Mois : janvier 2018

Nhạc cụ cổ truyền Việt Nam với nhạc sĩ Xuân Tiên

Nhạc cụ cổ truyền Việt Nam

Published on Jan 26, 2017

« Experts » demonstrate Vietnamese traditional instruments with the special guest- the 96-years-old musician Xuan Tien, (nhạc sĩ Xuân Tiên) who masters both many western music instruments and traditional music instruments. Xuan Tien is the composer of the well-known «  »Tình Bắc Duyên Nam » (Northern love and Southern Charm ?)

Linh San : Soi khác biệt giữa Sài Gòn – Hà Nội qua tranh

Soi khác biệt giữa Sài Gòn – Hà Nội qua tranh

(iHay) Có thể thấy được những hình ảnh ấn tượng, cô đọng và hài hước khi “soi” Sài Gòn và Hà Nội qua cùng một lăng kính.

 

Một bộ ảnh đồ họa có tựa đề The Difference Between Hanoi and Saigon (tạm dịch: Sự khác biệt giữa Hà Nội và Sài Gòn) của tác giả Lê Duy Nhất đang rất được lòng cư dân mạng khi mô tả nét khác biệt giữa Hà Nội và Sài Gòn bằng một cách thể hiện ấn tượng.

Thanh Niên Online giới thiệu cùng bạn đọc bộ ảnh The Difference Between Hanoi and Saigon của chàng trai 27 tuổi này (phần chú thích thể hiện quan điểm riêng của tác giả bộ ảnh):

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 4 Trên đường phố Hà Nội có nhiều gánh hàng rong. Trên đường phố Sài Gòn có nhiều xe đẩy bán hàng rong

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 5 Ở Hà Nội có nhiều gánh hàng hoa, xe đạp chở hoa bán rong. Sài Gòn dường như không có hình ảnh này. Người Sài Gòn thường mua trong các tiệm hoa tươi

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 6 Mâm ngũ quả bày lên bàn thờ trong những ngày Tết Nguyên đán của người Hà Nội và người Sài Gòn cũng rất khác nhau

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 7 Tết đến, xuân về, Hà Nội có hoa đào, Sài Gòn có hoa mai

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 8 Người Hà Nội có “thú” ăn phở trong các quán vỉa hè, bên lề đường, trong ngõ phố cổ. Người Sài Gòn thường thưởng thức phở trong tiệm ăn, nhà hàng

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 9 Hình ảnh bữa sáng ở Hà Nội gắn liền với tô phở nóng hổi, ở Sài Gòn gắn liền với ly cà phê

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 10 Trong bữa cơm, các gia đình ở Hà Nội thường có “phép tắc” mời cơm. Ở Sài Gòn, điều này không mấy phổ biến

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 11 Hà Nội có bún chả. Sài Gòn có cơm tấm

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 12 Người Sài Gòn ăn ngọt và cay hơn người Hà Nội

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 13 Người Hà Nội thích uống trà nóng. Người Sài Gòn thích uống cà phê đá

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 14 Ở Hà Nội, địa điểm lý tưởng để “buôn chuyện” là những quán trà đá, trà chanh vỉa hè. Ở Sài Gòn, địa điểm lý tưởng để “tám chuyện” là những quán cà phê bệt

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 15 Người Hà Nội thường tiếp khách bằng trà. Người Sài Gòn thường tiếp khách bằng nước suối, nước ngọt

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 16 Những cơn mưa ở Hà Nội có thể kéo dài dầm dề. Mưa ở Sài Gòn đến nhanh và tạnh nhanh

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 17 Có vẻ như văn hóa công việc “cấp trên, cấp dưới” giữa Hà Nội và Sài Gòn cũng có rất nhiều điều khác biệt

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 18 Giọng nói chắc chắn là điểm khác biệt đặc trưng nhất giữa người Hà Nội và người Sài Gòn

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 19 Trong văn hóa ứng xử, dường như người Hà Nội thiên về sự khéo léo, văn hoa trong lời ăn tiếng nói. Trong khi đó, người Sài Gòn đề cao sự thẳng thắn, không vòng vo

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 20 Ngay cả chiếc “mũ đồng phục” của cảnh sát giao thông ở Hà Nội và Sài Gòn cũng có kiểu dáng rất khác nhau

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 21 Cỗ cưới ở Hà Nội thường ăn buổi trưa. Tiệc cưới ở Sài Gòn thường ăn buổi tối

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 22 Đàn ông Hà Nội thường đi nhậu sau lúc tan sở, xế chiều, xẩm tối và cố gắng về nhà trước khi quá khuya. Đàn ông Sài Gòn có thể nhậu thâu đêm suốt sáng

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 23 Người Hà Nội có vẻ thức dậy sớm hơn người Sài Gòn

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 24 Ở Hà Nội thông dụng loại taxi 4 chỗ. Ở Sài Gòn, taxi 7 chỗ lại thông dụng hơn

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 25 Khái niệm “xe đẹp hay xe xấu” ở Sài Gòn không mấy phổ biến như ở Hà Nội

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 26 Phong cách ăn mặc ở Hà Nội theo quy chuẩn hơn. Ở Sài Gòn thoải mái hơn

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 27 Hà Nội có nhiều hồ lớn trong nội thành hơn Sài Gòn

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 28 Một điểm tương đồng giữa Hà Nội và Sài Gòn đó là tắc đường

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 29 Nhịp sống của Sài Gòn có vẻ hối hả hơn Hà Nội

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 30  Những đồ vật khiến người Hà Nội và người Sài Gòn hoài cổ cũng rất khác nhau

So sánh tếu táo giữa Hà Nội và Sài Gòn 31 Theo như Lê Duy Nhất thì khi đã yêu Hà Nội, Sài Gòn hay một thành phố nào khác, có lẽ sẽ không mấy khó khăn để vượt qua rào cản văn hóa, thích nghi và hòa nhập với môi trường sống, người dân của thành phố đó

Lê Duy Nhất quê Thanh Hóa, đã chuyển vào sống và làm việc tại Sài Gòn hơn 10 năm. Ý tưởng thực hiện bộ ảnh đồ họa The Difference Between Hanoi and Saigon nhen nhóm trong đầu chàng trai 27 tuổi này sau khi tham gia một cuộc thi thiết kế đồ họa liên quan đến hình ảnh và văn hóa Việt Nam.Duy Nhất chia sẻ rằng bản thân anh gặp không ít khó khăn khi lựa chọn ra những nét khác biệt “dễ thương” để đưa vào bộ ảnh: “Trước đây đã có nhiều bài so sánh Hà Nội và Sài Gòn theo cả hướng tiêu cực và tích cực. Mình thì chỉ mong muốn giới thiệu cuộc sống hai miền, không hề có ý định khen chê miền nào cả”.

Lý giải về quyết định viết chú thích ảnh bằng tiếng Anh, Duy Nhất chia sẻ: “Mình chọn ngôn ngữ này bởi nó có vẻ xúc tích, cô đọng hơn. Vừa có thể giới thiệu về văn hóa Hà Nội, Sài Gòn hay cả Việt Nam với bạn bè quốc tế và cũng để “né” những từ ngữ tạo cảm giác phân biệt vùng miền”.

Linh San
Ảnh: Nhân vật cung cấp

https://ihay.thanhnien.vn/mang/nong/soi-khac-biet-giua-sai-gon-ha-noi-qua-tranh-31461.html

Linh San: Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam

(iHay) Cách sử dụng từ ngữ giữa hai miền Bắc – Nam có vô số điều khác biệt thú vị. Những điểm khác biệt này góp phần làm tiếng Việt thêm phong phú, và tạo ra sự thích thú khám phá cho những người Bắc vào Nam, hay người Nam ra Bắc sinh sống, làm việc, du lịch…

>> 9 nét khác biệt thú vị giữa con gái Hà Nội và Sài Gòn

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 1 Nam gọi ba, Bắc gọi bố

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 2  Bắc than gầy thì Nam bảo ốm

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 3 Bắc cáo ốm, Nam khai bệnh

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 4 Bắc bảo muộn thì Nam cho là trễ

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 5 Bắc nói úi chà, Nam kêu ui da

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 6 Bắc bước vào kia, Nam đi vô trỏng

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 7 Nam bảo vui ghê, Bắc nói buồn cười

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 8 Bắc chỉ thế thôi, Nam là vậy đó

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 9 Nam chỉ có dạ, Bắc dạ, rồi vâng, lại có cả ạ

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 10 Nam kêu xe hơi, Bắc gọi ô tô

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 11 Nam xài dù, thì Bắc lại che ô

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 12  Nam nói giá 5 ngàn, Bắc nói giá 5 nghìn

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 13 Nam kêu mắc, Bắc chê đắt

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 14 Nam kêu hái bắp, Bắc bảo vặt ngô

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 15 Nam nói mập ghê, Bắc bảo béo thế

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 16 Bắc đắp chăn, Nam đắp mền

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 17 Bắc vắt quất, Nam vắt tắc

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 18 Cơm Bắc trộn ruốc, cơm Nam có chà bông

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 19 Nam kêu muốn ói, Bắc bảo buồn nôn

Khác biệt thú vị trong ngôn ngữ 2 miền Bắc – Nam - ảnh 20 Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke

Nội dung: Linh San
Đồ họa: Sam Nguyen

https://ihay.thanhnien.vn/mang/share-di-bro/khac-biet-thu-vi-trong-ngon-ngu-2-mien-bac-nam-12712.html

>> Ngất ngây với clip 3D kể lại chuyện tình nam bắc lãng mạn

Soạn giả Nguyễn Phương: Vĩnh biệt danh hài Văn Chung

Vĩnh biệt danh hài Văn Chung
( 21 / 9 / 1927 – 22 / 01 / 2018. )

danh hai Van Chung sinh nhat 89 tuoi.jpg

danh hai Van Chung va Vo Ba Lan.jpg

 

Tôi vô cùng xúc động khi được tin danh hài Văn Chung mất vì bệnh tim tại bệnh viện UCI Orange, tiểu bang California, Hoa Kỳ hưởng thọ 91 tuổi, lúc 23 giờ ngày 22 / 01 / 2018.
Danh hài Văn Chung tên thật là Quách Văn Chung, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1927 tại Saigòn.
Tôi ( soạn giả Nguyễn Phương ) quen biết danh ca Văn Chung từ năm 1948 khi anh học ca với nhạc sĩ cổ nhạc Bảy Quới, nhà ở gần Kho đạn cuối đường Richaud ( tức đường Phan Đình Phùng, sau đổi lại là đường Nguyễn Đình Chiểu) Anh Văn Chung được nhạc sĩ Bảy Quới giới thiệu ca vọng cổ trong Ban Việt Nam Cổ Nhạc do danh ca Tám Thưa làm Trưởng Ban ở Đài Phát Thanh Pháp – Á.
Danh ca Văn Chung có giọng ca trong vắt, hơi rông, luyến láy rất mùi. Văn Chung và nữ danh ca Thanh Hương là cặp đôi ca sĩ được thính giả Đài Pháp Á thích nhất.
Năm 1952, nghệ sĩ Văn Chung thành hôn với nữ nghệ sĩ Thanh Hương, ái nữ của nghệ sĩ Tiền phong Năm Châu và đệ nhất nữ danh ca Tư Sạng. Văn Chung và Thanh Hương được các hãng dĩa Pathé, Asia, Hoành Sơn mời thu thanh nhiều bộ dĩa tuồng và vọng cổ. Nữ danh ca Thanh Hương nổi tiếng với dĩa vọng cổ Cô Bán Đèn
Hoa Giấy của hãng dĩa Asia. Nữ danh ca Thanh Hương còn được thính giả ưa thích qua các bộ dĩa vọng cổ Tìm con, Áo vá người vợ hiền, Gương vỡ lại lành, Tâm sự Bàng Phi, Viếng mộ cố nhân… Văn Chung nổi danh qua bộ dĩa Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà của hãng dĩa Pathé.
Vợ chồng đôi nghệ sĩ Văn Chung – Thanh Hương được ông bầu Năm Châu thu nhận làm diễn viên đoàn hát Việt Kịch Năm Châu. Văn Chung và Thanh Hương đóng các vai trong tuồng Người Mât Cháy, Chiếc Ngai Cuối Mùa, Đôi cánh hạc vàng của soạn giả Nguyễn Phương ; và hát những vai kép trẻ, đào ca trong tuồng
Tình Ghen Vương Giả, Miếng Thịt Người, Gió Ngược Chiều, Hàm Lệ Thái Tử nước Đan Mạch của soạn giả Nguyễn Thành Châu.
Năm 1955, khi Nguyễn Phương rời đoàn Việt Kịch Năm Châu, cộng tác cùng đoàn Thanh Minh – Bầu Nghĩa, Văn Chung và Thanh Hương cũng được bầu Nghĩa mời ký contrat hát cho Thanh Minh. Tại đoàn hát này, Văn Chung và Thanh Hương hát tuồng Biên Thùy Nổi Sóng, Lửa Hờn, Thạch Sanh Lý Thông của Nguyễn Phương,
tuồng Đồ Bàn Di Hận của soạn giả Lê Khanh và tuồng Tình Tráng Sĩ của soạn giả Mộc Linh.
Năm 1957, khi bộ tứ chủ nhơn của gánh hát Kim Thanh – Út Trà Ôn giải tán đoàn Kim Thanh, cô Kim Chưởng, một trong bốn ông bà bầu, tách ra lập gánh hát Kim Chưởng – Thanh Hương. Cặp nghệ sĩ Thanh Hương và Văn Chung ký hợp đồng hát cho đoàn Kim Chưởng – Thanh Hương. Nữ nghệ sĩ Thanh Hương nổi danh trong vai Kiều Mộng Liên và Văn Chung vai người tình của Kiều Mộng Liên, trong tuồng Nhặt Cánh Mai Vàng của soạn giả Thu An.
Năm 1958, Thanh Hương sanh đứa con gái đầu lòng, đặt tên là Quách Thanh Thủy.
Năm 1960, Văn Chung và Thanh Hương rời đoàn Kim Chưởng – Thanh Hương, tách ra lập gánh hát Thanh Hương – Văn Chung.
Năm 1960, khi hát ở Hậu Giang tuồng Nó là Con Tôi của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng, nam nghệ sĩ Hùng Minh đóng cặp với nữ nghệ sĩ Thanh Hương, đưa đến việc gia đình của Thanh Hương và Văn Chung gãy đổ.
Nữ nghệ sĩ Thanh Hương đem con gái Quách Thanh Thủy về Saigòn gởi cho cô Ba ( chị của ông Năm Châu) nuôi, đoàn hát Thanh Hương – Văn Chung rã.
Nghệ sĩ Văn Chung về Saigon ở một thời gian, không cộng tác với đoàn hát hay Ban Cổ nhạc Đài Phát Thanh Saigon. Anh phải mất hết vài năm mới ổn định được tinh thần. Đến năm 1969, Văn Chung gia nhập đoàn hát Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân. Lúc này Nguyễn Phương cũng vừa gia nhập đoàn hát Dạ Lý Hương.
Đoàn hát Dạ Lý Hương có hai kép danh ca trẻ : Hùng Cường và Dũng Thanh Lâm, lúc đó Đoàn DLH sắp tập tuồng Tiền Rừng Bạc Biển của tôi. Tôi mời Văn Chung đến nhà, đề nghị anh Văn Chung chuyển qua diễn vai hề ca, Vì trong đoàn có hai danh ca trẻ đang lên, Văn Chung dù hơi ca cũng còn hấp dẫn nhưng không bì được với nét đẹp trai của Hùng Cường và Dũng Thanh Lâm, Văn Chung phải chọn một lối ca diễn khác hơn để có thể đứng chung sân khấu ca với Hùng Cường và Dũng Thanh Lâm.
Để hướng Văn Chung qua lối diễn hài, tôi đọc cho Văn Chung nghe những lớp diễn hài mà anh sẽ thủ vai trong tuồng Tiền Rừng Bạc BIển của tôi và giải thích những « pha chọc cười » trong các lớp tuồng đó.

2

Trong tuồng, Văn Chung đóng vai bạn của Hùng Cường nhưng lại tranh người yêu của HC là Bạch Tuyết.
Văn Chung cầm một đóa hoa hồng, quỳ một chân dâng hoa cho Bạch Tuyết và ngâm hai câu thơ :
Tặng em một đóa hoa hồng,
Để anh bày tỏ nỗi lòng của anh.
Tôi dặn Hùng Cường khi Văn Chung ngâm hai câu thơ đó, đến chỗ « Để anh bày tỏ nỗi lòng….thì Hùng Cường xen vô nói thật lớn : Be he….câu thơ đó trở thành : Để anh bày tỏ nỗi lòng Be He….
Khi nghe Hùng Cường nối câu thơ bằng hai tiếng Be He như tiếng dê kêu, Văn Chung giả giựt mình, nhảy dựng lên, té một cái rầm, anh ta đứng lên, bụm lổ mũi bị chảy máu( máu giả do miếng bông gòn thấm sẳn mực đỏ, để dưới đất nơi Văn Chung té, VC úp bông gòn đỏ vô mũi) khán giả cười rộ lên. Từ đó khi hát, Văn Chung đều có tiếng cười dê chào khán giả hay khi nói chuyện với đào và anh hay té trong khi diễn với đào, anh nổi danh Hề dê và hề té.
Văn Chung hát rất nhiều tuồng của tôi trong đoàn Dạ Lý Hương. Anh cũng đóng nhiều vai quan trọng trong phim của tôi sáng tác : Phim Lệnh Bà Xã ( hãng Mỹ Ảnh) phim Triệu Phú Bất Đắc Dĩ ( hãng Mỹ Vân) Phim Chàng NGốc Gặp Hên ( hãng Trùng Dương ) Phim Con Ma Nhà Họ Hứa ( hãng Dạ Lý Hương).
Năm 1969, Văn Chung kết hôn với cô Lan, con gái của doanh nhân chủ hãng nhập cảng võ xe hơi Võ Bình Tây trên đường Trần Hương Đạo, ( gần Bazar Hồng Hoa.) đối diện xéo với rạp hát Nguyễn Văn Hảo. Cuộc tình muộn nhưng chung thủy và mặn nồng kéo dài hơn bốn mươi năm qua, vẫn đầm ấm như thuở ban đầu mới
gặp nhau.
Vợ chồng danh hài Văn Chung định cư tại Westminster từ năm 1992, Văn Chung đã diễn nhiều show ở khu Phước Lộc Thọ, đã được Trung Tâm Thúy Nga, Trung Tâm Asia mời thu nhiều show và anh đã lưu diễn trong các Đại nhạc hội ở Pháp, Toronto, Montréal, ở các tiểu ban Hoa Kỳ.
Nữ nghệ sĩ Phượng Liên cho biết : « Sống ở Mỹ gần 30 năm, anh bảy Văn Chung luôn là tấm gương hành nghề rất nghiêm túc cho thế hệ nghệ sĩ noi theo. Anh không chỉ có uy tín với giới nghệ sĩ Cải Lương mà cả trong lãnh vực ca nhạc, điện ảnh. Dù sức khoẻ không còn như trước nhưng anh vẫn nhiệt tình tham gia ca diễn cùng chúng tôi khi có lời mời. Có nhiều đêm, anh không nhận tiền thù lao để chung góp làm từ thiện.»
Nghệ sĩ Tuấn Châu nói : « Nghệ sĩ lão thành Văn Chung là bậc thầy đáng kính. Ông hết lòng khuyên răn, chỉ bảo, giúp đở nghệ sĩ trẻ trên sân khấu. Ông được xem là một trong những nghệ sĩ hài tiền phong của sân khấu cải lương. Ông để lại nhiều ấn tượng đẹp qua các vai diễn tuồng Tuyệt Tình Ca, Tiền Rừng Bạc Biển, Gái Bán
Bar, Thảm Kịch Tuổi Xanh…»
Cách đây 12 năm, nghệ sĩ Văn Chung bị bịnh tim nặng, các bác sĩ trong một bệnh viện ở Mỹ đã làm phẩu thuật, đặt một thiết bị hổ trợ tim bằng kim loại. Các bạn gọi đùa là Văn Chung có trái tim thép. Nhân dịp này, tôi gởi anh bốn câu thơ :
Văn Chung hề Té lại hề Cười
Vừa Té vừa Dê, ấy mới vui
Đừng để hết pin, cười không nổi
Dầu tim bằng thép, vẫn yêu đời!
Văn Chung đến nơi nào cũng mang đến nụ cười. Anh được nghệ sĩ cải lương đàn em ở Hoa Kỳ thương mến.
Mỗi năm, rất nhiều bạn trẻ đến chúc mừng sinh nhật của Văn Chung, ngay khi được tin anh vô bệnh viện cấp cứu, số nghệ sĩ đến thăm hỏi, theo dõi bệnh tình của anh thật là đông, chắc chắn anh thấy ấm lòng khi phải xa rời các bạn, xa ròi cuộc sống. Đó là quy luật Sinh, Lão, Bệnh, Tử; không ai tránh khỏi.
Cuộc đời nghệ thuật của danh hài Văn Chung gắn bó xít xao với hoạt động sân khấu và phim ảnh của Nguyễn Phương trong những năm trước 1975. Tôi sáng tác bất cứ tuồng hát nào cho đoàn Thanh Minh, đoàn Dạ Lý Hương, khi có Văn Chung cộng tác với đoàn đó là tôi có đo ni đóng giày cho anh một vai tuồng quan trọng.
Anh đã đáp ứng tình cảm của tôi bằng cách anh hát vai đó thật hay, thật vui, góp thêm nhiều sáng tạo giúp cho nhân vật đó có sức sống và thật sự hấp dẫn.
Khi Nguyễn Phương và Văn Chung định cư ở Canada và Hoa Kỳ, do cách trở muôn trùng, chúng tôi không có dịp hợp tác nhau về nghệ thuật sân khấu như ngày xưa nhưng tình cảm anh em vẫn đậm đà tha thiết.

3

Được tin anh Quách Văn Chung, nghệ sĩ Văn Chung, pháp danh Minh Thủy, mất vào lúc 02 giờ 07 phút ngày 23 / 01 / 2018. nhằm ngày 07 tháng chạp năm Đinh Dậu tại bệnh viện UCI. Linh cửu được quàn tại Peek Funeral Home. Phòng số 4, 7801 Bolsa Ave Westminster CA. 92683.
Nguyễn Phương thắp nến nhang tưởng niệm, câu chúc hương linh anh Văn Chung sớm tiêu diêu miền Cực lạc.
Nguyễn Phương xin chia buồn cùng chị Ba Lan ( bạn đời chung thủy của anh Văn Chung) và gia đình các cháu.
Xin chia buồn với gia đình cháu Quách Thanh Thủy( nữ nghệ sĩ Hương Chung Thủy).
Montréal – Canada.
Soạn giả Nguyễn Phương 2018.

Nguyễn Cao Trường : GOM GÓP TỪ NGỮ MIỀN NAM – SÀI GÒN XƯA. PHẦN 1.

GOM GÓP TỪ NGỮ MIỀN NAM – SÀI GÒN XƯA. PHẦN 1.
Giọng nói, sự pha trộn của ngôn ngữ miền Bắc di cư vào những năm 1950 hòa cùng ngôn ngữ Saigon, miền Tây đã tạo nên thêm một phong cách, giai điệu mới … , hình ảnh cô gái chạy xe chậm rãi tỏ ra bất cần mấy anh chàng theo sau năn nỉ làm quen không biết đã bao nhiêu lần làm bâng khuâng xao xuyến lòng người nghe. Nhất là cái giọng người Bắc khi vào Nam đã thay đổi nó nhẹ nhàng, ngang ngang như giọng miền Nam thì tiếng lóng miền Nam càng phát triển. Dễ nghe thấy, người Bắc nhập cư nói từ « Xạo ke » dễ hơn là nói « Ba xạo », chính điều dó đã làm tăng thêm một số từ mới phù hợp với chất giọng hơn. Chất giọng đó rất dễ nhận diện qua những MC như Nam Lộc, Nguyễn Ngọc Ngạn mà các Anh Chị đã từng nghe trên các Video chương trình Ca nhạc, kể chuyện, ….
Đặc biệt trong dịch thuật, nếu không am hiểu văn nói của Saigon miền Nam nếu dùng google dịch thì « qua biểu hổng qua qua qua đây cũng dzậy » (câu gốc: Hôm qua qua nói qua qua mà qua hỏng qua, hôm nay qua nói qua hỏng qua mà qua qua) nó dịch ra như vầy « through through through through this gaping expression too » Ông Tây đọc hiểu được ý thì chịu chết… Hay như câu « giỏi dữ hôn » thì google dịch cũng ngất ngư con lạc đà…
Trong văn nói, người Miền Nam hay dùng điệp từ cùng nguyên âm, hay phụ âm, hoặc dùng hình tượng một con vật đễ tăng cấp độ nhấn mạnh: như bá láp bá xàm, cà chớn cà cháo, sai bét bèng beng (từ bèng beng không có nghĩa),… sai đứt đuôi con nòng nọc,… chắc là phải cả pho sách mới ghi lại hết….Phong cách sử dụng từ như vậy Trường mong sẽ có một dịp nào đó viết một bài về nó. Hà! ai người miền Nam thì cũng hiểu câu này: « thôi tao chạy trước tụi bây ở lại chơi vui hén » , ở đây chạy cũng có nghĩa là đi về, chứ không phải là động từ « chạy = to run » như tiếng Anh
Hay và lạ hơn, cách dùng những tựa hay lời bài hát để thành một câu nói thông dụng có lẽ phong cách này trên thế giới cũng là một dạng hiếm, riêng Miền Nam thì nhiều vô kể ví dụ : Khi nghe ai nói chuyện lập đi lập lại mà không chán thì người nghe ca một đoạn:  » Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! », hoặc khi sắp chia tay thì lại hỏi : « Đêm nay ai đưa em về ! » người ngoại quốc ai không biết cứ tưởng là người đó đang ca chứ hổng phải đang hỏi mình, như khi nghe ai nói chuyên mà chuyện này ai cũng biết rồi thì lại nói: « Xưa rồi diễm…. » với cái giọng mà âm « …i…ễ…m… » kéo dài tha thướt.
Tuy nhiên, do những từ này được trình bày bằng chữ nghĩa nên cách xài nhấn âm, lên giọng của người Miền Nam không thể biểu lộ hết cái hay của nó, ví dụ như riêng câu: « thằng cha mầy, làm gì mà mồ hôi đổ ướt hết áo dậy? » cụm từ « thằng cha mầy » kéo dài hơi lại có nghĩa là gọi yêu thương chứ không phải la mắng, tương tự khi mấy cô gái nguýt (nói):  » Xí! Hổng chịu đâu », »Xí! Cha già dịch nè ! »,  » Sức mấy!, « Ông nói gì tui ưa hổng nổi nha! », « Cha già khó ưa!  » với cách nhấn giọng thì nghe rất dễ thương và dịu dàng nhưng khó gần lắm à nghen, nhưng đến khi nghe câu  » tui nói lần cuối, tui hổng giỡn chơi với Ông nữa đâu đó nghen!  » thì coi chừng … liệu hồn đó.
Thật ra không phải người Saigon ai cũng xài hết mấy từ này, chỉ có người bình-dân mới dám xài từ như Mả cha, Tổ mẹ để kèm theo câu nói mà thôi. Dân nhà trí thức ít ai được Ba Má cho nói, nói ra là vả miệng không kịp ngáp luôn, giáo dục ngày xưa trong gia đình rất là khó, nhất là mấy người làm bên nghề giáo dạy con càng khó dữ nữa. Ra đường nghe mấy đứa con nít nói « DM » thậm chí còn không hiểu nó nói gì, về nhà hỏi lại chữ đó là gì, chưa gì đã bị cấm tiệt không được bắt chước, lúc đó chỉ nghe Ba Má trả lời: « Đó là nói bậy không được bắt chước đó nghen! ». Chưa kể tới chuyện người lớn đang ngồi nói chuyện mà chạy vô xầm xập hỏi thì cũng bị la rầy liền : « Chổ người lớn nói chuyện không được chen vô nhớ chưa? ». Đến năm 1980 thì giáo dục cũng khác hẳn ngôn ngữ bắt đầu đảo lộn ở cấp tiểu học… tiếng Saigon dần dần bị thay đổi, đến nay trên các chương trình Game Show chỉ còn nghe giọng miền Nam với câu nói: « Mời anh trả lời ạ » « các bạn có thấy đúng không ạ », ạ… ạ …ạ… cái gì cũng ạ….làm tui thấy lạ. Thêm nữa, bây giờ mà xem phim Việt Nam thì hình như không còn dùng những từ ngữ này, khi kịch bản phim, hay tiểu thuyết đặt bối cảnh vào thời điểm xưa mà dùng ngôn ngữ hiện đại lồng vào, coi phim nghe thấy nó lạ lạ làm sao đâu á…
Tò te tí te chút, mong rằng các Anh Chị khi đọc những từ này sẽ hồi tưởng lại âm hưởng của Saigon một trời thương nhớ!
Chân thành cám ơn những đóng góp của các Anh Chị,
Trân trọng,
Nguyễn Cao Trường
A-ma-tưa(ơ) = hổng chuyên nghiệp (gốc Pháp Amateur)
À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha)
Áng chừng, đâu chừng, hổng chừng, dễ chừng = dự đoán (từ đây qua kia áng chừng 500 thước – Đâu chừng thằng Sáu chiều nay nó dìa tới đó bây)
Anh em cột chèo
Áo ca-rô = áo kẻ ô (bắc)
Áo thun ba lá = Áo thun ba lổ, Áo May Ô (bắc) gốc Pháp maillot
Áp-phe = trúng mánh, vô mánh (chạy áp-phe vớt cú chót kiếm tiền!) gốc tiếng Pháp affair
Áp-phê = hiệu ứng, hiệu quả (billard: để hết áp-phê bên trái chúi đầu cơ xuống kéo nhẹ là nó qua liền hà)
Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
Ăn hàng = ăn uống, đi ăn cái gì nhẹ như chè, chứ không phải ăn cơm trưa-chiều. (Thường chỉ có con gái mới dám đi ăn hàng, hồi xưa con trai không dám đi ăn hàng vì bị chọc thì mắc cở lắm, thêm nữa, gia đình giáo dục con trai khác với con gái, thường Ông Bà Bô hay nói: « con trai phải ra con trai nghen, ai đời con trai mà ăn hàng như con gái ». Con gái mà đi ăn hàng nhiều cũng bị la rầy. (sau này mấy tay trộm cướp cũng xài từ « ăn hàng », tức là đi giựt dọc, cướp bóc từ B4-1975)
Âm binh = Cô hồn, các đảng, phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách),…
Bà chằn lữa = người dữ dằn (dữ như bà chằn)
Bá chấy, bá phát = quá xá – Ngon bá chấy bò chét chó ! Là ngon quá trời đất luôn !
Ba ke, Ba xạo = xạo – sau này (1975) có thêm chữ ba đía rồi bớt dần thành đía ( đừng có đía= đừng có nói xạo)
Ba lăm = 35 = già dê (dê 35)
Bá Láp Bá Xàm =Tầm xàm – Bá láp
Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa)
Ba Tăng = Bảo kê gốc Pháp Patent
Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường
Bành ki = bự
Banh ta lông = như hết chuyện (gốc từ cái talon của vỏ xe)
Bảnh tỏn, Sáu bảnh= đẹp ra dáng (mặt đồ vô thấy bảnh tỏn ghê nha)
Banh xà lỏn
Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng)
Băng = nhà băng, ngân hàng gốc Pháp (banque)
Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi
Bắt kế: là do PƠRKAI KUDA mà ra, Pơkai = Thắng vào xe, Kuda = Con ngựa.
Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn
Bất thình lình = đột ngột, Bất tử
Bầy hầy = bê bối, ở dơ
Bẹo = chưng ra, Bệu (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa)
Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên, ứa gan
Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể
Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!)
Bí lù = không biết đường trả lời, không biết
Bí xị = buồn
Biết đâu nà, biết đâu nè, = biết đâu đấy
Biết sao hôn !
Biệt tung biệt tích, biệt tăm biệt tích, mất tích, mất tiêu, đâu mất = không có mặt, mất dấu
Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo, nhưng câu « ai biểu » thì lại có hàm ý người kia: « tự làm thì tự chịu »
Bình thủy = phích nước
Bình-dân = bình thường
Bít bùng
Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít)
Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình)
Bỏ thí = bỏ
Bồ = gọi bạn thân thiết ( Ê chiều nay bồ rãnh tạt qua nhà chở tui đi luôn nghen)
Bồ đá = bị bạn gái bỏ
Bội phần, muôn phần = gấp nhiều lần
Bồn binh = Bùng binh, vòng xoay (nay)
Buồn xo, buồn hiu = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? )
Buột = cột
Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)
Cà chớn cà cháo = không ra gì
Cà chớn chống xâm lăng. Cù lần ra khói lửa. (một câu nói trong thời chiến)
Cà giựt : lăng xăng, lộn xộn
Cà kê dê ngỗng = dài dòng, nhiều chuyện
Cà Na Xí Muội = chuyện không đâu vào đâu
Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang
Cà nhõng = rãnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhõng tối ngày), có khi gọi là nhõng nhõng
Cà lơ phất phơ
Cà rem = kem
Cà rề, Cà rịt cà tang = chậm chạp
Cà rịch cà tang
Cà tàng = bình thường, quê mùa,….
Cà tong cà teo
Cà tưng cà tửng
Cái thằng trời đánh thánh đâm
Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây
Cạn tàu ráo máng; ăn cháo đá bát = vô ơn
Càng quấy = phá phách hư hỏng
Cảo = kéo, rít (cảo điếu thuốc gần tới đót)
Cảo Dược = làm cho thẳng
Có chi hông? = có chuyện gì không?
Coi = thử; liền vd: Nói nghe coi? Làm coi
Coi bộ ngon ăn, ngon ăn đó nghen = chuyện dễ ăn ( không liên quan tới ngon dỡ – chuyện này làm coi bộ ngon ăn đó nghen!)
Coi được hông?
Còn ai trồng khoai đất này = chính là tôi, « tôi đây chớ ai »
Còn khuya = còn lâu ( uh! mày ngon nhào vô kiếm ăn, còn khuya tao mới sợ mày!)
Con ở = người ở, (nay Oshin từ tựa đề bộ phim của Nhật)
Cô hồn, các đảng
Công tử bột = nhìn có dáng vẻ thư sinh yếu đuối
Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!)
Cua gái = tán gái
Cụng = chạm
Cuốc = chạy xe (tui mới làm một cuốc từ Hocmon dzia Saigon cũng được trăm hai bỏ túi!)
Cứng đầu cứng cổ
Chả = Cha đó
Chà bá , tổ chảng, chà bá lữa = to lớn, bự
Cha chả = gần như từ cảm thán « trời ơi!  » (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?)
Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi!)
Cháy túi = hết tiền
Chạy, Dọt, Chẩu = đôi khi cũng có nghĩa là đi về (thôi tụi bây ở chơi tao chạy (dọt) trước à!) Chẩu: 走 nguyên gốc âm lấy từ tiếng Quảng Đông
Chạy te te = chạy một nước – Con nhỏ vừa nghe Bà Hai kêu ra coi mắt thì nó xách đích chạy te te ra đằng sau trốn mất tiêu rồi
Chạy tẹt ga, đạp hết ga= kéo hết ga, hết sức – cũng có nghĩa là chơi thoải mái – « mày cứ chơi « tẹt ga » (mát trời ông địa) đi, đừng có sợ gì hết, có gì tao lo » (ga = tay ga của xe)
Chạy u đi
Chạy vắt giò lên cổ, Chạy sút quần, Chạy đứng tóc = chại không kịp thở
Chằn ăn trăn quấn = dữ dằn
Chậm lụt = chậm chạp, khờ
Chận họng = không cho người khác nói hết lời
Chém vè (dè)= trốn trốn cuộc hẹn trước
Chén = bát
Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên
Chèo queo = một mình (làm gì buồn nằm chèo queo một mình dậy? )
Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không
Chì = giỏi (anh ấy học « chì » lắm đó).
Chiên = rán
Chình ình, chần dần = ngay trước mặt ( Nghe tiếng gọi thằng Tư quay đầu qua thì đã thấy tui chình ình trước mặt)
Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn)
Chỏ mũi, chỏ mỏ= xía, xen vào chuyện người khác
Chói lọi = chói sáng
Chỏng mông = mệt bở hơi tai (làm chỏng mông luôn đây nè)
Chỗ làm, Sở làm = hãng xưỡng, cơ quan công tác
Chột dạ = nghe ai nói trúng cái gì mình muốn dấu
Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt
Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chỗ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chỗ dậy? )
Chưn = chân
Chưng hững = ngạc nhiên
Chưng ra = trưng bày
Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ
Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường)
Dấm da dấm dẵng
Dân chơi cầu ba cẳng = dân giang hồ – cũng có nghĩa khác là chịu chơi nữa (giống dân chơi cầu ba cẳng)
Dây, không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó
Dè chừng = coi chừng (Tui lỡ nói lớn chút ai dè nó nghe được, chứ thiệt tình tui đâu có muốn)
Dễ tào = dễ sợ
Dì ghẻ = mẹ kế
Dị hợm = quái dị, không giống ai –
Dĩa = Đĩa
Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là « diễn » mới đúng)
Diễu dỡ =????
Dọt lẹ
Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ « thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi)
Dù = Ô
Du ngoạn = tham quan
Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ « buồn » giọng miền nam đọc thành « buồng »)
Dùng dằng = ương bướng
Dữ đa, Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: « Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen », nhưng « mày muốn làm dữ phải hôn » thì lại có ý răn đe nặng hơn ) Dữ đa thường dùng cuối câu  » cái này coi bộ khó kiếm dữ đa »
Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói)
Dừa dừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá
Đá cá lăn dưa = lưu manh
Đa đi hia = đi chỗ khác.
Đã nha! = Sướng nha!
Đài phát thanh = đài tiếng nói
Đánh dây thép = gữi điện tín
Đàng = đường (Đi một đàng học một sàn khôn)
Đánh đàn đánh đọ = Đánh đàn (học thì lo học không « đánh đàn đánh đọ » nhe hông) một cách để chê việc đánh đàn bằng cách ghép thêm hai từ láy đánh đọ phía sau.
Đánh tù xầm, Quảnh tù xì = oẳn tù tì (trò chơi bằng tay ra kéo, búa, bao) gốc từ tiếng Anh: one two three
Đào hát = nữ diễn viên cải lương, Tài tử cải lương = nam
Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?)
Đầu đường xó chợ
Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen
Đẹp trai con bà Hai = đẹp
Đế = chen thêm (đang nói nó đế vô một câu chận họng làm tui câm luôn)
Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9
Đi bang bang = đi nghênh ngang
Đi bụi
Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí
Đi mần = đi làm
Đồ bỏ đi = đồ hết xài (người gì xài hổng dô, đúng là đồ bỏ đi mà)
Đồ già dịch = chê người mất nết tùy ngữ cảnh và cách nhấn âm, kéo dài thì sẽ có hàm ý khác
Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo
Đờn = đàn
Đùm xe = Mai-ơ
Đừng có mơ, đừng có hòng
Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm
Gác dan = bảo vệ, người gác cổng (gốc Pháp: Guardian)
Gần xịt = thiệt là gần
Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê
Ghét = tùy cách nhấn giọng và kéo dài thì …. ghét chưa chắc đã ghét mà chỉ là câu nói thể hiện thương, hay chấp nhận nữa hổng chừng
Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê
Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích
Già dịch = Già dê
Già háp = già khằn, già cú đế
Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc! )
Ghi-đông, Bọt-ba-ga
Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp
Hay như = hoặc là
Hầm = nóng (trời hầm quá ngồi không mà người nó đổ mồ hôi ướt nhẹp)
Hầm bà lằng (gốc tiếng Quảng Đông);
Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn
Héo queo = xụi lơ, bi xị
Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết)
Hết trơn hết trọi = chẳng, không – « Hết Trọi » thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! )
Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa
Hồi nẳm = lâu lắm rồi không nhớ ngày tháng
Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay
Hổng có chi! = không sao đâu
Hổng chịu đâu
Hổng thích à nhen!
Hổng xi nhê = không ăn thua, không có ý nghĩa gì hết , (Kiếm nhiêu đây tiền đâu có xi nhê gì) gốc pháp: Signifier
Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài
Hờm = chờ sẵn ( tui hờm sẵn rồi chỉ chờ thằng kia nó chạy ra là tui cho nó một đá cho nó lăn cù mèo luôn)
Hợp gu = cùng sở thích
Hớt hơ hớt hãi = hấp tấp và sợ hãi ( nó hớt hơ hớt hãi chạy vào báo tin …. )
Kẻo = coi chừng (Trời ui ui! giờ không đi sớm kẻo trời nó mưa là ướt chèm nhẹp luôn đó nhe)
Kể cho nghe nè! = nói cho nghe
Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,….
Kêu giựt ngược = kêu gấp bắt buột người khác phải làm theo ý mình (kêu cái gì mà kêu như giựt ngược người ta hà!)
Khán thính giả (người xem kịch, cải lương, truyền hình,…) trong đó Khán (看): xem – Thính (聽): nghe, giả (者): người, tổng hợp lại là người nghe nhìn, giờ thì kêu ngắn gọn là khán giả: chỉ biết xem mà không nghe được, đỡ cãi
khính = ké – mặc đồ khính, đi ăn khính,…
Khỉ đột
Khỉ gió
Khỉ khô
Khó ưa = chê nhưng có lúc lại là khen. (Mặt thằng nhỏ khó ưa quá hà!)
Khoái tỉ = thích gần chết
Không thèm = không cần (làm gì dữ dạ tui đâu có thèm đâu mà bày đặt nhữ qua nhữ lại trước mặt tui? )
Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm
Làm (mần) dzậy coi được hông?
Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh
Làm gì mà toành hoanh hết zậy
Làm mướn = làm thuê
Làm nư = lì lợm, Làm cho lợi gan
Làm um lên = làm lớn chuyện
Lán cón = bảnh bao (có thể do hồi xưa ra đường chải đầu tóc bóng mượt, đánh giày bóng như gương, quần áo thẳng thớm nên ra từ này)
Lanh chanh
Lạnh xương sống
Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
Láo-háo = khoảng chừng ( tuổi nó láo háo cở tuổi tao chứ mấy)
Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu
Lặc lìa lặc lọi = ?
Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen)
Lăn cù mèo = lăn long lóc, té ngữa
Lắt lư con lạc đà = nghiêng qua nghiêng lại
Lầm lầm lì lì = không nói không rằng mặt nghiêm tỏ ý không thích
Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chỗ nào)
Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?)
Lấy le = khoe đồ
Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy)
Leo cây; leo cây me = thất hẹn; Xong! nãy giờ chờ thấy bà, chắc thằng Tám nó cho tụi mình leo cây rồi!
Lèo = thất hẹn – hứa lèo,
Lề mề
Lên bờ xuống ruộng
Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!
Liệu = tính toán (thằng Ba liệu coi đi sớm một chút kẻo bị kẹt xe thì lỡ hết chiện đó nhen!)
Liệu hồn = coi chừng
Líp-ba-ga = mút mùa Lệ Thủy, thoải mái
Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt)
Lộn = nhầm (nói lộn nói lại)
Lộn xộn = làm rối
Lục cá nguyệt: sáu tháng. Ví dụ: Nộp báo cáo sáu tháng một lần: Nộp báo cáo lục cá nguyệt.
Lục đục = không hòa thuận (gia đình nó lục đục quài), đôi khi lại có nghĩa khác ( Làm gì lục đục ở sau bếp hoài vậy bây?)
Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!)
Lùm xùm = rối rắm,
Lừng mặt = quen quá không còn sợ nữa (Chơi với nó riết nó lừng mặt mình luôn nhen)
Lười chẩy thây; đại lãn; liệt = làm biếng

Liên khúc Bolero, Đàm Vĩnh Hưng lần đầu hát live cùng thần đồng đánh trống tay 10 tuổi, Hiếu Trung

Liên khúc Bolero, Đàm Vĩnh Hưng lần đầu hát live cùng thần đồng đánh trống tay 10 tuổi, Hiếu Trung

Published on Jan 1, 2018

Liên khúc Bolero, Đàm Vĩnh Hưng lần đầu hát live cùng thần đồng đánh trống tay 10 tuổi, Hiếu Trung, Người tình không đến, Chuyến tàu hoàng hôn, Người đi ngoài phố, Tình nhạt phai, Tâm sự nàng xuân,

260 từ ngữ thông dụng của dân Sài Gòn và người miền Nam

Tổng hợp 260 từ ngữ thông dụng của dân Saigon xưa nói riêng & người miền Nam ngày nay nói chung !

1. À nha = thường đi cuối câu mệnh lệnh dặn dò, ngăn cấm (không chơi nữa à nha)
2. Áo thun ba lá, áo ba lỗ = Áo may ô
3. Ăn coi nồi, ngồi coi hướng = Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
4. Âm binh = phá phách (mấy thằng âm binh = mấy đứa nhỏ phá phách)
5. Bà chằn lửa = người dữ dằn (dữ như bà chằn)
6. Ba ke, Ba xạo
7. Bá Láp Bá Xàm
8. Bá chấy bù chét
9. Bà tám = nhiều chuyện (thôi đi bà tám = đừng có nhiều chuyện nữa, đừng nói nữa)
+ Bà quại = bà ngoại
10. Bang ra đường = chạy ra ngoài đường lộ mà không coi xe cộ, hoặc chạy ra đường đột ngột, hoặc chạy nghênh ngang ra đường
11. Bạt mạng = bất cần, không nghĩ tới hậu quả (ăn chơi bạt mạng)
12. Bặc co tay đôi = đánh nhau tay đôi
13. Bặm trợn = trông dữ tợn, dữ dằn
14. Bất thình lình = đột ngột
15. Bẹo = chưng ra (gốc từ cây Bẹo gắn trên ghe để bán hàng ở chợ nổi ngày xưa)
16. Bẹo gan = chọc cho ai nổi điên
17. Bề hội đồng = hiếp dâm tập thể
18. Bển = bên đó, bên ấy (tụi nó đang chờ con bên bển đó!)
19. Biết đâu nà, biết đâu nè = biết đâu đấy
20. Biệt tung biệt tích = không thấy hiện diện
21. Biểu (ai biểu hổng chịu nghe tui mần chi! – lời trách nhẹ nhàng) = bảo
22. Bình thủy = phích nước
23. Bình-dân = bình thường
24. Bo bo xì = nghỉ chơi không quen nữa (động tác lấy tay đập đập vào miệng vừa nói của con nít)
25. Bỏ qua đi tám = cho qua mọi chuyện đừng quan tâm nữa (chỉ nói khi người đó nhỏ vai vế hơn mình)
26. Bỏ thí = bỏ
27. Bùng binh = vòng xoay
28. Bội phần = gấp nhiều lần
29. Buồn xo = rất buồn ( làm gì mà coi cái mặt buồn xo dậy? )
30. Bữa = buổi/từ đó tới nay (ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)
31. Cà chớn cà cháo = không ra gì
32. Cà chớn chống xâm lăng -Cù lần ra khói lửa.
33. Cà kê dê ngỗng = dài dòng.
34. Cà Na Xí Muội
+ Cà rá = chiếc nhẫn
35. Cà nhỗng = rảnh rỗi không việc gì để làm (đi cà nhỗng tối ngày)
36. Cà nghinh cà ngang = nghênh ngang
37. Cà rem = kem
38. Cà rịt cà tang = chậm chạp.
39. Cà tàng = bình thường, quê mùa,…
40. Cái thằng trời đánh thánh đâm
41. Càm ràm = nói tùm lum không đâu vào đâu/nói nhây
Coi được hông?
42. Cù lần, cù lần lữa = từ gốc từ con cù lần chậm chạp, lề mề, chỉ người quá chậm lụt trong ứng đối với chung quanh … (thằng này cù lần quá!)
43. Cụng = chạm
44. Cứng đầu cứng cổ
45. Chà bá , tổ chảng, chà bá lửa = to lớn, bự
46. Chàng hãng chê hê = banh chân ra ngồi ( Con gái con đứa gì mà ngồi chàng hãng chê hê hà, khép chưn lại cái coi! )
47. Cha chả = gần như từ cảm thán “trời ơi! ” (Cha chả! hổm rày đi đâu biệt tích dzậy ông?)
48. Chả = không ( Nói chả hiểu gì hết trơn hết trọi á!)
+ Chả = thằng chả / thằng cha kia
49. Chậm lụt = chậm chạp, khờ
50. Chém vè (dè)= trốn
51. Chén = bát
52. Chèn đét ơi, mèn đét ơi, chèn ơi, Mèn ơi = ngạc nhiên
53. Chết cha mày chưa! có chiện gì dậy? = một cách hỏi thăm xem ai đó có bị chuyện gì làm rắc rối không
54. Chì = giỏi (anh ấy học “chì” lắm đó).
55. Chiên = rán
56. Chịu = thích, ưa, đồng ý ( Hổng chịu đâu nha, nè! chịu thằng đó không tao gả luôn)
57. Chỏ = xía, xen vào chuyện người khác
58. Chổ làm, Sở làm = hãng, xưởng, cơ quan công tác
59. Chơi chỏi = chơi trội, chơi qua mặt
60. Chùm hum = ngồi bó gối hoặc ngồi lâu một chổ không nhúc nhích, không quan tâm đến ai (có gì buồn hay sao mà ngồi chùm hum một chổ dậy?)
61. Chưn = chân
62. Chưng ra = trưng bày
63. Có chi hông? = có chuyện gì không?
64. Dạ, Ừa (ừa/ừ chỉ dùng khi nói với người ngang hàng) = Vâng, Ạ
Dạo này = thường/nhiều ngày trước đây đến nay (Dạo này hay đi trễ lắm nghen! /thường)
65. Dấm da dấm dẳng
66. Dây = không có dây dzô nó nghe chưa = không được dính dáng đến người đó
67. Dễ tào = dễ sợ
68. Dì ghẻ = mẹ kế
69. Dĩa = Đĩa
70. Diễn hành, Diễn Binh= diễu hành, diễu binh (chữ diễu bây giờ dùng không chính xác, thật ra là “diễn” mới đúng)
71. Diễu dỡ = làm trò
72. Dỏm (dởm), dỏm đời, dỏm thúi, đồ lô (sau 1975, khi hàng hóa bị làm giả nhiều, người mua hàng nhầm hàng giả thì gọi là hàng dởm, đồ “lô” từ chữ local=nội địa)
73. Dô diên (vô duyên) = không có duyên (Người đâu mà vô diên thúi vậy đó hà – chữ “thúi’ chỉ để tăng mức độ chứ không có nghĩa là hôi thúi)
74. Du ngoạn = tham quan
75. Dù = Ô
76. Dục (vụt) đi = vất bỏ đi (giọng miền nam đọc Vụt = Dục âm cờ ít đọc thành âm tờ, giống như chữ “buồn” giọng miền nam đọc thành “buồng”)
77. Dùng dằng = ương bướng
78. Dữ hôn và …dữ …hôn…= rất ( giỏi dữ hén cũng có nghĩa là khen tặng nhưng cũng có nghĩa là đang răn đe trách móc nhẹ nhàng tùy theo ngữ cảnh và cách diễn đạt của người nói ví dụ: “Dữ hôn! lâu quá mới chịu ghé qua nhà tui nhen”, nhưng “mày muốn làm dữ phải hôn” thì lại có ý răn đe nặng hơn )
79. Dzìa, dề = về (thôi dzìa nghen- câu này cũng có thể là câu hỏi hoặc câu chào tùy ngữ điệu lên xuống người nói)
80. Dzừa dzừa (vừa) thôi nhen = đừng làm quá
81. Đá cá lăn dưa = lưu manh
82. Đa đi hia = đi chỗ khác.
83. Đài phát thanh = đài tiếng nói
84. Đàng = đường
85. Đặng = được (Qua tính vậy em coi có đặng hông?)
86. Đen như chà dà (và) = đen thui, đen thùi lùi = rất là đen
+ Đền = bồi thường
87. Đêm nay ai đưa em dìa = hôm nay về làm sao, khi nào mới về (một cách hỏi) – từ bài hát Đêm nay ai đưa em về của NA9
88. Đi bang bang = đi nghênh ngang
89. Đi cầu = đi đại tiện, đi nhà xí
90. Đó = đấy , nó nói đó = nó nói đấy
91. Đồ già dịch = chê người mất nết
92. Đồ mắc dịch = xấu nết tuy nhiên, đối với câu Mắc dịch hông 93. nè! có khi lại là câu nguýt – khi bị ai đó chòng ghẹo
94. Đờn = đàn
95. Đùm xe = Mai-ơ
96. Được hem (hôn/hơm) ? = được không ? chữ hông đọc trại thành hôn, hem hoặc hơm
97. Ghẹo, chòng ghẹo = chọc quê
98. Ghê = rất – hay ghê há tùy theo ngữ cảnh và âm điệu thì nó mang ý nghĩa là khen hoặc chê
99. Gớm ghiết = nhìn thấy ghê, không thích
100. Giục giặc, hục hặc = đang gây gổ, không thèm nói chuyện với nhau (hai đứa nó đang hục hặc!)
101. Hãng, Sở = công ty, xí nghiệp
102. Hay như = hoặc là
103. Hậu đậu = làm việc gì cũng không tới nơi tới chốn
Hết = chưa, hoặc chỉ nâng cao mức độ nhấn mạnh (chưa làm gì hết)
104. Hết trơn hết trọi = chẳng, không – “Hết Trọi” thường đi kèm thêm cuối câu để diễn tả mức độ (Ở nhà mà hổng dọn dẹp phụ tui gì hết trơn (hết trọi) á! )
105. Hồi nảo hồi nào = xưa ơi là xưa
106. Hổm rày, mấy rày = từ mấy ngày nay
107. Hổng có chi! = không sao đâu
108. Hổng chịu đâu
109. Hổng thích à nhen!
110. Hột = hạt (hột đậu đen, đỏ) miền nam ghép cả Trứng hột vịt thay vì chỉ nói Trứng vịt như người đàng ngoài
111. Hợp gu = cùng sở thích
112. Ì xèo = tùm lum, …
113. năn nỉ ỉ ôi
114. Kẻo = coi chừng
115. Kể cho nghe nè! = nói cho nghe
116. Kêu gì như kêu đò thủ thiêm = kêu lớn tiếng, kêu um trời,….
Lanh chanh
117. Làm (mần) cái con khỉ khô = không thèm làm
118. Làm (mần) dzậy coi được hông?
119. Làm dzậy coi có dễ ưa không? = một câu cảm thán tỏ ý không thích/thích tùy theo ngữ cảnh
120. Làm gì mà toành hoanh hết zậy
121. Làm nư = lì lợm
122. Làm um lên: làm lớn chuyện
123. Lặc lìa = muốn rớt ra, rời ra nhưng vẫn còn dính với nhau chút xíu
124. Lần = tìm kiếm (biết đâu mà lần = biết tìm từ chổ nào)
125. Lần mò = tìm kiếm, cũng có nghĩa là làm chậm chạm (thằng tám nó lần mò cái gì trong đó dậy bây?)
126. Lắm à nhen = nhiều, rất (thường nằm ở cuối câu vd: thương lắm à nhen)
127. Lẹt đẹt = ở phía sau, thua kém ai ( đi lẹt đẹt! Lảm gì (làm cái gì) mà cứ lẹt đẹt hoài vậy)
128. Lao-tổn (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
129. Lao-cần (cách dùng từ của Ông Nguyễn Văn Vĩnh có gạch nối ở giữa)
130. Lên hơi, lấy hơi lên = bực tức (Nghe ông nói tui muốn lên hơi (lấy hơi lên) rồi đó nha!
131. Liệu = tính toán
132. Liệu hồn = coi chừng
133. Lô = đồ giả, đồ dỡ, đồ xấu (gốc từ chữ local do một thời đồ trong nước sản xuất bị chê vì xài không tốt)
134. Lộn = nhầm (nói lộn nói lại)
135. Lộn xộn = làm rối
136. Lụi hụi = ???? (Lụi hụi một hồi cũng tới rồi nè!)
137. Lùm xùm = rối rắm,
138. Lụt đục = không hòa thuận (gia đình nó lụt đục quài)
139. Má = Mẹ
140. Ma lanh, Ma le
141. Mã tà = cảnh sát
142. Mari phông tên = con gái thành phố quê mùa
143. Mari sến = sến cải lương
144. Mát trời ông địa = thoải mái
145. Máy lạnh = máy điều hòa nhiệt độ
146. Mắc cười = buồn cười
147. Mắc dịch = Mất nết, không đàng hoàng, lẳng lơ, xỏ lá, bởn cợt.
148. Mặt chù ụ một đống, mặt chầm dầm
149. Mần ăn = làm ăn
150. Mần chi = làm gì
151. Mậy = mày ( thôi nghen mậy = đừng làm nữa)
152. Mét = mách
153. Miệt, mai, báo, tứ, nóc… chò = 1, 2, 3, 4, 5…. 10.
154. Mình ên = một mình (đi có mình ên, làm mình ên)
155. Mò mẫm rờ rẫm sờ sẩm (hài) = mò
156. Mồ tổ! = câu cảm thán
157. Mả = Mồ
158. Muỗng = Thìa, Môi
159. Mút mùa lệ thủy = mất tiêu
160. Nam Tàu Bắc Đẩu
161. Nào giờ = từ trước tới nay
162. Niềng xe = vành xe
163. Ngang tàng = bất cần đời
164. Nghen, hén, hen, nhen
165. Ngoại quốc = nước ngoài
166. Ngon bà cố = thiệt là ngon
167. Ngộ = đẹp, lạ (cái này coi ngộ hén)
168. Ngồi chồm hổm = ngồi co chân ….chỉ động tác co gập hai chân lại theo tư thế ngồi … Nhưng không có ghế hay vật tựa cho mông và lưng … (Chợ chồm hổm – chợ không có sạp)
169. Ngủ nghê
170. Nhan nhản = thấy cái gì nhiều đằng trước mặt
171. Nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi! = đừng nhắc chuyện đó nữa, biết rồi đừng kể nữa – trích lời trong bài hát Ngày đó xa rồi
172. Nhậu = một cách gọi khi uống rượu, bia
173. Nhiều chiện = nhiều chuyện
174. Nhìn khó ưa quá (nha)= đôi khi là chê nhưng trong nhiều tình huống lại là khen đẹp nếu thêm chữ NHA phía sau
175. Nhóc, đầy nhóc : nhiều
176. Nhột = buồn
177. Nhựt = Nhật
178. Nón An toàn = Mũ Bảo hiểm
179. Ổng, Bả, Cổ, Chả = Ông, Bà, Cô, Cha ấy = ông đó ổng nói (ông ấy nói)
180. Phi cơ, máy bay = tàu bay
181. Quá cỡ thợ mộc…= làm quá,
182. Qua đây nói nghe nè! = kêu ai đó lại gần mình
183. Qua bên bển, vô trong trỏng, đi ra ngoải,
184. Quá xá = nhiều (dạo này kẹt chiện quá xá! )
185. Quá xá quà xa = quá nhiều
186. Quê một cục
187. Quê xệ
188. Rành = thành thạo, thông thạo, biết (tui hổng rành đường 189; này nhen, tui hổng rành (biết) nhen)
190. Rạp = nhà hát(rạp hát), dựng một cái mái che ngoài đường lộ hay trong sân nhà để cho khách ngồi cho mát (dựng rạp làm đám cưới)
191. Rân trời = um sùm
192. Rốp rẽng (miền Tây) = làm nhanh chóng
193. Rốt ráo (miền Tây) = làm nhanh chóng và có hiệu quả
194. Ruột xe = xăm
195. Sai bét bèng beng = rất sai, sai quá trời sai!
196. Sai đứt đuôi con nòng nọc = như Sai bét bèng beng
197. Sạp = quầy hàng
198. Sến = cải lương
200. Sến hồi xưa là người làm giúp việc trong nhà. Mary sến cũng có nghỉa là lèn xèn như ng chị hai đầy tớ trong nhà.
201. Sên xe = xích
202. Sếp phơ = Tài xế
203. Sườn xe = khung xe
204. Tà tà, tàn tàn, cà rịch cà tang = từ từ
205. Tàn mạt = nghèo rớt mùng tơi
206. Tàng tàng = bình dân
207. Tào lao, tào lao mía lao, tào lao chi địa, tào lao chi thiên,… 208. chuyện tầm xàm bá láp = vớ vẫn
209. Tàu hủ = đậu phụ
210. Tầm xàm bá láp
211. Tầy quầy, tùm lum tà la = bừa bãi
212. Té (gốc từ miền Trung)= Ngã
213. Tèn ten tén ten = chọc ai khi làm cái gì đó bị hư
214. Tía, Ba = Cha
215. Tiền lính tính liền, tiền làng tàn liền …!
216. Tòn teng = đong đưa, đu đưa
217. Tổ cha, thằng chết bầm
218. Tới = đến (người miền Nam và SG ít khi dùng chữ đến mà dùng chữ tới khi nói chuyện, đến thường chỉ dùng trong văn bản)
219. Tới chỉ = cuối
220. Tới đâu hay tới đó = chuyện đến rồi mới tính
221. Tui ưa dzụ (vụ) này rồi à nhen = tui thích việc này rồi ( trong đó tui = tôi )
222. Tui, qua = tôi
223. Tụm năm tụm ba = nhiều người họp lại bàn chuyện hay chơi trò gì đó
224. Tức cành hông = tức dữ lắm
225. Tháng mười mưa thúi đất
226. Thắng = phanh
227. Thằng cha mày, ông nội cha mày = một cách nói yêu với người dưới tùy theo cách lên xuống và kéo dài âm, có thể ra nghĩa khác cũng có thể là một câu thóa mạ
228. Thấy ghét, nhìn ghét ghê = có thể là một câu khen tặng tùy ngữ cảnh và âm điệu của người nói
230. Thấy gớm = thấy ghê, tởm (cách nói giọng miền Nam hơi kéo dài chữ thấy và luyến ở chữ Thấy, “Thấy mà gớm” âm mà bị câm)
231. Thèo lẽo = mách lẻo ( Con nhỏ đó chuyên thèo lẽo chuyện của mầy cho Cô nghe đó! )
232. Thềm ba, hàng ba
233. Thí = cho không, miễn phí, bỏ ( thôi thí cho nó đi!)
234. Thí dụ = ví dụ
235. Thiệt hôn? = thật không?
236. Thọc cù lét, chọc cù lét = ??? làm cho ai đó bị nhột
237. Thôi đi má, thôi đi mẹ! = bảo ai đừng làm điều gì đó
238. Thôi hén!
239. Thơm = dứa, khóm
230. Thúi = hôi thối
231. Thưa rĩnh thưa rãng = lưa thưa lác đác
232. Trà = Chè
233. Trăm phần trăm = cạn chén- (có thể gốc từ bài hát Một trăm em ơi – uống bia cạn ly là 100%)
234. Trển = trên ấy (lên trên Saigon mua đi , ở trển có bán đồ nhiều lắm)
235. Trực thăng = máy bay lên thẳng
236. Um xùm
237. Ứa gan
238. Ứa gan = chướng mắt
239. Vè xe = chắn bùn xe
240. Vỏ xe = lốp
241. Xả láng, sáng về sớm,
242. Xà lỏn, quần cụt = quần đùi
243. Xài = dùng, sử dụng
244. Xảnh xẹ, Xí xọn = xảnh xẹ = làm điệu
245. Xe cam nhông = xe tải
246. Xe hơi = Ô tô con
247. Xe nhà binh = xe quân đội
248. Xe đò = xe chở khách, tương tự như xe buýt nhưng tuyến xe chạy xa hơn ngoài phạm vi nội đô (Xe đò lục tỉnh)
249. Xe Honda = xe gắn máy ( có một thời gian người miền Nam quen gọi đi xe Honda tức là đi xe gắn máy – Ê! mầy tính đi xe honda hay đi xe đạp dậy?)
250. Xẹp lép = lép xẹp, trống rổng ( Bụng xẹp lép – đói bụng chưa có ăn gì hết)
251. Xẹt qua = ghé ngang qua nơi nào một chút (tao xẹt qua nhà thằng Tám cái đã nghen – có thể gốc từ sét đánh chớp xẹt xẹt nhanh)
252. Xẹt ra – Xẹt vô = đi ra đi vào rất nhanh
253. Xí = hổng dám đâu/nguýt dài (cảm thán khi bị chọc ghẹo)
254. Xí xa xí xầm, xì xà xì xầm, xì xầm= nói to nhỏ
255. Xía = chen vô (Xí! Cứ xía dô chiện tui hoài nghen! )
256. Xiên lá cành xiên qua cành lá = câu châm chọc mang ý nghĩa ai đó đang xỏ xiên mình ???? (gốc từ bài hát Tình anh lính chiến- Xuyên lá cành trăng lên lều vải)
257. Xiết = nổi ( chịu hết xiết = chịu hổng nổi = không chịu được)
258. Xỏ lá ba que = giống như chém dè (vè), tuy nhiên có ý khác là cảnh báo đừng có xen vào chuyện của ai đó trong câu: “đừng có xỏ lá ba que nhe mậy”
259. Xỏ xiên = đâm thọt, đâm bị thóc chọc bị gạo,… (ăn nói xỏ xiên)
260. Xưa rồi diễm = chuyện ai cũng biết rồi (gốc từ tựa bài hát Diễm xưa )

Nguồn: 2Saigon.vn

Giọng nói người Sài Gòn

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương. Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất… Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ. Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái… Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay. Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó [” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà. Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó [ lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi. Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà. Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Nguồn Operablog

Giọng nói người Sài Gòn

Giọng nói người Sài Gòn

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương.
Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…
Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…
Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.
Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.
Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay.
Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó [” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.
Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó [ lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.
Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.
Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”

Nguồn Operablog