Jour : 6 janvier 2018

YÊN LAN : Nghệ sĩ ưu tú Hoàng Anh Tú: Đưa tiếng đàn bầu đi khắp nhân gian

Nghệ sĩ ưu tú Hoàng Anh Tú: 

Đưa tiếng đàn bầu đi khắp nhân gian

hoang anh tu 1.jpg

Nghệ sĩ ưu tú Hoàng Anh Tú độc tấu đàn bầu trên sân khấu

Nhà văn hóa Diên Hồng (TP Tuy Hòa) – Ảnh: Y.LAN

Bị ép học đàn bầu từ năm 8 tuổi, sau đó ngộ ra và gắn bó với nhạc cụ một dây này cho tới bây giờ, Nghệ sĩ Ưu tú Hoàng Anh Tú đã buồn vui cùng những giọt đàn đầy mê hoặc, đã trút tâm tư vào suối âm thanh và nhận được sự đồng cảm của khán giả khắp nơi.

Những ai từng xem chương trình biểu diễn của Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (Hà Nội) tại TP Tuy Hòa hẳn đều khó quên tiết mục độc tấu đàn bầu của Nghệ sĩ Ưu tú Hoàng Anh Tú. Đó là màn biểu diễn thể hiện sự sáng tạo kết hợp với kỹ thuật điêu luyện. Và những tràng pháo tay giòn giã đã vang lên.

* Các nghệ sĩ thường dùng tiếng đàn bầu để thể hiện những bản nhạc Việt trữ tình sâu lắng, còn anh độc tấu “Tình đất đỏ miền Đông” và một nhạc phẩm nước ngoài với phong cách mới mẻ, khác lạ. Từ đâu mà có sự khác biệt đó, thưa anh?

– Tiếng đàn bầu rất ngọt ngào, tình cảm. Ca khúc “Tình đất đỏ miền Đông” của nhạc sĩ Trần Long Ẩn và “Hãy nói lời êm dịu” – nhạc nước ngoài – cũng đều rất tình cảm; đặc biệt là nhạc phẩm thứ hai rất mượt mà, nói về tình yêu – đề tài muôn thuở. Tôi chọn “chất liệu” đấy và độc tấu với phong cách mới, trẻ trung. Muốn có phong cách ấy thì phải tập luyện rất kỹ mới thể hiện được.

Cây đàn bầu xưa kia gắn với những người mù hát xẩm. Thế thì mình nhắm mắt vẫn chơi được, cần gì phải nhìn nữa, đúng không? Từ chỗ ngồi chơi đàn, tôi chuyển sang đứng, lại còn nhún nhảy, xoay bên này bên kia. Tôi nghĩ khán giả không chỉ cảm nhận tiếng đàn mà còn xem biểu cảm của người nghệ sĩ, từ đó tôi có phong cách này khi chơi nhạc nhẹ. Đến khi biểu diễn các tiết mục dân gian thì tôi lại mặc áo dài, đội khăn xếp, ngồi chơi đàn như các cụ ngày trước.

* Vì sao anh lại chọn đàn bầu mà không phải là một nhạc cụ nào đó thịnh hành và dễ diễn tấu hơn?

– Việc này là do bố tôi. Tôi học đàn từ năm 8 tuổi, lúc đó chưa có ý thức gì về các nhạc cụ nhưng bố tôi cứ bắt học, mà phải là đàn bầu. Khi vào nhạc viện, tôi “phát hiện” có nhiều nhạc cụ trông ấn tượng hơn, hấp dẫn hơn, nào là kèn, nào là violon, piano… Tôi học vài năm thì bắt đầu chán, vứt đàn lia lịa rồi giả vờ bảo rằng nó bị vỡ. Đến khi biểu diễn cho khách nước ngoài xem và họ “nhảy dựng” lên vì thích thú, tôi mới thấy giá trị của cây đàn bầu, chứ còn năng khiếu và sự nhanh nhạy thì mình đã có từ bé.

Sau này, mỗi khi ra nước ngoài biểu diễn, tôi nhận thấy đàn bầu rất được trân trọng. Với bạn bè quốc tế, chúng ta thường đưa đàn bầu ra “khoe”, vì đó là một nhạc cụ độc đáo của người Việt. Sau khi ngộ ra, tôi càng tìm hiểu chuyên sâu thì càng say mê đàn bầu.

* Chơi đàn bầu rất khó, vì chỉ có một dây. Theo anh, đâu là thử thách lớn nhất của nhạc cụ này đối với những người “trót” mê nó?

– Hát thì có lời, ca sĩ truyền cảm xúc bằng lời. Đàn bầu chỉ có tiếng mà chơi giống như hát thì thà rằng người ta nghe hát. Phải thể hiện, luyến láy trên cả hát thì người ta mới thấy đáng nghe. Và bên cạnh kỹ thuật còn phải xây dựng phong cách biểu diễn. Nếu đứng một chỗ chơi đàn thì chưa cuốn hút người xem.

* Biểu diễn khắp trong nước và nhiều nơi ở nước ngoài, hẳn anh có nhiều kỷ niệm khó quên?

– Tôi có những lần thử nghiệm với cây đàn bầu. Hồi đó còn nghèo, tôi còn đi xe đạp. Tôi ôm đàn về đầu làng, ngồi nơi quán nhỏ và chơi đàn khi người dân quê đi làm đồng. Tôi chơi đến bài thứ năm, thứ sáu và nhận ra người ta thích dân ca, thích những bài quen thuộc; chơi càng ngọt ngào thì họ càng thích. Tôi chơi đến bài thứ bảy thì có một ông cụ trong làng mời về nhà, mổ gà, nấu cơm mời ăn để tôi chơi cho cả nhà nghe, cả xóm nghe. Tôi nghiệm ra: Muốn chinh phục người lao động thì tiếng đàn phải thể hiện những gì thân thuộc, gần gũi với họ. Đấy là một kỷ niệm.

Biểu diễn ở nước ngoài thì nhiều, song tôi nhớ nhất là lần biểu diễn trước Kissinger vào năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết và ông ta đến Hà Nội. Một chương trình biểu diễn được tổ chức, có thiếu niên tham gia và có tiết mục độc tấu đàn bầu. Trong 4 người học đàn bầu khi đó, 3 bạn kia toàn được điểm 10, còn tôi toàn điểm 8 vì nghịch nhiều, không chịu học. Hôm ấy 3 bạn điểm 10 chẳng may ốm cả, tôi được thay vào. Hai cô giáo đưa đi, lo cho tôi từ chiếc khăn quàng đỏ cho đến đôi dép. Tôi chơi bài “Con kênh xanh xanh”. Qua đêm diễn đấy, tôi nhận ra tiếng đàn bầu rất đặc biệt, rất được trân trọng và bắt đầu có ý thức học hành. Tôi cảm ơn bố đã ép tôi học đàn.

* Xin cảm ơn anh!.

Nghệ sĩ Hoàng Anh Tú sinh năm 1963, quê ở Phú Thọ. Cùng cây đàn bầu, anh trải qua 15 năm học ở Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam), từ sơ cấp đến đại học. Sau khi tốt nghiệp, anh gắn bó với Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long cho đến bây giờ. Anh là một trong các nghệ sĩ vừa được Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Lễ phong tặng sẽ diễn ra trong tháng 1/2016.

YÊN LAN (thực hiện)

http://vanthonhactrieuchau.blogspot.fr/2017/03/blog-post_948.html

 

Nghệ sỹ đàn bầu Hoàng Anh Tú

Nghệ sỹ đàn bầu Hoàng Anh Tú

Hoàng Anh Tú (chồng cũ của Thanh Thanh Hiền) được người cha dẫn dắt con vào thế giới của nhạc cụ dân tộc và coi cây độc huyền cầm như số phận của mình.

07:05 – 14/05/2011

Hoàng Anh Tú là một nghệ sỹ đàn bầu nổi tiếng. Gần đây, nhiều người còn quan tâm đến anh bởi những bài báo về cuộc chia tay với người vợ – nghệ sỹ cải lương tài sắc, Thanh Thanh Hiền.

Nghe tiếng đàn bầu Hoàng Anh Tú

Riêng với NSƯT Hoàng Anh Tú anh hạnh phúc khi được sống chết với cây đàn bầu truyền thống, mang nó đến với công chúng, và kiếm tiền từ nó để nuôi hai cô con gái nhỏ mà anh coi như ý nghĩa sống của cuộc đời. Những năm bẩy mươi của thế kỉ trước, người ta chuộng nhạc cụ phương Tây, vậy mà khi hướng nghiệp cho con trai Hoàng Anh Tú, cha anh – một giáo viên dạy chính trị – lại dẫn dắt con vào thế giới của nhạc cụ dân tộc. Kể từ đó, cậu bé 8 tuổi nghiễm nhiên coi cây độc huyền cầm như là « số phận » của mình. Kể cũng lạ, sinh ra trong một gia đình không làm nghệ thuật vậy mà Anh Tú lại tỏ ra có năng khiếu và sự tương thích nhanh chóng với cây đàn bầu. Cứ thế, bao năm qua đi, đàn với anh như hình với bóng.

dan1.jpg

Hoàng Anh Tú biểu diễn tiết mục hát xẩm cùng con gái Thanh Thanh Tấm
Khi biểu diễn, anh đắm đuối theo từng ngón tay gẩy vì thế thanh âm như có hồn hơn, réo rắt, ngây ngất hơn. Trong suốt 15 năm (1971 – 1985) theo học tại Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) anh luôn đạt thành tích học tập xuất sắc, nhiều lần tham gia hội diễn, hội thi, và biểu diễn phục vụ khách quốc tế. Ra trường anh ước mơ thành lập nhóm nhạc dân tộc.
Nhưng phải chờ đến khi « đầu quân » ở Nhà hát ca múa nhạc Thăng Long mong ước của anh mới được thực hiện. Nhóm nhạc « Mưa rừng » chính là nơi để NSƯT Anh Tú cùng những người bạn « cháy hết mình » cho niềm đam mê biểu diễn nhạc cụ dân tộc. Tiếng đàn cùng phong cách biểu diễn chuyên nghiệp của chàng nghệ sĩ họ Hoàng liên tiếp mang về cho anh những thành công và nhiều giải thưởng lớn.
Đến với Thanh Thanh Hiền sau khi chia tay người vợ đầu và có một cô con gái, anh từng tâm sự: « Dường như mọi thứ giữa tôi và Hiền hợp nhau đến không ngờ ». Nhưng cuộc sống hạnh phúc chấm dứt bằng một cuộc chia tay lặng lẽ. Anh Tú không oán trách, không lên báo kể tội « người cũ » như nhiều « nghệ sỹ » vẫn làm bởi chỉ đơn giản: « Tôi cố gắng sống làm sao để các con ít bị mất mát nhất, cố gắng để các con không cảm thấy bị mất đi một gia đình.
Các con đi học về, gia đình tôi vẫn có bữa cơm đầm ấm, bố ngồi đó ăn, vui đùa cùng các con, chăm lo cho nó, nó cũng cảm thấy có một mái ấm gia đình, có bố, có bác giúp việc, chỉ có mẹ nó là đi vắng thôi. Thỉnh thoảng mẹ nó vẫn về, tôi vẫn tạo điều kiện để mẹ con gặp nhau, vui đùa với nhau. Nói chung là tôi tránh sự đau xót, nếu vợ chồng đằng nào cũng chia tay thì nên cố gắng làm sao chia tay văn hóa nhất, làm sao vẫn còn sự tôn trọng nhau cùng cả gia đình, khi ấy các con nhìn vào còn thấy nhiều thứ tốt đẹp. Chặng đường phía trước mặt tôi còn dài lắm ».
chongTTH1.jpg
Từ hơn một năm nay, người dân Thủ đô đi dạo ở khu vực hồ Hoàn Kiếm vào buổi tối thường được thưởng thức tiếng đàn bầu của các nghệ sĩ biểu diễn ở Nhà Kèn (phía sau tượng đài Lý Thái Tổ). Đây là chương trình bảo tồn và quảng bá cây đàn bầu dân tộc do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội chủ trì và CLB Hoàng Anh Tú thực hiện.
Hoàng Anh Tú chọn Nhà Kèn làm nơi để biểu diễn bởi đây là một sân khấu ngoài trời quen thuộc của người Hà Nội. Sân khấu này tồn tại từ thời Pháp thuộc. Đây cũng là nơi đủ rộng, thoáng để biểu diễn và quảng bá cây đàn bầu Việt Nam. Anh chia sẻ: « Tôi xuất thân là một nghệ sĩ chơi đàn bầu, càng tìm hiểu về cây đàn bầu tôi càng thấy cái hay của nó, từ âm thanh đến sự độc đáo trong cách chơi đàn. Đàn bầu là loại nhạc cụ rất gần gũi với người Việt, dễ làm, dễ chơi, sử dụng được ở nhiều nơi khác nhau. Tuy thế, không phải ai cũng hiểu hết về cây đàn bầu, nhất là trong thời đại người ta chơi nhiều nhạc cụ tây, cây đàn bầu càng trở nên lép vế trong những buổi trình diễn âm nhạc. Số người tìm hiểu cây đàn bầu càng ít so với những loại nhạc cụ dân tộc khác. Bởi vậy, với mong muốn rất nhỏ nhoi là mọi người hiểu hơn về cây đàn bầu nên tôi đến đây trình diễn ». Diễn không lấy cat xê, thậm chí thỉnh thoảng còn mang theo cô con gái nhỏ, được ví như một tài năng hát dân ca nhí đi diễn cùng bố.
Chắc thời buổi này ít nghệ sỹ dám bỏ ra một tuần đến ba buổi tối làm công việc anh đang làm. Bởi được biết anh rất bận rộn, nào phối khí, sáng tác, làm nhạc cho sân khấu, vừa rồi sáng tác nhạc cho một số festival, phối nhạc cho các ca sĩ cần phần đệm, lại còn điều hành Cty riêng và câu lạc bộ đàn bầu biểu diễn tại tư gia hàng đêm. Ý tưởng biểu diễn giới thiệu cây đàn bầu của Hoàng Anh Tú trùng hợp với chương trình của Sở VH, TT& DL đang ấp ủ là sẽ tiến hành biểu diễn lần lượt những nhạc cụ dân tộc khác như nhị, sáo, trống cơm nhưng chưa thể thực hiện vì còn vướng vấn đề kinh phí. Anh trải lòng: « Đàn bầu trong cuộc sống bây giờ cũng bị lãng quên nhiều, ra ngoài trời biểu diễn mình khoe được tiếng đàn với giới trẻ, giới trẻ bây giờ ít biết về đàn bầu, khi tôi làm ở Nhà Bát Giác họ tò mò lắm. Người trẻ của mình đi nước ngoài đây đó mà không biết cội nguồn cây đàn bầu như thế nào trong khi Tây thì họ lại biết. Giới trẻ cũng chẳng có lỗi gì, với cuộc sống thế này, con mình cũng học suốt như thế, khi giải trí thì chơi game chứ ai biết đến đàn bầu. Lỗi do mình, mình chưa cập nhật, quảng bá được. Tôi đang cố gắng tìm trên mạng, học hỏi hàng ngày để làm sao tìm được ngôn ngữ của thời đại bây giờ đưa vào đàn bầu. Tôi phải nghiên cứu làm sao để họ thích dạng nhạc đó, đàn bầu thể hiện được tất cả những ngôn ngữ nhạc của thế giới đấy. Đêm nào tôi cũng tập luyện, cứ 2-3h sáng lại dậy tập, cốt để làm sao giữ chân khách. Làm sao để một bà đi tập thể dục qua đứng lại xem rồi đứng mãi không về được thì là thành công. Người Tây nói một câu rất giản dị là cái hay từ trong nhà đi ra, mình đánh đàn làm sao thu hút được ngay từ hàng xóm của mình, còn cứ đi Pháp, Mỹ rồi lên báo chí, nhưng ở nhà đàn đầy mạng nhện thì… Phải làm sao thuyết phục được dân Hà Nội mình mới là quan trọng ». Của để dành và niềm tự hào của anh là hai cô con gái đáng yêu, đặc biệt là cô bé út có nghệ danh Thanh Thanh Tấm (tên thật là Hoàng Anh Thái Phương). Nhiều người đến Nhà Kèn xem biểu diễn chỉ để thưởng thức tiết mục Say trăng và Mục hạ vô nhân của cô bé và bố. Cô bé con này từ khi chưa biết đọc đã có khả năng cảm thụ âm nhạc, đặc biệt là nhạc dân ca rất tốt. Khi nói sõi cũng là lúc Thanh Thanh Tấm biết nghêu ngao những bài dân ca, lớn thêm chút nữa, những bài cô bé hát tự nhiên có nhịp, điệu rõ ràng. Ngạc nhiên trước khả năng của con, Hoàng Anh Tú dành thời gian luyện tập thêm cho con. Và khi lên 5 tuổi, cô bé đã cùng cha mình đi khắp nơi trong và ngoài nước biểu diễn. Mới  hơn 6 tuổi, nhưng Tấm đã có gia tài riêng là một CD thu âm 5 ca khúc gồm các bài dân ca: Mời nước mời trầu, Lý ngựa ô, Lý kéo chài, Say trăng và một bài xẩm Mục hạ vô nhân. Hoàng Anh Tú đang mơ làm được một liveshow, nơi mà cây độc huyền cầm thể hiện được đủ cung bậc, đủ giai điệu khiến khán giả không thể chán được, liveshow ấy sẽ là cầu nối để khán giả trẻ biết đến độc huyền cầm thật rộng rãi và tự hào về nó. Anh còn ấp ủ thực hiện một bộ phim ca nhạc về nhạc truyền thống nói chung và đàn bầu nói riêng. Anh đã viết xong kịch bản với những nhân vật sinh động, lồng vào đó là những giai điệu cổ truyền… Trong thời gian hiện thực các dự án ấy, căn nhà đầy ắp không khí nghệ thuật tại 221 Hoàng Hoa Thám của nghệ sỹ Anh Tú vẫn luôn mở cửa đón những người yêu đàn bầu nói riêng và nhạc cụ truyền thống nói chung.

Đàn bầu: HỒI TƯỞNG – Đàn bầu Ngọc Huyền – Nghệ sĩ trẻ tài năng

Đàn bầu: HỒI TƯỞNG – Đàn bầu Ngọc Huyền – Nghệ sĩ trẻ tài năng

Published on Nov 29, 2016

▶Đàn bầu: HỒI TƯỞNG – Đàn bầu Ngọc Huyền – Sáng tác Xuân Thi -【MUA SÁO TRÚC CHẤT LƯỢNG CAO: 0964 953 864】- https://youtu.be/SuXbXthczZ8 ► Nhạc hòa tấu, Nhạc Không Lời, Nhạc Dân Tộc, Nhạc Quê Hương, Dân ca, Nhạc Dân ca, Nhạc Cổ Truyền, Hòa Tấu Nhạc cụ dân tộc, Sáo trúc, Hòa tấu Sáo trúc, Hòa tấu, Sáo trúc Trung Hoa, Hòa tấu không lời, Hòa tấu nhạc buồn, Quan Họ, Chèo, Chầu Văn, v.v.v ► Link kênh: https://www.youtube.com/user/NguyenTh…

NSND Xuân Hoạch: Cây đàn nhị độc nhất thế giới | VTC

NSND Xuân Hoạch: Cây đàn nhị độc nhất thế giới | VTC

Published on Mar 24, 2016

VTC | Bằng tâm huyết cả đời yêu nghệ thuật dân gian, NSND Xuân Hoạch đi khắp các vùng miền của đất nước nghiên cứu tạo nên chiếc đàn nhị độc nhất thế giới.

Chương trình nghệ thuật: Tiếng đàn bầu | VTC

Chương trình nghệ thuật: Tiếng đàn bầu | VTC

Published on Jan 27, 2017

VTC | Đàn bầu một nhạc cụ bản địa của người Việt. Tiếng đàn bầu với những âm điệu quyến rũ lòng người. ‘Tiếng đàn bầu’ – chương trình nghệ thuật đặc biệt chào xuân Đinh Dậu trên VTC.

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: “Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn

Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: “Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn

Như đã biết, Trần Văn Khê là anh cả trong gia đình có 3 anh em, hai người còn lại là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương. Giống như người anh cả Trần Văn Khê, hai người em cũng lớn lên trong môi trường âm nhạc của gia đình, về sau đều thành danh. Đặc biệt là người em kế Trần Văn Trạch, tuy kém anh mình ở học hàm, học vị, nhưng cũng đủ sức làm náo động cả Sài Gòn suốt thời gian dài bằng tài năng nghệ thuật của mình.

Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương thời trẻ (Ảnh từ trái qua).

“Khê anh » và “Khê em »

Trần Văn Trạch sinh năm 1924, nhỏ hơn Trần Văn Khê 3 tuổi. Thuở nhỏ, cũng giống như anh mình, Trần Văn Trạch theo học tiểu học ở Collège de Mỹ Tho (Trường Trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường. Ngay từ lúc nhỏ, ông đã có năng khiếu về âm nhạc, lại được người cô ruột là cô Ba Viện chỉ dạy, nên ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Ông còn học đàn mandoline với anh ruột Trần Văn Khê và học đàn violon với người anh họ Nguyễn Mỹ Ca. Ở tuổi thiếu niên, ông đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

Kể về đứa em kế của mình, GS.TS Trần Văn Khê viết: “Khi Trạch mới sanh, cả nhà đều vui mừng. Ông nội tôi muốn đặt tên con cháu đều có bộ Thủy nên cha tôi tên Triều là dòng nước, tôi tên Khê là khe suối, em tôi tên Trạch là ao, đầm. Nhưng từ lúc lên một, mỗi khi trong nhà có ai gọi em tôi « Trạch ơi! » là con cháu của bà cụ láng giềng trùng tên thấy khó chịu, nên qua xin ông nội tôi đặt tên khác cho chú bé Trạch, để bà khỏi bị kêu réo tên bà”. Từ đó, dù trong sổ bộ vẫn tên Trần Văn Trạch, nhưng cậu bé Trạch được gọi cái tên mới là “Khê em”, còn Trần Văn Khê là “Khê anh”. Trong gia đình và cả làng Vĩnh Kim, ai nấy đều gọi 2 anh em là “Khê anh” và “Khê em”.

GS.TS Trần Văn Khê kể tiếp: “Tuy chúng tôi cách nhau 3 năm, chúng tôi không rời nhau, như anh em sinh đôi. Tối đi ngủ, sáng thức dậy một lượt, cùng ăn lót lòng giống nhau, môt gói bắp nấu, một gói xôi đậu hay xôi nếp than có dừa nạo muối mè. Mỗi buổi ăn, ngồi gần nhau, đi tắm sông, tập đi xe đạp, học võ Thiếu Lâm với anh ba Thuận con của cậu năm Khương, cả khi đi tiểu, đi tiêu cũng đều cùng một lúc”.

Sau khi Trần Văn Khê lên Sài Gòn học Trường Petrus Ký rồi ra Hà Nội học ngành y, Trần Văn Trạch cũng rời quê hương lên Sài Gòn đi theo nghiệp âm nhạc. Nhưng chỉ hơn năm sau, tại quê nhà, cô Ba Viện (như là mẹ ruột của 3 anh em Trần Văn Khê) lâm trọng bệnh. Vì chữ hiếu, “Khê em” phải bỏ giữa chừng mọi dự tính, trở về quê lo tròn chữ hiếu. GS.TS Trần Văn Khê kể: “Khi cô tôi đau nặng, bịnh lao đã tới thời kỳ thứ ba, trắc nghiệm trong đàm đã thấy có vi trùng Koch. Cô tôi có một người giúp việc rất trung thành, tình nguyện nuôi cô tôi lúc đau ốm. Nhưng Trạch, nhứt định bỏ cả công việc về làng Vĩnh Kim, vừa tìm việc làm ăn hùn hiệp với một người anh họ để làm lò chén vừa để mỗi ngày đạp xe lôi đưa cô tôi đi hứng gió ở ngã ba chim chim, cách nhà cô tôi đang ở hơn 1 cây số. Trạch thuê đóng một chiếc xe lôi có ghế nệm, mỗi ngày khi mặt trời xế bóng về chiều, Trạch đạp xe đạp, đưa cô tôi đi hứng gió…”.

Lúc đó, ở Mỹ Tho, có một gia đình người Pháp làm công chức. Người Pháp này có cảm tình với cậu học sinh đàn hay, hát giỏi Trần Văn Trạch. Lúc Nhật đảo chính Pháp năm 1945, ông người Pháp bị bắt lên tập trung tại Sài Gòn. Trước khi đi, ông gởi gắm gia đình nhờ Trạch trông nom. Ông có một cô gái lớn rất đẹp và trai tài gái sắc đã gặp nhau, cuộc tình dẫn đến sự ra đời của một đứa bé. Khi phong trào Việt Minh nổi dậy, Trần Văn Khê gia nhập Thanh niên cứu quốc. Trần Văn Trạch dắt cô vợ Pháp và đứa con nhỏ vào vùng kháng chiến tìm anh. Để rồi sau khi gặp anh ở Cần Thơ, Trần Văn Trạch được vào Đội quân nhạc Nam bộ và hai anh em sống lại cuộc đời thuở nhỏ, cùng ăn một mâm, cùng ngủ dưới một mái nhà.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch.

Người khai sinh nhạc hài hước

Sau khi Nhật đầu hàng trong Thế chiến 2, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà ở Sài Gòn được phép mở cửa trở lại. Trần Văn Trạch trở về Sài Gòn xin vào làm hoạt náo và hát tại Dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau đó, ông mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandìere (nay là đường Lý Tự Trọng, TPHCM). Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán ca nhạc tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TPHCM). Nhằm câu khách, ông Trạch thường hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho một cái tên rất Tây là Tracco. Trong thời gian cùng anh trai đi theo ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương. Nhìn thấy Trần Văn Trạch tiềm ẩn nét duyên pha lẫn chất hài, Lê Thương viết thử bài ca hài cho bạn trình diễn. Đó là bài « Hòa bình 48 », Trạch hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom… Trạch trình diễn thành công, Lê Thương nổi hứng viết tiếp bài « Liên Hiệp Quốc » hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu; rồi bài « Làng báo Sài Gòn » phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp… cũng do ông Trạch hát. Vì những bài hát này mà Lê Thương và Trần Văn Trạch có lần bị cảnh sát bắt giam ở bót Catinat mấy ngày.

Năm 1949, Trần Văn Trạch đã nảy ra ý nghĩ mở đại nhạc hội – một chương trình văn nghệ tổng hợp bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật… Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền, kể từ đó cái tên “đại nhạc hội” trở nên phổ biến. Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ « chương trình văn nghệ phụ diễn » cũng ra đời từ đó. Trần Văn Trạch cũng sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn. Bản nhạc « Anh phu xích lô » là sáng tác đầu tiên của ông. Ông viết tiếp những bài hát hài « Cái tê-lê-phôn », « Cái đồng hồ tay », « Cây bút máy », « Anh chàng thất nghiệp », « Sở vòi rồng », « Đừng có lo », « Tôi đóng xinê », « Chiếc ôtô cũ », « Chiến xa Việt Nam »… Bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú về chất duyên, hài hước của ca từ, giai điệu và cách diễn xuất của chính tác giả.

“Quái kiệt” đa tài

Ngoài nghiệp ca hát và sáng tác, Trần Văn Trạch còn cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn phôi thai. Năm 1955, ông cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là « Lòng nhân đạo » (1955) và « Giọt máu rơi » (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương. Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về truyện cổ tích Việt Nam, đó là « Thoại Khanh – Châu Tuấn » (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và « Trương Chi – Mỵ Nương » (1956, đóng chung Trang Thiên Kim, La Thoại Tân).

Năm 1961, sau một chuyến lưu diễn 6 tháng ở Pháp, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là màn múa rối học được ở Pháp. Đồng thời, người yêu nhạc Sài Gòn lấy làm thích thú giọng hát Trần Văn Trạch với bài hát “Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa). Bài « Chiều mưa biên giới » với giọng hát Trần Văn Trạch đã đứng vững trong làng tân nhạc Sài Gòn suốt mười mấy năm, hầu như không có ca sĩ nào ở Sài Gòn hát bài này qua Trần Văn Trạch. Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch còn là « ông bầu », chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ. Khoảng giữa thập niên 1960, bắt đầu từ một bài báo, biệt danh “Quái kiệt Trần Văn Trạch” đã xuất hiện ở Sài Gòn, gắn liền với người nghệ sĩ đa tài mà mỗi lần xuất hiện đều làm náo động sàn diễn.

Hầu hết người Sài Gòn và cả miền Nam không thể nào quên bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” do chính Trần Văn Trạch sáng tác và hát mỗi chiều thứ bảy, khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát sóng trực tiếp chương trình xổ số kiến thiết hàng tuần. Cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, phong trào chơi vé số, kèm theo đó là nạn chơi số đề, nở rộ khắp Sài Gòn và cả miền Nam. Bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” qua giọng hát thu hút của Trần Văn Trạch như thêm thôi thúc người dân đến với xổ số và số đề: “Kiến thiết quốc gia/ Giúp đồng bào ta/ Xây đắp muôn người/ Được nên cửa nhà/ Tô điểm giang san/ Qua bao lầm than/ Ta thề kiến thiết/ Trong giấc mộng vàng/ Triệu phú đến nơi/ Chỉ mười đồng thôi/ Mua lấy xe nhà/ Giàu sang mấy hồi…”.

Tháng 12.1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp), ông tiếp tục có những năm tháng sống gần gũi với anh trai là GS.TS Trần Văn Khê. Từ đó trở đi, Trần Văn Trạch gần như chia tay với hoạt động nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống. Trần Văn Trạch mất ngày 12.4.1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetìere Intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris. Ngày ông qua đời, người anh trai là GS.TS Trần Văn Khê đang ở Việt Nam để sưu tầm âm nhạc truyền thống dân tộc. GS.TS Trần Văn khê đã tức tốc bay về Paris làm chủ tang cho đứa em ruột thịt của mình, đứa em đã từng gắn bó với ông trong những ngày niên thiếu và cùng đi chung với ông trên con đường nghệ thuật thênh thang.

https://baomoi.com/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gs-ts-tran-van-khe-quai-kiet-tran-van-trach-nguoi-lam-nao-dong-ca-sai-gon/c/17132232.epi