ảnh: NGUYỆT NHI

Bà Dương Thị Tăng Cô (P.2, TX Ngã Năm, Sóc Trăng), em dâu ông Cân, chia sẻ: « Cháu tôi có rất nhiều đứa đi làm công nhân trên Sài Gòn, một năm mới có cơ hội ăn bánh quê một lần. Đây không chỉ là dịp để cúng ông bà mà tôi muốn cho con cháu cùng bà con chung quanh nhớ và biết tới hương vị quê nhà. »

Hết buổi sáng gói bánh, 100 đòn bánh được hoàn thành và cho vào nồi nước sôi được bắc từ ba viên gạch trước đó. Phải mất 8 tiếng để bánh chín, rồi lại phải đợi bánh ráo…

Khi phố phường rộn rã thì có một căn nhà nhỏ ở Q.12 thơm nức mùi lá của bánh tét nóng hổi. Những đứa trẻ thích thú khi lại được ăn bánh quê.

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 3.

Nếp trộn với đậu để gói bánh tét nhân chuối – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 4.

Nếp, đậu xanh, mỡ là ba nguyên liệu chính của bánh tét nhân mỡ – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 5.

Bánh đang được bó gói lại thành hình trụ – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 6.

Anh Đặng Minh Sang, cháu ông Sáu, làm công nhân ở Bình Dương hôm nay được nghỉ làm nên qua nhà phụ cột bánh – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 7.

Cột bánh phải thật đều tay, không quá lỏng cũng không được quá chặt nếu muốn bánh dẻ và đẹp khi ra lò – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 8.

Bánh vừa được cột xong chờ để nấu – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 9.

Bánh được cột một quai là nhân mỡ, cột hai quai là nhân chuối – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 10.

Nồi bánh phải được canh lửa và nước cho thật vừa phải – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 11.

Bà Tăng Cô (bìa phải) cùng các cháu gái vớt bánh ra lò – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 12.

Bánh vớt xong phải được treo lên để giữ hình dáng đẹp cho bánh – Ảnh: NGUYỆT NHI

Sài Gòn chiều cuối năm hun hút khói bếp nấu bánh tét cúng giỗ ông bà - Ảnh 13.

Thành phẩm bánh tét nhân chuối và nhân mỡ – Ảnh: NGUYỆT NHI

Dâng bánh tét lên tổ tiên

Dâng bánh tét lên tổ tiên

TTO – Sáng 25-1, nhằm 30 tháng chạp, ban tổ chức lễ hội tết 2009 và đường hoa Nguyễn Huệ đã làm lễ dâng cúng bánh tét lên tổ tiên tại đền thờ các vua Hùng, Thảo cầm viên (Q.1, TP.HCM). NGUYỆT NHI

24 2

TIN LIÊN QUAN

Tết Kỷ HợiCác sự kiện khác

https://tuoitre.vn/sai-gon-chieu-cuoi-nam-hun-hut-khoi-bep-nau-banh-tet-cung-gio-ong-ba-20190115185509304.htm

THANH HIỆP : Táo quân 2019: Đầy những vấn đề « nóng »

27/01/2019 07:53

Những vấn đề, sự kiện « nóng » của năm qua như thi cử gian lận tại Hà Giang, cô giáo tát học sinh, cải cách tiếng Việt, xe tải cán chết nhiều người, xe công dùng việc riêng cũng như các đại án đã được nhắc đến trong chương trình « Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019 »

Chương trình « Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019 » đã ghi hình vào tối 25-1 để kịp phát sóng vào 20 giờ ngày 30 Tết Kỷ Hợi trên VTV – Đài Truyền hình Việt Nam, tiếp tục quy tụ dàn diễn viên quen thuộc suốt 16 năm qua: Quốc Khánh, Chí Trung, Quang Thắng, Công Lý, Tự Long, Xuân Bắc, Vân Dung cùng sự góp mặt của nhiều gương mặt trẻ trong vai Thiên Lôi và Phó Thiên Lôi, được trao nhiều đất diễn hơn so với những năm trước và cũng chứng tỏ được sự duyên dáng, kết hợp khá ăn ý với các nghệ sĩ đàn anh.

Táo Kinh tế – Xã hội làm ảo thuật

Năm 2018 là một năm đầy ắp sự kiện ở đủ các lĩnh vực trong đời sống xã hội, điều đó được thể hiện khá rõ trong « Táo quân 2019 » thông qua các màn chầu của các Táo. Đặc biệt, ê-kíp sáng tạo đã đầu tư một màn báo cáo công phu, thú vị của bộ đôi Quang Thắng (Táo Kinh tế) – Vân Dung (Táo Xã hội) để làm nổi bật được nhiều thành tựu kinh tế – xã hội trong năm qua. Tất nhiên những tồn tại, vấn đề của 2 lĩnh vực cũng được khéo léo chỉ ra dưới lăng kính hài hước qua những chất vấn trào lộng của Nam Tào – Bắc Đẩu và Ngọc Hoàng.

Táo quân 2019: Đầy những vấn đề nóng - Ảnh 1.

Cảnh trong chương trình “Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019” sẽ phát sóng trên VTVẢnh: Hoàng Dương

Cũng trong màn chầu của Táo Kinh tế và Táo Xã hội, khán giả còn được chứng kiến những tiết mục ảo thuật đặc sắc mà bản thân 2 nghệ sĩ Quang Thắng và Vân Dung trở thành những ảo thuật gia.

Năm nay, NSND Tự Long tiếp tục thể hiện tài năng ca hát nổi trội của mình trong màn báo cáo, tuy nhiên, phần ấn tượng, để lại nhiều cảm xúc nhất cho khán giả chính là cuộc gặp gỡ với một gương mặt mới, lần đầu tiên lên thiên đình. Khán giả sẽ không khỏi bất ngờ khi « bà mẹ chồng » nổi tiếng NSND Lan Hương (Bông) xuất hiện trong Táo quân 2019, mong muốn Ngọc Hoàng giải đáp những vướng mắc, bức xúc dưới hạ giới của người dân và doanh nghiệp.

Cười chảy nước mắt với « đường » thành « ồ hố »

Vẫn là sự ứng biến đầy ngẫu hứng và thăng hoa cùng Xuân Bắc, bên cạnh màn hát sở trường của mình, Táo Giao thông năm nay đã làm khán giả cười chảy nước mắt với các câu thoại về cải cách tiếng Việt. Tất cả từ « đường » phải gọi chệch đi bằng từ « ồ hố ». Từ đường sá được gọi bằng ồ hố sá, tắc đường thì gọi là tắc ồ hố, đường đường chính chính thì gọi là ồ hố ồ hố chính chính, trà ồ hố, bệnh tiểu ồ hố… Theo Táo Giao thông, việc ùn tắc giao thông dưới hạ giới bởi người dân tham gia ồ hố sá rất thiếu ý thức, nhiều khi họ đi cả vào ồ hố một chiều. Người dân tranh nhau đi nên xảy ra va chạm, đánh nhau ở giữa ồ hố sá, người dân coi ồ hố như nhà của mình… Những câu thoại dí dỏm cũng được các nghệ sĩ sáng tạo đưa lên sân khấu khiến khán giả không khỏi thích thú kiểu như: « Bây giờ chỉ có quan lấy tiền của dân, dân lấy tiền của quan là tội to lắm… ».

Năm nay, Táo quân không chỉ lấy tiếng cười của khán giả mà còn gây xúc động, lấy nước mắt khán giả với câu chuyện rất trớ trêu là hộ dân nghèo nhưng vẫn cần phải đi xin chứng nhận là hộ nghèo thì mới nhận được tiền trợ cấp của nhà nước. Hình ảnh một bà nông dân quần áo vá chằng vá đụp lên tìm đứa cháu làm Táo chỉ để cháu xác nhận mình là hộ nghèo để có thêm 220.000 đồng tiền trợ cấp mỗi tháng: 110.000 đồng để lo chữa bệnh, 110.000 đồng còn lại để ăn trong cả tháng…

« Gặp nhau cuối năm – Táo quân 2019 », do Đinh Tiến Dũng (biệt danh giáo sư Cù Trọng Xoay) và nhà báo Nguyễn Thanh Bình, Lê Đình Lộc, Nguyễn Văn Luyện, Đỗ Duy Anh, Nguyễn Xuân Phương viết kịch bản; đạo diễn Đỗ Thanh Hải – Giám đốc Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam – dàn dựng. 

Kịch « Táo quân 2019 » của HTV: Đậm chất văn hóa Nam Bộ

Kịch « Táo quân » của HTV9 do một nhóm tác giả viết kịch bản. Ê-kíp thực hiện chương trình này đã nỗ lực làm mới nhân vật Táo quân. Nội dung kịch « Táo quân » của HTV lần này là một bản tổng kết những vấn đề nổi bật trong đời sống – xã hội ở trần gian của năm qua, cả những điều tích cực và tiêu cực, điều làm được và chưa làm được, những câu chuyện vui buồn lẫn lộn được thể hiện dưới cái nhìn hài hước, châm biếm.

NSƯT Trịnh Kim Chi, trong vai Thiên Hậu, cho biết: « Tín hiệu tích cực nhất của năm qua đó là thành tựu về vấn đề chống tiêu cực, góp phần lấy lại niềm tin rất nhiều cho việc phát triển của trần gian; những thành tích liên tiếp của bóng đá Việt Nam cũng làm nức lòng người hâm mộ cả nước. Đây là 2 điểm nhấn của vở kịch « Táo quân 2019″ của HTV ».

NSƯT Lê Tứ thể hiện nhân vật Ngọc Hoàng cho biết do vẫn còn nhiều ưu tư về các vấn đề dưới trần gian chưa được giải quyết dứt điểm, Ngọc Hoàng quyết định vi hành xuống trần gian để tự trải nghiệm thực tế. Một buổi tiệc long trọng đã được Táo Ẩm thực và Táo Y tế chuẩn bị để tiếp đón Ngọc Hoàng cùng các thành viên của Thiên đình. Nhưng Ngọc Hoàng lại muốn biết thực tế dân chúng ăn uống ra sao và ngài đã thấy sự nguy hiểm đến sức khỏe của người dân trong vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm.

tao-htv

Cảnh trong kịch “Táo quân 2019” của HTVẢnh: ĐĂNG THAO

Trong vở diễn, Táo Ẩm thực đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình để xảy ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm, vẫn xuất hiện thực phẩm không rõ nguồn gốc được bày bán tràn lan; rau quả, thịt cá đều sử dụng hóa chất độc hại…, đó là những chuyện khiến Ngọc Hoàng lắc đầu ngao ngán.

Vấn đề ngập úng, giao thông cũng được khai thác hài hước trong vở kịch. Trong chuyến vi hành trên những con đường trần gian, Ngọc Hoàng đã phải dùng xuồng để di chuyển trong thành phố, trong làn nước đen hôi thối, rác nổi lềnh bềnh. Bao năm sửa chữa, nâng cấp rồi xây dựng mới hạ tầng giao thông mà việc đi lại của người dân vẫn không khá hơn khi cao tốc nghìn tỉ vừa đưa vào sử dụng đã hư hỏng, đường sá vẫn xuống cấp, ngập nước, công tác quản lý giao thông yếu kém, tai nạn giao thông không giảm.

Vấn đề văn hóa ứng xử, tiêu cực trong giáo dục cũng được nhắc đến với sự lo ngại của Thiên đình.

Với thủ pháp dàn dựng kết hợp giữa yếu tố hiện đại bằng kỹ xảo ánh sáng trên nền tảng âm nhạc đậm chất Nam Bộ, buổi chầu của các Táo trong « Táo quân 2019 » trên HTV hứa hẹn mang lại nhiều tiếng cười ý nhị. « Tiếng cười phải có trách nhiệm xây dựng để năm Kỷ Hợi dần khắc phục các tồn tại, phát huy những tiến bộ của năm cũ. Ngoài cách đề cập những vấn đề gai góc của xã hội một cách hài hước, thú vị, Táo quân của HTV năm nay được thực hiện dựa trên màu sắc văn hóa truyền thống Nam Bộ thông qua những bài bản đờn ca tài tử đan xen một cách mượt mà, tạo ấn tượng cho khán giả về một chương trình đậm dấu ấn HTV » – đạo diễn Minh Hải cho biết.

« Táo quân 2019 » của HTV có sự góp mặt của các nghệ nổi tiếng: Trịnh Kim Chi, Lê Tứ, Tấn Beo, Trung Dân, Hiếu Hiền, Hữu Nghĩa, Đức Hải, Cát Tường, Tuyền Mập, Dũng Nhí.

T.Hiệp Yến Anh

https://nld.com.vn/van-nghe/tao-quan-2019-day-nhung-van-de-nong-20190126210148822.htm

List of newsletters of the Musical Acoustics Group from 1963 to 1987, PARIS

List of newsletters of the Musical Acoustics Group

, dont les séminaires, de 1963 à 1987, ont contribué notablement à la diffusion des activités de recherche du LAM.

Pour télécharger un bulletin au format « pdf », cliquez sur son numéro.
N° 1 – VAN ESBROECK (G.) – Le problème des gammes. 1963 (C.R. par E.Leipp).
N° 2 – BARBAUD (P.) – La composition de la musique à la machine à calculer. 1964 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo).
N° 3 – LEIPP (E.) – Le problème du diapason. 1964.
N° 4 – LEIPP (E.) – Appareillages et méthodes en acoustique musicale. 1964.
N° 5 – MOLES (A.) – Théorie informationnelle de la musique. 1964 (C.R. par E.Leipp et M. Castellengo).
N° 6 – CASTELLENGO (M.) – La musique des oiseaux. 1964.
N° 7 – PHILIPPOT (M.) – Confidences d’un ancien preneur de son. 1965 (C.R. par J. S. LIENARD).
N° 8 – CASTELLENGO (M.) – La notation des musiques extra-européennes à l’aide du sonagraphe. 1965.
N° 9 – MOLES (A.) – Les musiques expérimentales. 1965 (compte rendu par J. S Liénard).
N° 10 – LEIPP (E.) – Les champs de liberté des instruments de musique 1965
N° 11 – WINCKEL (F.) – Influence de l’acoustique des salles sur l’évolution du style musical. 1965 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo)
N° 12 – LEIPP (E) et TRAN VAN KHE – La vielle, le monocorde vietnamien, la cithare à 16 cordes. 1965.
N° 13 – CANAC (F.) – L’acoustique des théâtres antiques. 1965 (compte rendu par J. S. Liénard)
N° 14 – RISSET (J. C.) – La situation de l’acoustique musicale aux U. S. A. 1965 (C.R. par E. Leipp et M. Castellengo).
N° 15 – PERROT (M.) – L’orgue hydraulique antique. 1965 (C.R. par M. Castellengo).
N° 16 – LEIPP (E.) – Le violon. 1965.
N° 17 – TOURTE (R.) – Les instruments à percussion. 1966 (C.R. par J. S. Liénard).
N° 18 – CASTELLENGO (M.) – Les cloches, 1966.
N° 19 – CHAILLEY (J.) – Expériences de corrélation entre musique et parole. 1966.
N° 20 – LEIPP (E.) – Le problème du bruit. 1966
N° 21 – NAGESWARA RAO, TRAN VAN KHE et LEIPP – La vina et la musique de l’Inde du Sud. 1966.
N° 22 – LEIPP (E.). – Information sémantique et parole : essai d’une gestalttheorie. 1966.
N° 22bis – LIENARD (J S.) – Le dictionnaire des éléments phonétiques et ses applications à la linguistique.
N° 23 – CASTELLENGO (M.) – Le galoubet. 1966.
N° 24 – LEIPP (E.) et TRAN VAN KHE – Le Sarod 1966
N° 25 – LEIPP (E.) et WRIGHT (J.) – La guimbarde. 1967
N° 26 – LIENARD (J. S.) – Les haut-parleurs. 1967
N° 27 – MEYER (J.) – Le pouvoir directionnel des instruments de musique. 1967 (traduit et présenté par E. Leipp).
N° 28 – GILOTAUX (P.) – La fabrication des disques. 1967 (compte rendu par J. S. Liénard).
N° 29 – LEIPP (E.) et TRAN VAN KHE – Réflexions sur les problèmes du rythme dans les musiques orientales. 1967.
N° 30 – Colloque de 4 conférences sur le thème du piano, organisé par le GAM LEIPP (E.). – Le piano, les mesures physiques et leur signification CASTELLENGO (M.) – Peut-on apprécier objectivement le style des pianistes ? LIENARD (J. S.). – Mécanique et toucher du piano. DORGEUILLE (C.) – Essai d’analyse anatomo-physiologique de la technique de clavier.
N° 31 – Sur l’art vocal en Inde. 1967. PURI (M.) – Les dix thalas de la musique de l’Inde du Nord et leur correspondance avec les différentes heures de la journée. TRAN VAN KHE – Les trois styles de chant en Inde : le dhrupad, le khayal et le Tumri. CASTELLENGO (M.). – Étude acoustique d’un exemple d’art vocal : le Khayal.
N° 32 – LEIPP (E.) – Mécanique et acoustique de l’appareil phonatoire. 1967.
N° 33 – Tour d’horizon sur les musiques expérimentales. 1968. CHIARUCCI (H.) et REIBEL (G.). – Techniques et manipulations en musique électro-acoustique. MOLES (A.) – L’évolution actuelle des musiques expérimentales. LEIPP (E.) – La musique expérimentale au Laboratoire d’acoustique.
N° 34 – LIENARD (J. S.) – La machine parlante de Kempelen. 1968.
N° 35 – CASTELLENGO (M.) – La flûte traversière. 1968.
N° 36 – LEIPP (E.) – Le diapason. 1968.
N° 37 – LEIPP (E.) – L’intelligibilité de la parole. 1968.
N° 38 – LEIPP (E.) et collab. ISOIR. – La régale. 1968.
N° 39 – CASTELLENGO (M.) et TAMBA (A.) – La musique du théâtre nô japonais.
N° 40 – LEIPP (E.), CASTELLENGO (M.) et AGOSTINI (F.) – Le nouveau diapason électronique à l’Opéra. 1969.
N° 41 – LEIPP (E.) avec la collaboration de THEVET (L.) – Le cor d’orchestre. 1969.
N° 42 – CASTELLENGO (M.) – Les paramètres sensibles d’un tuyau à bouche d’orgue. 1969.
N° 43 – TARNOCZY (T.) et LEIPP (E.) – Le problème de la reconnaissance automatique de la parole. 1969.
N° 44 – TRAN VAN KHE, LEIPP, avec la collaboration de CHENG SHUI CHENG – Quelques instruments traditionnels de Chine : ocarina, flûtes, orgue à bouche, pipa. 1969.
N° 45 – RISSET (J. C.) – Un ordinateur comme instrument de musique. 1969.
N° 46 – BOREL-MAISONNY (S.) – Orthophonie. 1970.
N° 47 – LEIPP (E). Introd. AGOSTINI (F.) et SAUGUET (H.) – Réunion sur le diapason. 1970.
N° 48 – MEYER (J.) – La disposition des musiciens dans l’orchestre. Intrododuction et traduction de LEIPP (E.)1970.
N° 49 – LEIPP (E.) – Réflexions sur la mécanique et l’acoustique de l’oreille moyenne. 1970.
N° 50 – LEIPP (E.) – Le GAM : rétrospective et prospective. 1970.
N° 51 – WINCKEL (F.) – Architecture et musique spatiale. 1970.
N° 52 – DEWEVRE (J.) – La chaîne d’écoute phonographique. 1970.
N° 53 – LEIPP (E.), CASTELLENGO (M.), SAPALY (J.), LIENARD (J. S.), TEIL (D.), MLOUKA (M.) et CALINET (A.).- Colloque sur la parole. 1971.
N° 54 – KAUFMANN (K. et M.) et LEIPP (E.) – Le Clavisimbalum d’Arnaut de Zwolle 1971.
N° 55 – LEIPP (E.), TRAN VAN KHE et TRAN QUANG HAI – De quelques instruments vietnamiens. 1971.
N° 56 – LEIPP (E.), SAPALY (J.) et CASTELLENGO (M.) – Présentation de notre orgue expérimental, le CANTOR. 1971.
N° 57 – LEIPP (E.). – Le violon de Savart. 1971.
N° 58 – LEIPP (E.) et LEOTHAUD (G.) – La musique religieuse du Tibet. 1971.
N° 59 – LEIPP (E.), MONICHON (P.), ABBOTT (A.) et LORIN (E.) – L’accordéon (2 réunions). 1972.
N° 60 – MARTENOT (M.) et LEIPP (E.) – Les ondes Martenot. 1972. [Exemplaire OCR]
N° 61 – LEGROS (H.) – Le problème du tempérament. 1972.
N° 61bis – ETIENNE (L.) – Le tempérament décimal. 1972.
N° 62 – LEIPP (E.) – Les problèmes de I’audition stéréophonique. 1972.
N° 63  – LEIPP (E.) et LEGUY (J.) – Le serpent et le cornet à bouquin. 1972.
N° 64 – LEIPP (E.) et ABBOTT (A.) – Un compositeur contemporain devant son œuvre :  » Eve et l’Ordinateur » de A. ABBOTT. 1972.
N° 65 – CEOEN (C.) – La prise de son moderne. 1973.
N°66 – LANNOY (J.) et LEIPP (E.). – Le carillon : Problèmes musicaux, problèmes acoustiques. 1973.
N° 67 – WINCKEL (R.) – Comment mesurer l’efficacité de la voix chantée. 1973. CASTELLENGO (M.). – Etude acoustique de la voix des chanteurs professionnels. 1973.
N° 68 – LEIPP (E.) – Images et traitement optique d’images. 1973.
N° 69 – VAL (J. L.) – La serinette. 1973.
N° 70 – ANCION (M.), BARIAUX (M.). – La clarinette : histoire et musique ; aspects acoustiques. 1973. [Exemplaire OCR]
N° 71 – LEIPP (E.) – Réflexions et expériences sur la clarinette. HEINRICH (J. M.). – Étude botanique de l’anche de roseau. 1973.
N° 72 – BESNAINOU (Ch.) – Les luths. 1974.
N° 73 – MEGEVAND (D.) et LEIPP (E.) – La harpe celtique : histoire et musique, anatomie, physiologie et acoustique. 1974.
N° 74 – LEIPP (E.). – Sons nouveaux sur les instruments de musique mécaniques. CASTELLENGO (M.). – Sons multiples non harmoniques sur les tuyaux a embouchure de flûte. 1974.
N° 75 – CORDIER (S.) – Le problème de l’accordage des instruments à clavier. 1974.
N° 76 – AUTEURS DIVERS.- Table ronde : accordage et audition. 1974.
N° 77 – DUPARCQ (J. J.) – Contribution à l’étude des proportions numériques dans l’œuvre de Jean-Sébastien BACH : extraits. 1975.
N° 78 – LEIPP (E.) – Le groupe de musique expérimentale de Bourges. 1975. Présentation par CLOZIER (C.) suivie de : Les musiques expérimentales : leur passé et leur avenir (Réflexions critiques par LEIPP (E.).
N° 79 – MORAGA (R.) – Musique d’au-delà des Andes. 1975.
N° 80 – COMBASTET (M.) – L’audition colorée : mythe ou réalité ? 1975.
N° 81 – BORREDON (J.) – Pour une parole naturelle. 1975.
N° 82-83 – KERGOMARD (J.) et HEINRICH(J. M.) – Le basson : historique, fabrication, acoustique. L’anche double : fabrication, botanique, le grattage. 1975.
N° 84 – TRAN VAN KHE – Où en sont actuellement les musiques traditionnelles. 1976.
N° 85 – LEIPP (E.) – Peut-on tester l’oreille musicienne ? 1976.
N° 86 – BOREL-MAISONNY (Mme) – La radio-cinématographie de l’appareil phonatoire et ses possibilités en rééducation. 1976.
N° 87 – LEIPP (E.) – Animation artistique et acoustique : le  cas Fontevraud. 1976.
N° 88 – LEIPP (E.), MAURIN (Mme), GENET-VARCIN (M.) – La cloche-diapason du Conservatoire national de Musique de Paris. 1976.
N° 89 – LEIPP (E.) et MAS (A.) – Une enceinte acoustique instrumentale. 1977.
N° 90* – CASTELLENGO (M.) – La flûte à bec. 1977. (pas de texte)
N° 91 – BENETT-CLARK et LEIPP (E.) – Émissions sonores des insectes. 1977.
N° 92 – FRIEDERICH (D.) – La guitare classique. 1977.
N° 92bis – HINAJOSA (X.) – La vihuela. 1977.
N° 93 – LEIPP (E.) – Les problèmes acoustiques de la guitare. 1977.
N° 94 – LEIPP (E.) – L’intégrateur de densité spectrale IDS et ses applications. 1977.
N° 95* – KERGOMARD (J.) – La théorie élémentaire des tuyaux. 1978. (pas de texte)
N° 96 – MARCHI et LEIPP (E.) – La clarinette système Marchi. 1978.
N° 97 – CASTELLENGO (M.), SECHET (P.), DROUIN (F.).- La flûte traversière à une clé, dite flûte baroque. 1978.
N° 98 – FLORIOT (F.) et FONTAINE (J. M.). – Les vases acoustiques du Moyen Age. 1978.
N° 99 – LEIPP (E.) – La qualité acoustique des lieux d’écoute. 1978.
N° 100 – LEIPP (E.) – Bilan de 100 réunions du GAM. + un thème « Le système métrique des musiciens ». 1978.
N° 101 – LARACINE (A.) – La retransmission de l’espace sonore. 1980.
N° 102 – MOLES (A.). – La perception des paysages sonores urbains. 1980.
N° 103 – ASTA (V.) – La synthèse numérique en temps réel. 1980.
N° 104 – GOUSTARD (M.) – Morphologie acoustique et mécanismes de synchronisation des vocalisations territoriales des gibbons à favoris blancs. 1980.
N° 105 – MAILLOT (C.) et SIMANE (M.) – La fabrication des cordes harmoniques. 1981.
N° 106-107 – HEINRICH (J.M.). – Facture d’anches anciennes, facture instrumentale et épistémologie. 1981.
N° 108* – ARTAUD (P.Y.) – La flûte traversière aujourd’hui : faisons le point. 1982. (pas de texte)
N° 109 – CAUSSE (R.) et SLUCHIN (B.) – Les sourdines de la famille des cuivres. 1982.
N° 110 – GARCIA (A.). – La directionnalité des instruments de musique. 1983
N° 111* – ROUBEAU (B.) et CASTELLENGO (M.) – La notion de registre vocal. 1982.
N° 112* – CADOZ (C.) – Synthèse gestuelle des sons musicaux. 1985.
N° 113 – FONSEQUE (R.) – Présentation d’un super-tempérament de 24 sons à l’octave. 1986.
N° 114 – PICARD (F.) – Sur l’accord de quelques jeux de phonolithes et de cloches de la Chine ancienne. 1986.
N° 115 – GILBERT (J.) KERGOMARD (J.) et KIENTZY (D.). – Le saxophone : historique, acoustique et jeu. 1987.

http://www.lam.jussieu.fr/BulletinsGAM.php

http://www.lam.jussieu.fr/BulletinsGAM.php

QUYỀN DI và TRẦN VIỆT HẢI : VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI, TÌNH CA HAY THÁNH CA?


Trong tứ diệu đế của Phật giáo thì khổ đế đứng đầu. Nguyên nhân khiến người ta khổ chính là sinh, lão, bệnh, tử: sinh ra đã là khổ, già lão cũng là khổ, bệnh tật thì rất khổ mà cái chết cũng vẫn là khổ. Trong bốn cái khổ này, bệnh là cái khổ đáng ngại nhất.
Thời đại này, người ta có quá nhiều thứ bệnh, bệnh bên ngoài cũng khổ mà bệnh nội thương cũng khổ. Một trong những thứ bệnh xem như bất trị của thời đại chính là ung thư.

Bệnh là điều cụ thể, hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người. Ai trong chúng ta mà không bệnh, chẳng bệnh nặng, cũng bệnh nhẹ. Có những thứ bệnh dai dẳng, trị không dứt, hành hạ “con bệnh” hết năm này qua năm khác. Để tìm sự an lạc, ngoài việc trị bệnh, người ta còn phải tập “sống chung với bệnh”.
Người có tinh thần lạc quan nhìn bệnh với một thái độ tích cực:
1. Bệnh là dịp để ta nhận ra tín hiệu của cơ thể. Khi ta bị bệnh là lúc cơ thể gửi cho ta một tín hiệu về những lệch lạc trong cách sống, cách ăn uống, cách làm việc. Nhờ tín hiệu này mà ta có thể điều chỉnh cách sống của mình cho lành mạnh hơn.
2. Bệnh giúp ta ý thức hơn về nhu cầu tinh thần và tâm linh. Không bệnh thì ta cứ sống khơi khơi, bệnh rồi, ta mới thấy ngoài cuộc sống ngoại diện, đời mình còn có cuộc sống nội tâm và tâm linh. Nó âm thầm hơn nhưng sâu xa hơn. Nó làm cho con người mình trưởng thành quân bình và nó giúp ta ý thức được cái hữu hạn, vô thường của đời người.
3. Bệnh giúp ta sống an hoà hơn, bác ái, từ bi hơn. Có bệnh ta mới hiểu được nỗi “đau” của người khác, từ đó có sự đồng cảm với tha nhân. Tục ngữ Việt Nam có câu nói rất đơn sơ, mộc mạc nhưng rất cụ thể: “Có đau mắt mới biết thương người mù.”
4. Bệnh giúp ta biết sống khiêm nhường hơn, không cậy vào sức mình, không xem mình trổi vượt hơn người khác. Bị bệnh thì ai cũng khổ, cũng đau đớn như nhau.
5. Bệnh cho ta thêm nghị lực. Nghị lực để chống lại cái đau và nghị lực để chịu được cái đau.
Lý thuyết về bệnh thì như thế. Nhưng bệnh, mà nhất là bệnh nan y, nay khỏi được thì quả là một niềm vui lớn. Đây là niềm vui của hai chị… mà hôm nay chúng ta cùng vui mừng với hai chị, vì hai chị đã trải qua cơn bệnh nan y, nay hoàn toàn bình phục.

Hết bệnh thì vui, cái vui bên ngoài và cái vui sâu xa trong tâm hổn, cái vui mà nhạc sĩ Đức Huy đã có một cách diễn đạt rất hay, rất đẹp là “và con tim đã vui trở lại”.
Đây là một bài hát rất hay, rất ý nghĩa của Đức Huy. Chúng ta đã hát bài này nhiều lần. Đơn ca cũng có, hợp ca cũng có, mà đồng ca tưng bừng nhộn nhịp, vừa hát vừa đưa cao tay quơ qua quơ lại cũng có.

Hôm nay chúng ta có dịp nhắc lại lời ca của bài hát tuyệt vời này:

Tìm một con đường, tìm một lối đi
Ngày qua ngày, đời nhiều vấn nghi
Lạc loài niềm tin sống không ngày mai
Sống quên không ai cần ai
Cứ vui cho trọn đêm nay
Rồi cuộc vui tàn, mọi người bước đi, một mình tôi về, nhiều lần ướt mi
Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai
Xóa tan màn đêm u tối
Cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới.
Và con tim đã vui trở lại
Tình yêu đến cho tôi ngày mai
Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời
Tôi hy vọng được ơn cứu rỗi
Và con tim đã vui trở lại
Và niềm tin đã dâng về Người
Cho tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi
Và bây giờ ngày buồn đã qua
Nhiều lỗi lầm cũng được thứ tha
Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai
Xóa tan màn đêm u tối
Cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới…
Dẫu như tôi phải đi qua vực sâu u tối
Tôi sẽ không sợ hãi gì vì Người ở gần bên tôi mãi…

https://www.youtube.com/watch…

Bài hát mang một âm điệu vui tươi, lôi cuốn. Và vì bài hát nhắc đến Tình Yêu: “Tình yêu đến cho tôi ngày mai. Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời” và “Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai” nên chúng ta dễ nghĩ rằng đây là một bài tình ca.

Thì cũng không sai! Đây chính là bài ca ngợi tình yêu, nhưng không phải là tình yêu của một đôi thanh niên nam nữ, mà là tình yêu giữa con người với Thiên Chúa. Chúng ta để ý thấy chữ “Người” trong “Và niềm tin đã dâng về Người. Cho tâm hồn nguyện yêu mãi riêng Người mà thôi” là một chữ Người viết hoa một cách tôn kính.

Nếu tôi không lầm thì Đức Huy đã dựa vào Thánh Vịnh 23 của thánh vương David để dệt nên lời nhạc này. Đây là một thánh vịnh được rất nhiều người yêu thích và dùng để cầu nguyện. Thánh vịnh này nói về một mục tử (người chăn chiên) yêu thương, chiều chuộng và bảo vệ chiên của mình:

“CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
Lạy Chúa, dầu qua thung lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm…”

https://www.youtube.com/watch…

Trong bài hát, Đức Huy đã diễn đại lời Thánh Vịnh bằng ngôn ngữ của mình: “Dẫu như tôi phải đi qua vực sâu u tối, tôi sẽ không sợ hãi gì vì Người ở gần bên tôi mãi…”

Bài hát diễn tả sự biến đổi tâm hồn của một kẻ thiếu niềm tin trong cuộc sống. Khi ta không có niềm tin thì cuộc đời tăm tối và nhiều nghi ngờ, cuộc đời nhiều đau khổ, cô đơn và nước mắt mà Đức Huy diễn tả là “một mình tôi về nhiều lần ướt mi.” Nhưng một khi đã khám phá ra Tình Yêu Thiên Chúa, đã có đức tin thì “Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai, xóa tan màn đêm u tối. Cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới.”

“Người mới” là người nào? Người mới là người đã được phục sinh cùng với Chúa Giêsu phục sinh. “Biến đổi tâm hồn thành một người mới…” Tôi nghĩ rằng Đức Huy đã chịu ảnh hưởng lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vảo lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt”. (Ê­dê­ki­en 36,26).

Một bài hát tuyệt vời. Bài Tình Ca mà cũng là bài Thánh Ca. Và chúng ta cất tiếng hát bài ca này với một con người mới, một tâm hồn mới, một trái tim mới, trái tim bằng thịt, đập những nhịp đập của yêu thương nồng nàn chứ không phải một trái tim chai đá.

Xin hãy chúc mừng nhau, sau cơn mưa trời lại sáng … Cầu xin thân hữu bạn bè được bình phục, cũng như để mừng cho tất cà chúng ta có quả tim biết yêu thương. Và giờ đây xin hãy hát tặng nhạc sĩ Trần Quang Hải và tất cả chúng ta bài hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” tuyệt vời này.

GS. Quyên Di.
———————————————————————————-

Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…

Hôm nay là ngày anh chị em liên nhóm Nhóm Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian qui tụ trong buổi vinh danh GS/TS Trần Quang Hải. Cũng để làm buổi ca nhạc vui mừng hay chúc mừng quý anh chị: Trần Quang Hải, Huỳnh Anh và Hồ Thanh Thanh, hay tên văn nghệ mà chúng tôi thường gọi chị là « Thanh Thanh ». Cách đây 2 năm chị Thanh Thanh vướng mắc căn bệnh hiểm nghèo. Trong đời sống thường nhật mà mọi chúng ta đang có cuộc sống bình thường, rồi bỗng dưng ta bị chẩn đoán mắc một căn bệnh nào đó, nếu chẳng may thì số phần khó đoán được tính mạng mình sẽ ra sao. Dĩ nhiên có nỗi lo âu, buồn phiền, mất ăn, mất ngủ.

Rồi trong năm vừa qua, anh chị em chúng tôi nhận được tin một số anh chị chẳng may bị bịnh, hay bị nạn. Đối với con người tiến trình « Sinh Bệnh Lão Tử » không ai tránh khỏi cả. Nào những: Nhồi máu cơ tim, ung thư, tai biến mạch máu não,…
Ví dụ tai biến mạch máu là căn bệnh khá nguy hiểm, khiến bệnh nhân bị xuất huyết não, nên bị bán thân bất toại. Căn bệnh tai biến mạch máu não thực sự là bệnh phổ thông trên khắp thế giới, hậu quả của nó có thể đem hệ lụy lâu dài đối với bệnh nhân, nếu bị nặng sẽ bị tàn phế suốt đời. Tại xứ Mỹ hàng năm có khoảng 800,000 người bị mắc phải stroke (new patients) cho 2 loại nặng và nhẹ, tức minor stroke hay severe stroke. Trong con số 800,000 đó thì có 130,000 trường hợp bị tử vong, tức khoảng 16% bị vong mạng. Trong khi căn bệnh ung thư theo thống kê 2015 số ngưòi mắc phải là 1,658,370 (bệnh nhân mới hay new cases), không kể những người bị hơn một năm trước đó và ung thư đã cướp đi mạng sống của 589,430 người tại Hoa Kỳ. Riêng bệnh ung thư ngực (breast cancer) thì cứ mỗi 100,000 bệnh nhân mắc phải có 22% là số người bị tử vong.

Tóm lại trong cuộc sống yên bình hôm nay, chúng ta không biết ngày mai sẽ ra sao. Đời sống vô thường, kiếp sống đầy rủi ro, bất trắc. Nhưng hôm nay các bạn ta thì người đã bình phục, hay người đang mắc phải, tất cả bạn bè, anh chị em nhóm văn nghệ Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiêng Thời Gian qui tụ nhau lại để cầu an và chúc mừng trong buổi lễ này, chúng tôi xin được nói lời cầu an và chúc mừng gửi dến những thân hữu bạn bè. Lời chúc mừng khỏi bệnh như ý tưởng « Và con tim đã vui trở lại », bài nhạc của nhạc sĩ Đức Huy, trong đó có câu « … chờ tình yêu đến trong ánh nắng mai, xóa tan màn đêm u tối, cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới…”

https://www.youtube.com/watch…

Ngày hôm nay, tình yêu thương của mọi ngươi đến chung vui với những người bạn của chúng ta để xin xóa tan những lo âu, những ưu phiền và để con tim đã vui trở lại…

Một lần nữa xin chúc mừng, chúc mừng cho mọi người! Đặc biệt GS. Trần Quang Hải.

TRẦN VIỆT HẢI

ĐỀ NGHỊ CỦA THẦY SUM LÀM QUÀ TẶNG TRẦN QUANG HẢI NHÂN DỊP RMS Ở CSU LONG BEACH, 10.02.2019

Dear Các Em 

 TSAN TRẦN QUANG HẢI là Trưởng nam Cố TSAN TRẦN VĂN KHÊ, CẢ HAI VỊ đều là CỰU HỌC SINH PETRUS KÝ và đều đã làm rạng danh TRƯỜNG PETRUS KÝ của chúng ta ở Trong nước cũng như ở Hải ngoại. 

Nay nhân dịp TS TRẦN QUANG HẢI từ PARIS sang CALIFORNIA RA MẮT SÁCH và được VĂN NGHỆ SĨ, NHẠC SĨ và ĐỒNG BÀO chào đón nhiệt liệt, THẦY đề nghị HỘI PETRUS KÝ NAM CALI chúng ta nên thực hiện một TROPHY haymột PLAQUE vinh danh TS TRẦN QUANG HẢI và sẽ trao tặng nhân Ngày RA MẮT SÁCH sẽ được long trọng tổ chức tại UCS LONG BEACH vào ngày Chủ Nhật Feb. 10, 2019 sắp tới.  

 EM ĐẠT liên lạc với Anh HẢI, Anh CHI và Chị THỦY để lo việc nầy cho kịp ngày. Có gì trở ngại trình THẦY hay  

 THẦY SUM

DƯƠNG VĂN SUM

LINH ĐOAN : Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương


14/01/2019 01:10 GMT+7 67 2 Lưu

TTO – Tối 13-1, tại phố đi bộ Nguyễn Huệ, Ban tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn TP.HCM đã tổ chức Chương trình Giao lưu, tôn vinh và biểu diễn kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển nghệ thuật sân khấu cải lương.

Một đoạn trích trong đêm tôn vinh 100 năm cải lương – Video: DUYÊN PHANXem thêm video khác trên TVO

Đến dự có khoảng 1.000 khán giả và đại diện các cấp lãnh đạo từ trung ương đến thành phố, đại diện các sở Văn hóa Thể thao, các nhà hát từ một số tỉnh thành phía Nam và nhà hát cải lương Việt Nam.

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 2.

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng ông Võ Văn Thưởng – ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương – tặng hoa tôn vinh các nghệ sĩ – Ảnh: DUYÊN PHAN

Đặc biệt, chương trình có sự góp mặt của hơn 400 nghệ sĩ, nhạc công nhiều thế hệ, như các nghệ sĩ: Lệ Thủy, Ngọc Giàu,Thanh Tuấn, Minh Vương, Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Trọng Hữu, Hồng Nga, Thoại Miêu, Tuấn Thanh, Thanh Sơn, Công Minh, Kim Tử Long, Thoại Mỹ, Phượng Loan, Vũ Luân, Trinh Trinh, Tấn Giao, Lê Hồng Thắm…

Ban tổ chức cũng đã mời các nghệ sĩ lão thành, NSND, NSƯT, các soạn giả gạo cội đến xem chương trình như nghệ sĩ Kim Cương, Phi Điểu, Thanh Nguyệt, Quốc Nhĩ, Kiều Mai Lý, Phú Quý, Nam Hùng, Tô Kim Hồng, soạn giả Đăng Minh, Ngô Hồng Khanh, nhạc sĩ Khải Hoàn…

Một đêm diễn ngập tràn cảm xúc

Đêm diễn mở màn bằng tổ khúc ca múa nhạc Vọng trăng xưa với phần phối nhạc cung đình Huế, chuyển qua Tứ đại oán, Dạ cổ hoài lang và vọng cổ với sự thể hiện của các nghệ sĩ Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Minh Vương, Thanh Tuấn, Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Hồng Nga, Thoại Miêu, Trọng Hữu, Tuấn Thanh, Lê Thiện.

Để từ đó MC Hồng Phượng cùng các nghệ sĩ Trọng Hữu, Lê Thiện, Tuấn Thanh, Nguyên Đạt, Hữu Quốc, Lê Trung Thảo… dẫn dắt người xem đi từ khởi đầu hình thành sân khấu cải lương với những gánh hát, nghệ sĩ tiên phong. Rồi những giai đoạn thăng trầm, khi đất nước chia cắt, đỉnh điểm là vở Lấp sông Gianh nói lên khát khao hòa bình, đất nước, non sông nối liền một dải đã bị đánh bom ngay ngày khai trương vở (19-12-1955) tại rạp Nguyễn Văn Hảo, khiến nhiều người chết và bị thương.

Trong thời kỳ đất nước khó khăn, mỗi nghệ sĩ cũng là chiến sĩ cùng nêu cao tinh thần yêu nước. Tinh thần ấy thể hiện với sự ra đời của nhiều đoàn cải lương giải phóng ở Bến Tre, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, Văn công giải phóng, T4, đoàn Văn công QK9…

Cho đến năm 1978, sau đêm diễn Thái hậu Dương Vân Nga, NSƯT Thanh Nga đã ra đi. Một Dương Vân Nga ngã xuống có nhiều Dương Vân Nga khác đứng lên. Chương trình đã có lớp diễn khá xúc động khi NSND Ngọc Giàu, NSƯT Thoại Mỹ và NSƯT Phượng Loan cùng thể hiện khí phách của Dương Vân Nga cương quyết không trao long bào cho giặc.

Trước đó là những giây phút rùng rùng cảm xúc khi người xem được nghe lại đoạn thu âm những lời đanh thép của NSƯT Thanh Nga trong vở Thái hậu Dương Vân Nga. Đáng tiếc, lớp diễn này không có sự góp mặt của NSND Bạch Tuyết khi vai diễn Thái hậu Dương Vân Nga của bà được xem là mẫu mực, được các thế hệ nghệ sĩ sau này học tập và coi như là khuôn mẫu.

Những giải thưởng danh giá của làng cải lương cũng được ghi nhận như giải Thanh Tâm, Trần Hữu Trang đánh dấu sự nối tiếp, truyền lửa cải lương từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 3.

Tiết mục song ca cổ Bánh bông lan của NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương khiến nhiều khán giả thích thú – Ảnh: DUYÊN PHAN

Trong đêm diễn, tiết mục song ca cổ Bánh bông lan của NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương khiến nhiều khán giả thích thú. Ở tuổi ngoài 70, nhưng hai nghệ sĩ gạo cội đã có màn trình diễn sinh động, dí dỏm bài ca đã đi vào lòng triệu triệu khán giả mê mệt cải lương với lối hát chơn chất, dung dị và cách thể hiện hết sức hài hước.

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 4.

Các nghệ sĩ, gia đình nghệ sĩ, các soạn giả, họa sĩ, đạo diễn, nhạc sĩ cải lương tiêu biểu, cả nhân viên hậu đài, phục trang đã được mời lên sân khấu để vinh danh – Ảnh: DUYÊN PHAN

Những người tiếp lửa

8 đơn vị xã hội hóa đã luân phiên diễn các trích đoạn cải lương lịch sử. Đoàn Chí Linh – Vân Hà với trích đoạn Bạch Đằng giang dậy sóng, sân khấu Lê Hoàng với Thái hậu Dương Vân Nga, đoàn Vũ Luân với Cờ nghĩa Tây Sơn, đoàn Minh Tơ với trích đoạn Câu thơ yên ngựa, đoàn Kim Tử Long với Rạng ngọc Côn Sơn, đoàn Huỳnh Long với Liên khúc tuồng cổ, nhóm Thắp sáng niềm tin với Dấu ấn giao thời và sân khấu Sen Việt với Thuận lòng trời.

Tiếc là các đoàn chọn đa số trích đoạn lịch sử nên người xem chưa thấy rõ được sự đa dạng của mỗi đoàn với phong cách khác nhau.

Nghệ sĩ trẻ ở các đoàn tỉnh như Đồng Nai, Bến Tre, Kiên Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Tây Ninh, Cà Mau và nhà hát cải lương Việt Nam cùng các bé ở nhóm Bầu trời xanh cũng có dịp hòa chung trong một tiết mục để trình diện với khán giả một lớp nghệ sĩ kế thừa, người sẽ giữ tiếp ngọn lửa của sân khấu cải lương sau 100 năm.

Các nghệ sĩ, gia đình nghệ sĩ, các soạn giả, họa sĩ, đạo diễn, nhạc sĩ cải lương tiêu biểu, cả nhân viên hậu đài, phục trang đã được mời lên sân khấu để vinh danh.

Những hình ảnh trong chương trình đêm 13-1:

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 5.

Nghệ sĩ Hồng Nga cùng các nghệ sĩ gạo cội trong chương trình tôn vinh 100 năm cải lương – Ảnh: DUYÊN PHAN

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 6.

Nghệ sĩ Lệ Thủy cùng các nghệ sĩ cải lương gạo cội biểu diễn tôn vinh 100 năm nghệ thuật sân khấu cải lương tại phố đi bộ Nguyễn Huệ (Q.1, TP.HCM) tối 13-1 – Ảnh: DUYÊN PHAN

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 7.

Nghệ sĩ Thoại Miêu cùng các nghệ sĩ cải lương gạo cội biểu diễn tôn vinh 100 năm nghệ thuật sân khấu cải lương tại phố đi bộ Nguyễn Huệ (Q.1, TP.HCM) tối 13-1 – Ảnh: DUYÊN PHAN

Đêm giao lưu, tôn vinh được truyền hình trực tiếp trên kênh HTV1 và truyền tiếp trên kênh HTV9. Tổng đạo diễn chương trình: NSƯT Hoa Hạ, kịch bản: soạn giả Hoàng Song Việt. Chương trình sẽ được giản lược và diễn thêm đêm 14-1 để phục vụ rộng rãi công chúng tại phố đi bộ.

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 9.

Các nghệ sĩ tái hiện lại nhiều vở diễn trên sân khấu – Ảnh: DUYÊN PHAN

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 10.

Những nghệ sĩ gạo cội cùng nhau xuất hiện trong đêm tôn vinh 100 năm nghệ thuật sân khấu cải lương

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 11.

Những vở diễn được tái hiện rất ấn tượng – Ảnh: DUYÊN PHAN

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 12.

Vở Thái hậu Dương Vân Nga – Ảnh: DUYÊN PHAN

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 13.

Mọi thứ từ trang phục, âm thanh, ánh sáng đều rất hoàn hảo – Ảnh: DUYÊN PHAN

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 14.

Những tiết mục được đầu tư kỹ lưỡng – Ảnh: DUYÊN PHAN

Xuống phố đi bộ mừng 100 năm sân khấu cải lương - Ảnh 15.

Nghệ sĩ Kim Tử Long trên sân khấu – Ảnh: DUYÊN PHAN

Sau 100 năm, sân khấu cải lương trông chờ nghệ sĩ trẻ

Sau 100 năm, sân khấu cải lương trông chờ nghệ sĩ trẻ

https://tuoitre.vn/xuong-pho-di-bo-mung-100-nam-san-khau-cai-luong-20190113235050373.htm

TTO – Soạn giả Hoàng Song Việt khẳng định: ‘Tương lai của sân khấu cải lương phải là của các bạn diễn viên trẻ chứ không phải ai khác!’. Vậy lực lượng trẻ hiện như thế nào, họ sẽ cáng đáng sứ mệnh nối tiếp ngọn lửa nghề của cha ông truyền lại ra sao.