Mois : mars 2018

Việt Hải Los Angeles.: Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam,

Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam, Việt Hải Los Angeles.

Tôi ngắm nhìn quyển sách dầy cộm, 700 trang mang tên « Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam ». Sách được thai nghén và thực hiện ngót 4 năm, một tập sách khá đầy đủ, trình bày nhiều khía cạnh mà Giáo sư Lê Văn Khoa hoạt động hơn 6 thập niên tận tụy với nghệ thuật và lòng đam mê.

Tôi biết Giáo sư Lê Văn Khoa từ những ngày theo học tại Hội Việt Mỹ cuối thập niên 60 và xem ông trong những chương trình truyền hình số 9 tại Sài Gòn trong những năm thập niên 70. Ngày xưa ấy ông là một thanh niên khôi ngô tuấn tú, đa tài, ăn nói lanh lẹ, hoạt bát, tôi dành nhiều sự ái mộ và thiện cảm cho ông từ những ngày đó.

Những năm ly hương xa xứ tôi được dịp xem ông trình diễn trên sân khấu trong những hí viện của nhạc giao hưởng. Nhạc mà Lê Văn Khoa chọn là nhạc do nhạc cụ vang ra âm thanh, nhạc không cần lời, nhạc của ngôn ngữ đại đồng của nhiều dân tộc trên quả địa cầu của chúng ta, nó không là thanh nhạc như nhiều người theo đuổi, mà là loại khí nhạc, nhạc mà ông tạo cho mình sở trường và lòng đam mê là phạm vi hòa âm, phối khí.

Chương trình giới thiệu sách « Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam » đã được tổ chức ngày 19 tháng 9 năm 2015 tại nhà hàng Saigon 9, thuộc thành phố Garden Grove, miền Nam California. Khung cảnh trình làng tác phẩm diễn ra khá thân mật gồm nhiều thân hữu, cùng bạn bè trong giới văn nghệ, những học viên các ngành ông giảng dạy, và bà con đồng hương hâm mộ tài nghệ của ông.

Lê Văn Khoa tâm tình:

Trong phần trò chuyện cùng cử tọa, và nhiều bằng hữu tham dự buổi giới thiệu sách, khi được hỏi nhờ đâu mà ông có được chương trình truyền hình trên băng tần số 9 Sài Gòn ngày trước, và tại sao ông chọn làm chương trình Thế Giới Của Trẻ Em. Giáo Sư Lê Văn Khoa cho biết sau khi ông làm một chương trình nhiếp ảnh với các nhiếp ảnh gia tên tuổi như Nguyễn Cao Đàm, Nguyễn Mạnh Đan, Trần Cao Lĩnh và Phạm Văn Mùi trên Truyền Hình Việt Nam quay tại Trung Tâm Điện Ảnh ở đường Thi Sách, vừa ra khỏi phòng thu hình, ông được ông Giám Đốc đề nghị thực hiện một chương trình định kỳ cho đài. Mặc dù trước năm 1954, ông đã trúng giải sáng tác nhạc toàn quốc và đã từng cộng tác với đài phát thanh Quốc Gia và đài phát thanh Pháp Á (Radio France-Asie), do đó ông có thể dùng khả năng mình thực hiện chương trình thuần túy âm nhạc hay cả chương trình về nghệ thuật như nhiếp ảnh. Nhưng cuối cùng ông quyết dịnh thực hiện một chương trình giáo dục thiếu nhi, cho các trẻ em, vì ông thấy cần thiết hơn. Bởi xã hội ta lúc ấy trong thời chiến lên cao thì người lớn và thanh niên trai tráng bị dồn vào nỗ lực quân sự. Viêc giáo dục bị thu gọn và xã hội thiếu hẵn lớp người trung gian hoạt động cùng trẻ nhỏ, thế hệ rường cột cho tương lai nước nhà. Một mai khi chiến tranh chấm dứt thì thời hậu chiến lấy đâu ra người để xây dựng lại quê hương. Do đó Giáo Sư Khoa chọn chương trình giáo dục thiếu nhi theo đường hướng và sự suy nghĩ của riêng ông. Đấy là sự cần thiết của thời cuộc.

Tôi nhớ một câu hỏi khác được đặt ra như sự ảnh hưởng nào của nhạc Việt đối với dòng âm nhạc thế giới, cũng như lúc gần đây quốc gia Ukraine đã vinh danh Giáo Sư Khoa về sự đóng góp âm nhạc của ông cho nền nhạc dân tộc của nước này.

Âm nhạc nói chung vốn là phạm vi văn hóa thế giới, dòng nhạc thế giới có được là do sự đóng góp của các cá nhân hiện diện trên quả địa cầu, nói rộng hơn là do các quốc gia trên thế giới góp phần vào kho tàng âm nhạc chung của thế giới được phong phú, đa dạng hơn. Có lẽ ít ai nhận định công bình về việc nhạc Việt Nam của chúng ta có ảnh hưởng đối với dòng âm nhạc thế giới. Giáo Sư Khoa kêu gọi: Nào hãy ngẩng cao đầu nhìn đời và hãnh diện vì rằng Việt Nam đã có đóng góp rất lớn, thực tiễn trong việc giúp phát triển âm nhạc thế giới. Số là vì nhạc sĩ Claude Debussy (1862-1918) và nhạc sĩ Maurice Ravel (1875-1937) chịu ảnh hưởng nhạc Việt không ít để khai sinh ra trường phái nhạc Ấn Tượng (Impressionist) cho thế giới. Claude Debussy là một người có đầu óc khai phái đã bộc lộ từ khi còn là sinh viên trong Nhạc viện Paris.

Theo dòng tâm tình của giáo sư Lê Văn Khoa thì người Pháp sau khi chiếm toàn bộ nước Việt Nam đã chia xứ ta ra làm ba phần. Bắc (Tonkin), Trung (Annam), Nam (Cochinchine). Một đoàn hát Hò Quảng từ Huế được gửi đi trình diễn ở Hội chợ Paris năm 1889 đã làm say mê nhà soạn nhạc sung sức 27 tuổi, tên Claude Debussy, đến gần 20 năm sau vẫn còn in rõ trong trí để ông viết lại trên báo. Chắc chắn nhạc Việt đã ảnh hưởng ông không ít trong các tác phẩm đượm nhiều chất ngũ cung của ông. Giáo sư Lê Văn Khoa cho biết Tiến sĩ Nhạc Trưởng Gerard Schartz có nhắc đến sự kiện này nhưng lại cho là những nhạc sĩ đó là các gamelan Nam Dương. Lê Văn Khoa khẳng định không phải các gamelan Nam Dương, vì trong hội chợ đó có 4 vũ nữ Java và các gamelan Nam Dương nhưng Debussy không đề cập đến họ mà chỉ nói đến tuồng hát của người Annamites, người từ xứ Annam (miền Trung Việt Nam), theo tài liệu từ Life of Debussy của Roger Nichols trong bộ sách Musical Life’s do Cambridge University ấn hành năm 1998.

Trong bài viết « Claude Debussy – Nhà Soạn Nhạc Pháp Và Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam » của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tác giả viết về nhà soạn nhạc Claude Debussy và ảnh hưởng nhạc Ngũ cung Việt Nam, dựa vào năm cung bậc thang âm (pentatonic scale) gồm 5 cung chính là: Cung, Thương, Giốc, Chủy và Vũ. Tôi xin trích dẫn như sau:

« Sau đó ông soạn bản “Tứ tấu cho đàn dây”, rồi năm 1894 ra đời bản “Prélude à l’après midi d’un faune” mở đầu kỷ nguyên mới của âm nhạc hiện đại dựa trên giai điệu Đông Phương (Orientalism) mà mọi người đều ghi nhận như một hiện tượng biện chứng âm nhạc của thế kỷ 20 vừa qua. Tìm hiểu những động lực nào đã khiến Debussy chuyển hướng sáng tác độc đáo như vậy, đó là ở năm 1890 nhờ ông tham dự Hội chợ toàn cầu tại thủ đô Pháp (Exposition universelle de Paris) và được thưởng thức âm nhạc cổ truyền Việt Nam do giàn nhạc Đại Nội Triều Đình Huế sang đây trình tấu… Năm 1890 nói ở đây theo tài liệu sử sách ghi thì triều đình Huế được Pháp giao cho vua Đồng Khánh để có nhiệm vụ thi hành chính sách cai trị của họ mà chủ yếu lúc đó là công việc bình định đối phó với phong trào Cần Vương còn hoạt động chống Pháp . Nói chung tình hình đã tạm ổn định trên các xứ Đông Dương và bên chính quốc có tổ chức một Hội chợ Quốc Tế tại thủ đô Paris nhằm phô trương với thế giới những sản phẩm tiểu công nghệ địa phương. Nhân dịp này, vua Đồng Khánh được họ cho qua Pháp cùng với giàn nhạc đại nội trình tấu âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Nhà soạn nhạc nổi tiếng Debussy năm đó mới 28 tuổi đã được nghe những bản nhạc triều đường của chúng ta cùng với ban nhạc đảo JAVA thuộc Nam Dương quần đảo mang tính chất Á Đông lúc ấy rất mới lạ và độc đáo đối với thế giới.”

Trong cuốn “Tự điển âm nhạc hiện đại” (Dictionaire de la Musique Contemporaine) do nhà xuất bản Larousse của Pháp ấn hành năm 1976, khi viết về Debussy có đoạn ghi rõ ràng những chi tiết nêu trên, theo đó đã khẳng định động lực khiến ảnh hưởng mạnh mẽ đến chiều hướng sáng tác của ông trong việc khai phá âm nhạc Đông Phương để mở đầu cho trường phái Orientationism trong thế kỷ 20 vừa qua. Ngoài ra, trong cuốn sách mang tựa đề “Nhạc giao hưởng” (Symphonic music) do nhóm nghiên cứu trường Đại Học Cornell xuất bản cũng có nhận xét tương tự về những chất liệu sáng tác của Debussy đã chịu ảnh hưởng sâu xa sau khi ông được thưởng thức các bản nhạc do giàn nhạc triều đường Việt Nam cũng như Java trình tấu tại Hội chợ quốc tế Paris năm 1980 (nhà in đã in lộn 1890 thành 1980) ở cuối thế kỷ 19. Điều quan trọng ở đây là nội dung cuốn “Tự điển âm nhạc hiện đại” của nhà xuất bản Larousse ấn hành nói trên do Claude Rostand nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng thế giới phụ trách phần biên soạn, cho nên những nhận định của ông về Debussy mang tính vô tư đáng tin cậy và đem lại một dữ kiện tôn vinh âm nhạc cổ truyền Việt Nam mà ít người được biết đến. »

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trên nhật báo The Orange County Register sau buổi trình diễn đầu tiên với Pacific Symphony Institute Orchestra ở Orange County Performing Arts Center, ngày 3 tháng Sáu, 1995. (Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)

Về việc nhận định Lê Văn Khoa là ai, xin để người xứ ngoài thẩm định hay hơn ý kiến của người viết bài này. Tôi xin trích các nhận xét của giới âm nhạc rút ra vài trích đoạn từ sách « Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam » như sau:

Hai nhạc trưởng Andrew Wailes và Lê Văn Khoa điều khiển dàn nhạc The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra và ban Hợp Ca Cộng Ðồng Người Việt trong chương trình đánh dấu năm ly hương thứ 30 của người Việt (Australia 2005).

(Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)

Trả lời cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Quốc Gia Úc, Nhạc Trưởng nổi danh của Úc Đại Lợi là Andrew Wailes nhận định về Symphony Việt Nam 1975 của Lê Văn Khoa:

“Symphony Việt Nam 1975 là một tác phẩm rất lý thú. Ðây là một tác phẩm thật hay… Như những tác phẩm giao hưởng lớn trên thế giới, nó kể một câu chuyện thật đẹp. Ðây là nhạc về con người thật, về một quốc gia thật. Bắt đầu từ những bài dân nhạc diễn tả một quốc gia thanh bình, hào hùng, rồi bị cộng sản xâm chiếm. Nhạc chuyển lần sang âm thanh rất mới, diễn tả sự bất an, đầy bối rối. Người ta chia tay nhau ra đi đến đất nước mới để tìm tự do. Trong hành âm cuối “Ca Ngợi Tự Do”, nhạc dàn ra một bài hợp ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ, thật vĩ đại. Ðó là một tác phẩm rất hùng tráng, hiển nhiên những ai hiểu được lịch sử và văn hóa Việt Nam thì sẽ cảm nhận nó một cách sâu sắc hơn. Ðây là một sáng tác theo thể loại nhạc giao hưởng Tây phương bởi lẽ tác giả sử dụng cả dàn nhạc đại hòa tấu, sử dụng âm điệu và nhạc cụ Tây phương, nhưng lại có thêm cả âm nhạc dân tộc và nhạc cụ Việt Nam chơi chung với dàn nhạc. Tôi không biết gọi tên cho đúng nhạc cụ đó là nhạc cụ gì, đó là cây đàn một dây (độc huyền cầm, đàn bầu) của Việt Nam. Tác phẩm này hết sức hùng tráng và tôi tin chắc là mọi người sẽ thích lắm… Symphony Việt Nam 1975 là một tác phẩm lớn để thưởng thức… Ðiểm nhận xét đầu tiên của tôi là cái mà người Tây phương gọi là nhạc ngũ cung (pentatonic), dùng năm nốt nhạc trong một âm giai, khác với chúng tôi, chúng tôi thường dùng thất cung, bảy âm trong một âm giai. Do đó âm nhạc rất giống nhạc Nhật Bản. Trong tác phẩm này có những đoạn độc tấu rất hay, đặc biệt là sáo… là một loại nhạc của Á Châu. Có điểm rất độc đáo là âm nhạc Tây phương chúng tôi dùng bán cung. Trong nhạc phẩm này đàn violin của chúng tôi phải uốn âm thanh vào phân nửa của bán cung cho phù hợp với âm thanh độc đáo của nét nhạc dân tộc Việt Nam. Việc này thật khác thường. Tiết nhịp thì diễn tấu khá dễ dàng và hòa âm thì có nhiều hợp âm thứ. Nhạc rất hay, rất sắc xảo, tinh vi, có những đoạn thật mong manh, chúng tôi phải hết sức cẩn thận để không đàn quá mức vì sợ rằng phá vỡ không khí êm ả của nhạc… Như chúng tôi được biết thì trong lịch sử 150 năm của ban đại hòa tấu và hợp xướng Royal Melbourne Philharmonic thì đây là lần đầu tiên chúng tôi trình diễn âm nhạc Việt Nam đó là điểm thứ nhất, lần đầu tiên chúng tôi đi tiên phong trình diễn âm nhạc sáng tác tại Á Châu và chưa hề được nghe đến tại nước Úc này. Tôi biết là bản nhạc này đã được trình diễn đôi lần ở hải ngoại, và đây là một sự kiện mới mẻ cho chúng tôi. Ðây cũng là lần đầu tiên ban nhạc này được một nhạc sĩ Việt Nam điều khiển, lần đầu tiên chúng tôi cùng trình diễn với ban hợp xướng người Việt, và nói chính xác thì đây là lần đầu tiên chúng tôi đệm cho một ban hợp xướng đa văn hóa. Có nhiều điều làm cho buổi trình diễn này mang ý nghĩa đặc biệt với chúng tôi. Âm nhạc cũng rất khác biệt với loại nhạc mà chúng tôi thường trình diễn… Âm nhạc thực ra là sinh ngữ quốc tế duy nhất. Ðiều mà tôi thích vì tôi là một nhạc sĩ, thường qua Á Châu và Âu Châu, tôi không nói được tiếng Ðức, tiếng Nhật, nhưng tôi dùng tiếng nói của âm nhạc. Tôi thấy ý tưởng đem Ðông sang Tây hay Tây qua Ðông là ý tưởng rất hay, để tán tụng cái mà mọi người có thể có là âm nhạc, để chia sẻ tâm tình giữa các giống người trên địa cầu với nhau. Và tôi nghĩ văn hóa, nhạc, vũ là những thứ có thể đem con người đến gần nhau… Càng ngày người ta càng nghe nhiều nhạc Á Châu và Âu Châu được trình diễn tại đây (Úc), cho nên tôi nghĩ thật huyền diệu để các nhạc sĩ đến với nhau mà ca tụng âm nhạc…”

Nhạc sĩ độc tấu Violin, William Benner của dàn nhạc NBC Symphony Orchestra, Hoa Kỳ, nhận xét về nhạc phẩm của Lê Văn Khoa:

“Cả hai nhạc phẩm Nocturne for Violin and Piano và Romance for Violin and Orchestra của Lê Văn Khoa đều đạt mức xúc cảm tột đỉnh trong lòng người.”

Nhạc sĩ độc tấu Piano, Giáo Sư Andrea Bambace, (Concert Pianist, judge in major national and inter-national competitions and Professor of piano at the Conservatorio C. Moneverdi of Bolzano, Italy, since 1971), viết về tác phẩm Lê Văn Khoa soạn cho piano:

“’Beautiful Bamboo’ is very beautiful, very sweet, exotic for an Italian like me and full of sensuality. I like it.”

Với Tiến sĩ Âm nhạc Ứng dụng (Applied Music) Vicki Riley, người Mỹ, sau khi nghe CD nhạc Lê Văn Khoa cho nhận xét:

“Thật tuyệt! Trong các CD của Lê Văn Khoa tôi nghĩ Memories là hay nhất. Lối viết Tây Phương kết hợp với giai điệu ngũ cung thật hài hòa. Âm thanh trữ tình, tươi mát và luôn luôn thú vị. Các nhạc sĩ Ukraine diễn tả rất đạt và đàn với tài nghệ tuyệt vời. Họ thật sự đã làm nổi bật những ấn tượng và tính chất đam mê của bài nhạc.”

Còn Nhạc sĩ Cynthia Acosta nhận xét:

Xin xem tiếp trong link sau…

Lê Văn Khoa: Một Người Việt Nam, Việt Hải Los Angeles:
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-LeVanKhoa-MotNguoiVietNam.h…

levankhoa1

levankhoa2.jpg

levankhoa3.jpg

levankhoa4.jpg

levankhoa5

levankhoa6.jpg

levankhoa7.jpg

levankhoa8.jpg

levankhoa9

levanhoa10.jpg

levankhoa11

 

PHẦN 2 – HÌNH ẢNH CỔ XƯA HIẾM HOI VIỆT NAM NĂM 1850-1950

PHẦN 2 – HÌNH ẢNH CỔ XƯA HIẾM HOI VIỆT NAM NĂM 1850-1950

Ajoutée le 5 nov. 2017

Thời Pháp thì Miền Bắc (Tonkin) và Trung kỳ (Annam) nhiều ảnh đẹp hơn Nam kỳ (Cochinchine), do mình người Miền Nam nên ưu tiên post ảnh Miền Nam nhiều hơn (và cũng do Miền Trung, Miền Bắc chưa biết nhiều), hậu sinh không lạm bàn chính trị, chỉ muốn chia sẻ để biết một thời tiền nhân sống ra sao. Máy chụp ảnh đã có từ 1826 tại Pháp, vì vậy các thuộc địa ở Đông Dương có ảnh từ rất sớm và có mặt trong những thước phim đầu tiên nữa. Ảnh trong album trải dài khắp cả nước, được mình tổng hợp từ nhiều nguồn trong thời gian từ 2005 đến nay, đa số từ các kho lưu trữ của Pháp – tài liệu xưa và các bác lớn tuổi có chất lượng còn khá tốt, số lượng lớn tới vài ngàn tấm, sẽ chọn lọc post từ từ ……….. * Nguồn: Flickr, Corbis, Pinterest, belleindochine, alamy, akpool … Thời kỳ Pháp thuộc (9-1858 ÷ 3-1945)[sửa | sửa mã nguồn] 1858 ngày 1-9, mở đầu cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân khi hạm đội Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tiến công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). – Pháp xâm lược ba tỉnh miền Tây Nam kỳ. 1859 ngày 17-2 Pháp đánh chiếm tỉnh, thành Gia Định. 1861 ngày 10-12 Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu chiến Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông tại địa phận thôn Nhật Tảo. 1861 ÷ 1864 Khởi nghĩa chống Pháp của Trương Định. 1862 ngày 5-6 Triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất cắt 3 tỉnh miền Đông lục tỉnh là Gia Định, Định Tường, Biên Hòa cho Pháp. 1864 ÷ 1865 Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Trương Quyền, Thiên hộ Dương, Hồ Huân Nghiệp. 1866 ngày 16-9 Khởi nghĩa của Đoàn Hữu Trưng – Đoàn Trực chống triều đình Tự Đức (nhà Nguyễn). 1867 ÷ 1874 Pháp tiếp tục xâm lấn ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, tiến tới chiếm đóng toàn bộ Nam kỳ. 1867 ngày 20-6 Pháp đơn phương ra tuyên bố 6 tỉnh Nam kỳ là lãnh địa của Pháp. 1868 Khởi nghĩa chống Pháp của Thủ khoa Huân, Phan Công Tôn. 1872 Khởi nghĩa chống Pháp của 18 thôn vườn trầu và ở 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. 1873 ÷ 1874 Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất. ngày 20-11 Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất. Ngày 10.12.1873 Pháp đánh thành Nam Định lần thứ nhất. Hà Nội và Nam Định là hai tỉnh thành quan trọng nhất lúc đó ở Bác Kỳ 1874 tháng 2 Khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai chống triều đình Huế thỏa hiệp với giặc Pháp. Khởi nghĩa Văn thân Nghệ Tĩnh. ngày 15-3 Triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Tuất với Pháp, chấp nhận chủ quyền của Pháp đối với tỉnh Bình Thuận trở vào (toàn bộ Nam kỳ) để Pháp rút khỏi Bắc kỳ. ngày 31-8 Triều đình Huế ký Hiệp ước thương mại với Pháp tại Sài Gòn. 1882 ÷ 1883 Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai, hoàn thành xâm lược Bắc kỳ. ngày 25-4 Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Ngày 26.3.1883 Pháp đánh thành Nam Định lần thứ 2. 1883 ngày 12-3 Pháp đánh chiếm khu mỏ than Hòn Gai. 20-8 Pháp đánh chiếm Thuận An, uy hiếp triều đình Huế. ngày 25-8 Triều đình ký Hiệp ước Hác-măng với Pháp tại Huế thừa nhận Bắc kỳ là thuộc địa của Pháp và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Trung kỳ. 1883 ÷ 1887 Khởi nghĩa chống Pháp của Tạ Hiện ở Bắc Kỳ. 1884 ngày 6-6 Triều đình ký hiệp ước Pa-tơ-nốt với Pháp tại Huế chấp nhận nền bảo hộ của Pháp và sẽ thay mặt nước An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại. 1885 ngày 5-7 Sự biến kinh thành Huế. – Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn tấn công Pháp ở đồn Mang Cá. ngày 13-7 Vua Hàm Nghi rời kinh thành Huế và hạ Chiếu cần Vương phát động phong trào chống Pháp. 1885 ÷ 1898 Phong trào Cần Vương. Miền Trung: có các cuộc khởi nghĩa của vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Xuân Ôn, Tống Duy Tân, Trần Xuân Soạn, Đinh Công Tráng,… Miền Bắc: có các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Ngô Quang Bích, Đốc Ngữ,… 1888 Vua Hàm Nghi bị bắt đi lưu đày. 1892 Chiến thắng Yên Lãng (Hòa Bình) của nghĩa quân Đốc Ngữ. 1895 Chiến thắng Vụ Quang của nghĩa quân Phan Đình Phùng. 1885 ÷ 1913 Khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám. 1894 Chiến thắng Hữu Nhuế (tức Hồ Chuối) của nghĩa quân Yên Thế. 1887 Pháp thành lập Liên bang Đông Dương và đặt chế độ toàn quyền Đông Dương. 1890 Ngày sinh Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành, về sau là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh.

Hình Ảnh Cổ Xưa Hiếm Hoi Việt Nam Những Năm 1850-1950 (Phần 1)

Hình Ảnh Cổ Xưa Hiếm Hoi Việt Nam Những Năm 1850-1950 (Phần 1)

Published on Jan 21, 2017

SUBSCRIBE 2.3K
Thời Pháp thì Miền Bắc (Tonkin) và Trung kỳ (Annam) nhiều ảnh đẹp hơn Nam kỳ (Cochinchine), do mình người Miền Nam nên ưu tiên post ảnh Miền Nam nhiều hơn (và cũng do Miền Trung, Miền Bắc chưa biết nhiều), hậu sinh không lạm bàn chính trị, chỉ muốn chia sẻ để biết một thời tiền nhân sống ra sao. Máy chụp ảnh đã có từ 1826 tại Pháp, vì vậy các thuộc địa ở Đông Dương có ảnh từ rất sớm và có mặt trong những thước phim đầu tiên nữa. Ảnh trong album trải dài khắp cả nước, được mình tổng hợp từ nhiều nguồn trong thời gian từ 2005 đến nay, đa số từ các kho lưu trữ của Pháp – tài liệu xưa và các bác lớn tuổi có chất lượng còn khá tốt, số lượng lớn tới vài ngàn tấm, sẽ chọn lọc post từ từ ……….. * Nguồn: Flickr, Corbis, Pinterest, belleindochine, alamy, akpool … Thời kỳ Pháp thuộc (9-1858 ÷ 3-1945)[sửa | sửa mã nguồn] 1858 ngày 1-9, mở đầu cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân khi hạm đội Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tiến công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). – Pháp xâm lược ba tỉnh miền Tây Nam kỳ. 1859 ngày 17-2 Pháp đánh chiếm tỉnh, thành Gia Định. 1861 ngày 10-12 Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu chiến Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông tại địa phận thôn Nhật Tảo. 1861 ÷ 1864 Khởi nghĩa chống Pháp của Trương Định. 1862 ngày 5-6 Triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất cắt 3 tỉnh miền Đông lục tỉnh là Gia Định, Định Tường, Biên Hòa cho Pháp. 1864 ÷ 1865 Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Trương Quyền, Thiên hộ Dương, Hồ Huân Nghiệp. 1866 ngày 16-9 Khởi nghĩa của Đoàn Hữu Trưng – Đoàn Trực chống triều đình Tự Đức (nhà Nguyễn). 1867 ÷ 1874 Pháp tiếp tục xâm lấn ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, tiến tới chiếm đóng toàn bộ Nam kỳ. 1867 ngày 20-6 Pháp đơn phương ra tuyên bố 6 tỉnh Nam kỳ là lãnh địa của Pháp. 1868 Khởi nghĩa chống Pháp của Thủ khoa Huân, Phan Công Tôn. 1872 Khởi nghĩa chống Pháp của 18 thôn vườn trầu và ở 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. 1873 ÷ 1874 Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất. ngày 20-11 Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất. Ngày 10.12.1873 Pháp đánh thành Nam Định lần thứ nhất. Hà Nội và Nam Định là hai tỉnh thành quan trọng nhất lúc đó ở Bác Kỳ 1874 tháng 2 Khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai chống triều đình Huế thỏa hiệp với giặc Pháp. Khởi nghĩa Văn thân Nghệ Tĩnh. ngày 15-3 Triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Tuất với Pháp, chấp nhận chủ quyền của Pháp đối với tỉnh Bình Thuận trở vào (toàn bộ Nam kỳ) để Pháp rút khỏi Bắc kỳ. ngày 31-8 Triều đình Huế ký Hiệp ước thương mại với Pháp tại Sài Gòn. 1882 ÷ 1883 Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai, hoàn thành xâm lược Bắc kỳ. ngày 25-4 Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Ngày 26.3.1883 Pháp đánh thành Nam Định lần thứ 2. 1883 ngày 12-3 Pháp đánh chiếm khu mỏ than Hòn Gai. 20-8 Pháp đánh chiếm Thuận An, uy hiếp triều đình Huế. ngày 25-8 Triều đình ký Hiệp ước Hác-măng với Pháp tại Huế thừa nhận Bắc kỳ là thuộc địa của Pháp và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Trung kỳ. 1883 ÷ 1887 Khởi nghĩa chống Pháp của Tạ Hiện ở Bắc Kỳ. 1884 ngày 6-6 Triều đình ký hiệp ước Pa-tơ-nốt với Pháp tại Huế chấp nhận nền bảo hộ của Pháp và sẽ thay mặt nước An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại. 1885 ngày 5-7 Sự biến kinh thành Huế. – Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn tấn công Pháp ở đồn Mang Cá. ngày 13-7 Vua Hàm Nghi rời kinh thành Huế và hạ Chiếu cần Vương phát động phong trào chống Pháp. 1885 ÷ 1898 Phong trào Cần Vương. Miền Trung: có các cuộc khởi nghĩa của vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Xuân Ôn, Tống Duy Tân, Trần Xuân Soạn, Đinh Công Tráng,… Miền Bắc: có các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Ngô Quang Bích, Đốc Ngữ,… 1888 Vua Hàm Nghi bị bắt đi lưu đày. 1892 Chiến thắng Yên Lãng (Hòa Bình) của nghĩa quân Đốc Ngữ. 1895 Chiến thắng Vụ Quang của nghĩa quân Phan Đình Phùng. 1885 ÷ 1913 Khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám. 1894 Chiến thắng Hữu Nhuế (tức Hồ Chuối) của nghĩa quân Yên Thế. 1887 Pháp thành lập Liên bang Đông Dương và đặt chế độ toàn quyền Đông Dương. 1890 Ngày sinh Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành, về sau là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh.