Jour : 15 août 2018

Thuỳ Trang: Khát vọng tỏa sáng tài năng

vlcsnap-2018-04-25-07h56m58s485

15/08/2018 06:50

Trong cuộc sống quanh ta có những con người tài nghệ xuất chúng nhưng ít người biết tới. Họ là những quái kiệt, những ngôi sao ẩn mình giữa đời thường âm thầm cống hiến tài năng cho đời

Từ trước đến nay, ở Việt Nam chỉ có 3 người chuyên nghiên cứu nghệ thuật đàn môi. Hai trong số đó chắc hẳn nhiều người biết, đó là cố giáo sư Trần Văn Khê và con trai trưởng của ông là GS-TS Trần Quang Hải (đang định cư ở Pháp). Người còn lại chẳng phải giáo sư, tiến sĩ, hay nghệ sĩ gì cả, mà chỉ là một anh chàng ít người biết tên tuổi Đặng Văn Khai Nguyên.

khai-nguyc3aan-tre1baa7n-quang-he1baa3i

Truyền nhân của « vua đàn môi »

Điều thú vị là vì ngưỡng mộ « vua đàn môi » Trần Quang Hải, chàng trai này bỏ ra chục năm trời chỉ để… tập chơi và trở thành « người chơi được nhiều loại đàn môi nhất », như ghi nhận của Tổ chức Kỷ lục Việt Nam.

Khát vọng tỏa sáng tài năng - Ảnh 1.

Đặng Văn Khai Nguyên cùng với người thầy, GS-TS Trần Quang Hải

Khai Nguyên kể lại: « Cơ duyên đến với đàn môi của tôi rất tình cờ. Khoảng 10 năm trước, tôi có xem một chương trình văn hóa nghệ thuật trên đài truyền hình, có giới thiệu GS-TS Trần Quang Hải từ Pháp về Việt Nam biểu diễn nghệ thuật đàn môi và gõ muỗng. Tôi rất ấn tượng những loại hình âm nhạc dân tộc mới lạ của vị giáo sư này và tìm mua 2 cây đàn môi H’mông để tập chơi. Thời gian ngắn sau đó, tôi được GS Hải nhận làm học trò. Từ đó đến nay, cũng được 8 năm… ».

Khát vọng tỏa sáng tài năng - Ảnh 2.

Khai Nguyên trong một tiết mục biểu diễn đàn môi

Năm 2012, lúc ngoài 22 tuổi, Nguyên được GS Trần Quang Hải giới thiệu và gia nhập Hiệp hội Đàn môi quốc tế. Từ đây, một cánh cửa rộng được mở ra để chàng trai trẻ giới thiệu tiếng đàn môi Việt đến với thế giới. Càng nghiên cứu sâu, Nguyên nhận thấy mỗi cây đàn môi là đại diện tiêu biểu cho văn hóa, lối sống và tín ngưỡng của một vùng đất. Tiếng đàn môi ngân nga bên bờ rào đá trên vùng núi cao Tây Bắc của Việt Nam chắp cánh cho tình yêu lứa đôi. Tiếng đàn môi lại được nông dân Indonesia tin có khả năng diệt trừ sâu bọ trên cánh đồng. Một số dân tộc trên thế giới dùng tiếng đàn môi như một ngôn ngữ giao tiếp với thần linh trong mỗi lần cúng tế.

Đến nay, Đặng Văn Khai Nguyên sở hữu 600 chiếc đàn môi. Anh chơi được hơn 25 loại đàn môi của Việt Nam và các nước, như đàn môi của đồng bào H’mông, đàn môi Morchang của Ấn Độ, Khomus của Yakutia-Nga, Karinding của Indonesia, Maranzano của Ý… Nhận xét về Khai Nguyên, « vua đàn môi » – GS Trần Quang Hải hết lời khen ngợi: « Cậu ấy giỏi hơn tôi nhiều ».

Khai Nguyên chia sẻ: « Điều hấp dẫn nhất ở nhạc cụ này là nghe âm điệu có thể đoán ngay được nghệ sĩ nào đang chơi, bởi những âm sắc, tiết tấu mà họ gửi vào tiếng đàn. Nếu không có sự khéo léo của đôi môi thì sẽ không có tiếng đàn gây mê đắm lòng người như thế. Với Nguyên, mỗi lần thổi đàn là như thả hồn mình theo dòng cảm xúc và hoàn toàn ngẫu hứng ».

Tự hào Việt Nam

Khai Nguyên cho biết nếu trước đây, đàn môi chủ yếu được dùng như một phương tiện tỏ tình của các chàng trai, cô gái ở vùng cao thì ngày nay nó được đưa vào sân khấu chuyên nghiệp để độc tấu, hòa tấu với những nhạc cụ khác, hay ứng dụng đàn môi trong âm nhạc điện tử, lồng tiếng, nhạc nền cho phim. Trên thế giới, đàn môi được sử dụng phổ biến trong kết hợp với những nhạc cụ hiện đại như: trống, piano, organ, violon, didgeridoo (một loại sáo châu Úc), Hang (trống làm bằng kim thép), Beatbox (trống miệng)… Nhờ chịu khó học hỏi, mày mò, Khai Nguyên có thể sử dụng thuần thục đàn môi với bất kỳ nhạc cụ nào. Anh còn có thể chuyển hóa và làm mới âm thanh của nó qua việc kết hợp với những nhạc cụ dân tộc khác để tạo một giai điệu mới lạ, hấp dẫn.

Khai Nguyên bảo anh đã sáng tạo ra được các loại đàn môi tre với đủ kỹ thuật chơi là « khảy », « gõ » và « giật dây ». Anh cũng là nghệ nhân đàn môi đầu tiên trên thế giới sáng chế và thực hành thành công loại đàn môi tre từ 1 đến 4 lưỡi. Ngoài ra, anh còn tạo thêm một số loại đàn môi 2 đầu và đàn môi tre bé bằng đầu đũa… Một viện bảo tàng ở Nga chuyên sưu tập các loại đàn môi trên thế giới cũng đã trưng bày bộ đàn môi do Khai Nguyên sáng chế.

Ở Việt Nam, dù được công nhận là một dụng cụ âm nhạc nhưng đàn môi vốn không đóng góp nhiều vào sự phát triển của âm nhạc dân tộc vì sử dụng không phổ biến. « Mong mỏi của tôi không chỉ là giới thiệu đàn môi Việt Nam ra các nước mà nó được bảo tồn, phát triển trong nền âm nhạc dân tộc của nước nhà, để dù ở bất kỳ đâu, người già hay trẻ đều có thể sử dụng được » – Khai Nguyên nói.

Theo đuổi một bộ môn nghệ thuật khó, chỉ có đam mê mới có thể giúp Nguyên gắn bó với loại đàn này. Anh chia sẻ: « Tôi thật sự vui mừng vì những cố gắng của mình trong việc sưu tầm, nghiên cứu và góp phần phổ biến nhạc cụ đàn môi đến công chúng. Tôi dành hết tâm huyết cho nó và hạnh phúc khi góp phần hồi sinh loại nhạc cụ độc đáo và đáng tự hào của Việt Nam ».

Kỳ tới: Quái kiệt Nguyễn Thế Vinh

« Tôi đang tìm cách để đưa đàn môi vào phổ biến trong các sự kiện văn hóa, các chương trình âm nhạc thử nghiệm, âm nhạc ứng dụng. Đó là một dự án lâu dài. Ngoài ra, tôi tham gia lưu diễn trong và ngoài nước để quảng bá hình ảnh con người Việt Nam nói chung và những điều độc đáo trong âm nhạc dân tộc Việt Nam nói riêng, với mong mỏi duy nhất là đàn môi sẽ phát triển mạnh mẽ hơn trên chính vùng đất khai sinh ra nó » – Đặng Văn Khai Nguyên.

Bài và ảnh: THÙY TRANG

Viet Music Now & Then (25) Một Kiếp Hoa

00:0017:33
Ns Nguyễn Văn Tuyên (lúc về già) và Ns Trần Văn Khê (lúc trẻ tại Pháp 1951) (Creative Commons)

Một Kiếp Hoa của Nguyễn Văn Tuyên được xem như là bản nhạc đầu tiên của tân nhạc Việt Nam mở đầu cho nhạc Việt chuyển từ các làn điệu ngũ cung sang các sáng tác cách tân theo các điệu thức Tây phương

By

Mai Hoa

Published on

Saturday, August 6, 2016 – 19:20

File size

8 MB

Duration

17 min 33 sec

Giáo sư Nhạc sĩ Trần Văn Khê được nhiều người biết đến như một nhà nghiên cứu âm nhạc.

It ai biết rằng ông có một sáng tác hiếm hoi Đi chơi Chùa Hương phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp sáng tác vào năm 1942 lúc đang học trường Y Hà Nội.

Bài hát này dài đến hơn 13 phút có lẽ vì vậy mà ít có có bản ghi âm của nó.

Bài Một Kiếp Hoa của nhạc sĩ Nguyên Văn Tuyên cũng hiếm có bản ghi âm.

Trong Chương trình Nhạc Việt Xưa & Nay lần này, Mai Hoa và Tuấn Tôn xin giới thiệu hai bài hát rất xưa và khá khó tìm này với mong muốn giúp quý vị có thêm tư liệu để hiểu hơn về những ngày đầu của tân nhạc Việt Nam.

Bản nhạc Một Kiếp Hoa

Bản nhạc Một Kiếp Hoa của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên.

https://www.sbs.com.au/yourlanguage/vietnamese/en/audiotrack/viet-music-now-then-25-mot-kiep-hoa

 

DNSGCT : Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tuyên – Người ca sỹ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam

Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tuyên – Người ca sỹ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam

Nhạc sỹ – ca sỹ Nguyễn Văn Tuyên, cánh chim đầu đàn của nền tân nhạc Việt Nam đã vĩnh viễn rời xa chúng ta ngày 30/04/2009, hưởng thọ 100 tuổi. Ngược dòng lịch sử, Dòng Nhạc Xưa xin giới thiệu đôi nét về bậc tiền nhân.

 

Một kiếp hoa (Nguyễn Văn Tuyên). Ảnh: sbs.com.au
Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tuyên. Ảnh: tienphong.vn

Người ca sĩ đầu tiên của tân nhạc

(Nguồn: bài viết nld.com.vn ngày 2005-02-12)

“Năm 1936, tại Sài Gòn chỉ có một ca sĩ duy nhất – đó là tôi – Nguyễn Văn Tuyên. Khi ấy tôi đã 25 tuổi”

Khi biên tập những dòng hồi tưởng này, tôi nhẩm tính tuổi hiện giờ của chàng ca sĩ thời “tiền tân nhạc” và bỗng dưng cảm thấy có lỗi nếu không kịp tìm gặp nhân chứng lịch sử kỳ cựu nhất của nền nhạc mới. Chuyến công du cuối năm vào TPHCM dù quá sít sao thời gian vẫn phải bổ sung thêm một chương trình: Tìm gặp ca sĩ đầu tiên đồng thời là một trong những người đầu tiên sáng tác ca khúc Việt Nam, ông Nguyễn Văn Tuyên, 93 tuổi.

Kỹ năng làm phép cộng trừ của tôi cho kết quả đúng, nhưng hóa ra vẫn chưa chính xác với tuổi tác của ông. Ông sinh năm 1909. Cần đính chính lại cho câu trích dẫn trên: “Khi ấy tôi 27 tuổi”. Con gái út của ông giải thích đấy là một nhầm lẫn do tuổi tác – sự nhầm lẫn rất ít thấy ở ông, con gái đã không có cơ hội “kiểm duyệt” bài vì cha viết “lén” và cũng lén gửi bài cho Viện Âm nhạc lúc nào không hay, chắc sợ bị con cháu ngăn cản vì lo ngại cho sức khỏe của ông.

Thực ra ông vẫn khỏe và quá trẻ so với người đang chuẩn bị đón cái tết thứ 97 của đời mình. Gọn gàng, nho nhã, dẻo dai về sức lực (bởi ông vẫn tự lên xuống cầu thang một mình), minh mẫn về trí óc (bởi ông chuyện trò rành mạch đâu ra đấy), chỉ một chút lãng tai là dấu ấn tự nhiên của tuổi tác. Người con út mà ông giới thiệu là “cây gậy” trong tuổi già đôi khi phải kiêm thêm vai trò phiên dịch, chị ghé sát tai cha nhắc lại câu hỏi của chúng tôi bằng giọng miền Trung (bình thường chị nói giọng Nam pha Bắc). Thật lạ lùng, đôi tai không nắm bắt được hết thế giới âm thanh bên ngoài vẫn dành riêng một “kênh” chỉ tiếp nhận tiếng nói của con gái ông qua chất giọng quê hương nơi chôn rau cắt rốn của ông. Đó có phải vì càng già con người ta càng muốn hướng về cội, về những gì thân thương nhất? Còn lạ lùng hơn khi câu chuyện về 70 năm trước được bắt đầu bằng tiếng hát của chính ông – ca sĩ đầu tiên của Đông Dương, “một giọng hát không thể chê vào đâu” như báo L’Impartial từng giới thiệu. Chương trình Những chuyện lạ ở Việt Nam của VTV3 cũng không làm tôi ngạc nhiên như lúc tai nghe mắt thấy một cụ ông ở tuổi cực hiếm này tự biên tự diễn, ông đã hát và tự đệm orgue ba ca khúc ông viết từ những năm 37-38: Kiếp hoa, Anh hùng ca (phổ thơ Nguyễn Văn Cổn) và Bông cúc vàng (thơ Nguyễn Quý Anh).

– Trước khi viết những bài này, ông có biết đến Bẽ bàng (1935), Nghệ sĩ hành khúc (1937) của Lê Yên, Tiếng sáo chăn trâu (1935), Bên hồ liễu (1936), Bóng ai qua thềm (1937) của Văn Chung, Xuân năm xưa (1936) của Lê Thương…?

– Tôi biết trong giới đạo Thiên Chúa trước đó có đặt những bài hát Việt phục vụ tôn giáo, chứ ngoài đời tôi chưa được nghe một bài hát nào cả. Tôi biếu diễn bằng tiếng Pháp những bài cổ điển hoặc nhạc giải trí kiểu Tino Rossi. Thời đó người ta chỉ đua nhau làm bài hát “lai Tây” (bài Tây lời ta). Muốn quần chúng hướng đến một nền âm nhạc không lai căng thì trước hết phải có bài hát mới cả lời lẫn nhạc hoàn toàn Việt Nam. Bao lần đi trên đường nghe tiếng rao hàng rong: “Ai ăn chè đậu xanh hương dừa đường cát khô… ông?”, tôi nhận thấy nhạc điệu trong đó và đã hát lên thành nốt nhạc. Rồi tôi nghĩ tại sao mình không thử làm bài hát mang tính dân tộc trên nguyên tắc bám sát tiếng nói giàu âm điệu của Việt Nam.

Tư tưởng lớn gặp nhau, những người tiên phong thời tân nhạc đã tình cờ trở thành bạn đồng hành trên con đường đi tìm nguồn nhạc mới cho đất nước. Riêng ca sĩ Nguyễn Văn Tuyên không chỉ thể nghiệm trong lĩnh vực sáng tác mà còn tận dụng mọi cơ hội phát động phong trào đổi mới trong âm nhạc. Ông đã hát Anh hùng ca trong chương trình biểu diễn nhạc Pháp, có lẽ đây là lần đầu tiên một bài hát tân nhạc được chính thức công diễn trên sân khấu trước đông đảo quần chúng và đã được đón nhận nồng nhiệt. Ông làm dịu đi phản ứng của phái nệ cổ khi khẳng định tân nhạc không tiêu diệt cổ truyền mà là sự phát triển nối tiếp từ nhạc cổ. Ông khéo sử dụng tài trợ của thống đốc Nam Kỳ để thực hiện chuyến lưu diễn đơn thương độc mã từ Nam ra Bắc vào năm 1938 nhằm cổ động cho nhạc cải cách, có người còn gọi cuộc hành trình văn nghệ xuyên Việt này như một sự kiện cách mạng công khai mở màn cho kỷ nguyên tân nhạc. Trong dịp đó, bài Kiếp hoa của ông được nhà thơ Thế Lữ chuyển tới báo Ngày nay và được coi là một trong những ca khúc đầu tiên xuất hiện trên mặt báo. Đầu năm 1939, ông thu bài hát của mình vào đĩa RCA-Victor và gửi sang Thượng Hải sản xuất, không may chiến tranh thế giới bùng nổ và làm thất lạc mất hai bài, chỉ duy nhất Anh hùng ca còn trở về nước. Sau này có lần qua Vinh tình cờ nghe thấy người ta mở đĩa hát Anh hùng ca, ông dừng lại đứng nghe mà chủ nhà chẳng hề hay biết người khách vãng lai kia chính là ca sĩ đang hát trong đĩa.

Bằng chất giọng khỏe vẫn vang, ông hát cho chúng tôi nghe hết bài này qua bài khác, cả tiếng Pháp và tiếng Việt, cả bài Tây và bài ta, bài xưa và bài nay. Và vừa hát vừa kể, rằng thời đó ông đã làm nhiều người Pháp ngạc nhiên ra sao khi nghe ông giải thích sự khác nhau về ngữ điệu giữa nhạc Tây và tiếng Việt bằng cách so sánh vị khác biệt giữa củ khoai tây nhàn nhạt với củ khoai lang không đường mà ngọt, một bài thơ Việt tự nó đã có nhạc điệu rồi, nhạc sĩ Việt phải biết lấy ra từ đó giai điệu phù hợp, vậy nên người Việt viết ca khúc vất vả hơn nhiều so với người Pháp. Thế đấy, bản sắc dân tộc trong sáng tác âm nhạc và mối quan hệ giữa giai điệu với lời ca đã được các vị tiền bối quan tâm ngay từ thuở trứng nước của nền nhạc mới Việt Nam.

Sự nghiệp âm nhạc của tôi đến đó xem như chấm dứt. Tôi chẳng còn liên quan gì đến âm nhạc. Xung quanh tôi không còn ai bạn bè, cũng không quen biết một nhạc sĩ nào cả, tôi chẳng biết nói chuyện âm nhạc với ai và chẳng có gì hơn để kể nữa.

Đúng là chỉ mình ông còn lại trong tấm hình cách đây mười năm chụp cùng các nhạc sĩ Lê Thương, Văn Cao, Nguyễn Văn Thương. Nhưng ông đâu có rời bỏ âm nhạc, ông vẫn viết bài hát “cho riêng mình”, ông vẫn ca hát và dạy con dạy cháu yêu ca hát, vì thế mà trong gia đình ông chẳng bao giờ thiếu vắng tiếng hát, tiễng đàn. Ngược lại, âm nhạc cũng không rời bỏ ông, vì hay hát mà ở tuổi này ông vẫn hát hay, vẫn minh mẫn, vẫn yêu đời. Hơn thế nữa, tên tuổi ông sẽ còn được nhắc đến trong lịch sử tân nhạc. Tiếng hát ông, hình ảnh ông, câu chuyện của ông mà chúng tôi ghi được trong cuộc gặp gỡ này chắc chắn là tư liệu có một không hai về những năm tháng hình thành nền nhạc mới Việt Nam.

(DNSGCT)

http://www.dongnhacxua.com/nhac-sy-nguyen-van-tuyen-nguoi-ca-sy-dau-tien-cua-tan-nhac-viet-nam

Nguyễn Thụy Kha: Nhạc Việt từng có « Vua tango » Hoàng Trọng

15/07/2018 06:49

Hoàng Trọng hiện ra giữa lịch sử tân nhạc Việt Nam như một « ông vua » của tiết điệu tango với nhiều tác phẩm để đời

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của nhạc sĩ Hoàng Trọng (17-7), tôi bỗng có hứng thú viết về ông, một trong các « đại ca nhạc tiền chiến », nhạc sĩ được mệnh danh « Vua tango » của âm nhạc Việt Nam.

Ẩn số ấn tượng

Vào khoảng năm 1962, ở miền Bắc bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên « Giã từ ». Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).

Nhạc Việt từng có Vua tango Hoàng Trọng - Ảnh 1.

Nhạc sĩ Hoàng Trọng Ảnh: TƯ LIỆU

Tôi còn nhớ ca từ của mấy đoạn như sau (dễ nhớ vì bài hát chỉ có một đoạn đơn): « Biết đến bao giờ, gặp lại người em thời ấu thơ. Để báo tin rằng cuộc đời từ nay đã khác xưa. Một phút gần nhau rồi tình mãi mãi lìa xa. Quà nghèo chỉ có lời ca. Tặng nàng trước khi từ giã… ».

Một thời dài chiến chinh, tình ca « Giã từ » đã theo nhiều trai tráng vào quân đội. Họ thường hát bài này trong giây phút tiễn đưa và sau đó là những phút nhớ người yêu ở chiến trường khốc liệt. Đến thời thanh bình, khi những chuyên gia quân sự Liên Xô còn ở Việt Nam, có những người đã tập hát « Giã từ » bằng tiếng Việt một cách thích thú và nghĩ rằng bài hát nước mình được dịch ra tiếng bạn hay quá.

Mãi đến thời mở cửa, khi tôi mở « chiến dịch » nghiên cứu các « đại ca nhạc tiền chiến » thì mới té ngửa ra rằng bài hát mà mình từng đinh ninh trên chính là một đoạn đầu của một bản tango mang tên « Tiễn bước sang ngang » của tác giả Hoàng Trọng viết tại Sài Gòn năm 1959. Chỉ có điều, ca từ đã được thay cho có vẻ thời đại hơn so với ca từ của chính tác giả, tuy các câu mở đầu đều được giữ nguyên. Bài này phần lời của Hồ Đình Chương.

Bởi thế, Hoàng Trọng trở thành một ẩn số ấn tượng trong dự định tìm hiểu của tôi. Đến bây giờ, khi tôi gặp được chính con trai tác giả – nhạc sĩ Hoàng Nhạc Đô – tại TP Cần Thơ thì ẩn số ấy đã được giải. Hoàng Trọng hiện ra giữa lịch sử tân nhạc Việt Nam như một « ông vua » của tiết điệu tango – một điệu nhảy của người Mỹ Latin, đã du nhập Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.

Hạt giống của nền tân nhạc Việt

Hoàng Trọng sinh năm 1922, đồng niên và đồng hương Hải Dương với Đỗ Nhuận. Nếu Đỗ Nhuận xuống Hải Phòng học nhạc thì ngược lại, Hoàng Trọng lại lên học nhạc ở Hà Nội từ năm 11 tuổi. Đến năm 15 tuổi, Hoàng Trọng đã lập ban nhạc riêng anh em trong gia đình với sự tham gia của các thân hữu: Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Tạ Phước, Bùi Công Kỳ. Họ vừa chơi nhạc vừa sáng tác bài hát.

Ngay từ năm 1938, Hoàng Trọng đã viết bài hát « Vầng trăng sáng » theo nhịp valse chậm như một bài tập xinh xắn đầy âm hưởng phương Tây: « Vầng trăng sáng lắng soi bên thềm. Chiều mây nước tiếng dương êm đềm. Lòng sầu vương buồn lan theo gió. Nhớ thương ai khắc khoải chờ mong… ».

Hoàng Trọng cứ thế đắm chìm vào âm nhạc giữa kinh kỳ phồn hoa những năm Thế chiến thứ hai đầy biến động. Vào năm 1945, Hoàng Trọng mở phòng trà « Thiên thai » đầu phố Hàng Gai – Hà Nội và lập ra ban nhạc « Thiên thai ». Toàn quốc kháng chiến, nhiều nhạc sĩ Hà Nội rời khỏi kinh kỳ nhưng do nhiều hoàn cảnh khác nhau, họ lại tìm về Hà Nội để nối tiếp dòng âm nhạc lãng mạn thời tiền chiến.

Những năm đầu thập kỷ 1950 ở Hà Nội, giới yêu nhạc gọi Đoàn Chuẩn là « Vua lục huyền cầm Hạ-Uy-Di), Ngọc Bích là « Vua nhạc swing » còn Hoàng Trọng là « Vua tango ». Từ « Bóng trăng xưa » viết 1940, Hoàng Trọng đi tới « Phút chia ly » viết 1948 và hằn lên một ấn tượng bởi « Đường về » viết 1950 – một bản tango mẫu mực có thể đưa vào sách giáo khoa dạy khiêu vũ. Chỉ một câu nhạc mở đầu đã thấy cái chất tango luồn lách, uyển chuyển, gợi cảm: « Đường về xa vời gieo thương nhớ trong lòng. Hồn quê lai láng khi ánh chiều rơi. Đã mấy thu xưa qua rồi. Khi gió sầu đông mang về. Lòng buồn man mác niềm nhớ… ».

Sau đó là những « Bên sông đưa người » (1951), « Mộng lành » (1956), « Ngỡ ngàng » và « Tiễn người sang ngang » (1958), « Em còn nhớ không » (1961), « Hai phương trời cách biệt » (1963), « Sao cho trọn niềm vui » (1966)… Chính cái tham vọng tiếp tục dòng nhạc tango này mà Hoàng Trọng phải di cư vào Nam. Ngay năm 1955, ông đã lập ra ban nhạc Tây Hồ ở Sài Gòn với nhiều tên tuổi.

Tình ca mang âm hưởng dân gian

Nếu những sáng tác mang tiết điệu tango cho Hoàng Trọng có nét riêng khác người thì nhiều sáng tác khác của ông lại gây nên một ấn tượng tình ca mang âm hưởng dân gian cũng rất đặc sắc. « Nhạc sầu tương tư » ông viết năm 1953 là một ví dụ. Trong CD « Về bến mơ » khá công phu của mình, ca sĩ Quỳnh Hoa – có khả năng hát và nhảy nhạc tango rất quyến rũ – đã không ngần ngại chọn cả « Đường về » và « Nhạc sầu tương tư » của Hoàng Trọng.

Hoàng Trọng cứ nghiêng ngả giữa hai miền cảm hứng như thế cho đến « Khói chiều », viết 1960. Dường như đó là nhạc phẩm hội tụ tất cả các ngả tư duy của ông để hòa hợp nên một tác phẩm có tầm cỡ của một Aria thuần Việt. Đoạn đầu của nhạc phẩm được viết ở giọng đô trưởng với âm hưởng dân gian: « Buồn lên mấy ngọn (là ngọn) tre chiều. Nắng phai duyên lá sáo diều im hơi. Khói chiều lên ngút (lên ngút) chân trời. Đầu sông chạnh nhớ đến người cuối sông ». Không biết bài thơ « Anh ở đầu sông em cuối sông » của Hoài Vũ sau này mà Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc rất hay có tham khảo ca từ trên không?

Đến đoạn tiếp theo, Hoàng Trọng chuyển điệu rất xa sang fa thứ, tức là giọng thứ đồng âm với giọng fa trưởng, hạ át âm của giọng đô trưởng. Một chuyển điệu lạ trên những câu lục bát quen: « Hôm qua mình đứng bên cầu. Lơ mơ nhớ lại hôm đầu xa quê. Bao năm đi chẳng trở về. Thiết tha lại nhớ câu thề nước non. Khói hoàng hôn, khói hoàng hôn. Ngừng bay ta gửi chút buồn nhớ quê ».

Tôi bỗng nhớ một câu thơ Huy Cận: « Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà ». Âm hưởng « khói hoàng hôn » vừa thoáng thành fa trưởng cuối đoạn fa thứ thì lại chuyển rời sang rê thứ, giọng thứ đồng hóa biểu với fa trưởng. « Một ngọn khói cứ u uẩn trong tâm trí »: « Ngắm hoàng hôn lại nhớ nhà. Khói hoàng hôn tản thế mà quạnh hiu ». Và « khói hoàng hôn » đã bay thành giọng sol trưởng ở cuối bài một cách rất tự nhiên như chính câu lục bát kết: « Bâng khuâng chiều ngẩn ngơ chiều. Lòng lâng lâng gợi ít nhiều nhớ thương ».

Sau ngày đất nước thống nhất, Hoàng Trọng lui về ẩn dật, dạy nhạc tại gia ở chợ Cầu Muối, quận 1, TP HCM. Với hoàn cảnh khó khăn thời bấy giờ cộng thêm nỗi buồn nhớ hai con Fa, La bên nước ngoài, ông đã phải chịu cho các con bảo lãnh đi Mỹ năm 1990. Ông từ trần vào chính ngọ ngày 17-7-1998 sau khi chỉ huy giàn nhạc giao hưởng Tiếng Tơ Đồng kỷ niệm 60 năm âm nhạc Hoàng Trọng tại San Jose California vì bệnh tim, thọ 77 tuổi.

Nhớ mãi một tên tuổi

Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã để lại cho đời trên 200 ca khúc đã xuất bản, thịnh hành trong và ngoài nước cùng những bài hợp xướng từng trình diễn trong ban nhạc Tây Hồ và Tiếng Tơ Đồng của ông. Tập nhạc tuyển « Một đời còn lại » do con trai ông là nhạc sĩ Hoàng Nhạc Đô tuyển chọn xuất bản trên 100 ca khúc như tổng kết lại một vận hội say mê sáng tạo âm nhạc của Hoàng Trọng (1938-1998) với rất nhiều đóng góp trong ngôn ngữ và cấu trúc, đặc biệt là với tiết điệu tango. Có thể nhận ra ở đó những cung bậc tình cảm mà ông đã gửi gắm suốt cuộc đời không ít sóng gió. Cuộc đời đã đưa ông trở thành một tên tuổi trong lịch sử tân nhạc Việt – một tên tuổi đáng được ghi nhận và đáng được nhớ mãi.

Nguyễn Thụy Kha

Thanh Hiệp : Giáo sư đàn cò nỗ lực nơi xứ người

Giáo sư đàn cò nỗ lực nơi xứ người

13/08/2018 06:33

GS Nguyễn Châu cho rằng Việt Nam cần có chiến lược và chính sách kịp thời để đào tạo, đầu tư nguồn nhân lực cho âm nhạc truyền thống

Bất ngờ tại Hội thảo Đàn tranh lần 1 và chương trình « Việt Nam sắc hương xưa lần 10 » vừa diễn ra tại Seattle – Mỹ, tôi có dịp gặp GS Nguyễn Châu. Nhanh nhẹn, hoạt bát dù đã gần 70 tuổi, giáo sư xuất hiện giản dị nhưng phát biểu ấn tượng. Từ California, ông bay đến Seattle cùng với các học trò, bên cạnh nhạc cụ chủ đạo bắt buộc phải mang theo là đàn tranh, GS Nguyễn Châu không quên cây đàn cò đã gắn bó cùng ông trên bước đường dấn thân vào nghiệp đam mê âm nhạc dân tộc.

Mê đàn cò từ 10 tuổi

Năm 10 tuổi, GS Nguyễn Châu đã được gia đình cho học nhạc tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (khoa nhạc dân tộc), nay là Nhạc viện TP HCM. Sau khi tốt nghiệp, giáo sư được trường giữ lại phụ giảng bộ môn nhạc cụ truyền thống, lúc đó ông mới 17 tuổi. Ông học nhiều loại nhạc cụ nhưng thích nhất đàn cò.

Giáo sư đàn cò nỗ lực nơi xứ người - Ảnh 1.

GS Nguyễn Châu trao học bổng âm nhạc cho em Quang Huy (14 tuổi) của Đoàn Văn nghệ Dân tộc Hướng Việt

Nhớ về tuổi trẻ, ông cho biết khi học đàn cò, ông phải học lén lút, nói với má may cho cái bao giống như áo gối để bỏ đàn vô giấu. Vào trường trung học, ông không dám nói với bạn bè là mình học đàn cò, đàn tranh vì sợ bạn chê cười. « Ngay trên đất nước mình mà mình cũng không dám nói học đàn của đất nước mình thì thật là buồn. Buồn hơn là nhiều người ở Việt Nam cũng không biết tên các nhạc cụ dân tộc, trong khi rất rành tên các nhạc cụ Tây phương. Nghĩ đến đó tôi quyết đưa tiếng đàn cò đến với mọi người. Trong tất cả các chương trình biểu diễn ở các nước, tôi đều cố tình giới thiệu đàn cò Việt Nam. Khi thì song tấu với tranh, tam tấu với kìm, bầu hoặc hòa tấu với dàn nhạc giao hưởng phương Tây » – ông bày tỏ.

Giáo sư đàn cò nỗ lực nơi xứ người - Ảnh 2.

GS Nguyễn Châu tặng hoa chúc mừng các NS đàn tranh của Đoàn văn nghệ dân tộc Hướng Việt

Đam mê cứ thôi thúc ông học sao cho giỏi như danh cầm Chín Trích đờn cò (thân phụ của nghệ sĩ Tú Trinh – PV) dạy học viên cải lương cùng Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn. Ngoài học ở trường, ông tự mày mò học bằng cách tìm đến nghe các nghệ nhân đờn cò kéo đàn. « Nhờ vốn liếng tiếng Pháp, tiếng Anh nên tôi tìm đọc sách để nhận biết, so sánh đờn cò của Việt Nam với các nước: Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào, Ấn Độ, thậm chí các nước Trung Đông, Hàn Quốc… tìm tài liệu và nghiên cứu để biến hóa thêm cho sự đa dạng của đàn cò khi đưa ra biểu diễn với dàn nhạc quốc tế » – GS Nguyễn Châu say sưa kể.

Giáo sư đàn cò nỗ lực nơi xứ người - Ảnh 3.

GS Nguyễn Châu (trái) với nghệ sĩ đàn tì bà Nguyễn Thanh (Nhạc viện TP HCM) trong chương trình « Việt Nam sắc hương xưa »

Theo ông, đàn cò đã xuất hiện rất lâu đời ở Việt Nam. Khi nói đến đàn cò, mọi người nghĩ đến nhạc cụ đám ma nên ít ai học. Nhưng bây giờ nhiều người thích học, vì tiếng đàn được cải tiến, nghe rất réo rắt giống như tiếng đàn violon của Tây phương.

« Trên thế giới, Trung Quốc phổ biến cây đàn Erhu của họ rất mạnh. Vì họ phát triển quá mạnh, nên khi đi học, nếu chúng ta không cẩn thận, không để ý sẽ đánh đàn cò Việt Nam thành ra đàn cò Trung Quốc lúc nào không hay. Nên nhớ, đàn cò Việt Nam kích thước nhỏ hơn đàn Erhu, âm thanh đàn Erhu tương đương với đàn hồ hoặc là đàn gáo của Việt Nam vì tiếng trầm hơn đàn cò » – GS Nguyễn Châu phân tích.

Gần 30 năm ươm mầm

Sau khi định cư tại Mỹ năm 1987, GS Nguyễn Châu tiếp tục trình diễn và giảng dạy nhạc dân tộc. Năm 1989, ông cùng GS Nguyễn Thị Mai, vũ sư Lưu Hồng thành lập Đoàn Văn nghệ Dân tộc Lạc Hồng tại Orange County, bang California và hoạt động đến ngày nay. Trong bao nhiêu năm hoạt động nghệ thuật, GS Nguyễn Châu đã đào tạo hàng trăm học viên cho bộ môn âm nhạc truyền thống. Ngoài giảng dạy, ông còn sáng tác nhiều tác phẩm cho đàn cò, đàn tranh, đàn nhị, bầu, nguyệt, tì bà… làm giàu thêm kho tàng sáng tác âm nhạc dân tộc Việt Nam: « Bài thơ trên võng », « Những dòng sông quê hương », « Chiều trên cao nguyên », « Về miền sông nước », « Bài ca sông núi », « Miền đất quê hương »… Ông đặt nền tảng cho việc soạn giáo trình dạy và học đàn tranh, cò, kìm… qua internet và nhiều ứng dụng công nghệ khác.

Giáo sư đàn cò nỗ lực nơi xứ người - Ảnh 4.

GS Nguyễn Châu trình diễn (trống) cùng các nghệ sĩ trong chương trình « Việt Nam sắc hương xưa » lần thứ 10

Ông đi theo con đường GS-TS Trần Văn Khê, thi vào đại học âm nhạc Mỹ, trở thành giáo sư giảng dạy, từ đó trao truyền kinh nghiệm cho nhiều thế hệ học trò. Ở hải ngoại sau gần 30 năm giảng dạy, trình diễn và tiếp xúc với nhiều nhóm hoạt động trong lĩ̃nh vực âm nhạc dân tộc ở Pháp, Mỹ, Canada, Na Uy, Úc…, GS Nguyễn Châu nhận thấy phong trào âm nhạc dân tộc ở hải ngoại đã nhân rộng, tạo hiệu quả tốt đẹp trong việc giữ gìn cội nguồn dân tộc, đồng thời thu hút thêm sự giao lưu văn hóa quốc tế khi chính ông có nhiều học trò người Mỹ, Canada, Pháp… đang học đàn cò. Có thêm nhiều sinh viên các quốc gia chọn âm nhạc truyền thống Việt Nam để làm luận án tiến sĩ mà ông đã « đỡ đầu » cho họ. Đó là cách nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, truyền đạt cho thế hệ trẻ giữ gìn nguồn cội quê hương.

Thiếu kế hoạch lâu dài cho nhạc dân tộc

Trả lời câu hỏi bằng cách nào thu hút giới trẻ học âm nhạc truyền thống trong xu hướng ngày nay, GS Nguyễn Châu nói: « Tôi nghĩ tại hải ngoại, để làm công việc này không dễ. Đừng bao giờ nói các em là người Việt Nam thì các em phải biết về âm nhạc Việt Nam, phải biết và tìm học âm nhạc Việt Nam. Câu nói đó đúng với chúng ta. Đối với các em, các em nghĩ mình là người Mỹ, chỉ có gốc Việt Nam thôi. Các em chỉ thích suy nghĩ và phát biểu bằng tiếng Mỹ, thích âm nhạc của Mỹ cho nên phải tạo sân chơi cho các em. Như chương trình « Việt Nam sắc hương xưa » và hội thảo đàn tranh là điển hình tiêu biểu, để thu hút các em đến sân chơi bổ ích, thiết thực ».

Ông cũng trăn trở về tình hình âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Theo ông, có lẽ so với các nước, ngành âm nhạc dân tộc cổ truyền của chúng ta không được tổ chức đầy đủ để phát triển, không có hệ thống đào tạo hay phổ biến quy mô như những nước khác. Nếu so sánh với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ…, chúng ta thua xa lắm. Lý do là nhà nước thiếu kế hoạch lâu dài.

« Các em bên đây học nhạc thì bán chuyên nghiệp và muốn tiến thêm cũng không biết tiến về đâu, muốn về Việt Nam học cũng không có môi trường để dụng võ. Chính như thế mà người ta chỉ thích trình diễn có tính cách là vui chơi hát xướng hời hợt, nghe tai này qua tai kia chứ không ai để ý đến những chuyện văn hóa cần đầu tư sâu rộng » – GS Nguyễn Châu bày tỏ.

Bài và ảnh: Thanh Hiệp