Mois : avril 2018

Chiến Sĩ Vô Danh – Trần Văn Khê – Thu Âm 1950

Chiến Sĩ Vô Danh – Trần Văn Khê – Thu Âm 1950

Published on Jun 18, 2015

Bài hát Chiến Sĩ Vô Danh của nhạc sĩ Phạm Duy qua phần trình bày của GS Trần Văn Khê lúc còn trẻ. Khi thu thanh cho hãng dĩa Oria để có tiền ăn học trong 2 năm ở Pháp, GS Trần Văn Khê đã dùng bí danh là Hải Minh, ghép từ tên của 2 người con trai của ông là Trần Quang Hải và Trần Quang Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử tân nhạc Việt Nam, người hát được một dàn nhạc khá hùng hậu với cách phối khí rất Tây, bởi vì lúc đó Trần Văn Khê cộng tác với nhạc trưởng Georges Ghestem của nhà hát La Gaîté Lyrique.

SÀI GÒN NĂM 1900 – NHỮNG BỨC ẢNH CỰC HIẾM – CHỢ LỚN XƯA

SÀI GÒN NĂM 1900 – NHỮNG BỨC ẢNH CỰC HIẾM – CHỢ LỚN XƯA

Published on Apr 22, 2018

Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor, thành phố sau đó hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Khi Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam. Cùng với Phnom Penh của Campuchia,[cần dẫn nguồn] Sài Gòn được người Pháp mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông trong số những thuộc địa của họ. Sài Gòn cũng là thủ đô của Liên bang Đông Dương giai đoạn 1887–1901 (về sau, Pháp chuyển thủ đô Liên bang Đông Dương ra Hà Nội). Năm 1949, Sài Gòn trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam, một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương, và sau này là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa. Kể từ đó, thành phố này trở thành một trong những đô thị quan trọng của miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, lãnh thổ Việt Nam được hoàn toàn thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam

LỄ HỘI BÁNH DÂN GIAN NAM BỘ LẦN THỨ 6 NĂM 2017

LỄ HỘI BÁNH DÂN GIAN NAM BỘ LẦN THỨ 6 NĂM 2017

Ajoutée le 6 avr. 2017

Liên hệ quay phim chụp ảnh trên cao : 0909352245 Khai mạc sáng 6/4, lễ hội bánh dân gian Nam Bộ giới thiệu cho du khách hơn 100 loại bánh, xôi, chè với nhiều màu sắc hấp dẫn. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 1 Lễ hội bánh dân gian Nam Bộ với chủ đề « Ngọt ngào hương vị phương Nam » diễn ra từ ngày 5-9/4 tại trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại và Hội chợ Triển lãm Cần Thơ. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 2 Lễ hội có sự tham gia của hơn 250 gian hàng với hơn 100 loại bánh, xôi chè, là đặc sản của nhiều vùng miền trong cả nước. Bên cạnh đó, lễ hội còn có gian hàng của các nước như Nhật Bản, Campuchia, Malaysia… Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 3 Đến đây, ngoài thưởng thức các loại bánh thơm ngon, du khách còn được xem các nghệ nhân biểu diễn làm bánh, tham gia các trò chơi truyền thống, chương trình văn nghệ hấp dẫn. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 4 Bánh tằm khoai mì là đặc sản quen thuộc với người miền Tây. Bánh hơi dai, có vị bùi thơm của khoai mì (củ sắn) và dừa nạo, kết hợp cùng với vị béo ngậy của nước cốt dừa và thơm của mè rang tạo nên một món ăn khiến ai ăn thử một lần đều khó mà quên được. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 5 Bánh chuối hấp nước cốt dừa là món ăn đơn giản mà lại dễ làm, đặc biệt là miếng chuối được bao phủ bởi lớp bột năng dẻo ngon, ăn cùng với nước cốt dừa béo ngậy khiến cho người ăn càng mê hơn. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 6 Bánh bột lọc là món ăn được nhiều người yêu thích, bánh có vị dai, trong suốt, nhân tôm thịt đậm đà. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 7 Bánh lá mơ được làm từ bột gạo, lá mơ và nước cốt dừa. Bánh lá mơ có vị ngọt bùi, dẻo mịn của bột gạo, chấm với nước cốt dừa. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 8 Bánh hỏi là món ăn phổ biến ở khắp các tỉnh miền Nam và miền Trung. Bánh được làm từ gạo thơm vo kỹ, ngâm nước một đêm, trải qua nhiều công đoạn rồi hấp chín. Bánh được dùng để ăn thay cơm ngay cả trong khi cưới hỏi, cúng giỗ, lễ lạt… Ảnh: BTC. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 9 Bánh khọt hay còn gọi là bánh trứng rồng, là món bánh rất quen thuộc với người dân Nam Bộ. Bánh có màu vàng tươi của nghệ, hơi trong, xung quanh màu nâu nhạt giòn tan, chính giữa nổi bật lên màu xanh của hành lá, màu đỏ cam của tôm, của đậu xanh, rất đẹp mắt. Ảnh: BTC. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 10 Chè trôi nước vốn rất nổi tiếng ở miền Nam. Đây là loại chè viên tròn làm bằng bột nếp, dẻo bên trong có nhân đậu xanh, ăn cùng với nước cốt dừa có vị béo. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 11 Bánh cúng là một món ăn dân dã cùng với bánh cấp của người dân Nam Bộ, nhất là người miền Tây. Bánh được làm từ bột gạo (gạo nguyên hạt đem xay nước), pha với nước cốt dừa, đường, nước cốt lá dứa. Bánh có vị dai, béo, ngọt, mặn vừa miệng, ăn không ngán và nhất là màu sắc phải bắt mắt, mùi vị hấp dẫn. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 12 Nhắc đến ẩm thực Tây Nam bộ, không thể không nhắc đến những đặc điểm dân dã, dễ làm và quen thuộc. Quen thuộc từ nguyên liệu đến cái tên của bánh. Bánh có hình dáng giống con tầm thì gọi là bánh tầm, bánh làm từ chuối gọi lá bánh chuối. Và bánh có từng lớp bột mỏng như da lợn nên được gọi là bánh da lợn. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 13 Bánh cuốn ngọt hay còn gọi là bánh ướt có thể xem là đặc sản Bến Tre. Bánh ướt ngọt thực chất là bánh tráng dừa khi mới tráng xong, chưa đem phơi, còn ướt, cuốn thêm ít nhân đậu xanh, dừa bào để cho ra món ăn chơi thú vị. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 14 Bánh đúc vốn là món ăn dân dã xuất hiện ở cả ba miền. Miền Bắc thịnh hành nhất món bánh đúc lạc chấm tương hoặc chan canh cua. Miền Trung nổi tiếng với bánh đúc chấm mắm nêm và bánh đúc hến. Và ở miền Nam, bánh đúc lá dứa là món ăn mang nét riêng của người miền Tây Nam bộ. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 15 Bánh tét lá cẩm Cần Thơ thuộc top 100 món ăn ẩm thực, đặc sản tiêu biểu của Việt Nam và là một trong các món ăn dân dã đã được Martin Yan chọn để quay chương trình thực tế « Taste of Vietnam ». Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 16 Ở miền Tây, bánh lá dừa có mặt ở nhiều tỉnh từ Long An, Tiền Giang, kéo dài cho đến miệt Trà Vinh, Sóc Trăng, nhưng Bến Tre mới chính là thủ phủ của chiếc bánh có lớp vỏ làm từ cánh lá dừa. Bánh có vị dẻo, béo thơm, ngậy của nếp cùng nước cốt dừa. Sac mau cua le hoi banh dan gian Nam Bo hinh anh 17 Cuộc sống hiện đại hoá ngày càng khiến người ta dần quên đi nét văn hóa xưa, thì lễ hội bánh dân gian là cơ hội để người già tìm về hoài niệm, sống trong những năm tháng tuổi thơ, người trẻ có cơ hội tìm hiểu về văn hóa truyền thống của dân tộc.

Ngọc Ánh : Giáo sư Trần Quang Hải: Người đưa âm nhạc Việt Nam đến khắp các châu lục

Giáo sư Trần Quang Hải: Người đưa âm nhạc Việt Nam đến khắp các châu lục

Tác giả:
Ngọc Ánh

Hơn 40 năm làm việc, nghiên cứu tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con Người ở Paris (Pháp) và tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học trên thế giới, Giáo sư Trần Quang Hải đã có những đóng góp lớn trong việc giới thiệu, quảng bá âm nhạc Việt Nam ra nhiều nước trên thế giới. Ông cũng là người sáng tạo ra nghệ thuật gõ muỗng độc đáo, người truyền dạy cho mọi người cách chơi đàn môi của dân tộc Mông…

Sinh ra trong gia đình có nhiều đời hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật-âm nhạc, lại là con trai trưởng của cố GS.TS âm nhạc Trần Văn Khê (1921-2015), Giáo sư Trần Quang Hải sớm được cha định hướng đi theo con đường nghiên cứu âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Tốt nghiệp khoa violin tại Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Pháp tiếp tục học nâng cao về violin, sau đó đổi sang học các loại nhạc cụ dân tộc và lấy bằng Tiến sĩ âm nhạc dân tộc của người Việt tại Pháp.

Giáo sư Trần Quang Hải biểu diễn kèn môi.

Trong thời gian làm việc, định cư ở Pháp, Giáo sư Trần Quang Hải tham gia hoạt động trong nhiều tổ chức âm nhạc, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp và Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương-nơi cha ông từng công tác. Từ vị thế này, ông có điều kiện đưa âm nhạc dân tộc của Việt Nam đến với công chúng hơn 70 nước trên thế giới; đặc biệt là môn nghệ thuật gõ muỗng và đàn môi của dân tộc Mông.

Từ những chiếc muỗng bình thường vốn được làm ra để phục vụ nhu cầu ẩm thực, qua bàn tay tài nghệ và cách xử lý nhạc học độc đáo của mình, Giáo sư Trần Quang Hải mang đến cho người xem những cung bậc kinh ngạc rồi thán phục. Để giúp mọi người tiếp cận dễ dàng với nghệ thuật gõ muỗng, GS.TS Trần Quang Hải đã tận tình hướng dẫn từ kỹ thuật căn bản như bẻ hai muỗng hơi cong, cho chúng đối đáy vào nhau, lấy ngón trỏ để vào chính giữa hai cán và nâng lên để hai chiếc muỗng luôn giữ một khoảng cách 2,5mm để tạo nên cao độ. Từ những kỹ thuật ban đầu này, những chiếc muỗng được sử dụng thành nhiều cách gõ khác nhau với các ngón tay, rồi kéo lên hết cánh tay hay đánh lên đùi, đánh lên miệng, đánh thành bài bản…

Ngoài gõ muỗng, Giáo sư Hải còn truyền dạy cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài cách chơi đàn môi của dân tộc Mông. Ông giải thích, đàn môi là một loại nhạc cụ độc đáo có mặt ở 30 nước trên thế giới chứ không phải chỉ có ở Việt Nam. Ở châu Âu, đàn môi rất thông dụng với nhiều tên gọi khác nhau. Ở Anh người ta gọi đàn môi là jew’s harp, Pháp là guimbarde, ở Đức và Áo được gọi là maultrommeln…. Đàn môi có nhiều hình dáng và chất liệu khác nhau nhưng đều có hai bộ phận chính là khung cố định và lưỡi gà di động. Đàn môi ở các nước châu Mỹ được làm bằng thép, sắt, đồng hoặc nhôm, kiểu dáng giống nhau. Còn tại châu Á, tùy theo truyền thống và bản sắc từng dân tộc mà đàn môi ở mỗi nước có độ dài ngắn khác nhau với tên gọi rất đa dạng: mukkuri (Nhật Bản), genggong (Bali), kubing (Philippin). Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ được đồng bào các DTTS ưa chuộng. Thời xa xưa, đàn môi của dân tộc Jrai được làm bằng kim khí, của dân tộc Mông làm bằng đồng thau và dân tộc Ba Na, Ê-đê được làm bằng tre…

Năm 2017, nhân chuyến về nước, ông đã trao tặng cho Viện Âm nhạc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam 40 kiện gồm: 1.000 quyển sách, từ điển, 500 đĩa nhạc cùng một số tư liệu khác của tất cả các tác giả nghiên cứu về âm nhạc dân tộc ở các nước trên thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ: “Tôi đã làm công việc mà ba tôi đã từng trao gửi, để góp phần với quê hương, để lại những gì tốt đẹp nhất cho âm nhạc dân tộc thông qua những công trình nghiên cứu của tôi”.

Để gìn giữ và phát triển nhạc cổ truyền dân tộc, Giáo sư Trần Quang Hải cho rằng, điều cấp thiết nhất là cần có sự đào tạo tốt tại Việt Nam, làm thành một phong trào để có nhiều người tiếp nối, giảng dạy, theo nghề. Nên tổ chức những hội thảo, phác họa chương trình giáo dục âm nhạc trong nhà trường, quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc từ nội thành đến vùng sâu, vùng xa, để ngay từ nhỏ các em học sinh đã có một kiến thức căn bản về âm nhạc Việt Nam, sau đó học thêm về nhạc cổ điển Tây phương và các nước láng giềng…

Bên cạnh đó, các đài truyền hình nên thực hiện những chương trình giáo dục âm nhạc, định hướng âm nhạc, giới thiệu những nét tinh hoa, độc đáo, tiêu biểu của nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam và các nước trên thế giới đến với công chúng cả nước.

Tác giả: Ngọc Ánh

http://www.hoinhacsi.vn/giao-su-tran-quang-hai-nguoi-dua-am-nhac-viet-nam-den-khap-cac-chau-luc-0

Hòa tấu nhạc CẢI LƯƠNG chọn lọc – ĐỜN CA TÀI TỬ không lời hay nhất

Hòa tấu nhạc CẢI LƯƠNG chọn lọc – ĐỜN CA TÀI TỬ không lời hay nhất

Ajoutée le 10 août 2016

► Hãy sống chậm lại lắng nghe và cảm nhận những giai điệu mượt mà được kết hợp từ những nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, sáo, nhị và đàn kìm tạo nên bản hòa ca tài tử cuốn hút của miền tây sông nước

Đặng Hoành Loan :045 GS Tran Van Khe noi chuyen ve DCTT

Đặng Hoành Loan :045 GS Tran Van Khe noi chuyen ve DCTT

Ajoutée le 28 juin 2017

Kỉ niệm tròn một năm GS Trần Văn Khê vĩnh biệt chúng ta, tôi xin kính gửi tới bạn bè và đồng nghiệp khắp nơi một trích đoạn Video buổi nói chuyện về Đờn ca tài tử Nam bộ của Giáo sư cho đoàn nghiên cứu xây dựng hồ sơ quốc gia Đờn ca tài tử Nam bộ trình UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại của Viện Âm nhạc vào năm 2013. Trích đoạn giới thiệu hơi Nam và hơi Oán của nhạc tài tử Nam bộ.

052 Then Tuyen Quang

052 Then Tuyen Quang

Ajoutée le 6 août 2017

Tuyên Quang là vùng then đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia sớm nhất trong các vùng then. Nhờ sự gúp đỡ của Sở VHTT&DL Tuyên Quang, ngày 31 tháng 3 năm 2016 chúng tôi đã được dự lễ then Cầu Khoăn tại làng Ngõa, xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chúng tôi xin gửi đến quý khán giả YouTube 3 trích đoạn trong lễ then này do thày then Hà Ngọc Cao và đệ tử Hà Hữu Nông làm then.

Hà Tùng Long : Trình UNESCO vinh danh hát Then là di sản văn hoá nhân loại, 03.2017

Thứ hai, 27/03/2017 – 00:32

Trình UNESCO vinh danh hát Then là di sản văn hoá nhân loại

Dân trí Văn phòng Chính phủ mới có văn bản về việc gửi Hồ sơ quốc gia “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” trình UNESCO xét ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo đó, Bộ VHTT&DL sẽ gửi hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” tới UNESCO trước ngày 31/3, để được dự xét trong năm 2018.

Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, loại hình nghệ thuật hát Then chỉ có ở 5 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang.

Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Ảnh: TL.
Từ bao đời nay, Then đã trở thành sinh hoạt văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Ảnh: TL.

Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp chứa nhiều thành tố ngữ văn, âm nhạc, mỹ thuật, múa, diễn xướng dân gian và có giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội. Đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái thường sử dụng hát Then vào những dịp trọng đại như hội làng, cầu đảo của từng gia đình, dòng họ vào dịp năm mới…

Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, hát Then xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI vào thời nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và xây dựng thành quách ở đó.

Theo truyền thuyết, trong số quan lại của nhà Mạc có hai vị tên là Đế Phụng và Đế Đáng rất yêu âm nhạc và thích ca hát, họ đã chế tạo ra tính tẩu và lập ra hai tốp hát để phục vụ cung đình. Về sau dân chúng thấy hay nên bắt chước và được lưu truyền trong dân gian. Theo thời gian, hát Then – đàn tính được lan rộng ra các tỉnh miền núi phía Bắc và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái.

PGS.TS Nguyễn Bình Định – Viện trưởng Viện Âm nhạc, đơn vị đảm nhiệm lập hồ sơ di sản cho biết, trong việc xây dựng hồ sơ, UNESCO yêu cầu phía tham gia phải là người dân, cộng đồng. Vì thế, trong hồ sơ di sản Then có nhiều tỉnh tham gia thì điều cần thiết là tính liên kết cộng đồng. Nhưng từ trước đến nay, chưa có loại hình nghệ thuật nào của bà con các dân tộc vùng núi phía Bắc được công nhận danh hiệu di sản của UNESCO nên quá trình xây dựng gặp rất nhiều khó khăn.

Theo PGS Nguyễn Bình Định, với kinh nghiệm trước đây từng làm hồ sơ cho Ca trù, Đờn ca tài tử, Hát bài chòi… thì việc xây dựng hồ sơ cho Then có những thuận lợi là các thầy Then ở địa phương vẫn còn nhiều, các nghi lễ tín ngưỡng vẫn còn được thực hiện và một phần không kém quan trọng là hiện vật, sách Then bằng tiếng Tày – Hán vẫn còn được gìn giữ nhiều trong những gia đình có truyền thống làm thầy Then. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, nghi lễ Then không được thực hiện vì lý do mê tín đã rơi vào tình trạng trầm lắng, phải phục dựng lại.

Do vậy việc làm hồ sơ cho Then cũng gặp phải không ít khó khăn. Then tồn tại và phát triển ở địa bàn các tỉnh vùng núi phía Bắc, cho nên việc đi lại của các chuyên gia cũng không dễ dàng.

Trong hành trình hoàn thiện Hồ sơ cho “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” việc dịch lời các bài Then cũng là một trở ngại lớn. Đơn cử như người biết tiếng Tày cũng chưa chắc dịch được các bài hát hát Then. Bởi nhiều bài là tiếng cổ, cộng với phải hiểu biết, có kiến thức về tín ngưỡng, tâm linh, dân tộc thì mới dịch được.

“Vì thế, khi làm hồ sơ, chúng tôi đã yêu cầu mỗi tỉnh phải cung cấp một chuyên gia hiểu biết về Then dịch lời rồi mới chọn lọc đưa vào hồ sơ. Chúng tôi từng làm một lễ cấp sắc ở Bắc Cạn, phải dịch lời mất hai tháng mới xong”, PGS.TS Nguyễn Bình Định cho hay.

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh nhận định: “Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, miêu tả, vừa gửi gắm, nhắn nhủ những ngọt bùi, đắng cay của cuộc sống ông cha”.

Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng. Ảnh: TL.
Theo GS Tô Ngọc Thanh, nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng. Ảnh: TL.

Theo GS Tô Ngọc Thanh, trong việc nhìn nhận giá trị của thực hành Then cần có sự phân biệt rạch ròi giữa Then cổ và Then mới, giữa Then nghi lễ và Then văn nghệ, nhất là không thể dựa vào Then mới, Then văn nghệ với các lời đã được cải biên để bảo tồn Then cổ, Then nghi lễ.

“Nếu gạt bỏ những yếu tố mê tín đối với việc chữa bệnh mà ngày nay thực tế cũng không còn mấy ai tin thì Then là một không gian văn hóa dân tộc, một tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đa dạng, vừa phản ánh, vừa mô tả, vừa gửi gắm nhắn nhủ những đắng cay của cuộc sống của ông cha. Có thể tìm thấy trong Then không chỉ các thể thơ dân tộc, mà còn cả những biện pháp tu từ, ẩn dụ của nghệ thuật ngôn từ; những làn điệu của tầng dân ca, dân nhạc cổ xưa nhất, những điệu múa đã song hành với Then không biết bao nhiêu năm tháng”, GS Tô Ngọc Thanh nhấn mạnh.

Không những vậy, trong nhiều năm trở lại đây việc cải biên, phát triển các làn điệu Then rất được các nhạc sĩ người dân tộc thiểu số hết sức quan tâm. Những sáng tác đưa Then từ không gian nghi lễ đến không gian sân khấu, đem lại nhiều hứng thú cho không ít khán, thính giả.

Cùng với giá trị trong dân gian, kết hợp các Liên hoan nghệ thuật hát Then – đàn Tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái được tổ chức thường xuyên, nhằm nỗ lực thực hành Then trong cộng đồng, di sản Then của Việt Nam đang có nhiều cơ hội để trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hà Tùng Long

http://dantri.com.vn/van-hoa/trinh-unesco-vinh-danh-hat-then-la-di-san-van-hoa-nhan-loai-20170327102051965.htm