Jour : 11 octobre 2018

NSND Bạch Tuyết: Tự hào “viên ngọc” cải lương 100 tuổi: Cải lương không bao giờ chết

06/10/2018 05:00
LTS: Nhân bộ môn nghệ thuật cải lương Việt Nam tròn 100 năm hình thành và phát triển, Báo Người Lao Động khởi đăng loạt bài nhìn lại để thấy điều gì đã làm nên sức sống của bộ môn nghệ thuật độc đáo này

Cải lương vẫn tiếp tục sinh tồn như chính bản chất của loại hình, vừa có tính chọn lọc để dung nạp cái mới vừa thích nghi với hoàn cảnh

Nghệ thuật dĩ nhiên là mang lại giá trị văn hóa, giá trị thẩm mỹ; cải lương là một bộ môn nghệ thuật, hẳn là không nằm ngoài các giá trị mà nó cống hiến cho cộng đồng. Ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, cải lương một mặt mang tinh thần yêu nước và ý thức chống ngoại xâm giành lại độc lập.

Phong cách riêng làm nên dấu ấn

Trước tiên, phải nói cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dòng nhạc đờn ca tài tử và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long, nhạc tế lễ.
Tự hào “viên ngọc” cải lương 100 tuổi: Cải lương không bao giờ chết – Ảnh 1.

NSND Bạch Tuyết với những vai diễn để đời Ảnh: THANH HIỆP

Giải thích chữ « cải lương » theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: « Cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn », thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.
Tự hào “viên ngọc” cải lương 100 tuổi: Cải lương không bao giờ chết – Ảnh 2.

NSND Bạch Tuyết luôn dìu dắt thế hệ nghệ sĩ trẻ tiếp bước trên con đường giữ độ sáng cho viên ngọc cải lương 100 tuổi Ảnh: THANH HIỆP

Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: Tuy có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916 hoặc là 1918 nhưng kể từ ngày 16-11-1918, khi tuồng « Gia Long tẩu quốc » được công diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân vừa cải cách… nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…

Nói đến dấu ấn của cải lương thời vàng son, chính phong cách của mỗi đoàn, mỗi ông bầu, bà bầu gánh hát muốn gầy dựng cho thương hiệu của mình đã làm nên sự đa dạng, phong phú cho đời sống sân khấu cải lương. Ví dụ trước 1975, có Đoàn Cải lương Hoa Sen của nghệ sĩ Bảy Cao diễn những vở có yếu tố điện ảnh, có những kỹ thuật hiện đại nhất thời bấy giờ. Nên cải lương là hiện đại nhất, có thể tiếp nhận tất cả các loại hình nghệ thuật khác, làm giàu thêm cho sự lấp lánh của cải lương.

Từ trái tim nghệ sĩ

Nghệ thuật nói chung, cải lương nói riêng luôn là sự phản chiếu đời sống xã hội, tâm trạng con người.

NSND Năm Châu, thầy của tôi, từng nói, chỉ có điều, chất lượng phản ảnh có đến được với công chúng, có đánh thức thực tế, có góp phần thanh lọc tâm hồn khán giả hay không đó là điều những người làm nghệ thuật cải lương cần suy nghĩ. Tôi đi theo kim chỉ nam của thầy, từ cách dạy, cách suy gẫm cho vai diễn đến cách tiếp cận khán giả, theo quan sát của thầy Năm Châu, Phùng Há, tất cả mọi thứ đều xuất phát từ trái tim người nghệ sĩ biết đau nỗi đau của nhân thế. Cải lương, vì vậy, sản sinh nhiều con người vận hành nghệ thuật bằng lương tri, không xem nghề hát là chốn để mưu cầu danh lợi, biết đau nỗi đau thời cuộc. Và chính vì thế, biết bao thế hệ nghệ sĩ 100 năm qua đã góp phần làm nên kỳ tích trên mặt trận tư tưởng, dùng ngòi bút và sự tỏa sáng trên sàn diễn để đồng cảm cùng người xem, tạo nên sức mạnh phi thường: hướng đến tinh thần yêu nước của nhân dân.

Trăn trở lớn nhất

Tôi cho rằng cải lương là một loại hình nghệ thuật sân khấu đi cùng dân tộc, sống cùng dân tộc, vui buồn cùng dân tộc. Do đó, cải lương không bao giờ chết mà chỉ thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội. Cải lương hiện nay vẫn tiếp tục sinh tồn như chính bản chất của loại hình, vừa có tính chọn lọc để dung nạp cái mới vừa thích nghi với hoàn cảnh. Bản thân cải lương cũng đang chiếm ngự một vị thế đĩnh đạc trên các kênh giải trí, các nền tảng thiết bị công nghệ.

Với người nghệ sĩ, nỗi trăn trở lớn nhất, duy nhất là tác phẩm. Chúng tôi không có thói quen ngồi than thở, trách móc mà chú tâm đi tìm nguồn cảm hứng từ những kịch bản sân khấu, nếu ít ỏi, khan hiếm thì đi tìm trong kịch bản văn học trong tác phẩm văn học, cổ điển lẫn đương đại.

Nếu còn lại điều gì để lo lắng, mất ngủ chính là làm sao để những thành quả sáng tạo trên được tiếp thị và trao tận tay khán giả một cách đàng hoàng, văn minh và trọn vẹn nhất. Ấy là một nhà hát biểu diễn nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp, là không gian nghệ thuật mà thật sự đến giờ vẫn chỉ là… trong mơ!

Cách tân là một nhân tố, một phẩm chất của nghệ thuật, nó lại là ngọn nguồn mang tính bản chất hình thành của cải lương. Theo tôi, những mẫu nhân vật như Nguyệt (trong « Tô Ánh Nguyệt »), Lựu (trong « Đời cô Lựu ») đều phảng phất tinh thần của « phụ nữ mới », của hơi hướng Tự lực văn đoàn, của sự du nhập văn học cổ điển Pháp trong tiến trình hoàn thiện chữ quốc ngữ, hiện đại nền quốc văn Việt Nam. Tính chất ấy đến nay vẫn tiếp tục rất cần cho sân khấu cải lương, không chỉ trong nghệ thuật ca diễn mà còn trong kịch bản, dàn dựng, âm nhạc…

Kỳ tới: Biến nhạc cụ Tây thành guitar cải lương

Đồng hành cùng sức sống dân tộc

Đi qua 100 năm, cải lương luôn đồng hành cùng sức sống dân tộc, là « vũ khí » cùng góp tiếng nói phản kháng các cuộc áp bức, đô hộ; là tiếng lòng khao khát hòa bình, độc lập, thể hiện tình yêu non nước của nhân dân Việt Nam; đồng thời kêu gọi đoàn kết, giữ gìn, bảo vệ, phát huy nét đẹp ngàn đời của văn hóa dân tộc. Tất cả đã tạo nên giá trị nền tảng của bộ môn nghệ thuật cải lương mà những nghệ sĩ tiền bối đi trước như: nhạc sĩ Nguyễn Quang Đại, Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền, nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Năm Nghĩa, Năm Châu, Phùng Há, Bảy Nam, Ba Vân, Tám Vân, Thành Tôn, Kiên Giang, Hà Triều, Hoa Phượng, Viễn Châu, Chi Lăng… và rất nhiều nghệ sĩ, đạo diễn, soạn giả, danh cầm tài hoa đã mài giũa thành viên ngọc quý mang tên cải lương.
NSND Bạch Tuyết
https://nld.com.vn/van-nghe/tu-hao-vien-ngoc-cai-luong-100-tuoi-cai-luong-khong-bao-gio-chet-20181005212813134.htm

TS Lê Hồng Phước : Tự hào « viên ngọc » cải lương 100 tuổi (*) « Hôn phối » nghệ thuật Đông – Tây

08/10/2018 05:00

Cải lương ra đời vừa mang tính kế thừa sân khấu truyền thống vừa đón nhận cái mới từ văn hóa phương Tây. Đó là « tính mở », « tính động » của cải lương, đúng với tên gọi đổi mới, canh tân của nó

Cải lương là đặc sản văn hóa của người Nam Bộ, ra đời trong làn sóng canh tân đầu thế kỷ XX trên nền tảng của hát bội và nhạc tài tử. Tuy nhiên, nếu bàn về những ngày đầu của cải lương mà bỏ qua « yếu tố Tây », có lẽ là một thiếu sót.

Cải lương « chất Tây » ra đời

Từ rất sớm, Pháp đã đưa kịch nghệ của họ sang Nam Kỳ để phục vụ trước nhất cho quân đội viễn chinh. L’Opéra de Saigon (Nhà hát Thành phố bây giờ) xây theo kiểu Pháp được khánh thành vào năm 1900. Năm 1906, đờn ca tài tử Nam Bộ đã sang biểu diễn tại hội chợ Marseille. Như thế, các nghệ nhân của ta cũng đã có dịp biết đến nghệ thuật của các nước khác.

Nghệ sĩ và các nhà trí thức của ta trong những năm hình thành cải lương đã hiểu biết nhiều về văn học, kịch nghệ và phim ảnh Pháp. Để từ đó, họ đưa « chất Tây » vào trong nền nghệ thuật mới (cải lương). Soạn giả đầu tiên của gánh hát Thầy Năm Tú – ông Trương Duy Toản – cũng là dân Tây học. Ông Trương Duy Toản đã ra nước ngoài nhiều lần, từng đến Paris – thủ đô nước Pháp.

Hôn phối nghệ thuật Đông - Tây - Ảnh 1.

Những vở cải lương mang tính đương đại phản ánh cuộc sống mới được cảm tác từ tác phẩm văn học nước ngoài đã xuất hiện trên sàn diễn Sài Gòn những năm 1960 Ảnh: HUỲNH CÔNG MINH

Thời kỳ đầu, nghệ thuật cải lương cũng có tuồng đề tài cổ như hát bội, lấy từ truyện Trung Hoa, như: « Triệu Tử đoạt ấu Chúa », « Đắc Kỷ thọ hình »… Bên cạnh đó, những vở cải lương khai thác văn học, kịch nghệ và phim ảnh phương Tây (chủ yếu là Pháp) bắt đầu xuất hiện. Những người tiên phong cho khuynh hướng này có thể kể đến: Năm Châu (Nguyễn Thành Châu), Trần Hữu Trang, Lê Hoài Nở, Huỳnh Năng Nhiêu (Bảy Nhiêu), Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung), Ngô Vĩnh Khang…

Nhiều vở cải lương « có chất Tây » lần lượt ra đời. Tuồng « Tô Ánh Nguyệt » được cho là lấy cảm hứng từ « Back Street » – (tiểu thuyết của nhà văn nữ người Mỹ Fannie Hurst, năm 1931); « Tơ vương đến thác » – (phóng tác theo tiểu thuyết năm 1848 « La Dame aux Camélias » – Trà Hoa Nữ của Alexandre Dumas (con); « Áo người quân tử » từ phim Pháp « Un Homme en habit » năm 1931; « Sĩ Vân công chúa » phỏng theo tiểu thuyết Pháp « Tristan et Iseult » năm 1900; « Giá trị và danh dự » phỏng theo vở kịch nổi tiếng « Le Cid » thế kỷ XVII của đại văn hào Pháp Pierre Corneille; « Túy hoa vương nữ » phỏng theo kịch « Marie Tudor » năm 1833 của đại văn hào Pháp Victor Hugo…

Soạn giả cải lương thời kỳ này không lấy lại nguyên tên của tác phẩm Tây, họ am tường tác phẩm Tây và lấy cái tinh thần chính của tác phẩm đó để đặt tên cho vở cải lương phóng tác. Họ có một nền Tây học rất vững và có lối dịch rất lãng mạn và ăn khách. Chẳng hạn, tiểu thuyết « La Dame aux Camélias » của Alexandre Dumas (con) kể về mối tình ngang trái giữa một kỹ nữ và một chàng trai con nhà tư sản giàu có. Nàng phải âm thầm hy sinh tình yêu vì hạnh phúc của người tình mặc cho bị hiểu lầm, để trước lúc lâm chung vẫn còn gọi tên chàng. Soạn giả Ngô Vĩnh Khang đặt tựa cải lương « Tơ vương đến thác » đã nói lên tất cả.

Tiếp thu cái mới

Về cách dàn dựng sân khấu, cải lương dựng theo lối mới của kịch nghệ Tây, khác hẳn với sân khấu hát bội truyền thống. Có màn hạ xuống kéo lên, có vẽ tranh để tạo cảnh cho các màn khác nhau trên sân khấu, có sử dụng nhạc Tây viết lời Việt, bên cạnh dàn nhạc cổ thì có dàn nhạc Tây với piano, saxo, violon, guitar… để đệm khi trên sân khấu cần nhạc Tây hoặc hòa tấu lúc mở màn, đóng màn.

Hôn phối nghệ thuật Đông - Tây - Ảnh 2.

Cảnh trong vở “Mùa Xuân của nàng” của tác giả Hà Triều – Hoa Phượng Ảnh: HUỲNH CÔNG MINH

Về bố cục, cải lương có phân ra màn, cảnh hẳn hoi giống như kịch cổ điển Pháp. Nghệ sĩ hóa trang cũng theo kiểu kịch Tây là rất đời thường khi hát tuồng xã hội. Dù đó là hát tuồng đề tài cổ thì lối hóa trang cũng nhẹ nhàng gần với đời thường chứ không hóa trang cách điệu và đậm như bên hát bội.

Cải lương buổi đầu có học theo kịch cổ điển Pháp nhưng không rập khuôn. Kịch cổ điển Pháp có nguyên tắc gọi là « Luật Tam Nhất » (Règle des 3 Unités). Theo đó, một vở kịch phải tuân thủ 3 điều sau đây: 1. Thời gian: câu chuyện diễn ra trong 1 ngày; 2. Địa điểm: chỉ diễn ra ở một nơi; 3. Cốt truyện: vở kịch chỉ tập trung thắt nút và mở nút 1 chuyện chính mà thôi. Nguyên tắc này nhằm tạo sự dễ hiểu cho người xem. Trong 3 quy định đó, có lẽ cải lương chỉ giữ được điều thứ 3, còn 2 điều kia cải lương rất khó tuân thủ. Kịch cổ điển Pháp cũng có nguyên tắc là không để cảnh bạo lực chém giết và cảnh kín đáo yêu đương trên sân khấu nhằm tránh gây khó chịu cho người xem. Nhưng cải lương buổi đầu có lẽ chỉ giữ được điều không đưa cảnh kín đáo lên sân khấu, còn những màn đánh nhau để tạo hồi hộp và sinh động thì cũng cần, đương nhiên là đánh nhau « theo kiểu cải lương ».

Như vậy, cải lương ra đời vừa mang tính kế thừa sân khấu truyền thống vừa đón nhận cái mới từ văn hóa phương Tây. Đó là « tính mở », « tính động » của cải lương, đúng với cái tên cải lương – tức là đổi mới, canh tân; đúng với tôn chỉ của cải lương mà đoàn Tân Thinh đã đưa ra vào năm 1920 với đôi câu đối treo trước rạp:

Cải cách hát ca theo tiến bộ

Lương truyền tuồng tích sánh văn minh. 

Trí thức Tây học quyết định canh tân

Trong 3 miền của Việt Nam, Nam Kỳ là thuộc địa chính thức của Pháp. Khi lấy được Nam Kỳ, Pháp dần áp đặt nền giáo dục kiểu Pháp và đẩy lùi dần nền giáo dục Nho giáo. Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ. Hệ thống trường học kiểu Pháp được thiết lập, tiếng Pháp được chính thức đưa vào giảng dạy. Đến đầu thế kỷ XX, trí thức Tây học của Việt Nam đã có nhiều. Vừa có Tây học vừa giỏi Hán học, họ chính là những người góp phần quyết định trong việc canh tân sân khấu truyền thống (hát bội).

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 6-10

Kỳ tới: Năm Châu – Soạn giả canh tân kỳ tài

TS Lê Hồng Phước (Trường Đại học KHXH&NV TP HCM)

Kiều Tấn :Tự hào « viên ngọc » cải lương 100 tuổi: Biến nhạc cụ Tây thành guitar cải lương

07/10/2018 06:35

Sự có mặt của cây đàn guitar phím lõm trong dàn nhạc cải lương cho thấy bản lĩnh, óc sáng tạo và tài năng của các thế hệ nghệ sĩ trong việc tiếp thụ, chuyển hóa cái của người thành của mình thật là tuyệt vời, đầy tự hào và đáng trân trọng

Đàn guitar phím lõm còn gọi là lục huyền cầm, guitar móc phím, guitar cổ nhạc, guitar vọng cổ, guitar cải lương, guitar Việt Nam…, chưa một cây đàn nào lại mang nhiều tên đến vậy. Và trong lịch sử các loại nhạc khí Việt Nam, cây đàn này có liên quan đến loại hình nghệ thuật vọng cổ và cải lương.

Tự hào viên ngọc cải lương 100 tuổi: Biến nhạc cụ Tây thành guitar cải lương - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Kiều Tấn và cây đàn guitar phím lõm. (Ảnh do nhạc sĩ cung cấp)

Nhạc khí truyền thống khó sánh bằng

Từ lúc guitar phím lõm hình thành năm 1936, bước đường để mang tên « guitar vọng cổ » luôn gắn liền với âm nhạc tài tử qua những bài vọng cổ (nhịp 8 và 16): « Văng vẳng tiếng chuông chùa », « Khóc mồ bạn », « Sao hôm lốm đốm điểm thưa rồi », « Thức trót canh gà », « Đêm khuya trông chồng », « Tình mẫu tử », « Tôn Tẫn giả điên »… được thể hiện bởi các danh ca: Tư Sạng, Tư Bé, Hai Đá, Năm Nghĩa, Tám Thưa, Út Trà Ôn…, phổ biến trên các mặt dĩa: Pathé, Béka, Odéon, Asia và được các danh cầm tiên phong thời bấy giờ: Chín Hòa, Ba Cậy, Armand Thiều, Văn Huệ, Mười Út, Bảy Hàm, Ba Xây… chắp cánh chữ đàn với các hệ thống dây: Xề bóp, Sài Gòn, Rạch Giá, Tứ nguyệt.

Khi bản vọng cổ phát triển lên nhịp 32 (năm 1941) và guitar phím lõm cũng kịp định hình với hệ thống dây « lai » (vào năm 1948), cũng như phát kiến thêm dây « ngân giang » (1958) và « bán ngân giang » sau đó (1969), đã cho thấy sức sống của đàn guitar phím lõm luôn song hành với bản vọng cổ và cũng vì vậy nó được mệnh danh là « guitar vọng cổ ». Tạo dấu ấn lớn nhất phải kể đến đệ nhất danh cầm Văn Vĩ.

Nếu như trước đây dàn nhạc tài tử về cơ bản bao gồm 3 loại nhạc khí chính: kìm – tranh – cò thì khi có bản vọng cổ gia nhập vào kho tàng nhạc mục tài tử, với đa dạng nội dung và nhiều cung bậc tình cảm của bản nhạc này, các loại nhạc khí truyền thống khác khó có thể chuyển tải sánh bằng đàn guitar phím lõm.

Bởi ưu thế vượt trội của cây đàn mới mẻ này là có âm vực rộng hơn 3 quãng 8 (hệ thống 4 dây), đặc biệt là có thể mở rộng xuống các âm khu trầm (hệ thống 5 dây, có thể đến 4 quãng 8), điều mà không nhạc khí truyền thống nào có được.

Ưu thế nữa là nhờ có phím gắn theo hệ âm bình quân nên sự chuyền ngón, chạy chữ nhạc rất lưu loát, mượt mà. Vì vậy, guitar phím lõm là nhạc khí duy nhất có khả năng đảm nhận vai trò xen kẽ trong từng 3 công năng trên, tùy thuộc sự ngẫu hứng của người nhạc sĩ.

Mãi đến những năm thập niên 1980, nhất là từ khi Viện Nghiên cứu âm nhạc tại TP HCM tổ chức « Nhạc hội danh cầm », trong đó mặc nhiên xem guitar phím lõm là một trong những nhạc khí truyền thống và được đưa vào chương trình giảng dạy lớp thể nghiệm Đại học Âm nhạc dân tộc, cây đàn này mới dần dà đường hoàng bước vào hàng ngũ của dàn nhạc tài tử Nam Bộ. Từ đó, guitar phím lõm càng phát huy những ưu thế như đã nói trên.

Tự hào viên ngọc cải lương 100 tuổi: Biến nhạc cụ Tây thành guitar cải lương - Ảnh 2.

Cây guitar phím lõm không thể thiếu trong sinh hoạt đờn ca tài tử Nam Bộ. Ảnh: MINH HOÀNG

Đắc dụng trong dàn nhạc cải lương

Kể từ khi guitar phím lõm mắc theo hệ thống dây « lai » = Lìu – Xàng – Hò – Xê – Líu tức D-G-d-a-d », cây đàn này cũng chính thức gia nhập vào dàn nhạc cải lương và đã trở nên đắc dụng trong xử lý các tình huống bài bản, âm nhạc của sân khấu.

Đầu tiên, với ưu thế vốn đã vượt trội các nhạc cụ truyền thống về cung phím bình quân, âm sắc, tầm âm và kỹ thuật biểu diễn, trên hệ thống dây « lai » lại có thể giúp người đàn chuyển trở một cách dễ dàng và thuận lợi các loại hò, diễn tấu tốt ở mọi loại bài bản. Đây là công trình tìm tòi, sáng tạo hết sức đáng ghi nhận của các nhạc sĩ sân khấu cải lương thời bấy giờ, điều mà các loại dây trước đó trên guitar phím lõm chưa làm được.

Các nhạc khí truyền thống khác có thể thiếu vắng trong dàn nhạc cải lương nhưng guitar phím lõm điện thì không. Cải lương không thể không có bài vọng cổ, điều này cũng đồng nghĩa với không thể thiếu vắng tiếng đàn guitar phím lõm (điện). Chính vì những lý do trên mà guitar phím lõm còn được mệnh danh là « guitar cải lương », góp phần quan trọng trong nâng tầm thể hiện cho bản vọng cổ.

Từ một cây đàn « không chính thống » đã nghiễm nhiên trở thành cây đàn thần kỳ, chiếm vị trí chủ đạo trong dàn nhạc cải lương… Tất cả những điều này cho thấy bản lĩnh, óc sáng tạo và tài năng của các thế hệ nghệ sĩ, nhạc sĩ truyền thống người Việt trong việc tiếp thụ, chuyển hóa cái của người thành của mình thật là tuyệt vời, đầy tự hào và đáng trân trọng.

Vươn mình trở thành cây đàn dân tộc

Là một nhạc khí sinh sau đẻ muộn và mang định kiến với nhãn mác « ngoại lai », guitar phím lõm qua những phát kiến hệ thống dây rất thông minh và phù hợp với từng giai đoạn phát triển đã vươn mình trở nên cây đàn dân tộc để có thể diễn tả tất cả bậc ngũ cung tinh tế, chữ đàn vi diệu trong âm nhạc tài tử và cải lương.

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 6-10
Kỳ tới: « Hôn phối » nghệ thuật Đông – Tây

Nhạc sĩ Kiều Tấn

Thanh Hiệp : Tự hào « viên ngọc » cải lương 100 tuổi: Năm Châu – Soạn giả canh tân kỳ tài

09/10/2018 13:56

Gọi ông là bậc kỳ tài, vì ông nhanh chóng tiếp thu, dung nạp cái mới vào trong cách ca diễn, sáng tác và đạt trình độ tư duy cao, đặt viên gạch đầu tiên cho nghề thầy tuồng

Trong lịch sử hình thành và phát triển cải lương, nhắc đến nghệ sĩ tiền phong có công khai sáng nền ca kịch cải lương không thể thiếu tên tuổi của NSND Nguyễn Thành Châu – tức Năm Châu. Năm Châu đứng đầu trong số những người đặt nền móng cho cách viết và dựng những kịch bản cải lương về đời sống đương đại. Nền tảng đó vẫn đang là khuôn mẫu cho người làm sân khấu ngày nay.

Chủ trương cải cách để tiến bộ

Cha là công chức Tòa Bố, vì mích lòng tỉnh trưởng người Pháp nên bị thuyên chuyển làm việc ở Phú Quốc. Lúc đó, ông đang học tại Trường Trung học Mỹ Tho. Nhân dịp hè ra Phú Quốc thăm cha, đến ngày tựu trường, vì bão tố, tàu bè không thể trở về đất liền kịp, ông bị đuổi học. Gia đình định cho ông tiếp tục học tại Trường La San Taberd Sài Gòn nhưng ông quyết định tự lập, theo nghiệp sân khấu, gia nhập gánh hát Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho (năm 1922).

Tự hào viên ngọc cải lương 100 tuổi: Năm Châu - Soạn giả canh tân kỳ tài - Ảnh 1.

NSND Năm Châu và NSND Phùng Há – hai nghệ sĩ đã có nhiều vai diễn xuất sắc trên sân khấu Việt Kịch Năm Châu Ảnh: tư liệu

Sau đó, NSND Năm Châu cộng tác với gánh hát Huỳnh Kỳ, sáng tác các tuồng: « Tội của ai », « Ngọn cờ hiệp sĩ » (1927), « Tiếng nói trái tim » (1928), « Bằng hữu binh nhung » (phóng tác tiểu thuyết « Les trois mousquetaires » – « Ba chàng lính ngự lâm » – của Alexandre Dumas cha), « Hồn chinh phụ » (1930), « Tố Hoa Nương », « Đêm không ngày »… gây tiếng vang lớn. Ông sớm nhận biết khán giả không thích tuồng quá nhiều Hán tự, cách ca diễn ủy mị, rề rà, nội dung không phản ánh hiện thực cuộc sống, do vậy ông chủ trương cải cách.

Thời kỳ rực rỡ nhất của ông chính là thành lập Đoàn hát Việt Kịch Năm Châu (năm 1952 -1955). Với vở « Tây Thi gái nước Việt » do ông làm đạo diễn, kiêm diễn 2 vai Ngô Phù Sai, Phạm Lãi gây tiếng vang lớn về nghệ thuật ca diễn cải lương cải tiến, cuốn hút khán giả thời đó.

Ban đầu đoàn cũng gặp nhiều khó khăn, vì khán giả chưa quen với cách làm mới, họ chê rằng: « Coi hát mà cứ nghe thoại kịch, lâu lâu mới có bài ca ». Nhưng ông vẫn kiên trì đường lối cải cách. Dù đời sống vô cùng khó khăn, nhà nghèo lại đông con, ông còn lo nồi cơm chung cho tập thể. NSND Huỳnh Nga bái phục kể: « Ông vay nợ mua một xưởng cưa bên cầu Bông (thuộc quận Bình Thạnh ngày nay – PV) lập hậu cứ cho đoàn. Giai đoạn này, ông bỏ tiền mời thầy về dạy chữ quốc ngữ cho tất cả thành viên trong đoàn, ai chưa biết đọc, biết viết đều phải học để « xóa dốt chữ thì mới làm nghề thăng hoa, tiến bộ ».

NSND Năm Châu từng công nhận ông học được nhiều kinh nghiệm quý trong đời là nhờ thầy Năm Tú. Ông đã đưa vào sáng tác văn hóa đối thoại dễ hiểu được phóng tác theo tiểu thuyết Anh, Pháp nhằm phổ biến trào lưu tư tưởng tiến bộ của phương Tây, áp dụng tiến bộ nghệ thuật và kỹ thuật khoa học để làm giàu cho cải lương.

Từ nền tảng này, kịch bản cải lương đã bỏ dần những câu văn biền ngẫu, khiến nghệ sĩ lệ thuộc động tác gò bó, trịnh trọng. Cách đối thoại theo thể văn xuôi của ông đã bắt đầu đưa cuộc sống đương đại lên sàn diễn.

Ông tung ra loạt tuồng phóng tác theo các tiểu thuyết nổi tiếng hoặc kịch kinh điển của văn học Pháp, như: « Giá trị và danh dự » (phóng tác « Le Cid » của Pierre Corneille), « Túy hoa vương nữ » (« Marie Tudor » của Victor Hugo), « Áo người quân tử » (L’homme en habit), « Miếng thịt người » (Le marchand de Venise), « Gió ngược chiều » (Ruy Blas), « Tơ vương đến thác » (La dame aux camélias)…

Ở hoạt động điện ảnh, ông thực hiện các phim chuyển thể từ các vở cải lương và ông là người đầu tiên thực hiện lĩnh vực chuyển âm, lồng tiếng cho các phim nước ngoài (năm 1950-1960) tại Sài Gòn.

Giáo sư kịch nghệ đầu tiên

Đầu 1960, sân khấu cải lương có sự chuyển biến lớn, sự xuất hiện của những giọng ca vàng khiến thế hệ của ông phải nhường bước cho lớp trẻ ca vọng cổ xuất sắc được khán giả ưa chuộng như: Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Út Hiền, Minh Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh, Tấn Tài, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Thanh Nga… đã chiếm lĩnh sân khấu cải lương và các hãng dĩa.

Ông được mời làm giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (nay là Nhạc viện TP HCM) từ năm 1962, là giáo sư kịch nghệ khóa đầu tiên của trường này. Với tinh thần dạy nghề hết lòng vì nguồn nhân lực cho sân khấu, ông là bậc thầy trong việc đúc kết những kinh nghiệm giảng dạy nghệ thuật cho thế hệ nhà giáo của bộ môn này.

Gọi ông là bậc kỳ tài, vì ông nhanh chóng tiếp thu, dung nạp cái mới vào trong cách ca diễn, sáng tác và đạt trình độ tư duy cao, đặt viên gạch đầu tiên cho nghề thầy tuồng.

Sau 1975, vợ ông – nghệ sĩ Kim Cúc – được mời dạy khóa đào tạo diễn viên Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang. Bà đã dùng giáo án của chồng để tiếp tục sự nghiệp mà ông đã dày công vun đắp.

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 6-10

Kỳ tới: Nhớ ơn tác giả « Dạ cổ hoài lang »

« Ông tổ » của cải lương cách tân

NSND Năm Châu sinh ngày 9-1-1906 tại Mỹ Tho. Giải thưởng Tuyển chọn Giọng ca cải lương Nguyễn Thành Châu do Đài Phát thanh – Truyền hình Tiền Giang tổ chức vẫn đang thu hút đông đảo khán giả tại quê hương ông. Điều bất ngờ là hầu hết các thí sinh tham gia đều tự hào khi nhắc đến ông Năm Châu – « ông tổ » của cải lương cách tân.

« Nói đến nghệ sĩ kiêm soạn giả Năm Châu, giới nghệ sĩ đều công nhận ông là người khai phá và tạo thành con đường để hậu bối bước tới. Vừa là diễn viên giỏi vừa soạn giả, đạo diễn áp dụng kỹ thuật tiên tiến của sân khấu phương Tây cốt làm giàu cải lương Việt Nam. Trên hết, ông làm bầu nhiều đoàn hát lớn nên ông có điều kiện thực hiện cải cách sân khấu « thật » và « đẹp ». Quan trọng hơn, ông còn đào tạo nhiều nghệ sĩ kế cận tài năng » – « vua hát bội » Đinh Bằng Phi nhấn mạnh.

Ông được nhà nước phong tặng danh hiệu NSND năm 1988. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông có hơn 50 vở tuồng nổi tiếng.

Thanh Hiệp

Thanh Hiệp : Tự hào « viên ngọc » cải lương 100 tuổi: Nhớ ơn tác giả « Dạ cổ hoài lang »

10/10/2018 05:00

Từ một sáng tác cá nhân, « Dạ cổ hoài lang » đã trở thành sáng tác tập thể, sinh ra từ đầu thế kỷ, sống mạnh khỏe, biến hóa khôn lường

Trong nền cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào biến thành vọng cổ được như « Dạ cổ hoài lang ». Bài « Dạ cổ hoài lang » của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892 – 1976) ra đời cách đây 100 năm. Từ nền tảng của bài bản này, bài vọng cổ ra đời thống lĩnh sân khấu cải lương.

Nhà văn hóa Nam Bộ kỳ tài

Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh ra ở Nam Bộ. Theo NSND Huỳnh Nga, năm 9 tuổi, vì đói nghèo, cha của ông là cụ Cao Văn Giỏi đã cho ông vào chùa học chữ nho và làm công quả. Sau đó, ông có 4 năm ở Vĩnh Phước, được học đến lớp nhì nên giỏi Việt văn và Pháp văn. Năm 16 tuổi, ông được thụ giáo nghệ thuật từ thầy Lê Tài Khị, người được xem là hậu Tổ cổ nhạc.

Tự hào viên ngọc cải lương 100 tuổi: Nhớ ơn tác giả Dạ cổ hoài lang - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu – tác giả bài “Dạ cổ hoài lang” Ảnh: TƯ LIỆU

Qua sự nghiên cứu và tìm hiểu, GS-TS Trần Quang Hải nhận định nhạc sĩ Cao Văn Lầu để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị, như: « Thu phong », « Minh loan thưởng nguyệt », « Chiết hoa », « Oanh vàng », « Bái đường », « Long châu », « Ái cầm », « Chim chiều », « Giọt mưa đêm », « Mai xuân », « Tơ vàng », « Hậu đình lê »… Những tác phẩm này toát lên lòng trung quân ái quốc, đồng thời khái quát rõ nét đời sống văn hóa người dân Nam Bộ qua lời ca, tiếng đờn mà ông gửi gắm vào đó.

Cố GS-TS Trần Văn Khê cũng từng nghiên cứu kỹ bài « Dạ cổ hoài lang », cho rằng: « … Nhờ tánh chất động, chữ xang dằn và già hơn một chút, chữ cống lại non và thấp hơn một chút làm cho cái buồn thêm rũ rượi, cho hơi thêm bay bướm, cho câu ca thêm mượt mà. Nó bao quát cả một vùng văn hóa Nam Bộ ».

Theo nhạc sĩ – NSND Thanh Hải, chính trong ca từ đã có sự đa dạng về nhịp, bản chất « động », với một cấu trúc mở, đã khiến từ nhịp 2, dần dần tiến tới nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, rồi nhịp 32, nhịp 64…

« Cha của ông là nghệ nhân thổi kèn, đánh trống nhạc lễ, thầy tuồng cho gánh hát bội nên dễ thấy những ca từ như: « phu tướng », « kiếm sắc », « tin nhạn », « nghĩa tào khang », « én nhạn hiệp đôi »… trong bài « Dạ cổ hoài lang » và cả những ca từ dân dã như « lên đàng », « đừng lợt phai », « trở lại gia đàng »… Đó là ưu thế vừa đậm chất đời dân dã vừa sang trọng mang tính kinh điển » – NSND Đinh Bằng Phi đánh giá.

Tích hợp nghệ thuật kỳ diệu

Với sự tích hợp nghệ thuật kỳ diệu, bài « Dạ cổ hoài lang » có cấu trúc mở, mang sứ mệnh cao quý của một quá trình sáng tạo không ngừng để từ đó các thế hệ nghệ nhân bồi đắp thành bài vọng cổ – được xem là bài bản « vua » của sân khấu cải lương 100 năm qua.

Phân tích chiều sâu của bài bản này, NSND Thanh Hải cho rằng ở đó, cảm hứng nghệ thuật của người nghệ sĩ đã hòa chung với cảm thức của thời đại nên giai điệu, ca từ trong 20 câu hát nói lên tiếng lòng của tác giả, phản ánh niềm khao khát được sống hạnh phúc của người dân.

NSND Ngọc Giàu chính là người có công đưa bài bản này phổ biến đến mọi người khi bà nhờ nhạc sĩ Đức Trí phổ mới, để từ bài phối đó danh ca Hương Lan thể hiện, rồi lan truyền khắp nơi sau một thời gian ngủ yên trong quá khứ.

Tự hào viên ngọc cải lương 100 tuổi: Nhớ ơn tác giả Dạ cổ hoài lang - Ảnh 2.

Nghệ sĩ Ngọc Giàu và Hương Lan ca “Dạ cổ hoài lang” tại chương trình kỷ niệm 90 năm bài bản này được lưu truyền Ảnh: THANH HIỆP

Đến nay, có thể nói « Dạ cổ hoài lang » là danh tác đã sống được tròn một thế kỷ. Nhờ được truyền bá sâu rộng trong học đường nên bất kỳ học sinh bậc nào cũng đều biết và có thể ca: « Từ là từ phu tướng, bảo kiếm sắc phán lên đàng… ». Và cú hích sâu rộng nhất, mang tầm ảnh hưởng thời đại là từ sàn diễn kịch nói, chính vở kịch « Dạ cổ hoài lang » của Nhà hát kịch Sân khấu nhỏ TP HCM ra đời, đã có hàng ngàn suất diễn trong 20 năm qua, tô đậm thêm ý nghĩa của bài hát.

« Vinh dự của ê-kíp chúng tôi là nhờ tính tích hợp kỳ diệu của bài bản « Dạ cổ hoài lang » mà chúng tôi có thêm sáng tạo trong vở diễn. Theo tôi, « Dạ cổ hoài lang » là một tác phẩm kinh điển, có giá trị vĩnh cửu » – đạo diễn vở kịch « Dạ cổ hoài lang », NSƯT Nguyễn Công Ninh khẳng định.

Cố GS-TS Trần Văn Khê từng nhấn mạnh: « Trong nền cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào biến thành vọng cổ được như « Dạ cổ hoài lang ». Từ một sáng tác cá nhân đã trở thành sáng tác tập thể, sinh từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh khỏe, biến hóa thiên hình vạn trạng ».

Ba nghệ sĩ có công quảng bá

Ba người có công lớn nhất trong việc quảng bá giai đoạn chuyển tiếp từ « Dạ cổ hoài lang » nhịp 4 với 20 câu, thành 6 câu vọng cổ nhịp 8, 12 rồi 32, 64 chính là nghệ sĩ Bảo Cao, Lư Hòa Nghĩa (tức Năm Nghĩa – cha của danh hài Bảo Quốc) và NSND « đệ nhất danh ca » Út Trà Ôn. Cụ thể, năm 1924, tăng lên 4 nhịp. Năm 1934 – 1944, tăng lên 8 nhịp. Năm 1945 – 1954, tăng lên 16 nhịp. Năm 1955 – 1964, tăng lên 32 nhịp và từ năm 1965 đến nay, tăng lên 64 nhịp.

Nhớ ơn bài « Dạ cổ hoài lang », ngày nay các thế hệ nghệ sĩ phải cùng nhau giữ gìn, phát huy tài nghệ để làm giàu hơn cho vườn hoa nghệ thuật.

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 6-10

Kỳ tới: Khơi dòng cải lương tuồng cổ

Thanh Hiệp

Thanh Hiệp : Tự hào « viên ngọc » cải lương 100 tuổi (*): Khơi dòng cải lương tuồng cổ

11/10/2018 05:52

Sáu thế hệ nối bước tiền nhân, gia tộc bầu Thắng – Minh Tơ – Thanh Tòng đã góp công làm cho viên ngọc cải lương Nam Bộ thêm nét đẹp lung linh

Nghệ sĩ (NS) Minh Tơ là kép chánh nổi danh của vùng đất Sài Gòn – Gia Định từ đầu thế kỷ XX. Sinh ra tại làng An Ngãi, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (sinh năm 1922, mất 1984), ông đến với nghệ thuật cải lương và gắn bó với gánh hát Vĩnh Xuân của cha. Vốn năng động, ông nhanh chóng tiếp nối sự nghiệp của cha làm bầu gánh.

Người đặt nền móng cho cải lương tuồng cổ

NSND Đinh Bằng Phi nhớ lại: « Từ năm 5 tuổi, NS Minh Tơ đã đóng vai Lưu Kim Đồng trong tuồng « Thất hiền quyến », sau đó được dạy đóng các vai kép con, kép trẻ, kép râu, vai lão… Giai đoạn từ năm 1954 – 1955 ông về hát cho Đoàn Cải lương Phụng Hải, chuyên hát tuồng Tàu, sau đó về gánh hát Vĩnh Xuân Ban của cha.

NS Minh Tơ nổi danh qua các vai: Lã Bố, Dương Tôn Bảo, Quan Công, Cao Hoài Đức, Hoàng Phi Hổ, Bá Lý Hề… Năm 1940, ông đã được công chúng bầu chọn là kép hát bội xuất sắc nhất Sài Gòn. Chính nghề hát bội đã dạy ông vũ đạo, kiến thức ca diễn rồi ông khám phá nhiều trình thức mới, làm nên nét đặc trưng cho gánh hát của mình ».

Tự hào viên ngọc cải lương 100 tuổi (*): Khơi dòng cải lương tuồng cổ - Ảnh 1.

Chân dung nghệ sĩ Minh Tơ Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Trong đoàn hát của gia tộc Vĩnh Xuân, NS Khánh Hồng và NS Minh Tơ được xem là hai cột trụ. Năm 1939, ông Bầu Thắng mất nhưng mãi đến năm 1945, bà Bầu Thắng mới đổi tên gánh hát thành « Vĩnh Xuân Ban – Khánh Hồng ».

« Ðúng ra NS Minh Tơ đứng tên bảng hiệu vì ông mê hát hơn mê nghiệp làm bầu nên nhường gánh cho Khánh Hồng và Hoàng Nuôi – em rể, đặt tên gánh là « Nuôi Tơ ». Cô Bảy Sự, em ruột của nữ diễn viên tài danh số 1 của ngành hát bội là NSND Năm Ðồ (dâu của ông bầu Cung và bà Tư Châu, Tấn Thành Ban, Cầu Muối – PV). Hai nữ NS hát bội Năm Ðồ và Bảy Sự về tài năng và sắc vóc được ví như các nữ NS Năm Phỉ, Phùng Há bên ngành cải lương. Hai bà chính là khuôn mẫu cho các thế hệ nữ diễn viên của gia tộc này noi theo mà thăng tiến trong đạo hát » – soạn giả Nguyễn Phương kể lại.

NS Minh Tơ thành lập nhóm Đồng ấu Minh Tơ trong 3 năm từ 1959 – 1961. Ban đầu ông quy tụ con cháu NS trong đoàn để truyền nghề. Ông là người thầy mẫu mực, định hướng thế hệ tài năng trẻ sẽ tiếp nối mình hoạch định diện mạo cải lương tuồng cổ, gồm: Thanh Tòng, Thanh Thế, Bo Bo Hoàng, Xuân Yến, Trường Sơn, Thanh Loan, Bạch Lê, Bửu Truyện, Hữu Lợi, Đức Lợi, Minh Tâm, Thanh Sơn, Công Minh, Chí Bảo…

« Khi đó, dự báo trước những thăng trầm của sân khấu, ông nghĩ muốn tồn tại phải đáp ứng nhu cầu và chiều theo thị hiếu của khán giả đang ngày một thay đổi theo trào lưu cách tân. Trong 3 thập niên 1930 – 1950, ông cố nội của tôi là NS bầu Thắng đã ủng hộ con trai mình là NS Minh Tơ cải tiến hát bội pha cải lương » – NSƯT Quế Trân nói mình được truyền dạy như thế.

Bắt kịp xu hướng canh tân

Gia đình NS bầu Thắng – Minh Tơ từ đó đã « khai sơn phá thạch » xây dựng loại hình nghệ thuật bắt kịp xu hướng canh tân: Hát bội pha cải lương, sau đó là cải lương pha Hồ Quảng. Khi phim ảnh một số nước lân cận thâm nhập Sài Gòn, NS Minh Tơ và em trai là nhạc sĩ Đức Phú vận dụng những bài bản của các nước, phần lớn của Trung Hoa, để tạo sức hút cho các vở tuồng. « Ông chắt lọc cái hay, tinh hoa của văn hóa xứ người, chế biến thành cái hay của sân khấu mình. Từ đó, ông vẽ ra hướng đi mới cho cải lương tuồng cổ » – NSND Đinh Bằng Phi thán phục.

Tự hào viên ngọc cải lương 100 tuổi (*): Khơi dòng cải lương tuồng cổ - Ảnh 2.

NSND Thanh Tòng và NSƯT Quế Trân trong vở “San hậu” Ảnh: THANH HIỆP

Chính vì nền tảng của gia tộc vững vàng, ý chí kiên định trong việc hun đúc « đạo hát » nên thế hệ nào cũng có người tài giỏi. NSND Thanh Tòng tiếp nối cha đã vận dụng những bài bản tuồng cổ mới của nhạc sĩ Đức Phú, mạnh dạn đưa những bài bản đờn ca tài tử, những điệu lý dân ca Nam Bộ vào vở diễn để hình thành phong cách âm nhạc của cải lương tuồng cổ. Ông sáng tác hàng trăm kịch bản với chủ trương bỏ dần tính biền ngẫu, từ Hán – Nôm, thay vào đó ngôn ngữ dễ hiểu trong lời ca, câu thoại. Ông mở rộng đề tài kịch bản, chủ trương khai thác lịch sử Việt Nam với tinh thần chống giặc ngoại xâm, đỉnh cao là: « Câu thơ yên ngựa », « Tô Hiến Thành xử án », « Ngọn lửa Thăng Long », « Má hồng soi kiếm bạc », « Bức ngôn đồ Đại Việt »… Ngày nay, thế hệ con cháu của gia tộc Minh Tơ – Thanh Tòng vẫn tiếp tục sự nghiệp của cha ông, gìn giữ và phát huy những tinh hoa dòng chảy rất đặc trưng của gia tộc mình trong lịch sử 100 năm của cải lương. Điều đặc biệt là gia tộc này luôn dạy con cháu đặt chữ « Tâm » lên hàng đầu, không vì lợi danh, xem nghề hát là « đạo » để chuyển tải tư tưởng nhân nghĩa, hướng người xem tránh xa điều ác.

Gia tộc có nhiều nghệ sĩ tài danh

Ông bà Bầu Thắng có 7 người con, trong số đó có 5 người là NS tài danh: Minh Tơ, Khánh Hồng, Huỳnh Mai (mẹ của NSƯT Thành Lộc), Bạch Cúc và Ðức Phú.

Nhạc sĩ Ðức Phú chơi guitar và piano rất giỏi nên đã ký âm những bài nhạc của các nước, sau đó chuyển thể thành âm nhạc tuồng cổ Việt Nam.

NS Huỳnh Mai có chồng là NSND Thành Tôn. Bà được truyền nghề rất sớm và nổi bật với vai đào văn, đào võ. Bà có 6 người con đều là những NS nổi danh: Bạch Liên, Bạch Lê, Bạch Lý, Bạch Lựu, Bạch Long và Thành Lộc. Tất cả đều là NS tài danh của sân khấu Việt Nam, làm rạng danh gia tộc bằng việc giữ vững tinh thần làm nghề.

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 6-10

Kỳ tới: Tuồng hay nhờ tay « bầu » giỏi

  1. Thanh Hiệp

    https://nld.com.vn/van-nghe/tu-hao-vien-ngoc-cai-luong-100-tuoi-khoi-dong-cai-luong-tuong-co-20181010213359613.htm