Dương Kim Thoa : Lại phải viết về Song Lang

Lại phải viết về Song Lang

Vì không còn làm mảng văn hóa – văn nghệ nên đáng lẽ mình đã không đi xem phim này. Nhưng rồi mình vẫn phải đi xem khi thấy các chị đồng nghiệp làm mảng này xem phim tới tận lần thứ 3 và khen nức nở. Ban đầu mình còn chọc, nhưng rồi phải thành thực thú nhận, mình cũng đã xem nó tới 2 lần

Vì xem phim trong những ngày ra rạp cuối cùng của Song Lang nên thoạt tiên mình chỉ viết những dòng này với mục đích để ghi lại những ngẫm nghĩ cho riêng mình.

Nhân chuyện Song Lang đang dự giải tại LHP Quốc tế Tokyo (TIFF 2018), mình muốn chia sẻ lại những cảm xúc cá nhân về bộ phim , để nếu ai chưa xem, có thể tìm cách nào đó xem lại, và để ủng hộ đạo diễn trẻ tài năng Leon Quang Lê và các bộ phim khác của anh:

******

Xem Song Lang để thương thêm văn hóa dân tộc

Đã rất lâu rồi khán giả mới lại được xem một bộ phim gợi nhiều cảm xúc và suy ngẫm đến vậy. Có thể bởi nỗi thất vọng với phim Việt từ lâu quá lớn, tới mức thành định kiến. Nhưng cũng có thể bởi Song Lang quá xuất sắc.

Bộ phim đã cho thấy Leon Quang Lê là một đạo diễn có tài. Mặc dù một phần nào đó nó tạo ấn tượng đặc biệt còn bởi thực sự nó là sự dứt ruột của lòng anh mà ra. Nghệ thuật thứ bảy sẽ còn tiếp tục thử thách tài năng của anh ở những gì không phải là “dứt ruột” như vậy nữa.

Đạo diễn đã kết hợp tài tình và khéo léo những kỹ thuật quay phim đặc sắc của phương Tây, song lại vận dụng được cả những ẩn dụ rất tinh tế của văn hóa Á đông, một khả năng không dễ có ở những đạo diễn Việt kiều còn trẻ như Leon Lê.

Tài năng của đạo diễn còn thể hiện ở hai phương diện rất đặc biệt của bộ phim: Thực thì rất thực, song cái thực lại cũng đầy tính ẩn dụ.

Trước hết, hãy nói về cái thực. Rất nhiều người Sài Gòn trải qua giai đoạn sống của những năm 80 thế kỷ trước nhận ra ngay khung cảnh, vật dụng, không khí sống thời ấy qua những cảnh trí trong phim.

Đó là logo của hãng máy khâu Sinco đặt trên những tòa nhà cao tầng tập thể, là chiếc đài dò sóng thủ công, là chiếc loa phường phát không ngơi nghỉ, là những khu phố nhỏ hẹp, chằng chịt dây điện và những lối cầu thang xoắn vặn cọt kẹt cửa sắt….

Để có được cái thực ấy, đạo diễn đã chăm chút tới từng tấm áo, manh quần diễn viên, từng kiểu tóc, từng chi tiết nhỏ xuất hiện trong mỗi khuôn hình, để nhìn vào đó người ta phải thấy nó không thể là đâu khác ngoài Sài Gòn của những năm 80 thế kỷ 20.

Vì sự kỹ càng đó mà góc máy gần như không thể rộng rãi, thậm chí với một số người có thể cảm thấy đôi chút “bức bối” với những khuôn hình hẹp. Bởi những gì của Sài Gòn xưa đó giờ không còn nhiều. Cảnh đường phố nếu có quay rộng hơn, cũng chỉ có thể xuất hiện ban đêm.

Nhưng giữa những điều rất thực ấy là các ẩn dụ đầy ấn tượng. Cảnh cơn mưa trút xuống rửa sạch những dòng máu chảy ra từ tấm thân đổ gục của Dũng Thiên Lôi là một hình ảnh ẩn dụ sẽ không thể có trong một bộ phim như vậy nếu đạo diễn không phải người thấm rất nhuần văn hóa Á đông.

Thực sự Song Lang đã chọn được một câu chuyện kịch bản rất phù hợp để đan lồng với ở cải lương Mỵ Châu – Trọng Thủy. Chuyện đời nhân vật và tích tuồng đã hòa quyện, đan xen nhau rất vừa, rất nhuyễn. Sẽ không dễ để đan lồng như vậy với một tích tuồng khác.

Đúng như những gì đạo diễn Leon Lê từng chia sẻ với truyền thông. Bộ phim có một phần câu chuyện của đời anh, của niềm đam mê với cải lương từ tấm bé. Leon Lê viết kịch bản, anh còn soạn cả lời cho một số bài bản cải lương trong phim. Riêng với việc này, anh sẽ là đạo diễn “có một không hai” của Việt Nam cho tới nay, và hẳn cả về sau này, có thể làm điều đó.

Soạn lời đúng (chưa nói chuyện hay) cho các bài bản không đơn giản, anh phải rất nhuyễn các bài bản cổ của đờn ca tài tử, vínhư các bản xuất hiện trong phim là Trường Tương Tư, Lý Bông dừa, Nặng tình xưa, Nam ai (lớp mái)….

Rất nhiều nghệ sĩ cải lương gạo cội, như Hữu Châu, đã bày tỏ lòng cảm kích với đạo diễn vì cái tình quá lớn với cải lương trong Song lang. Cái tình đó, thật lạ kỳ, không chỉ thấm vào lòng những người vốn sinh ra ở vùng đất cải lương. Có lẽ Leon Lê đã rời quê hương quá lâu nên đủ sức dồn nén cái tình đó một cách chắt lọc và sâu lắng ở mức mộc mạc, giản dị tới chân thành, lan tỏa trong cách kể chuyện phim.

Với nhiều người xem, họ không chịu được một cái kết quá bi kịch của Song lang. Họ cũng như Dũng Thiên Lôi, hồ hởi với một chút hy vọng lóe lên “cuối đường hầm”, nhưng rồi lại chưa kịp tìm tới đó. Cải lương hầu như không có tích, tuồng vui. Và thường thì bi kịch luôn mang ý nghĩa thanh lọc tâm hồn.

Với Song lang cũng vậy. Cái chết của Dũng Thiên lôi là một bi kịch. Nó gần như sự nhức nhối ta từng có ở chi tiết cuối cùng khi Chí Phèo của Nam Cao đau đớn hỏi “Ai cho tao lương thiện?”. Dũng Thiên Lôi phải trả giá cho những lầm lỗi cuộc đời đã gây ra, ngay cả khi anh đã nhận ra sự tàn bạo, thất đức trong những việc phải làm để sống.

Thêm một chuyện có thể coi là bên lề, là người dịch sách, thi thoảng tôi lại bật cười khi đọc phần phụ đề bằng tiếng Anh. Không phải vì chất lượng chuyển ngữ, mà vì sự bất lực của ngôn ngữ dịch không sao chuyển tải được.

Khi “Trọng lang” dịch thành “husband”, khi “Phụ vương” dịch thành “father”, tất cả cảm xúc cổ kính và mỹ miều của cải lương đã “mất sạch”. Nghĩa cốt lõi thì vẫn là vậy, nhưng rõ ràng chẳng thể nào chuyển được vẻ đẹp cảm xúc tuyệt vời của ngôn ngữ nữa. Chuyện này biết từ lâu, nhưng khi “kiểm chứng” từ phim thì thực sự tiếc nuối cho cái “dịch là phản” đó.

https://tuoitre.vn/song-lang-phim-ve-cai-luong-chieu-o-toky…

Trong hình ảnh có thể có: 2 người
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ngồi và trong nhà

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s