Các loại nhạc cụ cổ truyền Việt Nam (phần 2)

Bẳng Tăng 

(Nguồn: internet)

Bẳng tăng là nhạc khí tự thân vang, không định âm của người Thái và một số cư dân khác sống ở Tây bắc Việt Nam.

Bẳng tăng được làm bằng nứa. Đó là những ống nứa nhỏ rỗng hai đầu, đường kính khoảng 5 – 7 cm, dài khoảng 30 – 40 cm.

Bẳng tăng là nhạc khí của nữ giới. Khi chơi. Mỗi cô gái hai tay cầm hai ống nứa, dập hai ống vào nhau tạo âm thanh theo những mô hình tiết tấu qui định để phụ họa, làm nền cho các điệu múa. Đôi khi các cô gái vừa diễn Bẳng tăng vừa nhảy múa, lúc này Bẳng tăng có vai trò vừa là nhạc cụ vừa là đạo cụ múa.

Âm thanh của Bẳng tăng vang nhưng không trong. Bẳng tăng thường được diễn tấu vào những dịp lễ, hội và những đêm liên hoan của thanh niên trai gái.

Mõ được xếp là một nhạc khí tự thân vang, phổ biến ở Việt Nam. Trên thực tế mõ đươc sử dụng vào các môi trường khác nhau và có những chức năng khác nhau.

Mõ chùa 

(Nguồn: internet)

1. Mõ chùa làm từ các loại gỗ chắc, cứng, hình dạng thường gặp hình cầu dẹt với nhiều kích cỡ to nhỏ khác nhau: Cỡ to nhất có đường kính khoảng 70 – 80 cm, cỡ vừa đường kính 20 – 30 cm và cỡ nhỏ đường kính 5 – 7 cm. Tất cả ở giữa đều rỗng, khoét theo hình lòng máng. Dùi gõ mõ cũng làm bằng gỗ, kích cỡ của dùi to nhỏ tương xứng với kích cỡ của mõ. Âm thanh của mõ gỗ giòn, âm vang sâu lắng. Trong chùa mõ được sử dụng khi tụng kinh với vai trò điểm nhịp đều theo lời tụng.

2. Mõ làng có nhiều loại: Có loại làm bằng gỗ cứng hình cá trắm dài khoảng 1 m, to, khoét dài rỗng theo bụng cá và thường treo ở điếm làng. Có loại làm bằng gốc tre già gọt theo hình trăng khuyết, đường kính từ 15 – 20 cm, ở giữa có khoét một rạch rỗng. Trong đời sống nông thôn người Việt xưa, mõ có chức năng thông tin. Mõ được làng giao cho một người đàn ông phụ trách, thượng được gọi là “thằng mõ” hay “anh mõ”. Vào những dịp có việc làng hoặc những sự kiện đột xuất cần thông báo “anh mõ” có nhiệm vụ gõ mõ thông tin cho khắp các gia đình trong làng.

3. Mõ trâu được làm bằng gỗ hoặc gốc tre già hình hộp đứng. Mặt đáy khoét rỗng thông với mặt trên. Mặt đáy hình chữ nhật với chiều dài từ 20 – 25 cm, chiều rộng từ 10 – 15 cm. Mặt trên hình chữ nhật với chiều dài, dài hơn chiều dài của mõ và ở giữa buộc 2 đoạn gỗ dài hơn chiều cao của mõ khoảng 1 cm. Người ta buộc mõ vào cổ trâu. Khi trâu chuyển động, đi lại, 2 đoạn gỗ gõ dều đặn vào thành trong của mõ phát ra âm thanh nghe lách cách vui tai.

4. Mõ thuộc bộ gõ, không định âm, tham gia hòa tấu trong các dàn nhạc sân khấu và nhiều loại hình ca hát khác. Cấu tạo của mõ loại này thường làm bằng tre già, hình trăng khuyết như mõ làng, ở một số dàn nhạc tuồng, chèo còn dùng mõ gỗ như mõ chùa, kích cơ vừa phải, đường kính từ 10 – 25 cm. Ngày nay mõ còn được dùng trong các tốp nhạc dân tộc mới và trong dàn nhạc dân tộc tồng hợp. Đặc biệt tham gia vào dàn Đại nhạc Huế hiện nay có loại mõ làm bằng sừng trâu. Mõ này làm từ sừng trâu cong, cắt bỏ phần đầu nhọn, lấy phần gốc dài chừng 10 – 15 cm. Âm thanh của mõ sừng trâu vang, khoẻ.

————————–

Mõ làng

(Nguồn: internet)

Mõ là nhạc cụ tự họ thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Mõ làm bằng củ tre đực, hình bán nguyệt, có khoét một đường rỗng ở giữa. Khi sử dụng, một tay để mõ nằm trong lòng bàn tay, một tay cầm dùi gõ lên thân mõ. Âm sắc của Mõ trầm, ấm.

Mõ thường được sử dụng để đánh nhịp một, giữ nhịp cho người hát hay đàn và Mõ có thể đánh dồn nhanh trong thi nhịp, đổ khổ gây không khí.

————————–

Mõ trâu

(Nguồn: internet)

Là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Được làm bằng một đoạn sừng trâu dày, dài 12 cm. Người ta phải chọn loại sừng hình cong tiếng mới đẹp và vang. Khi diễn tấu nhạc công một tay cầm mõ, còn một tay cầm dùi gõ vào thân mõ. Âm thanh của mõ sừng trâu to, khỏe, vang. Mõ tham gia trong dàn nhạc tuồng, dàn nhạc lễ, dàn đại nhạc của cung đình, hoặc hòa tấu cùng tù và, ngà voi, vỏ ốc biển…

Ưng Quái 

(Nguồn: internet)

Ưng Quái là tên gọi của dân tộc Cơ Tu hiện sinh sống ở Quảng Trị để chỉ nhạc cụ này. Là nhạc cụ khá độc đáo và phổ biến trong sinh hoạt âm nhạc của dân tộc Cơ Tu và nhiều dân tộc khác ở Việt Nam. Mỗi dân tộc đều có tên gọi riêng cho nhạc cụ này như: Người Thái (phía Bắc) gọi là « Hưn Toóng », người Mường là « Páng Tơ ính », hay người Việt gọi là « Đàn Môi »…

Ưng Quái làm bằng đồng dát mỏng hình lá tre dài khoảng 8 cm, người ta đục thủng 2 đường theo hai cạnh của một hình tam giác cân để làm một lưỡi gà sao cho lưỡi gà này có thể rung tự do được.

Có nhiều ý kiến cho rằng « Ưng Quái » có thể xếp vào họ hơi, hay họ dây. Lại có ý kiến cho rằng nên xếp nhạc cụ này vào họ tự thân vang. Cǎn cứ vào nguồn phát âm của nhạc cụ, ta thấy khi chơi đàn, người chơi cầm đàn cho 2 môi giữ chặt lấy 2 cạnh của đàn. Tay trái giữ đàn, tay kia dùng ngón trỏ bật vào đàn. Chấn động rung sẽ thay đổi khẩu hình để tạo ra những âm bồi khác nhau. Cũng có dân tộc dùng dây buộc vào lá đồng, lấy ngón tay gẩy tạo ra âm thanh. Vì thế xếp nhạc cụ này vào họ tự thân vang là hợp lý.

Âm sắc của Ưng Quái đặc biệt, huyền ảo, thì thầm hơi có tiếng rè. Ưng Quái rất thích hợp trong không gian yên tĩnh, trữ tình cho thanh niên nam nữ tâm tình. Trong đêm khuya, tiếng đàn vang lên đối đáp nhau thể hiện tình cảm một cách tế nhị, nên người Cơ Tu luôn coi Ưng Quái là một người bạn không thể thiếu trong cuộc sống của họ.

Thanh la 

(Nguồn: internet)

Thanh la là tên gọi một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. ở miền Nam gọi là Đẩu, miền Trung gọi là Tang.

Được làm bằng đồng kim hợp thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính 15 – 25 cm, mặt hơi phồng, xung quoanh có thành cao 4 cm, ở cạnh thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dùi gõ vào mặt thau tạo ra tiếng vang, trong trẻo.

Thanh la được sử dụng trong dàn đại nhạc, dàn nhạc lễ miền nam, trong ban nhạc chèo, chầu văn và dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Trống Đồng

(Nguồn: internet)

Là nhạc khí tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Trống Đồng được đúc bằng đồng cả vành và tang trống. Theo cách phân loại của F.Heger, Trống Đồng có 4 loại chính:

Loại 1 là loại Trống Đồng lớn, cổ xưa nhất. Ngôi sao ở giữa mặt trống thường có 12 cánh. Một số trống có tượng cóc ở mép mặt trống. Thân trống phần trên phình ra, phần giữa thắt lại và phần dưới choãi ra, có 4 quai.

Loại 2: Có cả loại lớn và vừa. Ngôi sao ở giữa mặt trống thường có 8 cánh. Mặt trống chờm ra khỏi tang. Rìa mặt trống có từ 4 – 8 tượng cóc, có 2 quai, trang trí hoa văn hình hoa lá đối xứng hoặc hình học.

Loại 3: Thường là loại vừa và nhỏ. Ngôi sao có 12 cánh hoặc 8 cánh, có 4 tượng cóc ở mép trống, thân trống phần trên và dưới hình viên trụ, phần giữa thon lại, quai nhỏ.

Loại 4: Đường kính mặt trống thường có kích thước trung bình 50 cm, cao 45 – 50 cm. Mặt trống phủ vừa sát đến thành thân trống, ngôi sao ở giữa mặt trống 12 cánh. Thân trống chia ra 2 phần: Phần trên phình ra đỡ lấy mặt trống, phần dưới hình viên trụ tròn có 4 quai. Hoa vǎn trang trí hình động vật: Rồng, Khỉ, không có tượng cóc trên rìa mặt trống. Trống được đúc bằng hợp kim đồng, nhưng tiếng không trong, không vang xa như trống đồng loại 1.

Trống Đồng được gõ bằng dùi có mấu hoặc bọc vải da. Người đánh trống tay phải cầm dùi đánh vào mặt trống, tay trái cầm một thanh tre gõ vào tang trống tạo ra rất nhiều âm sắc khác nhau:

– Khi đánh vào núm giữa (được đúc dầy hơn), âm thanh nghe có cảm giác trầm hơn so với các vị trí khác.

– Đánh vào vành hoa văn cho cảm giác trong, vang.

– Khi đánh vào các con cóc, âm thanh phát ra sắc, gọ, ngắn.

Âm thanh Trống Đồng vang, khoẻ, hùng tráng. Trống Đồng được sử dụng trong Đường thượng chi nhạc (Thời hậu Lê), trong dàn Nhã nhạc thế kỷ XV, XVI và trong dàn nhạclễ thể kỷ XVIII. Hiện nay chỉ còn thấy trong đời sống văn hóa các dân tộc Khơ Mú, Lô lô và dân tộc Mường thường sử dụng Trống Đồng với tư cách là một nhạc cụ trong tang lễ. Trống Đồng là một hiện vật văn hóa tiêu biểu mà cha ông ta đã để lại. Là một nhạc khí quan trọng trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

(còn nữa…)

(Nguồn: http://tranquanghai.info/)

http://www.hoiamnhachanoi.org/content/cac-loai-nhac-cu-co-truyen-viet-nam-phan-2

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

w

Connexion à %s