Mois : septembre 2018

Asia 75 trọn bộ Full HD – Những giọng ca huyền thoại

Asia 75 trọn bộ Full HD – Những giọng ca huyền thoại

Asia Entertainment Official

Published on Sep 11, 2018

Mời các bạn cùng thưởng thức live show 75 với chủ đề « Những giọng ca huyền thoại » 1. Medley: Lạnh Trọn Đêm Mưa, Giã Từ Đêm Mưa, Mưa Đêm Độc Hành – Đan Nguyên, Cát Linh, Thùy Hương, Lê Quốc Tuấn 2. Medley: Kiếp Cầm Ca, Mưa Rừng – Thanh Thúy, Minh Hiếu 3. Medley: Tình Hờ, Kiếp Nào Có Yêu Nhau – Diễm Liên, Nguyên Khang 4. Đoạn Cuối Tình Yêu – Băng Tâm, Huỳnh Phi Tiễn 5. Cát Bụi Tình Xa – Lệ Thu, Thiên Kim 6. Biết Nói Gì Đây – Tuấn Vũ, Thanh Tuyền 7. Hãy Đến Bên Anh Người Yêu – Sỹ Đan, Philip Huy 8. Medley: Nếu Ta Đừng Quen Nhau, Hoa Trắng thôi cài trên áo tím- Huy Sinh, Ngọc Đan Thanh, Thiên Trang 9. Medley: Niềm Đau Chôn Dấu, Tàn Tro – Y Phương, Lê Anh Quân 10. Về Đâu Mái Tóc Người Thương – Đặng Thế Luân, Trúc Mi 11. Cải Lương: Tiếng Trống Mê Linh – Ngọc Huyền, Mạnh Quỳnh, Y Phụng, Tuấn Châu, Văn Chung 12. Và Anh Hãy Nói Yêu Em – Lâm Nhật Tiến, Nguyễn Hồng Nhung 13. Medley: Tình Bơ Vơ, Đừng Nói Xa Nhau – Hà Thanh Xuân, Đan Nguyên, Hoàng Thục Linh 14. Cho Đến Cuối Cuộc Đời – Hồ Hoàng Yến, Quốc Khanh 15. Chuyện Tình Lan Và Điệp 1 & 3 – Hoàng Oanh, Trung Chỉnh, Đan Nguyên, Y Phụng 16. Nuối Tiếc – Trịnh Nam Sơn, Thủy Tiên 17. Có Những Chuyện Tình Không Là Trăm Năm – Lâm Thúy Vân, Lâm Nhật Tiến 18. Nếu Chúng Mình Cách Trở – Nhật Lâm, Nga My 19. Chưa Vơi Sầu Đau – Thanh Trúc, Vũ Tuấn Đức 20. Rừng Chưa Thay Lá – Mỹ Huyền, Đăng Vũ 21. Một Mình – Mai Thanh Sơn, Hoàng Anh Thư 22. Tình Đẹp Như Mơ – Đoàn Phi, Ngọc Anh Vi 23. Việt Dzũng Trong Trái Tim Việt Nam – Hợp Ca Asia Website: http://trungtamasia.com Facebook: http://facebook.com/theasiachannel

Thanh Giang: Tôn vinh di sản Then trong đời sống văn hóa Việt

Tôn vinh di sản Then trong đời sống văn hóa Việt

Những ai từng đến với đồng bào Tày, Thái, Nùng, hẳn không thể quên điệu Then mượt mà luyến láy hòa quyện cùng tiếng Tính tẩu trong veo, vút cao giữa núi rừng.

Với đồng bào Tày, Thái, Nùng thì Then là sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, tâm linh, một loại hình âm nhạc dân gian độc đáo. Trải qua nhiều thăng trầm, thậm chí bị bài trừ trong một thời gian dài, xong Then vẫn âm thầm tồn tại như một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào Tày, Thái, Nùng.

Then – Điệu hát của thần tiên

Theo nhiều nhà nghiên cứu, “Then” là thiên, trời. Vì thế, hiểu theo ngôn ngữ của đồng bào thì điệu hát Then là điệu của hát thần tiên, của nhà trời ban tặng nhân gian.

Các nghệ nhân Then tỉnh Lạng Sơn đang chuẩn bị các tiết mục tham gia Liên hoan nghệ thuật hát Then-đàn Tính các dân tộc Tày – Nùng – Thái toàn quốc lần thứ VI năm 2018. Ảnh: Ngọc Tùng/TTXVN

Theo Nhà lý luận phê bình âm nhạc Nguyễn Thị Minh Châu (Hội Nhạc sỹ Việt Nam): Chủ nhân của Then là đồng bào Tày, Nùng, Thái, họ sáng tạo ra Then để được sống trọn cả vòng đời trong không gian Then. Then vừa là sản phẩm tâm linh mang tính sử liệu về đời sống văn hóa xã hội tộc người, vừa là tinh hoa đúc kết truyền đời của một nghệ thuật dân gian tích hợp các loại hình văn học, âm nhạc, múa, sân khấu, hội họa. Những người thực hiện Then đều là dân lao động, họ nắm vững phong tục tập quán, trực tiếp tiến hành những nghi lễ quan trọng cho cộng đồng, cá nhân ở các cột mốc chính của đời người. Vì thế, Then được khẳng định là “bắt nguồn từ cuộc sống lao động của nhân dân”.

Nhân vật quan trọng nhất của một cuộc Then là ông Then bà Then. Họ là nghệ nhân đa năng đa tài, biết đàn, hát, múa, diễn trò, nhập đồng, được cộng đồng tín nhiệm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức… Còn người xem cũng không chỉ thụ động hưởng thụ mà cũng tham gia tương tác, đối đáp với ông Then, bà Then.

Di sản Then có mặt ở nhiều tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Đặc biệt, đối với các dân tộc Tày, Nùng, Thái, di sản Then vẫn luôn được yêu thích, sử dụng trong đời sống hàng ngày lẫn đời sống tâm linh. Then ở mỗi địa phương lại có phong cách riêng, độc đáo. Lời hát Then cũng có nhiều bài bản, làn điệu. Then Cao Bằng dìu dặt tha thiết. Then Lạng Sơn tươi vui, rộn ràng. Then Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận. Then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một. Then Bắc Kạn như chuyện kể thầm thì…

Phụ họa cho lời hát Then là chiếc đàn dây Tính tẩu và chùm nhạc xóc gọi là Hính Mạ – Nhạc Ngựa. Tính Tẩu có nghĩa là đàn bầu vì hộp đàn làm bằng quả bầu khô, còn “Tính” có nghĩa là “đàn”.  Nhà nghiên cứu âm nhạc, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Hoành Loan cho biết: Ngoài tên gọi “Tính Tẩu” thì đồng bào gọi nhạc cụ ấy là “Then Tính” (cây Đàn Then) hoặc có thể hiểu nó là cây đàn mà Trời đã ban cho đồng bào. Không có hát, không có đàn tính, không có xóc nhạc đệm cho hát trong quá trình hành lễ thì không gọi là Then. Đây là điều nổi trội về nghệ thuật làm cho Then trở thành hình thức diễn xướng có sức hấp dẫn rất lớn trong đời sống người Tày, Nùng, Thái.

Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam trong nhiều cuộc hội thảo về Then đều khẳng định rằng: Nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối về việc chữa bệnh thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, mô tả, gửi gắm những lời nhắn nhủ của ông cha. Có thể tìm thấy trong Then không chỉ các thể thơ dân tộc, mà còn cả những biện pháp tu từ, ẩn dụ… của nghệ thuật ngôn từ; làn điệu của tầng dân ca, dân nhạc, điệu múa cổ xưa nhất…

Từ những làn điệu Then quen thuộc của đồng bào Tày, Nùng, Thái, nhiều nhạc sỹ người dân tộc thiểu số đã viết thành các ca khúc. Sáng tác của họ đã đưa Then từ không gian nghi lễ đến không gian sân khấu, đem lại nhiều hứng thú cho không ít khán, thính giả. Có thể kể đến ca khúc “Lập xuân” của tác giả Nông Viết Toại; nhạc sĩ Hoàng Hoa Cương viết “Trăng soi đường Bác”, “Phua bộ đội, mìa dân quân” (chồng bộ đội, vợ dân quân); tác giả Đinh Quang Khải với “Khảm khắc cáng lò” (Tiếng chim khảm khắc)… Điển hình, bài hát “Đi học” của nhạc sĩ Bùi Đình Thảo (phổ thơ Minh Chính) quen thuộc với thiếu nhi cũng được viết dựa trên làn điệu Then…

Bảo vệ, tôn vinh Then trong đời sống đương đại

Liên hoan hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày – Nùng – Thái toàn quốc lần thứ VI năm 2018 sẽ diễn ra từ ngày 12-14/5 tại Hà Giang. Đây là hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch có quy mô toàn quốc nhằm tôn vinh, gìn giữ và phát triển loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc gắn bó với đời sống của các dân tộc Tày – Nùng – Thái, có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh Việt Nam đã đệ trình hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” lên Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại từ tháng 3/2017.

Liên hoan có sự tham gia của 14 tỉnh, thành phố có đông đồng bào dân tộc Tày – Nùng – Thái sinh sống và có loại hình nghệ thuật hát Then, đàn Tính. Hoạt động này không chỉ góp phần phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân các vùng có nghệ thuật hát Then, đàn Tính, mà còn tạo cầu nối giao lưu, gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm giữa nghệ nhân, diễn viên các dân tộc Tày – Nùng – Thái. Liên hoan còn là dịp giới thiệu, quảng bá tiềm năng du lịch của tỉnh Hà Giang đến với du khách trong và ngoài nước thông qua các tour du lịch đến thăm Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn; thăm ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, Xín Mần; thăm làng Văn hóa du lịch cộng đồng….

Tại Liên hoan, nhiều làn điệu Then, hình thức hát Then, múa Then, tấu Then sẽ được giới thiệu như: Then cổ, Then cải biên, ca khúc sáng tác dựa trên chất liệu Then… Liên hoan đề cao vai trò chủ thể văn hóa, phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với các yếu tố tiến bộ của thời đại; gắn hoạt động văn hóa thể thao với quảng bá tiềm năng thu hút phát triển du lịch của các địa phương. Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy, Trưởng ban Chỉ đạo Liên hoan cho biết: Bộ đã yêu cầu các địa phương phải bám sát nội dung chủ đề Liên hoan, không đưa vào Liên hoan những nội dung lệch lạc, làm biến tướng giá trị di sản văn hóa…

Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cũng nêu rõ: Các hoạt động nhằm bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể Then đã và đang được thực hiện. Trong đó có việc kiểm kê nhận diện, tư liệu hóa di sản; sưu tầm, thu thanh, ghi hình tư liệu do các thầy Then cao tuổi thực hiện; dịch thuật, in ấn phẩm Then; sưu tầm hiện vật liên quan đến Then để trưng bày, phát huy giá trị tại các bảo tàng địa phương. Ngoài ra, nhiều lớp truyền dạy hát Then, đàn Tính và nghi lễ Then cũng được thực hiện tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật của các tỉnh có di sản này; thậm chí ở cả các tỉnh có sự lan tỏa của Then. Đặc biệt, việc kiểm kê Then không dừng ở kiểm đếm nghệ nhân mà là nhận diện sức sống của di sản để có biện pháp bảo vệ thiết thực, phù hợp…

Qua nhiều năm tổ chức có thể thấy rằng, Liên hoan hát Then – đàn Tính đã trở thành một hình thức sinh hoạt Liên hoan nghệ thuật cộng đồng, thu hút nhiều người dân tham gia. Đây cũng là một cách thức thiết thực để góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị của Then trong đời sống văn hóa Việt Nam đương đại.

Thanh Giang (TTXVN)

Bìa sách »Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt « , do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản, California, USA, ra mắt sách tại trường đại học CSU-Long Beach, California ngày 10.02.2019

 

Ngày ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA

Book Cover 10-7-18.jpg

Thang 2 2019 Chiều Văn Hóa CSU-LB (Sunday) và vinh danh GS. TQH Paris.

Ngày 2 thàng 10, năm 2018
Lời Nói Đầu

Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG
đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng  góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới.
Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt
Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. Với cuộc sống ở
nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra
dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên
cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ
chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng
của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và
video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác
hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa
vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo,
về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí
nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc
Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy
Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc
Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong
phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp
hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả
khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài
phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn
130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao
gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh
đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là
thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music)
và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp
Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận
sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật
và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón
nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người
nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.
Thay mặt,
GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.

 

Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam

Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam.

Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.

Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.

Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.

« Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »

Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới.

Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)

Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.

Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.

Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.

Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).

————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————-
L’ethnomusicologue Tran Quang Hai contribue à honorer la musique vietnamienne

Tran Quang Hai est un musicien talentueux qui vit en France et a donné plus de 3000 concerts dans 65 pays à travers le monde. Avec son père, le professeur renommé Dr Tran Van Khe, et sa femme, le célèbre chanteur Bach Yen, il contribue depuis de nombreuses années à la recherche, à la promotion et au respect de la musique vietnamienne.

Tran Quang Hai est né dans une famille avec cinq générations de musiciens dans le sud du Vietnam. Son père, le professeur Tran Van Khe, est bien connu pour aider à promouvoir la musique traditionnelle vietnamienne dans le monde et à l’honorer dans les domaines de la recherche et de la performance.

M. Hai est diplômé du Conservatoire National de Saigon avant de s’installer en France pour étudier et étudier la musicologie à l’Université de la Sorbonne et l’ethnomusicologie au Collège des Sciences Sociales de Paris. Il a commencé ses recherches sur la musique orientale au Musée de l’Homme en 1968.

L’année suivante, M. Hai a été nommé à un poste au Centre national de la recherche scientifique, alors qu’il était encore étudiant. Il a décidé de se concentrer sur les techniques de chant diphonique, qu’il a découvert en 1969. L’art, qui implique la production de deux sons simultanément à partir de la gorge, l’a rendu célèbre dans le monde entier comme l’expert numéro un en chant diphonique.

« Après plusieurs mois de recherche, j’ai développé un système de méthodes pour le chant diphonique », rappelle l’ethnomusicologue. « Jusqu’à présent, j’ai eu 8 000 apprenants pour ce sujet dans 65 pays. »

Le professeur Quang Hai a reçu plus de 30 prix internationaux pour ses études musicales. En 2002, le président français Jacques Chirac a décerné la médaille d’honneur de la Légion au Dr Hai en reconnaissance de sa contribution à la recherche sur le chant diphonique mondial.

Un maître de l’acoustique, le chercheur de musique renommé peut jouer virtuellement divers instruments traditionnels vietnamiens tels que la cithare à 16 accords, le violon à deux accords, la flûte et même la cuillère. (Il a apporté beaucoup d’améliorations à la technique de jeu de cuillère.)

Dr Quang Hai se considère comme un mélange de plusieurs types de musique – orientale et occidentale, traditionnelle et contemporaine. Sa musique est donc sans frontières. Il a dit qu’il a forgé une vision universelle du monde et de la musique vietnamienne. Il vise à combiner tous les genres de musique traditionnelle dans un typique de la musique du monde.

Bien qu’ayant vécu à l’étranger pendant 45 ans, M. Hai a toujours regardé sa patrie avec un sentiment particulier. Il pratique le patriotisme à sa manière. L’interprète de musique-compositeur non seulement étudie la musique traditionnelle avec enthousiasme, mais fait aussi des efforts pour la préserver. Il a donné 3000 concerts dans plus de 60 pays pour présenter la musique diversifiée du pays. L’homme dédié a également produit plus de 30 CD audio et vidéo sur la musique vietnamienne en France, en Italie et aux États-Unis.

Le professeur Quang Hai a composé plus de 400 chansons et morceaux de musique de toutes sortes, y compris le chant diphonique et la musique pour les instruments traditionnels vietnamiens.

L’éminent scientifique a écrit de nombreux articles et livres pour des revues de renommée mondiale telles que Le Monde de la Musique (UNESCO), Journal of Asian Music Society (Université Cornell, États-Unis), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Suisse) et Koukin Journal (Tokyo, Japon). Ses articles sur la musique vietnamienne et asiatique ont également été publiés sur New Grove Dictionary.

L’ethnomusicologue Tran Quang Hai est membre de nombreuses sociétés de recherche musicale aux États-Unis, en France, au Royaume-Uni et en Belgique. Il a été conférencier invité de plus d’une centaine d’universités dans le monde et a donné plus de 1 500 discours à des élèves d’écoles européennes. Dr Hai a également assisté à plus de 130 festivals de musique internationaux. Son nom est apparu dans de nombreux livres, y compris le Dictionnaire de Biographie internationale (RU), International Who’s Who dans la musique (Royaume-Uni), les dirigeants de l’Europe 500 pour le nouveau siècle (US) et Officiel Planete (France).

Giáo Sư Tiến Sĩ Âm Nhạc Trần Quang Hải:
https://www.youtube.com/watch?v=_NIEgVlG-_Y

Đôi nét về nhạc sĩ Trần Quang Hải:
https://tranquanghai1944.com/…/09/21/tieu-su-tran-quang-hai/

GS-TS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi:
https://www.youtube.com/watch?v=azsPwOlTn-U

GS TS Trần Quang Hải + Bạch Yến tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp Vân, Mississauga, Canada: https://www.youtube.com/watch?v=ruBbD7t-tRc

Sầm Giang Tái Ngộ 16 – Trần Quang Hải – Thơ tình Anh Việt ngữ:
https://www.youtube.com/watch?v=yxG5A98B48U
————————————————————————————-
Danh sách bài viết TQH bằng ngoại ngữ
1. Chủ đề hát đồng song thanh
1.Tran Quang Hai & Denis Guillou : Oriiginal Research and Acoustical Analysis in connection with the Xöömij Style of Biphonic Singing
2.Tran Quang Hai & Hugo Zemp : Recherches expérimentales sur le chant diphonique
3.Tran Quang Hai : About the terminologyused in overtone/ undertone for the throat singing/ overtone singing
4.Tran Quang Hai : Recherches introspectives et expérimentales sur le chant diphonique
5.Tran Quang Hai : Throat Singing vs. Overtone Singing / Tradition vs. Expermient: A Case of Harmonic Singing
6.Tran Quang Hai : Method of Learning of Overtone Singing Khoomei
7.Tran Quang Hai : Harmonic Resonantial Voice vs. Diphonic or Formantic Voice – Physiology and Acoustics of Vocal Production in Religioius Music
8.Tran Quang Hai : Ethnomusicology: The Contemporary use of Tuvan Overtones in Western Music
9. Tran Quang Hai : Musique Touva

Chủ đề nhạc Việt Nam
1. Tran Quang Hai : An Introduction to Vietnamese Music
2. Tran Quang Hai : Musique de la Diaspora vietnamienne
3. Tran Quang Hai : Vietnamese Music in Exile since 1975
4. Tran Quang Hai : Music of the Montagnards of Vietnam
5. Tran Quang Hai : Westernizatiiion & Modernization of the Gong of the <Highlands of Cen1tral Vietnam
6. Tran Quang Hai : Entretien avec Tran Quang >Hai , ethnomusicologue
7. Tran Quang Hai : An Interview with Prof.Dr Tran Van Khe

Tiểu sử Trần Quang Hải
1.Biographie de Tran Quang Hai 2019 in WHO’S WHO in FRANCE.

 

Inline image

Preview YouTube video GS-TS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi

Preview YouTube video GS TS TRẦN QUANG HẢI – BẠCH YẾN TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA PHÁP VÂN – MISSISSAUGA – JUNE 12, 2016

Preview YouTube video Sầm Giang Tái Ngộ 16 – Trần Quang Hải – Thơ tình Anh Việt ngữ

 

 

TRAN QUANG HAI ‘s biography in English

TRAN QUANG HAI Bio

tran-quang-hai-dan-moi-bis

TRAN QUANG HAI

Tran Quang Hai was born on 13 May 1944 in Vietnam. He is a talented and renowned musician. He comes from a family of five generations of musicians. He studied at the National Conservatory of Music in Saigon before coming to France in 1961 where he studied the theory and practice of Oriental music with his father, Prof.Dr. Trân Van Khê at the Center of Studies for Oriental Music in Paris.

For several years, he also attended seminars on ethnomusicology at the School of High Studies for Social Sciences (he got the MA and Ph.D degrees), and acoustics with Prof. Emile Leipp.

He plays 15 or so musical instruments from Vietnam, China, India, Iran, Indonesia and Europe.Since 1966, he has given over 2,500 concerts in 50 countries, and has taken part in a hundred or so international traditional music festivals. He has taken part in radio and television broadcasts in Europe, America, Asia, Africa, and Australia. He has been working for the National Center for Scientific Research (CNRS) in France since 1968, and is now attached to the Department of Ethnomusicology of the Musée de l’Homme (Paris). He was a lecturer on South East Asian music at the University of Paris X – Nanterre (1988-1995)

Apart from his artistic activities, he is also interested in musical research. He has improved the technique of spoon playing and of the Jew’s harp. In 1970 he found the key to the technique of overtone singing. The film « Le Chant des Harmoniques  » (The Song of Harmonics) which he co-produced with Hugo Zemp, and in which he was the principal actor and composer of the film music, has won four awards at international scientific film festivals in Estonia (1990), France (1990), and Canada (1991). He is considered as the greatest specialist in overtone singing in the world. He has written numerous articles on Vietnamese and Asian music (New Grove Dictionary of Music and Musicians, New Grove Dictionary of Musical Instruments, Algemeine Muziekencyclopedie, Encyclopaedia Universalis). He has also recorded 15 LPs and 2 CDs (one of which obtained the Grand Prix de l’Academie de Disque Charles Cros in 1983). He has composed hundreds of popular songs. His musical experience is very varied : contemporary music, electro-acoustical music, improvisation, film music. He continues to preserve and develop traditional Vietnamese music (numerous new compositions for the 16 stringed zither dàn tranh ).

He has received a Gold Medal for music from the Asian Cultural Academy, and honorary doctorates from the International University Foundation (USA), and the Albert Einstein International Academy (USA). Trân Quang Hai works with his wife Bach Yên who is a Vietnamese great folk singer. He has obtained more than 20 prizes and international awards.He was nominated President of the Jury of the Khoomei Throat Singing Festival (Tuva, 1995) He obtained the Cristal Medal of the National Center for Scientific Research (France, 1996).He was also President of Honor of the Festival d’Auch: Eclats de Voix (1999) and the Festival de Perouges / Au Fil de la Voix (2000). He was member of the Jury of the Song Contest 2000 « A Song for Peace in the World » in Roma (2000). And in June 2002, he received the medal of Knight of the Legion of Honor from the French President Jacques Chirac . In 2009,he was the recipient of the Medal of Honor, category Great Gold for his 41 years as a public servant of France .

He is the only Vietnamese to have taken part as a performer or composer in such great historical events as the Australia’s Bicentenary celebrations (1988), the Bicentenary of the French Revolution in Paris (1989), the 700th Anniversary of the Birth of Switzerland (1991), the 350th Anniversary of the Founding of Montreal (1992), the 500th anniversary of the discovery of America (1992), the 600 Years of Seoul-Korea (1994), the Jubilee of the King of Thailand (1996), the 1,000 Years of Trondheim in Norway (1997).

Discography

  1. Vietnam: Tran Quang Hai & Bach Yen PLAYASOUND PS 33514,Paris 1979, col. Musiques de l’Asie Traditionnelle,vol.10.
  2. Cithare et chants populaires du Vietnam Tran Quang Hai & Bach Yen
  3. Music of Vietnam. LYRICHORD LLST 7337, New York, 1980.
  4. Vietnam/ Tran Quang Hai & Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris,1983.Grand Prix du Disque de l’Academie Charles Cros 1983.
  5. Vietnamese Dan Tranh Music Tran Quang Hai. LYRICHORD LLST 7375,New York, 1983.
  6. MUSAICA: chansons d’enfants des emigres. DEVA RIC 1-2,Paris,1984.

5 Compact Discs

« Reves et Realite- Tran Quang Hai & Bach Yen  » edited by Playasound PS 65020, Paris, 1988.

« Bach Yen – Souvenir « , edited by William Arthur, Los Angeles, 1994

« Cithare Vietnamienne – Tran Quang Hai », edited by Playasound PS 65103,Paris, 1993.

« Landscape of the Highlands – Tran Quang Hai », edited by Music of the World, Chapell Hill, USA, 1997.

« Les Guimbardes du Monde – Tran Quang Hai », edited by Playasound, Paris,1997.

5 commercialized cassettes on pop and folk music of Vietnam

1 videocassette on Vietnamese Music (1984)

1 videocassette « Music of Vietnam  » produced by Ministry of Education in Perth (Australia) (1989)

4 DVDs

« Le Chant diphonique », CRDP, co authors : tran quang hai & luc souvet, 27 minutes, Saint Denis, Ile de la Réunion, 2002.

«  Le Chant des harmoniques », CNRS Audiovisuel, co authors : tran quang hai & hugo zemp, 38 minutes, (French version) Paris, 2005

« The Song of Harmonics », CNRSS Audiovisuel, co authors : tran quang hai & hugo zemp, 38 minutes, (English version), Paris, 2006

“La Voix”, Lugdivine editions, author: Patrick Kersalé, with the cooperation of Tran Quang Hai, 100 minutes, Lyon, 2006.

1 film on Tran Quang Hai

“HAI : parcours d”un musician vietnamien” (HAI : path of a Vietnamese musician), author: Pierre Ravach, 52 minutes, Brussels, 2005.

Participation to these CDs

« Voices of the World », 3 CD, booklet in French/English (188pages), edited by Le Chant du Monde, collection CNRS/Musée de l’Homme, Paris, 1996. Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros 1997, Le Diapason d’Or de l’Année1997, Le CHOC de l’Année 1997.

« Vietnam: Musics of the Montagnards », 2 CD, booklet in French/English (124pages), edited by Le Chant du Monde, collection CNRS/Musée de l’Homme,Paris, 1997. Le Diapason d’Or, Le CHOC

« Phillip Peris – Didjeridu » , edited by Les Cinq Planètes, Paris, 1997.

« Klangfarben der Kulturen », edited by Staatliche Museen zu Berlin, Berlin, 1998.

« World Festival of Jew’s Harp in Molln », 2CDs edited by Molln Jew’s Harp Ass., Austria, 1999.

Performer of more than 3,000 concerts in 70 countries around the world since 1966.

Performer of more than 1,000 school music concerts organized by JMF (Jeunesses Musicales de France), JMB (Jeunesses Musicales de Belgique), JMS (Jeunesses Musicales de Suisse), Rikskonsertene of Norway and Sweden.

Performer at more 100 International Music Festivals.

1970: International Sound Festival, Paris, France Festival of Arts Chiraz-Persepolis, Iran.

1971: Cinq Journées de Rencontre avec le Groupe de Recherches Musicales(GRM),Paris. Indochinese Cultural Week, Geneva, Switzerland Oriental Music Festival, Berlin, Germany. Ajaccio Music Festival, Ajaccio, Corsica,France 15 Days of Folk Music with the Bourdon Folkclub, Geneva, Switzerland.

1972: Pamplona Music Festival, Pamplona, Spain « La Geolette d’or », Knokke le Zoute, Belgium Traditional Music Festival, Vesdun, France. SIGMA 8: Contemporary Music Festival, Bordeaux, France

1973: Music Festival of Royan, Royan, France. International Folk Music Festival, Le Havre, France. International Festival of Culture and Youth, Presles, France

1974: Folk Music Festival, Bezons, France International Folk Music Festival, Colombes, France Music Festival of Haut Var, Haut Var, France Musicultura, Breukelen, The Netherlands.

1975: Three Days of Folk Music, Conflans Sainte Honorine, France Vth Contemporary Music Festival, Bourges, France. « La Geolette d’Or », Knokke le Zoute, Belgium Festival of Unwritten and Traditional Music, Châlon sur Saône, France. International Folk Festival, Olivet, France.

1976: The Spring of Present Peoples, Paris, France Summer Music Festival, Chailles, France Festival of Marais, Paris, France International Musical Days, Vernou, France. A Month of Asian Arts, Alençon, France Durham Oriental Music Festival, Durham, United Kingdom. South East Asian Music Festival, Laon, France.

1977: International Musical Days, Vernou, France World Music Festival, Berkeley, USA.

1978: International Musical Days, Vernou, France Traditional Music Festival, Lugano, Switzerland. Saint Jean Music Festivities, Dieppe, France.

1979: Durham Oriental Music Festival, Durham, United Kingdom. International Contemporary Music Festival, Clichy, France.

1980: Autum Festival, Paris, France. International Folk Music Festival, Sarajevo, Yugoslavia.

1981: Asian Music Festival, Seoul, Republic of Korea.

1982: Kuhmo Chamber Music Festival, Kuhmo, Finland Polyphonix: Poetry and Music Festival, Paris, France.

1983: First Third World Music Festival, Rio de Janeiro, Brazil.

1984: Polyphonix: Poetry and Music Festival, New York, USA.(may) Kaustinen Folk Music Festival, Kaustinen, Finland. (june) Vitaasarii New Music Festival, Vitaasarii, Finland. (june) Kuhmo Chamber Music Festival, Kuhmo, Finland. (june) Festival of World Musical Cultures, Cape Town, South Africa.(july)

1985: First World Music Festival, Belfast, Northern Ireland, United Kingdom. (april) International Music Festival, Langeais, France.(june) Estival Festival, Paris, France.(july)

1986: Music Festival of Three Continents, Nice, France( june) Traditional Music Festival – North-South, Paris, France. (september) Festival of Immigrant Musics, Paris, France. (september)

1987: Polyphonix: Poetry and Music Festival, Paris, France. (april) Folk Music Festival, Ris Orangis, France. (may)

1988: First Meetings of Vocal Expressions, Abbaye de Fontevraud, France.(april) Festival of World Music, Melbourne, Australia. (200 Years of Australia) (august) Peoples Music Festival, Milan, Italy. (may) Asian Music Festival, Etampes, France.(june)

1989: Bicentennial of the French Revolution, Paris, France. (july) Intercultural Festival, Saint Herblain, France. (july)

1990: Music Festival: « Blossoming Sounds, Floating Songs », Osaka, Japan. (july) First Forum of Asian and Pacific Performing Arts, Kobe, Japan. (july) Asian Music Festival, Tamba, Japan. (july) Traditional Music Festival, Arzila, Morocco.(august) Berlin Music Festival, Berlin, Germany. (september) Vox Populi, Brussels, Belgium (october)

1991: 700 years of Switzerland, Lausanne, Switzerland. (june) Saint Denis Music Festival, Saint Denis, France. (june) String Music Festival, Berlin, Germany.(september) Vox Festival, Rotterdam, The Netherlands (february)

1992: 4th Meetings of Polyphonic Songs, Calvi, Corsica, France. Festival around the Voice, Argenteuil, France Festival about the Spirit of Voices, Perigueux, France. Music Festival, Montreal, Canada (350 years of Montreal).

1993: Folk Music Festival / Ris Orangis, France. (may) Voice Festival, Volterra, Italy.(june)

1994: Traditional Music Festival, Azilah, Morocco (august) World Music Festival, Nantes, France. (september) First Festival and Conference of the Asian / Pacific Society for Ethnomusicology,Seoul, Korea (november)

1995: Giving Voice: A Geography of the Voice, Cardiff, Wales, United Kingdom.(april) 2nd International Festival of Throat Singing, Kyzyl, Tuva, Russia.(june) International Festival of Choir, Musica Choralis, Luxembourg. (september)

1996: International Symposium of Vietnamese Music, Saint Paul, Minnesota, USA (march) Giving Voice: An Archeology of the Voice, Cardiff, Wales, United Kingdom (april) Festival of Oriental Music, Les Courmettes, France (june) 4th World Symposium of Choir, Sydney, Australia (august) Stuttgarter Stimmtage 96, Stuttgart, Germany (september) International Symposium on Ethnomusicology, Minsk, Belarus.(october) 3rd International Conference and Music Festival of the Asia/Pacific Society for Ethnomusicology, Mahasarakham, Thailand.(december)

1997: International Symposium: An Archeology of the Voice, Wales.(april) International Conference of the ICTM, Nitra, Slovaquia.(june) International Symposium and World Music Festival, Cape Town,South Africa (july). Mediteria – Festival of Traditional Music, Montpellier, France (october) Festival of World Music, Montigny, France (november) International Symposium of Ethnomusicology, Vilnius, Lithuania.(december) UNESCO-International Seminar on bamboo, Ho Chi Minh City, Vietnam (december)

1998: TokkerFestival, Amsterdam, the Netherlands (february 7-8) Festival of Mediterranean Musics, Genova, Italy (march 10-12) Transcendant Asia: A Celebration of Asian Music in Europe, London, England (april 23-24) Vietnamese Spring Festival, Paris, France. (april/may) Voice Festival, Auch, France( may) 3rd International Jew’s Harp Festival, Molln, Austria.(june 22-28) Bartok Music Festival, Hungary.(july 4-11) 23rd Saint Chartier/ Rencontres Internationales de Luthiers et Maîtres Sonneurs (July 11-14) Autres Rivages/World Music Festival, Uzes, France (1-2 August) International Music Festival, Bergamo, Italy (19-20 september) Asian Music Festival, Firenza, Italy (october) International Festival of Voice, Rio de Janeiro, Brazil. (november)

1999: Voice Festival: Between Heaven and Earth, Chartreuse de Valbonne, France (12 march) Symposium: Culture and Mathematics, Venise, Italy (26-28 march) Voice Festival: Eclats de Voix, Auch, France (30 marsch and 29 may ) Symposium : A Divinity of the Voice, Aberystwith, Wales (1-11 april ) Festival of Voices of the World, Bruxelles, Belgique (1-5 june ) Festival Bela Bartok, Sombathely, Hongrie (14-19 july) World Conference ICTM, Hiroshima, Japon (18-24 august) Yoga International Congress, Montélimar, France (29-31 october)

2000 : SCONTRI – Festival of Corsican Culture, Paris, France (12-13 february) 2ème Congrès annuel des Professtionnels de la Voix, Enghien les Bains (26-27 february) Printemps musical de Pérouges / Au Fil de la Voix, Pérouges, France (may-june) Tanz & Folk Fest Rudolstadt 2000, Rudolstadt, Allemagne, 4-7 july) Congrès international sur l’enseignement de la voix, VASTA, Virginia, USA (6-9 august) 6th Annual CHIME Conference, Leiden, Pays-Bas (23-27 august) Festival de Voix d’homme, Bretagne, France (15-17 september) Congrès sur la Voix parlée, Stuttgart, Allemagne, (21-24 september) Annual Congress of Acousticians , Kumamoto, Japon (3-5 october) International Congress of Traditional Music, Taipei, Taiwan (6-15 october)

2001 : Symposium of Voice, Lyon, France (february) Festival of Traditional Music, Denain, France (may) City of London Festival , London, U.K. (june) Festival  » Performato « , Rio de Janeiro, Brazil (july) International Festival of Choral Music, Singapore (august) Festival  » 1000 faces of Voice, France (september)

2002 : World Music Festival, Rennes, France (february) International Voice Festival, Genoa, Italy (may) 13th Vivonne World Music Festival, Vivonne, France (may) Music Day Festival, Beyrouth, Lebanon, (21 june) 6th World Symposium of Choral Music, Minneapolis, Minnesota, USA (august) World Festival of Jew’s Harps, Raudal, Norway (september) International Congress of Polyphony, Tbilissi, Georgia, (october)

2003 : Making New Waves Contemporary Music Festival, Budapest, Hungary (February)

International Seminar of Shamanism , Genoa, Italy (June)

Telemark Folk Music Festival, Bo, Norvay (August)

International Congress of Psychotherapy , Hannover, Germany (September)

Suoni di Mondo Festival , Bologna, Italy (November)


2004

World Conference of the ICTM, Fushou, China (january)
International Festival « Making New Waves », Budapest, Hungary. (february)
International Congress of Musical Acoustics, Nara, Japan (april)
International Congress of Acoustics, Kyoto, Japan (april)
International Congress of Yoga, Vogüe, France (may)
3rd Festival « Le Rêve de l’Aborigène », Poitiers, France(july)
International Congress of Shamanism, University of Donau, Krems, Austria (july)
Manifestations scientifiques et musicales dans le cadre « Lille, Ville européenne culturelle 2004 , Lille, France (july)
International Seminar on Voice, University of Reading, Reading, United Kingdom (july)
International Symposium of Sung and Spoken Voice, Stuttgart, Germany (september)

2005
International Festival of Avant Garde Music « Making New Waves », Budapest, Hungary (february)
International Festival of Choral Music, Arnhem, the Netherlands (april)
International Festival of Mediterranean Music, Genova, Italy (june)
Sunplash Festival of Reggae music, Italy (june)
World Conference of the ICTM, Sheffield, United Kingdom (august)
MELA Festival, Oslo, Norway (august)
1st World Festival of Marranzanu, Cantania, Sicily, Italy (september)
International Symposium of Voice, Stuttgart, Germany (september)
« 30 ans d’existence de l’Université en Haute Alsace », Mulhouse, France (october)
International Festival of Traditional Music, Limerick, Ireland (october)

2006
Têt in Seattle, Seattle, USA (january)
2ème Rencontre sur la parole chantée, Rio de Janeiro, Brazil (may)
Festival « La Semaine du Son », Châlon sur Saône, France (june)
International Seminar on Ca Trù, Hanoi, Viet Nam (june)
Festival international des Musiques sacrées, Fribourg, Switzerland (july)
5th International Jew’s Harp Festival, Amsterdam, the Netherlands (july)
MELA festival, Oslo, Norway (august)
International Meeting of the ICTM, Ljubliana, Slovenia (september)
International Congress of Applied Ethnomusicology, Ljubliana, Slovenia (september)
International Symposium of Voice, Stuttgart, Germany.(september)
International Meeting « Music as Memory », Oslo, Norway (october)
The Global Forum on Civilization and Peace, Seoul, Korea. (november)

2007
Bilan du film ethnographique, Paris, France (march)
Voice Festival / 9th session of the ILV/ CETC, Buenos Aires, Argentina (march)
Symposium on music therapy, Sao Paulo, Brazil (april)
Bergen International Music OI OI Festival, Bergen, Norway (may-june)
Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)
39th World conference of the ICTM, Vienna, Austria (july)
PEVOC 7 – International Congress on Voice, Groningen, the Netherlands (august)
International Doromb Jew’s Harp Festival, Hungary (september)

2008

A Week of Sound Festival, Lyon, France (january)

Unesco Congress of World Heritage, Canberra, Australia (february)

Giving Voice, Aberystwith, New Wales (march)

Bergen International Music OI OI Festival, Bergen, Norway (may/june)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

« A Voix Haute » Festival,Bagnères de Bigorre, France (august)

MELA music festival, Oslo, Norway (august)

International Voice Festival, Dresden, Germany (september)

2009

Voice Festival, Switzerland (may)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

40th World conference of the ICTM, Durban, South Africa (july)

International Congress of Voice Teachers, Paris, France (july)

MELA Music Festival, Oslo, Norway (august)

2010

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

International of Sound, Saint John’s, Canada (july)

ICTM 2 study groups meeting , Hanoi , Vietnam (july)

Vietnamese Guiness Record Ceremony, Ho Chi Minh city, Vietnam, (december)

2011

International Symposium on Dan Ca tai tu Nam bo, Ho Chi Minh city (January)

International colloquial about 400 years of the birth of Phu Yen city, Phu Yên, Vietnam (april)

World Jew’s Harp Festival in Yakutsk, Yakutia (june)

Homage to Demetrio Stratos, Alberone di Cento, Italy (june)

International Festival of Mediterranean Music, Genova, Italy (july)

World Conference ICTM in Saint John’s , Canada (july)

World Symposium of Choral Music, Puerto Madryn, Argentina (august)

Spring Festival of South African Music, Fort Hare, South Africa (september)

International Festival of Humour and Music, Stavanger, Norway (september)

Peace Festival, Wroclaw, Poland (october)

30th International Ethnographical Film Festival, Paris, (november)

International Conference of Arirang , Seoul, Korea (december)

2012                                                                                                                

*Festival d’Auch ,Auch, France (april)                                                                         

*Festival Music Night , Munich, Germany (april)

2013                                                                                                                           

*Festival de la Voix , Colombes, France (may)        

*42nd ICTM WORLD CONFERENCE , Shang Hai , China (july)                                                                                                         

*Festival Les Nuits du Monde “Vietnam Style”, Geneva, Switzerland (November)                                                                        

*Exhibition VOICE – « Voices of the World “, City of Sciences, Paris, France (december 2013 – september 2014)       

*Congress “Biomedical Signal Processing & Control (Elsevier) devoted to the workshop MAVEBA , Florence, Italy (december)            

*World Marranzano Festival  , Catania, Sicily, Italy (december)

2014                                                                                                                   

*Festival “Pauses Musicales”, Toulouse, France (February)                                                                                            

*“Promenade Vietnam” ,City of Music, Paris, France (march)

*International Conference “Safeguarding & Promotion of Folk Songs in the Contemporary Society”, Vinh city, province of Nghệ An, Vietnam (may)                          

*Ancient Trance Festival – Jew’s harp world festival, Taucha, Germany (august)                                                                                   

*10 Internationale Stuttgarter Stimmtage, Stuttgart, Germany (october)                                                                                                   

*Opening ceremony of the World Vocal Clinic / Deutsche Stimmklinik, Hamburg, Germany (october)                             

*Festival « Il teatro vivo »,  Bergamo, Italy (november)

2015                                                                                                                   

*Omaggio a Demetrio Stratos, Alberone, Italy (june)                                                                         

*43rdICTM World Conference, Astana, Kazakhstan (july)

*Festival of Hát Then Nùng Thái, Việt Bắc , Vietnam (september)

*Convegne, Concerti e master class dedicati al « canto sardo e canto armonico nel mondo » , Sorso , Sardinia, Italy (october)

2016                                                                                                                   

*Festival of Chầu Văn (Vietnamese music of possession ) , Nam Định, Vietnam (january)                                                                          

*Voice Encounters : Voice Pedagogy,  Wroclaw, Poland,

(April)                                                                                

*International Meeting A GRAN VOCE  , Vicenza , Italy (may)                                                                                                            

*Omaggio a Demetrio Stratos 2016 , Alberone, Italy (june)                                                                        

*Ancient Trance Festival ,Taucha, Germany (August)                                                                                                               

*12th international Voice Symposium « BRAIN & VOICE », Salzburg , Austria (august)

2017                                                                                                                            

*44th ICTM World Conference , Limerick, Ireland (july)

*Congress “Voci e Soni “Di Dentro e Di Fuori”, Padova, Italy (october)                                                                                  

*Congress La Voce Artistica  2017 XI edìtion, Ravenna, Italy (october)

 

Career

Ethnomusicologist: Musée National des Arts et Traditions Populaires, Paris,1968-1987

Ethnomusicologist: Musée de l’Homme, Paris, since 1968,retired in 2009

Professor: Centre of Studies for Oriental Music, Paris, 1970-1975.

Lecturer: Université de Paris X-Nanterre, 1987-1995.

Lecturers of many Universities and Museums in the World since 1969:

USA : University of Hawaii (1977), University of Maryland (1980), Columbia University, New York (1983), Museum of Modern Art, New York (1984), University of California, San Diego (UCSC, 1990), Cornell University, New York (1994), Saint Thomas University, Minnesota (1996), University of Wisconsin, Wisconsin (1998), George Mason University, Washington D.C.(2000)

Canada :University of Montreal, Montreal (1991), York University, Toronto (1994), University of Toronto (1994), Royal Ontario Museum, Toronto (1994)

Brazil: Conservatorium of Music, Rio de Janeiro (1983), University of Recife, Recife (1998) , University of Rio de Janeiro (2006),

South Africa : Cape Town University, Cape Town (1984, 1997), Stellenbosch University (1984), University of Durban (2009), University of Fort Hare (2011)

Australia : Monash University, Melbourne (1986), University of Sydney, Sydney (1986), Western Australian University, Perth (1986, 2008), Melbourne College of Advanced Education, Melbourne (1988)

Philippines: University of the Philippines, Manila (1988)

Japan:Tokyo University of Fine Arts, Tokyo (1981), Miyagi University of Music Education, Sendai (1999), Université de Hiroshima, Hiroshima (1999), OsakaUniversity of Fine Arts, Osaka (2000)

Korea: Seoul National University, Seoul (1981)

Thailand: Mahasarakham University, Mahasarakham (1996), Chulalongkorn University , Bangkok (2012)

Taiwan : Université de Taiwan, Taipei (2000), Centre National des Arts , Taipei (2000)

China : National Conservatory of Music, Shanghai (2013)

Vietnam : Vietnamese Institute of Musicology, Hanoi (2002, 2017), Academy of Music, Hanoi (2017), National Conservatory of Music, Ho Chi Minh City (2007)

Liban : CLAC (centre de lecture et d’animation culturelle) à Barja , Mansoura, Kfar Debyan, Amioun ,( 2002)

Austria : University of Austria (2007)

Belgium: Institute of Musicology, Louvain (1976), Royal Museum of Central Africa (1976), Royal Museum of Musical Instruments, Brussels (1980, 2001), University of Anvers (1984), Musee Royal de Mariemont, Mariement (2002)

Italy: Institute of Musicology, Bologna (1979), French Cultural Center, Napoli (1980),Academia Nacionale Santa Cecilia, Roma (1994), University of Roma (1994), Institute of Musicology and Linguistics, Venice (1995, 1996), University of Bologna, Bologna (2000), Institute of Musictherapry, Padova, Italy (2001), Fondazione Giorgio Cini, Venice (1979, 2001, 2002, 2003, 2004,2005,2006, 2007, 2008) , Institute IATGONG for traditional music, Genoa, (2003,2007,2013,2017)

The Netherlands: Jaap Kunst Center for Ethnomusicology, Amsterdam (1974),Gemeente Museum, The Haye (1980), Tropen Museum (1975, 1992, 1998), University of Leiden, Leiden (2000)

Germany: Volkerkunde Museum, Berlin (1985, 1990, 2000), La Charité Hospital, Berlin (1991), Musik Hochschole, Detmold (1994), Musik Hochschole, Stuttgart (1996, 2000,2014), University of Heidelberg, Heidelberg (1997), University of Aachen, Aachen (2003)

United Kingdom: Horniman Museum, London (1974), Durham University, Durham (1976, 1979, 1985), University of London, London (1991), City University, London (1992), SOAS (School of Oriental and African Studies), London (1998), Queen’s University, Belfast (1985), Centre of Performance Research,Cardiff (1995,1996), University of Reading, London (2005)

France: many universities in different towns from 1974 onwards: Universite de Paris IV-Sorbonne, Univeriste de Paris VIII-Saint Denis, Universite de Paris X-Nanterre, Paris; Universite de Nice; Universite deTours; University of Rennes ; Conservatoire National Régional de la musique, Strasbourg; Universite de Montpellier 3, Montpellier; Universite de Marseille; Universite Le Mirail, Toulouse, Université de Poitiers, Poitiers , Universite de la Reunion, Ile de la Reunion (1999, 2000, 2001, 2002 , 2003)

Switzerland: Volkerkunde Museum, Basel (1969), Academy of Music, Basel (1993)

Spain: Summer University, Madrid (1990)

Yugoslavia: Academy of Music, Sarajevo (1991, 2011)

Sweden: Lund University, Lund (1976), Stockholm University, Stockholm (1976), Musik Museet, Stockholm (1981), Royal Academy of Music, Stockholm (1985),

Denmark: Musikhistorisk Museum, Copenhagen (1972), Danish Folk Archive Institute , Copenhagen (1972), Conservatory of music, Holstebro (1972), Nordisk Teaterlaboratorium, Holstebro (1998), Cantabile 2, Vordingborg (2000)

Norway: Institute of Musicology, Trondheim (1976,1980, 1981), University of Oslo (1979), Music Academy Sibelius, Bergen (2004), Musik Folkehogskole, Oslo (2003)

Poland : 17th Summer Course for Young Composers, Polish Society for Contemporary Music, Radziejowice, Poland (1997), University of Wroclaw, Poland, 2011

Russia: National Conservatory Tchaikovsky, Moscow (1993, 2013), Institute of Research for World Music Cultures, Moscow (1993), International Center of Khoomei, Kyzyl, Tuva (1995).

Georgia : Conservatory of Music , Tbilissi (2002)

Lithuania: Academy of Music, Vilnius (1997)

Belarus: Academy of Music, Minsk (1996)

Slovenia : University of Ljubljana (2006, 2011)

Croatia : University of Zagreb (2006)

Musician

15 LP records and 5 CDs as performer on Vietnamese Music (with different record companies: Le Chant du Monde, OCORA, Studio SM, Société Française deProductions Phonographiques, Playasound in France, Lyrichord, Music of the World in the USA, Albatros in Italy.

  1. Cithare Vietnamienne (le Dan Tranh) par Tran Quang Hai. Le Chant du Monde LDX 74454, Paris, 1971, collection Special Instrumental.
  2. Le Chant de la Rivière des Parfums. Productions et Editions Sonores PES 528 003, Paris, 1973.
  3. Vietnam: Nouvelle Musique Traditionnelle. OCORA 558 012, Paris, 1976.
  4. Musique du Vietnam: Tradition du Sud. Anthologie de la musique des Peuples AMP 72903, Paris, 1976.
  5. Musique Traditionnelle du Vietnam. Aide à l’Enfance du Vietnam AEV 01, Paris, 1976.
  6. Musica del Vietnam. Albatros Records VPA 8396, Milan, 1978.
  7. Vietnam: Tran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 33514, Paris, 1979, collection: Musiques de l’Asie traditionnelle, vol.10.
  8. Cithare et Chants Populaires du Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Aide à l’Enfance du Vietnam AEV 02, Paris, 1979.
  9. Music of Vietnam. Lyrichord LLST 7337, New York, 1980.
  10. Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris, 1983. Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros 1983
  11. Vietnamese Dan Tranh Music/ Tran Quang Hai. Lyrichord LLST 7375 ,New York, 1983.
  12. Shaman/Tran Quang Hai et Misha Lobko. Didjeridou Records DJD O1, Paris, 1983.
  13. MUSAICA: chansons d’enfants des émigrés. DEVA RIC 1-2, Paris, 1984.
  14. Landscape of the Highlands/ Tran Quang Hai. Music of the World MW 004, New York, 1984.
  15. Le Monde Magique du Dan Tranh/ Tran Quang Hai. Viet Productions VN 1944, Paris, 1985.
  16. CD: R̻ves et R̩alit̩s РTran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 65020, Paris, 1988.
  17. CD: Cithare vietnamienne/Tran Quang Hai. Playasound PS 65103, Paris, 1993.
  18. CD: Landscape of the Highlands/String Music from Vietnam/Tran Quang Hai. Latitudes LAT 50612, North Carolina, USA, 1997.
  19. CD: Phillip Peris/Didjeridu. Les Cinq Planètes CP 10296, Paris, 1997.
  20. CD: Les Guimbardes du Monde / Tran Quang Hai. Playasound PS 66009, Paris, 1997.
  21. CD: That’s All Folk! Le Chant du Monde CML 5741015.16, 2CDs, Paris1997.
  22. CD: International Jew’s Harp Festival Molln Austria ’98, CD-0513, 2CDs, Molln, 1999.

5 commercialized cassettes on pop music of Vietnam

1 videocassette on Vietnamese Music (1984)

1 videocassette « Music of Vietnam » produced by Ministry of Education in Perth (Australia) (1989)

1 videocassette on « Tran Quang Hai performance » produced by the Melbourne College of Advanced Education in Melbourne (Australia) (1989)

1 videocassette on « Dan Tranh Music » produced by Volkerkunde Museum, Berlin (Germany) 1991.

Performer for film music in 25 commercialized films

Performer of nearly 3,000 concerts in 60 countries around the world since 1966.

Performer of more than 1,000 school music concerts organized by JMF (Jeunesses Musicales de France), JMB (Jeunesses Musicales de Belgique), JMS (Jeunesses Musicales de Suisse), Rikskonsertene of Norway and Sweden.

Composer

300 pop songs in Vietnamese, French, English

100 musical compositions for different musical instruments: 16 stringed zither, monochord, spoons, Jew’s harp, overtone singing.

3 compositions for electro-acoustical music (1975, 1988, 1989, see creative works)

Researcher

Author of a book Âm Nhac Viêt Nam  » (Music of Vietnam in Vietnamese) , edited by Nhom Bac Dâu, 361pages, Paris, 1989.

Author of a book « Musiques du Monde » (in French), edited by J-M Fuzeau, 320 pages, 3 CD, Courlay, 1993.(with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musics of the World  » (in English), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1994. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musik aus aller Welt  » (in German), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1996. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musicas del Mundo » (in Spanish), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1998. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe  » (in French), edited by J -M Fuzeau, 380pages, 2 CD, Courlay, 1995.

Author of a book (in cooperation with Patrick Kersale), VOIX , DVD, edited by Lugdivine, Lyon, 2006

Author or more than 250 articles on Vietnamese and Asian musics

Co-ordinator for New Grove’s Dictionary of Musical Instruments on South East Asian Music (1st edition, 1984) 3 volumes

Author of articles in New Grove Dictionary of Music and Musicians (6thedition, 1980, 20 volumes), Algemeine Muziekencyclopedia (Holland, 1982, 12 volumes), Encyclopaedia Universalis (France, 1984, 1986, 1988, 1990, 1991)

Co-author with Hugo Zemp for the film 16mm on the overtone singing style « Le Chant des Harmoniques » (The Song of Harmonics) produced by the National Center for Scientific Research-Audio Visual, Paris, 1989)

Contributor to the bilingual notes (188pages) accompanying the 3CD set

« Voices of the World » edited by Le Chant du Monde, Paris, 1996

Contributor to the bilingual notes (124pages) accompanying the 2CD set « Vietnam: Musics of the Montagnards  » edited by Le Chant du Monde, Paris,1997.

Researcher specializing in Vietnamese Music, South East Asian Music, Overtone Singing Style, Music Therapy, Music Pedagogy, Creation of NewTechniques for Vietnamese 16 stringed zither, Jew’s Harps, Spoons.

Author of more than 500 articles in Vietnamese for 30 Vietnamese magazines in America, Europe, Asia and Australia.

Creative Works

Nho Miên Thuong Du (Nostalgia of the Highlands) for 16 stringed zither(1971)

Xuân Vê (The Spring Is Coming Back) for 16 stringed zither (1971)

Tieng Hat Song Huong (The Song of the Perfumed River) for monochord (1972)

Ao Thanh (The Magic Sound) for Spoons (1972)

Vê Nguôn (Return to the Sources) with Nguyên Van Tuong, (1975)

Shaman for Voice, saxo, synthetizer (1982)

Hat Hai Giong (Diphonic Song) (1982)

Ca Doi Ca (Song vs Song) for overtones (1982)

Tuy Hung Muong (Improvisation of Spoons) for Spoons (1982)

Doc Tau Dan Moi Mong (Solo of Mong Jew’s Harp) for Jew’s Harp (1982)

Tieng Hat Dan Moi Tre (The Song of the Bamboo Jew’s Harp) for Jew’s Harp(1982)

Sinh Tien Nhip Tau (Rhythm of Coin Clappers) for Coin Clappers (1982)

Tiet Tau Mien Thuong (Rhythm of the Highlands) for 2 Jew’s Harps (1982)

Nui Ngu Sông Huong (Royal Mount and Perfumed River) for monochord (1983)

Nam Bac Môt Nha ( North and South, the Same House) for 16 stringed zither(1986)

Chuyên Hê (Modulation) (1986)

Tro Vê Nguôn Côi (Return to the Origin) (electro-acoustical music) (1988)

Solo Thai for 16 stringed zither (1989)

Tambours 89 in cooperation with Yves Herwan Chotard (1989)

Envol for overtones (1989)

Chuyên Hê Ba Miên (Metabole on three regions) for 16 stringed zither (1993)

Mông Dên Vùng Viêt Bac (Dream of Viet Bac) for 16 stringed zither (1993)

Vinh Ha Long ( Ha Long Bay) for 16 stringed zither (1993)

Sông Huong Nui Ngu (The Perfumed River and the Royal Mount) for 16 stringed zither (1993)

Tiêng Vang Dan Trung Tây Nguyên (Echo of the musical instrument Trung of the Highlands) for 16 stringed zither (1993)

Nho Miên Nam (Nostalgia of the South) for 16 stringed zither (1993)

Saigon-Cholon (Saigon-Cholon The Twin Cities) for 16 stringed zither (1993)

Vinh Long Thoi Tho Au (Vinh Long, My Childhood) for 16 stringed zither (1993)

Cuu Long Giang thân yêu (the Beloved Mekong River) for 16 stringed zither(1993)

Hôn Viêt Nam (The Soul of Viet Nam) for 16 stringed zither (1993)

A Bali, on entend le genggong rab ncas (In Bali, one hears the jew’s harp genggong) for Jew’s Harp (1997)

Paysage des Hauts-Plateaux (Landscape of the Highlands) for Jew’s Harp (1997)

Nostalgie au Pays Mong ( Nostalgia of the Mong Land) for Jew’s Harp (1997)

Souvenir à Alexeiev et Chichiguine (Souvenir of Alexeiev and Chichiguine) for Jew’s Harp (1997)

Bachkir-Bachkirie (Bashkir-Bashkiria) for Jew’s Harp (1997)

Orient-Occident (East-West) for Jew’s Harp (1997)

Souvenir de Norvege (Souvenir from Norway) for Jew’s Harp (1997)

Vietnam, mon Pays (Vietnam, my Country) for Jew’s Harp (1997)

Tuva! Tuva! (Tuva! Tuva!) for Jew’s Harp (1997)

La Mélodie des Harmoniques (The melody of Harmonics) for Jew’s Harp (1997)

Ambiance des Hauts-Plateaux du Vietnam (Atmosphere of the Highlands of Vietnam) for Jew’s Harp (1997)

Echo des montagnes (Echo of Mountains) for Jew’s Harp (1997)

Taiga mysterieux (Mysterious Taiga) for Jew’s Harp (1997)

Le Saut des Crapauds (The Jump of Toads) for Jew’s Harp (1997)

Harmonie des Guimbardes (Harmonie of Jew’s Harps) for Jew’s Harp (1997)

L’Univers harmonique (The Harmonic Universe) for Jew’s Harp (1997)

Consonances ! (Consonances !) for Jew’s Harp (1997).

Vietnam, My Motherland for Jew’s Harp (1998)

Welcome to Molln Jew’s Harp Festival 1998 for Jew’s Harp (1998)

Film music for the film Long Vân Khanh Hôi (The Meeting of the Dragon and the Clouds) 1980.

Film music for the film Le Chant des Harmoniques (The Song of Harmonics), 1989.

Film music for the film La Rencontre du Dragon et du Coq (The Meeting of the Dragon and the Cock) (1997)

Memberships in different Scientific Societies

Society for Ethnomusicology, USA, since 1969.

Society for Asian Music, USA, since 1978.

International Council for Traditional Music, USA, since 1976 (Liaison Officer since 1991)

International Musicological Society, Switzerland, since 1977.

International Association of Sound Archives, Australia, since 1978.

European Seminar in Ethnomusicology, Switzerland, since 1983

Société Française d’Ethnomusicologie, France, since 1985 (founding member)

Sociétéde Musicologie, France, since 1980.

Association Française d’Archives Sonores, France, since 1979.

Centre of Studies for Oriental Music, France, since 1962 (Professor from 1970 to 1975)

Vietnamese Penclub in Europe, France, since 1987.

Center of Vietnamese Studies, France, since 1987

Association Française de Recherche sur l’Asie du Sud-Est, France, since 1983.

Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM), Paris, since 1983.

International Center of Khoomei, Tuva, Russia, since 1995.

Honorary Member of the Scientific Society of Vietnamese Professionals, Canada, since 1992.

Life Fellow, International Adviser, Deputy Governor of the American Biographical Institute and Research Association, USA, since 1987.

Life Fellow, International Adviser, Director Deputy General of the International Biographical Association, United Kingdom, since 1987.

Consultant of the Prize Diderot for the Encyclopaedia Universalis, France, since 1990.

Board Committee of the International Association of Jew’s Harp, Austria, since 1998.<

 

15 LP records and 5 CDs as performer on Vietnamese Music (with different record companies: Le Chant du Monde, OCORA, Studio SM, Société Française deProductions Phonographiques, Playasound in France, Lyrichord, Music of the World in the USA, Albatros in Italy.

  1. Cithare Vietnamienne (le Dan Tranh) par Tran Quang Hai. Le Chant du Monde LDX 74454, Paris, 1971, collection Special Instrumental.
  2. Le Chant de la Rivière des Parfums. Productions et Editions Sonores PES 528 003, Paris, 1973.
  3. Vietnam: Nouvelle Musique Traditionnelle. OCORA 558 012, Paris, 1976.
  4. Musique du Vietnam: Tradition du Sud. Anthologie de la musique des Peuples AMP 72903, Paris, 1976.
  5. Musique Traditionnelle du Vietnam. Aide à l’Enfance du Vietnam AEV 01, Paris, 1976.
  6. Musica del Vietnam. Albatros Records VPA 8396, Milan, 1978.
  7. Vietnam: Tran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 33514, Paris, 1979, collection: Musiques de l’Asie traditionnelle, vol.10.
  8. Cithare et Chants Populaires du Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Aide à l’Enfance du Vietnam AEV 02, Paris, 1979.
  9. Music of Vietnam. Lyrichord LLST 7337, New York, 1980.
  10. Vietnam/ Tran Quang Hai et Bach Yen. Studio SM 3311.97, Paris, 1983. Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros 1983
  11. Vietnamese Dan Tranh Music/ Tran Quang Hai. Lyrichord LLST 7375 ,New York, 1983.
  12. Shaman/Tran Quang Hai et Misha Lobko. Didjeridou Records DJD O1, Paris, 1983.
  13. MUSAICA: chansons d’enfants des émigrés. DEVA RIC 1-2, Paris, 1984.
  14. Landscape of the Highlands/ Tran Quang Hai. Music of the World MW 004, New York, 1984.
  15. Le Monde Magique du Dan Tranh/ Tran Quang Hai. Viet Productions VN 1944, Paris, 1985.
  16. CD: R̻ves et R̩alit̩s РTran Quang Hai et Bach Yen. Playasound PS 65020, Paris, 1988.
  17. CD: Cithare vietnamienne/Tran Quang Hai. Playasound PS 65103, Paris, 1993.
  18. CD: Landscape of the Highlands/String Music from Vietnam/Tran Quang Hai. Latitudes LAT 50612, North Carolina, USA, 1997.
  19. CD: Phillip Peris/Didjeridu. Les Cinq Planètes CP 10296, Paris, 1997.
  20. CD: Les Guimbardes du Monde / Tran Quang Hai. Playasound PS 66009, Paris, 1997.
  21. CD: That’s All Folk! Le Chant du Monde CML 5741015.16, 2CDs, Paris1997.
  22. CD: International Jew’s Harp Festival Molln Austria ’98, CD-0513, 2CDs, Molln, 1999.

5 commercialized cassettes on pop music of Vietnam

1 videocassette on Vietnamese Music (1984)

1 videocassette « Music of Vietnam » produced by Ministry of Education in Perth (Australia) (1989)

1 videocassette on « Tran Quang Hai performance » produced by the Melbourne College of Advanced Education in Melbourne (Australia) (1989)

1 videocassette on « Dan Tranh Music » produced by Volkerkunde Museum, Berlin (Germany) 1991.

Performer for film music in 25 commercialized films

Performer of more than 3,000 concerts in 70 countries around the world since 1966.

Performer of more than 1,000 school music concerts organized by JMF (Jeunesses Musicales de France), JMB (Jeunesses Musicales de Belgique), JMS (Jeunesses Musicales de Suisse), Rikskonsertene of Norway and Sweden.

Composer

300 pop songs in Vietnamese, French, English

100 musical compositions for different musical instruments: 16 stringed zither, monochord, spoons, Jew’s harp, overtone singing.

3 compositions for electro-acoustical music (1975, 1988, 1989, see creative works)

Researcher

Author of a book Âm Nhac Viêt Nam  » (Music of Vietnam in Vietnamese) , edited by Nhom Bac Dâu, 361pages, Paris, 1989.

Author of a book « Musiques du Monde » (in French), edited by J-M Fuzeau, 320 pages, 3 CD, Courlay, 1993.(with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musics of the World  » (in English), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1994. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musik aus aller Welt  » (in German), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1996. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musicas del Mundo » (in Spanish), edited by J-M Fuzeau, 320pages, 3 CD, Courlay, 1998. (with Michel Asselineau and Eugene Berel)

Author of a book « Musiques et Danses Traditionnelles d’Europe  » (in French), edited by J -M Fuzeau, 380pages, 2 CD, Courlay, 1995.

Author of a book (in cooperation with Patrick Kersale), VOIX , DVD, edited by Lugdivine, Lyon, 2006

Author or more than 250 articles on Vietnamese and Asian musics

Co-ordinator for New Grove’s Dictionary of Musical Instruments on South East Asian Music (1st edition, 1984) 3 volumes

Author of articles in New Grove Dictionary of Music and Musicians (6thedition, 1980, 20 volumes), Algemeine Muziekencyclopedia (Holland, 1982, 12 volumes), Encyclopaedia Universalis (France, 1984, 1986, 1988, 1990, 1991)

Co-author with Hugo Zemp for the film 16mm on the overtone singing style « Le Chant des Harmoniques » (The Song of Harmonics) produced by the National Center for Scientific Research-Audio Visual, Paris, 1989)

Contributor to the bilingual notes (188pages) accompanying the 3CD set

« Voices of the World » edited by Le Chant du Monde, Paris, 1996

Contributor to the bilingual notes (124pages) accompanying the 2CD set « Vietnam: Musics of the Montagnards  » edited by Le Chant du Monde, Paris,1997.

Researcher specializing in Vietnamese Music, South East Asian Music, Overtone Singing Style, Music Therapy, Music Pedagogy, Creation of NewTechniques for Vietnamese 16 stringed zither, Jew’s Harps, Spoons.

Author of more than 500 articles in Vietnamese for 30 Vietnamese magazines in America, Europe, Asia and Australia.

Creative Works

Nhớ Miền Thuong Du (Nostalgia of the Highlands) for 16 stringed zither(1971)

Xuân Về (The Spring Is Coming Back) for 16 stringed zither (1971)

Tieng Hat Song Huong (The Song of the Perfumed River) for monochord (1972)

Ao Thanh (The Magic Sound) for Spoons (1972)

Về Nguồn (Return to the Sources) with Nguyên Van Tuong, (1975)

Shaman for Voice, saxo, synthetizer (1982)

Hat Hai Giong (Diphonic Song) (1982)

Ca Doi Ca (Song vs Song) for overtones (1982)

Tuy Hung Muong (Improvisation of Spoons) for Spoons (1982)

Doc Tau Dan Moi Mong (Solo of Mong Jew’s Harp) for Jew’s Harp (1982)

Tieng Hat Dan Moi Tre (The Song of the Bamboo Jew’s Harp) for Jew’s Harp(1982)

Sinh Tien Nhip Tau (Rhythm of Coin Clappers) for Coin Clappers (1982)

Tiet Tau Mien Thuong (Rhythm of the Highlands) for 2 Jew’s Harps (1982)

Nui Ngu Sông Huong (Royal Mount and Perfumed River) for monochord (1983)

Nam Bac Một Nhà ( North and South, the Same House) for 16 stringed zither(1986)

Chuyển Hệ (Modulation) (1986)

Trở Về Nguồn Cội (Return to the Origin) (electro-acoustical music) (1988)

Solo Thai for 16 stringed zither (1989)

Tambours 89 in cooperation with Yves Herwan Chotard (1989)

Envol for overtones (1989)

Chuyển Hệ Ba Miền (Metabole on three regions) for 16 stringed zither (1993)

Mộng Đến Vùng Việt Bắc (Dream of Viet Bac) for 16 stringed zither (1993)

Vinh Ha Long ( Ha Long Bay) for 16 stringed zither (1993)

Sông Huong Nui Ngu (The Perfumed River and the Royal Mount) for 16 stringed zither (1993)

Tiêng Vang Dan Trung Tây Nguyên (Echo of the musical instrument Trung of the Highlands) for 16 stringed zither (1993)

Nho Miền Nam (Nostalgia of the South) for 16 stringed zither (1993)

Saigon-Cholon (Saigon-Cholon The Twin Cities) for 16 stringed zither (1993)

Vinh Long Thoi Tho Au (Vinh Long, My Childhood) for 16 stringed zither (1993)

Cuu Long Giang thân yêu (the Beloved Mekong River) for 16 stringed zither(1993)

Hồn Việt Nam (The Soul of Viet Nam) for 16 stringed zither (1993)

A Bali, on entend le genggong rab ncas (In Bali, one hears the jew’s harp genggong) for Jew’s Harp (1997)

Paysage des Hauts-Plateaux (Landscape of the Highlands) for Jew’s Harp (1997)

Nostalgie au Pays Mong ( Nostalgia of the Mong Land) for Jew’s Harp (1997)

Souvenir à  Alexeiev et Chichiguine (Souvenir of Alexeiev and Chichiguine) for Jew’s Harp (1997)

Bachkir-Bachkirie (Bashkir-Bashkiria) for Jew’s Harp (1997)

Orient-Occident (East-West) for Jew’s Harp (1997)

Souvenir de Norvege (Souvenir from Norway) for Jew’s Harp (1997)

Vietnam, mon Pays (Vietnam, my Country) for Jew’s Harp (1997)

Tuva! Tuva! (Tuva! Tuva!) for Jew’s Harp (1997)

La Mélodie des Harmoniques (The melody of Harmonics) for Jew’s Harp (1997)

Ambiance des Hauts-Plateaux du Vietnam (Atmosphere of the Highlands of Vietnam) for Jew’s Harp (1997)

Echo des montagnes (Echo of Mountains) for Jew’s Harp (1997)

Taiga mysterieux (Mysterious Taiga) for Jew’s Harp (1997)

Le Saut des Crapauds (The Jump of Toads) for Jew’s Harp (1997)

Harmonie des Guimbardes (Harmonie of Jew’s Harps) for Jew’s Harp (1997)

L’Univers harmonique (The Harmonic Universe) for Jew’s Harp (1997)

Consonances ! (Consonances !) for Jew’s Harp (1997).

Vietnam, My Motherland for Jew’s Harp (1998)

Welcome to Molln Jew’s Harp Festival 1998 for Jew’s Harp (1998)

Film music for the film Long Vân Khanh Hội (The Meeting of the Dragon and the Clouds) 1980.

Film music for the film Le Chant des Harmoniques (The Song of Harmonics), 1989.

Film music for the film La Rencontre du Dragon et du Coq (The Meeting of the Dragon and the Cock) (1997)

Memberships in different Scientific Societies

Society for Ethnomusicology, USA, since 1969.

Society for Asian Music, USA, since 1978.

International Council for Traditional Music, USA, since 1976 (Liaison Officer since 1991)

International Musicological Society, Switzerland, since 1977.

International Association of Sound Archives, Australia, since 1978.

European Seminar in Ethnomusicology, Switzerland, since 1983

Société Française d’Ethnomusicologie, France, since 1985 (founding member)

Société de Musicologie, France, since 1980.

Association Française d’Archives Sonores, France, since 1979.

Centre of Studies for Oriental Music, France, since 1962 (Professor from 1970 to 1975)

Vietnamese Penclub in Europe, France, since 1987.

Center of Vietnamese Studies, France, since 1987

Association Française de Recherche sur l’Asie du Sud-Est, France, since 1983.

Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM), Paris, since 1983.

International Center of Khoomei, Tuva, Russia, since 1995.

Honorary Member of the Scientific Society of Vietnamese Professionals, Canada, since 1992.

Life Fellow, International Adviser, Deputy Governor of the American Biographical Institute and Research Association, USA, since 1987.

Life Fellow, International Adviser, Director Deputy General of the International Biographical Association, United Kingdom, since 1987.

Consultant of the Prize Diderot for the Encyclopaedia Universalis, France, since 1990.

Board Committee of the International Association of Jew’s Harp, Austria, since 1998.

Founding member of the American Order of Excellency, USA , in 2002

Honorary member of the Institute of Musicology, Hanoi, Vietnam , since 2004

Board Member of the ICTM, Slovenia, since 2005

Biographical Reference Books:

  1. Dictionary of International Biography, 15th edition, United Kingdom
  2. Men of Achievements, 5th, 6th, 7th editions, United Kingdom.
  3. International Who’s Who in Community Service, 3rd edition, United Kingdom
  4. International Who’s Who in Music, 8th,9th,10th,11th,12th,13th,14th,15th,16th,17th, 18th editons, since 1982,U.K.
  5. Who’s Who in Europe, 2nd, 3rd editions, U.K.
  6. Men and Women in Distinction, 1st, 2nd editions, U.K.
  7. International Register of Profiles, 4th, 5th editions, U.K.
  8. International Who’s Who of Intellectuals, 2nd, 3rd editions, U.K.
  9. The First Five Hundreds, 1st edition, U.K.
  10. Who’s Who in the World, 5th, 6th, 7th, 8th, 9th, 10th, 11th, 12th, 13th, 14th,

15th,16th, 17th, 18th editions, since 1983,USA

  1. 5000 Personalities in the World, 1st edition, USA
  2. International Directory of Distinguished Leadership, 1st edition, USA
  3. International Book of Honor, 1st edition, USA
  4. International Register of Personalities, 1st edition, USA
  5. Nouveau Dictionnaire Européen, 5th,6th,7th,8th,9th editions,1985,BELGIUM
  6. Who’s Who in International Art, 1st edition, 1989, SWITZERLAND
  7. Who’s Who in France, 29th, 30th, 31st, 32nd, 33th, 34th, 35th, 36th, 37th,etc.. editions,since 1997,FRANCE
  8. Who’s Who in Entertainment, 3rd edition, 1998-1999,U.K.
  9. Who’s Who in Popular Music, 2nd edition, 1998, U.K.
  10. Ve Vang Dan Viet – The Pride of the Vietnamese, vol.1, 1st, 2nd editions, 1993, USA
  11. Fils et Filles du Vietnam, 1st edition, 1997, USA
  12. Tuyên Tâp Nghê Si (Selection of Vietnamese Artists), vol. 1, 1st edition, 1995, CANADA
  13. Guide du Show Business, from 20th to 40 th editions (since 1983), FRANCE
  14. Director Deputy General List of Honour, 1998, U.K.
  15. The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Etats-Unis(2000)
  16. QUID (since 2000), France
  17. 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Etats-Unis (2002)

Prizes, Honours, Awards:

1983: Grand Prize of Academy Charles Cros, Paris for LP « Vietnam/Tran Quang Hai and Bach Yen (SM 3011.97) 1986: Medaille d’Or de la Musique (Gold Medal of Music) / Asian Cultural Academy, Paris. 1987: D.MUS (HON) / International University Foundation, USA. 1987: Life Fellow of the American Biograhical Institute and Research Association, USA. 1987: Deputy Governor (DG) of the American Biographical Institute, USA 1987: Life Fellow of the International Biographical Centre (IBC), UK 1987: Director Deputy General (DDG) of the International Biographical Centre, UK. 1988: International Advisor of the American Biographical Institute, USA 1988: International Order of Merit/ International Biographical Centre, UK 1989: Ph.D (HON) / Albert Einstein International Academy Foundation, USA. 1990: Grand Prize of the International Festival of Anthropological and Visual Film for the film « The Song of Harmonics », Parnü,Estonia. 1990: Prize of the Best Ethnomusicological Film for the film « The Song of Harmonics » delivered by the Academy of Sciences, Parnü, Estonia. 1990: Special Research Prize of the International Festival of Scientific Film for the film « The Song of Harmonics », Palaiseau, France. 1991: Grand Prize Northern Telecom of the 2nd International Festival of Scientific Film of Quebec for the film « The Song of Harmonics », Montreal, Canada. 1991: Van Laurens Award of the British Voice Association and the Ferens Institute for the best paper on overtone singing research , London, UK 1991: Honorary International Advisor of the International Biographical Centre, UK 1991: Alfred Nobel Medal of the Albert Einstein Academy Foundation, USA. 1991: Man of the Year 1991/ American Biographical Institute, USA 1991: International Man of the Year 1991/1992/ International Biographical Centre, UK 1992: Honorary Member of the Vietnamese Scientific Society of the Professionals, Canada 1994: Man of the Year / American Biographical Institute, USA 1994 : Gold Record of Achievement par American Biographical Institute, Etats-Unis 1995: Special Prize of the 2nd International Festival of Throat Voice, Kyzyl, Tuva. 1995: Honorary Scientific Member of the International Center of Khoomei, Kyzyl, Tuva. 1996: Medal of Cristal / National Center for Scientific Research, Paris, France. 1997: Prize of the Academy of Records Charles Cros for the CDs Voices of the World (collective work), Paris, France 1997: Le Diapason d’Or of the Year for the CDs Voices of the World (collective work), Paris, France. 1997: Le CHOC of the Year for the CDs Voices of the World (collective work), Paris, France. 1998: The Medal of Honor/ City Hall of Limeil Brevannes, France. 1998 : The Platinum Record for Special Performance in Music and Overtone Singing, USA 1998 : Special Prize of Jew’s Harp , 3rd World Jew’s Harp Festival, Molln, Austria 2002 : Highest Distinction of France : Knight of the Legion of Honor (Chevalier de la Legion d’Honneur), Medal of Honor, category Great Gold (Médaille d’Honneur du Travail, catégorie Grand Or), France, 2009.

Other relevant informations

Tran Quang Hai is the first Vietnamese musician who performed at special events: Bicentennial of Australia in Melbourne (1988), Bicentennial of the French Revolution in Paris (1989), 700 Years of Switzerland in Lausanne (1991), 350 Years of Montreal in Montreal, Canada (1992), 500 Years of Christophe Columbus’ Discovery of America in Paris (1992), 600 Years of Seoul in Seoul, Korea (1994), Jubilee of the King of Thailand in Mahasarakham, Thailand (1996), 1000 Years of Trondheim in Norway (1997).

He is the first Vietnamese musician who performed different works composed by contemporary composers such as Nguyên Van Tuong (died in 1996), Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard, and also film music composed by Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit.

He practises 15 musical instruments belonging to Europe (violin, guitar, banjo, mandoline, flute), Vietnam (zither dan tranh, monochord dan doc huyen, 2 stringed fiddle dan co, coin clappers sinh tien, spoons muong, ),China (2 stringed fiddle nan hu), India (lutes tampura, vina) Iran (drum zarb), European and Asian Jew’s Harps.

His research on overtones since 1969 has given him the title of the- greatest specialist of overtone singing with more than 8000 persons who have learnt this peculiar vocal style with him from 70 countries around the world. He got the Cristal Medal of the National Center for Scientific Research in 1996 for his research on overtones, and the recipient  » Knight of the Legion of Honor  » given by the French President Jacques Chirac in 2002 for his career as musician and musicologist since 1966 , the Medal of Work, Great Gold category in 2009 for his 41 years career at the National Center for Scientific Research, the Diploma of Vietnamese Guiness Book 2010 for the title “KING OF SPOONS” in 2010 in Ho Chi Minh City, Vietnam.

CONTACT: TRAN QUANG HAI 12 rue Gutenberg 94450 LIMEIL BREVANNES France Tel : (33-6) 50 25 73 67 (overseas) E-mail: tranquanghai@gmail.com

Websites: http://tranquanghai.com,  http://tranquanghai.info

Blogs : http://tranquanghai1944.com , http://tranvankhe-tranquanghai.com

 

Thiên Ngôn : TP HCM muốn chi 1.500 tỷ xây nhà hát giao hưởng ở Thủ Thiêm

Thứ sáu, 28/9/2018, 05:00 (GMT+7)

Nhà hát dự kiến có hai khán phòng với sức chứa 1.700 chỗ ngồi.

Ủy ban Nhân dân TP HCM vừa trình Hội đồng Nhân dân thành phố chủ trương xây Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch đạt tiêu chuẩn quốc tế tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm (quận 2), tổng mức đầu tư hơn 1.500 tỷ đồng từ nguồn ngân sách.

Nhà hát được xây với quy mô 1.700 chỗ, gồm hai khán phòng lớn và nhỏ. Thành phố đánh giá công trình này thật sự cần thiết và cấp bách, là biểu tượng văn hóa, điểm nhấn về kiến trúc, nghệ thuật của địa phương. Nhạc trưởng Trần Vương Thạch, Giám đốc Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch (HBSO) cho biết so với tiêu chuẩn các nhà hát giao hưởng thế giới, quy mô công trình này ở mức trung bình. « Chúng tôi rất vui vì sau một thời gian dài, trải qua nhiều tranh luận, ấp ủ, dự án tâm huyết về một ngôi nhà cho dòng nghệ thuật hàn lâm ở TP HCM đã dần được hiện thực hóa qua động thái cụ thể », ông Trần Vương Thạch chia sẻ.

Sau nhiều lần thay đổi, lần này TP HCM quyết tâm xây dựng Nhà hát Giao hưởng, nhạc, vũ kịch tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Sau nhiều lần thay đổi, TP HCM quyết tâm làm Nhà hát giao hưởng, nhạc, vũ kịch tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm.

Chủ trương xây nhà hát giao hưởng ở TP HCM đã có từ 20 năm trước. Năm 1993, Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch TP HCM (HBSO) được thành lập. Đến năm 1999, thành phố dự kiến xây nhà hát tại số 23 Lê Duẩn, quận 1 (trụ sở Công ty Xổ số Kiến thiết thành phố) nhưng địa điểm được chọn không phù hợp. Đến cuối năm 2012, UBND TP HCM chấp thuận chủ trương xây nhà hát trong Công viên 23/9, quận 1. Công ty Busmann Haberer, Muller, Inros Lackner (Cộng hòa Liên bang Đức) là đơn vị tư vấn thiết kế. Công trình được giới hạn bởi các tuyến đường Tôn Thất Tùng, Lê Lai và Phạm Ngũ Lão, hướng chính nhìn ra chợ Bến Thành và dự kiến đưa vào sử dụng cuối năm 2015. Tuy nhiên, sau nhiều bàn cãi và phản đối của các chuyên gia quy hoạch, kiến trúc, kế hoạch này lại một lần nữa không thực hiện được.

Trụ sở làm việc HBSO được bố trí tạm tại tầng hầm Nhà hát TPHCM (trực thuộc Trung tâm Tổ chức biểu diễn và Điện ảnh). Hiện, hầu hết các chương trình nghệ thuật hàn lâm ở TP HCM đều biểu diễn tại Nhà hát Thành phố (số 7 Công trường Lam Sơn, quận 1) – được người Pháp xây dựng từ năm 1898 với quy mô khoảng 500 chỗ ngồi. « Đơn vị chúng tôi phải thuê địa điểm của Nhà hát TP HCM, nhưng tình trạng bị kẹt lịch thường xuyên xảy ra do có quá nhiều nơi thuê điểm diễn này. Chưa kể, hoạt động của HBSO bị phân tán vì không có trụ sở ổn định, khi chuẩn bị những vở lớn hay các chương trình, chúng tôi đều phải đi thuê điểm tập », ông Trần Vương Thạch cho biết.

Thiên Ngôn

Thanh Hiệp : Đưa « Một thế kỷ cải lương Việt Nam » vào trường học

25/09/2018 03:31

Sáng 24-9, NSND Bạch Tuyết thực hiện chuyên đề sân khấu « Một thế kỷ cải lương Việt Nam » tại Trường THPT Nguyễn Du (quận 10, TP HCM), mở đầu chuỗi hoạt động sân khấu chuyên đề do CLB Sân khấu Lạc Long Quân trực thuộc Trung tâm Tổ chức Biểu diễn và Điện ảnh TP HCM tổ chức nhằm giới thiệu khái quát đến khán giả học sinh, sinh viên về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ và sân khấu cải lương.

Đưa Một thế kỷ cải lương Việt Nam vào trường học - Ảnh 1.

NSND Bạch Tuyết giao lưu với học sinh Trường THPT Nguyễn Du

NSND Bạch Tuyết đã có bài nói chuyện thật sôi nổi với học sinh Trường THPT Nguyễn Du về quá trình hình thành và phát triển của bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, ca ra bộ, sau đó là nghệ thuật cải lương. Bà dẫn chứng sinh động những kịch bản cải lương ca ngợi tấm gương trung kiên của những anh hùng lịch sử dân tộc và những vở diễn phản ánh đời sống đương đại. Các em học sinh đã có nhiều câu hỏi giao lưu với bà, cùng hát bài « Dạ cổ hoài lang » của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Thầy cô giáo của Trường THPT Nguyễn Du cũng lên sân khấu cùng hát bài Phụng Hoàng trong vở cải lương « Nửa đời hương phấn » của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng trong những tràng pháo tay cổ vũ của học sinh. « Tôi rất vinh dự thực hiện buổi chuyên đề khởi động cho chương trình đưa sân khấu vào học đường của CLB Sân khấu Lạc Long Quân, để giúp các em đến với những vấn đề cơ bản của bộ môn nghệ thuật đã tròn 100 tuổi này. Mừng là các em đã hưởng ứng và chăm chú lắng nghe, phát biểu và trao đổi để cho thấy sân khấu cải lương luôn thu hút giới trẻ, chỉ có điều là quá ít dịp để nghệ sĩ và học sinh, sinh viên cùng tiếp xúc như thế này » – NSND Bạch Tuyết bày tỏ.

Chương trình này sẽ được diễn ra tại các trường: THCS Lý Thường Kiệt (quận Bình Tân), Vân Đồn (quận 4), Nguyễn Huệ (quận 4), Bà Điểm (huyện Hóc Môn), Thạnh Lộc (quận 12), Lý Thường Kiệt (huyện Hóc Môn)… Ngoài NSND Bạch Tuyết, các khách mời nói về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, sân khấu cải lương còn có: NSND Kim Cương, NSND Lệ Thủy, NSND Ngọc Giàu, NSƯT Huỳnh Khải, NSƯT Hải Phượng, NSƯT Phượng Loan, NSƯT Thanh Vy, NSƯT Lê Thiện…

Tin-ảnh: T.Hiệp

Một tài liệu quý giá hình ảnh thật xưa, có giá trị lịch sử văn hoá Việt Nam

Một tài liệu quý giá – Thu thập công phu và hay quá !

 Nơi đây bấm vào mỗi tấm hình sẽ ra nhiều hình ảnh thật xưa, có giá trị lịch sử văn hóa Việt Nam tưởng không bao giờ được coi, mời vào:


http://www.flickr.com/photos/ 13476480@N07/sets/

Băng Châu : “Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương…”

“Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương…”

Dân trí “Cải lương đang chịu sự tác động to lớn của xu hướng toàn cầu hóa, cơ chế thị trường và sự bùng nổ của công nghệ thông tin. Sự đa dạng, phong phú các loại hình nghệ thuật mang tính giải trí hiện đại đã và đang lấn át các loại hình nghệ thuật truyền thống, trong đó có cải lương”, PGS. TS Nguyễn Thế Kỷ đã phát biểu tại hội thảo “Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương ở Việt Nam” như vậy.

Sáng nay (28/4), tại TPHCM, đã diễn ra hội thảo khoa học “Một thế kỷ hình thành và phát triển nghệ thuật cải lương ở Việt Nam” do Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội đồng Lý luận – Phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hội Nghệ sĩ sân khấu TPHCM phối hợp tổ chức.

Những khó khăn mà nghệ thuật Cải lương đang đối mặt trong sự bùng nổ của công nghệ thông tin

Buổi hội thảo có sự tham dự của ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; PGS-TS Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, cùng hơn 100 đại biểu là lãnh đạo TPHCM, lãnh đạo các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, các nhà quản lý văn hóa, nhà nghiên cứu, các đơn vị nghệ thuật và nghệ sĩ Cải lương.


PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương phát biểu khai mạc hội thảo

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương phát biểu khai mạc hội thảo

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương trong phát biểu khai mạc hội thảo đã nói: “Đây là dịp để chúng ta cùng nhìn lại những đóng góp to lớn của nghệ thuật cải lương, của các thế hệ nghệ sĩ cải lương suốt một thế kỷ qua, đồng thời thẳng thắn nhận diện những bất cập, hạn chế, yếu kém; đánh giá đúng những khó khăn thách thức, từ đó tìm ra hướng đi, giải pháp căn cơ, khoa học nhằm thúc đẩy sân khấu cải lương có những bước phát triển bền vững, mạnh mẽ trong thời gian tới”.

Phát biểu chỉ đạo hội thảo, ông Võ Văn Thưởng – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương hoan nghênh các đơn vị đã tổ chức các hoạt động khoa học và hoạt động nghệ thuật mang tính thiết thực trong dịp kỷ niệm 100 năm hình thành, phát triển nghệ thuật cải lương.


Ong Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu chỉ đạo hội thảo

Ong Võ Văn Thưởng – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu chỉ đạo hội thảo

Ông Võ Văn Thưởng cũng khẳng định: “Đây là cơ hội để giới nghiên cứu, quản lý và sáng tạo nhìn lại quá trình phát triển, đánh giá thành tựu, phân tích các yếu tố tác động, làm sâu sắc hơn các bài học lịch sử, rút ra các kinh nghiệm hữu ích để tiếp tục xây dựng và phát triển bộ môn nghệ thuật cải lương trong thời kỳ mới”.

Ông cũng bày tỏ mong muốn các cơ quan báo chí chủ lực, cấp ủy, chính quyền các địa phương, nhất là các tỉnh, thành phố phía Nam cần quan tâm nhiều hơn, tạo nguồn lực và điều kiện nhiều hơn giúp nghệ thuật cải lương tiếp tục có chỗ đứng vững chắc trong nghệ thuật truyền thống của đất nước, trong không gian văn hóa của cải lương, đờn ca tài tử Nam Bộ.

NSND Trần Ngọc Giàu phát biểu tại hội nghị
NSND Trần Ngọc Giàu phát biểu tại hội nghị

Hội thảo diễn ra trong không khí sôi nổi với nhiều bài tham luận nổi bật. Bên cạnh việc khẳng định thành tựu, giá trị và những đóng góp đã được khẳng định, các tham luận cũng phân tích, chỉ ra những khó khăn, thách thức mà nghệ thuật cải lương đang phải đối mặt cũng như đề xuất những giải pháp cụ thể để giữ gìn và phát triển nghệ thuật cải lương trong thời kỳ hiện tại.

Những khó khăn nhất hiện nay của nghệ thuật cải lương

Trong bài phát biểu tổng kết tại hội thảo sau buổi làm việc nghiêm túc của các đại biểu và những báo cáo tham luận mang nhiều ý nghĩa thực tiễn đối với những vấn đề liên quan đến chủ đề “Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương ở Việt Nam”.

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương trong phát biểu bế mạc, tổng kết sau hội thảo
PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương trong phát biểu bế mạc, tổng kết sau hội thảo

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ nêu rõ: “Cải lương hiện nay đang chịu sự tác động to lớn của xu hướng toàn cầu hóa, cơ chế thị trường và sự bùng nổ của công nghệ thông tin. Sự đa dạng, phong phú các loại hình nghệ thuật mang tính giải trí hiện đại đã và đang lấn át các loại hình nghệ thuật truyền thống, trong đó có cải lương”.

Hiện tại, nghệ thuật cải lương đang có sự thiếu hụt rất lớn về nguồn nhân lực, đang đối mặt với sự khan hiếm về kịch bản văn học. Kịch bản là tiền đề cơ bản, quan trọng để xây dựng tác phẩm sân khấu, nhưng lực lượng tác giả viết kịch bản cải lương ngày càng thưa vắng.

“Động lực và sự kích thích sáng tạo các kịch bản mới không lớn, chủ yếu phục vụ cho các hội diễn, hội thi, liên hoan cải lương toàn quốc”, PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ cho biết.

Ngoài ra, cơ chế, chính sách, nguồn lực cho nghệ thuật cải lương và các nghệ sĩ cải lương còn thiếu, yếu, không đồng bộ, còn nhiều hạn chế, bất cập. Các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương không phải lúc nào, ở đâu cũng có sự quan tâm và giúp đỡ kịp thời, đúng đắn, hiệu quả. Chủ trương phát triển nghệ thuật Cải lương theo cơ chế thị trường chưa được các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện theo lộ trình chặt chẽ, khoa học với sự chuẩn bị đầy đủ hành lang pháp lý cần thiết.

Cụ thể, theo NSƯT Trần Quang Hùng, Giám đốc Nhà hát Cải lương Hà Nội chia sẻ thì hiện nay, một diễn viên về đoàn thử việc, mức lương chỉ được 1,5 triệu đồng/tháng. Nếu chính thức được tuyển dụng, mức lương cũng chỉ từ 2 – 2,5 triệu đồng/tháng.

Với mức lương như vậy, khó để có cuộc sống tối thiểu, càng không thu hút được, không giữ được người có tài.


Phát biểu tại hội thảo, NSƯT Trần Minh Ngọc cũng cho rằng chính sự chạy theo thời đại của các nghệ sĩ cũng gây khó khăn cho việc phát triển nghệ thuật vì không có thời gian tập luyện. Ngoài ra, ông còn đề xuất thêm việc nên đào tạo lý thuyết về nghệ thuật ở bậc trung học, đến khi bước vào chuyên ngành là thời điểm thực hiện và phát huy tài lực để tạo nên những người tài năng, tinh hoa nghệ thuật thật sự tinh túy.

Phát biểu tại hội thảo, NSƯT Trần Minh Ngọc cũng cho rằng chính sự chạy theo thời đại của các nghệ sĩ cũng gây khó khăn cho việc phát triển nghệ thuật vì không có thời gian tập luyện. Ngoài ra, ông còn đề xuất thêm việc nên đào tạo lý thuyết về nghệ thuật ở bậc trung học, đến khi bước vào chuyên ngành là thời điểm thực hiện và phát huy tài lực để tạo nên những người tài năng, tinh hoa nghệ thuật thật sự tinh túy.

Những giải pháp thúc đẩy nghệ thuật cải lương trong thời gian tới

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ đã nêu ra những giải pháp cụ thể để thúc đẩy và phát triển cải lương ở thời điểm hiện tại.

Thứ nhất, nhóm giải pháp về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tư duy lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, cải thiện cơ chế, chính sách đối với nghệ thuật cải lương; Thứ hai, nhóm giải pháp thúc đẩy nghiên cứu lý luận, phê bình nghệ thuật cải lương;

Thứ ba, nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực những người làm nghề. Cụ thể là đổi mới cơ chế phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tài năng cho nghệ thuật Cải lương, đặc biệt là những tài năng trẻ. Các đơn vị hoạt động nghệ thuật cần quan tâm và thực hiện thường xuyên các chính sách phát hiện, bồi dưỡng tài năng cải lương. Đối với những người có năng khiếu về biên kịch, đạo diễn, diễn viên, âm nhạc, mỹ thuật, kỹ thuật… có triển vọng cần có những hình thức bồi dưỡng riêng phù hợp, chú trọng các hình thức truyền nghề.

Thứ tư, nhóm giải pháp bồi dưỡng, định hướng, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của công chúng cải lương, nhất là giới trẻ. Ở những đô thị lớn như Hà Nội, TPHCM và các tỉnh, thành có truyền thống về cải lương, cần nghiên cứu đưa nghệ thuật này vào chương trình sân khấu học đường, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn, đội, hội để công chúng trẻ tuổi được tiếp cận. Thông qua các giờ học ngoại khóa, các nhà hoạt động nghệ thuật, nghệ sĩ Cải lương cần có những buổi nói chuyện chuyên đề, giới thiệu những vở diễn kinh điển, trình diễn các trích đoạn hay trong trường học,… để cung cấp những kiến thức cơ bản, giá trị của nghệ thuật cải lương.

“Hội thảo thực sự đã trở thành diễn đàn, là nơi gặp gỡ, kết nối của những người luôn nặng lòng với sự hưng thịnh của nghệ thuật cải lương. Điều này sẽ trở thành sự động viên, khích lệ, lan tỏa để chúng ta cùng chung tay thúc đẩy sự phát triển, phục hưng nghệ thuật cải lương trong thời gian tới, bởi tinh thần của cải lương là: “Cải cách hát ca theo tiến bộ – Lương truyền tuồng tích sánh văn minh”. Đối chiếu với các yêu cầu, mục tiêu khoa học đã đề ra, có thể khẳng định Hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Một thế kỷ hình thành, phát triển của nghệ thuật cải lương ở Việt Nam (1918-2018) – Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển” đã thành công tốt đẹp!”, PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ khẳng định trong bài phát biểu bế mạc sau buổi hội thảo sáng nay.

Bài & ảnh: Băng Châu

https://dantri.com.vn/van-hoa/mot-the-ky-hinh-thanh-phat-trien-cua-nghe-thuat-cai-luong-20180428201004273.htm