Mois : janvier 2018

Kiếp Hoa – Phim Việt Nam Năm 1953

Kiếp Hoa – Phim Việt Nam Năm 1953

Published on May 7, 2016

Theo sách « Điện Ảnh Việt Nam – Trôi theo dòng lịch sử » của tác giả Lê Quang Thanh Tâm: “Kiếp hoa” là bộ phim Việt Nam do Công ty Kim Chung Điện ảnh sản xuất năm 1953 tại Hà nội. Lúc bấy giờ là thời hoàng kim của sân khấu cải lương, phim ảnh vẫn còn là bộ môn nghệ thuật tương đối xa lạ ở Hà Nội. Chưa có đạo diễn, chưa có nhà quay phim. Kiếp hoa là dự án phim mang tính gia đình. Bầu Long (Trưởng đoàn hát Kim Chung) viết kịch bản, nữ diễn viên chính – vai Ngọc Lan – do diễn viên Kim Chung (vợ bầu Long) đảm nhận. Kim Xuân (em dâu của bầu Long) vào vai thứ chính Ngọc Thủy. Bộ phim chuẩn bị từ năm 1952, có tới 300 truyện dự thi nhưng bầu Long chọn được kịch bản “Kiếp Hoa”.Lúc đầu bộ phim định giao cho đạo diễn nổi tiếng của Pháp là ông Claude Bernard nhưng do những giới hạn về kinh tế, ông này không thể ở lâu làm phim mà chỉ đào tạo căn bản về nghệ thuật thứ 7 cho các diễn viên và ê kíp làm phim người Việt.Còn bầu Long phải hợp tác với ê kíp làm phim của Hương Cảng. Bộ phim Kiếp hoa thời đó rất « đình đám ». Nhà sản xuất đã thuê máy bay rải các tờ bướm để quảng cáo. Tiền đầu tư là toàn bộ doanh thu từ các đêm hát của Đoàn cải lương Kim Chung. Tiền thu được sau khi công chiếu bộ phim thì đủ để ông bầu sắm được một ngôi biệt thự trên phố Nguyễn Du (Hà Nội). Bộ phim Kiếp hoa không chỉ làm sáng đèn ở các rạp Hà Nội, mà còn Nam tiến vào Sài Gòn và khắp các rạp tỉnh miền Tây. Bộ phim rất ăn khách , chỉ trong một thời gian ngắn đã thu được 8 triệu đồng. Nội dung phim : Trên đường tản cư, hai chị em Ngọc Lan – Ngọc Thủy tá túc tại nhà của một chàng trai (Trần Quang Tứ thủ vai). Người chị đính ước cùng anh. Rồi chiến tranh loạn ly, họ lạc nhau trên các bước đường tản cư. Khi gặp lại thì Ngọc Lan đã trải qua « bao phen sóng dập gió vùi », đành nhờ cậy em gái gánh thay mình mối nhân duyên với chàng trai đã đính ước. Ngọc Thủy mang đúng nét đẹp của nàng Vân, « khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang ». Thủy nhí nhảnh, vô tư bên cạnh người chị đa sự, đa đoan và bạc mệnh. Tính cách quyết định số phận. Thủy yên ả như cuộc đời nàng Vân lành lặn khi xưa. Ca khúc Dư âm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý là ca khúc chính trong phim, và nó đã trở nên nổi tiếng, “ nằm lòng” nhiều thế hệ người yêu nhạc từ đó đến nay. Bản lưu của bộ phim này được bà Kim Chung khi còn sống trao tặng cho Viện tư liệu phim Việt Nam lưu giữ.

VNA/CVN : Monocorde : le đàn bầu, un instrument de musique vietnamien

31/10/2016 23:30
L’opinion publique et les artistes de musique traditionnelle ​s’indignent de la déclaration de la Chine considérant que le đàn bầu (monocorde) lui appartient. Pour éclaircir cette question, le journal Thể thao & Văn hóa (Sports et Culture) de l’Agence Vietnamienne d’Information présente aux lecteurs l’extrait de l’article du Professeur et Docteur en musicologie Trân Quang Hai.
>>Le son du dàn bâu résonne à Prague
>>Des instruments de musique originaux en bois de cocotier
>>Préservation et valorisation de la musique traditionnelle

Le « đàn bầu » est un monocorde vietnamien.

Photo : CTV/CVN

Des ouvrages historiques importants ​traitent du đàn bầu. Selon les manuscrits An Nam chi luoc, Dai Viêt su ky toàn thu, Chi Nam Ngoc âm giai nghia, Dai Nam thuc luc tiên biên, Tân Duong thu ou encore Cuu Duong Thu, le monocorde a fait sa première apparition dans le delta du fleuve Rouge (Nord). Puis, cet instrument a été apporté au Guangxi (Chine) par des habitants de l’ethnie Kinh, l’ethnie majoritaire du Vietnam.

Selon Hoàng Yên, auteur de l’article La musique à Huê : Dàn Nguyêt et Dàn Tranh publié dans le Bulletin des Amis du Vieux Huê en 1919, le monocorde a été apporté à Huê (Centre) par des chanteurs aveugles du Nord de Hát xẩm (chant xâm) – un art populaire créé au XIIIe siècle – pour ​satisfaire certains mandarins progressistes et passionnés ​par les sons limpides et roucoulés de cet instrument singulier.

Vers la fin du ​XIXe – début du XXe siècle, le roi Thành Thái, l’un des trois rois patriotes sous la colonisation française, adorait le son du monocorde de l’An Nam (nom du protectorat chinois sur une partie du territoire formant aujourd’hui le Vietnam de 618 à 939, avant l’indépendance du Dai Viêt. Par la suite, le mot a continué d’être employé par les Chinois pour désigner le Vietnam ; l’usage a ensuite été repris par les Occidentaux pour désigner le Vietnam dans son ensemble). À l’époque, le monocorde a remplacé le đàn tam (instrument à trois cordes) dans les ensembles de cinq instruments de musique : cithare à seize cordes, luth à quatre cordes, viole à deux cordes, luth à caisse ronde et à deux cordes, et donc monocorde.

Le monocorde est un instrument ​utilisé ​lors des représentations de đờn ca tài tử (chants des amateurs du Sud) depuis les années 1930. ​​À l’époque, il faut savoir qu​’une partie de la population du Centre a migré vers ​le Sud pour y exploiter la terre vers la fin du XIXe siècle.

Le musicologue Trân Van Khê, aujourd’hui décédé, a décrit l’instrument dans sa thèse présentée à Paris en 1958 et dans le livre Vietnam – Traditions musicales publié à Paris en 1967 par la Maison d’éditions Buchet/Chastel.

Le Pr-Dr Trân Quang Hai a écrit un article présentant le monocorde dans le livre Music of the world, publié en France en 1994 par l’éditeur J. M. Fuseau, Courlay.

Il y a sept ans, la musicienne Quynh Hanh (du groupe Hoa Sim, créé à Saïgon dans les années 1960) a soutenu avec brio sa thèse de doctorat sur le « Đàn Bầu » à l’Université Paris Sorbonne 4. Outre la présentation de cet instrument et de l’ethnomusicologie, l’auteur a consacré une partie de sa thèse à présenter l’utilisation du monocorde dans le traitement des maladies psychiatriques ou la musicothérapie.

Alors, Vietnam ou Chine ?

Ces derniers temps, la Chine a organisé des festivals de musique ethnique avec des interprétations de đàn bầu. ​Le site web du China Daily USA a publié un article accompagné d’une photo de l’agence Xinhua avec pour légende « Des centaines de personnes de l’ethnie minoritaire Kinh jouent du monocorde » lors d’une fête traditionnelle en Chine. Selon cet article, l’ethnie Kinh avait émigrée du Vietnam en Chine il y a 500 ans, et comptait actuellement 22.000 représentants.

La Chine a envoyé des musiciens au Vietnam pour apprendre à jouer du đàn bầu et a invité certains chercheurs à écrire des articles sur cet instrument de musique. Sun Jin, de nationalité chinoise, a fait une thèse de doctorat sur le đàn bầu à l’Académie nationale de musique du Vietnam.

Selon le musicien Dô Lôc, en 1967, une troupe de danse et de chant de l’Armée de libération du Sud-Vietnam a donné une représentation artistique à Pékin. Le musicien Duc Nhuân a interprété un morceau de đàn bầu impressionnant. Puisque le đàn bầu appartient au Vietnam, la Chine souhaite apprendre à jouer de cet instrument de musique. Le Vietnam l’a accepté et l’artiste chinois Tian Chang est allé avec la troupe artistique du Vietnam pendant sa tournée pour étudier le đàn bầu.

Selon le monocordiste Nguyên Tiên, il avait présenté fin 2013 l’histoire du développement du đàn bầu du Vietnam à l’Académie de Guangxi, en Chine.

Certains artistes et chercheurs ont estimé que le đàn bầu n’attirait l’attention en Chine que​ depuis près de 20 ans. Auparavant, il n’y avait aucun enseignement du đàn bầu dans les académies de musique ​chinoises, alors que cet instrument était présent du Nord au Sud du Vietnam et enseigné dans les trois académies nationales de musique de Hanoï, de Huê et de Hô Chi Minh-Ville, avec des centaines d’élèves.

La Chine s’est déjà appropriée
de patrimoines d’autres pays

La cithare monocorde de la Chine est appelée độc huyền cầm, du Japon Ichigenkin, de l’Inde Gopi yantra, du Cambodge Sadiou. Parmi lesquelles, aucune ne peut produire les partiels harmoniques comme le đàn bầu vietnamien.

L’appropriation de patrimoines immatériels d’autre pays par la Chine n’est pas un fait isolé. En 2009, la Chine a soumis à l’UNESCO des dossiers sur l’art mongol du chant Khoomei (ou chant de gorge) pour inscription au patrimoine culturel immatériel de l’humanité.

La Mongolie s’est opposée véhémentement à la revendication chinoise sur cette forme de chant parce que le Khoomei, selon les experts mongols, provient de la région du Nord-Ouest de la Mongolie et non la Mongolie intérieure, comme ce qui était affirmé dans le dossier transmis par la Chine.

En 2010, la Mongolie a soumis ses dossiers sur le chant Khoomei qui a été reconnu en 2012 par l’UNESCO en tant que patrimoine culturel immatériel de l’humanité.

Outre le chant Khoomei, la Chine avait eu l’intention de soumettre à l’UNESCO les dossiers sur l’Arirang, chant lyrique traditionnel ​de République de Corée. Mais cette dernière a organisé opportunément à Séoul un séminaire sur cette forme de chant. En 2014, l’Arirang a été reconnu par l’UNESCO en tant que patrimoine immatériel de la République de Corée.

VNA/CVN

Film video: LE CHANT DES HARMONIQUES, co auteurs : TRAN QUANG HAI & HUGO ZEMP, réalisateur: HUGO ZEMP, CNRS 1989

Film video: LE CHANT DES HARMONIQUES, co auteurs : TRAN QUANG HAI & HUGO ZEMP, réalisateur: HUGO ZEMP, CNRS 1989

Standard
Pour voir le film , cliquer le lien joint :
To watch the film, click the link below:

http://videotheque.cnrs.fr/index.php?urlaction=doc&id_doc=606

 TQH-chant-des-harmoniques.jpg
tran quang hai le chant des harmoniques 2.jpg
tran quang hai le chant des harmoniques 1.jpg

Vidéothèque du CNRS

Accueil > Fiche détaillée

Video not supported

Chant des harmoniques (Le)

  • Description
  • Storyboard
  00:38:00  1989  SD 4/3  Couleur  Sonore

Dans la technique vocale du chant diphonique connu surtout en Asie centrale, une seule personne chante à deux voix : un bourdon (une note grave) constitué par le son fondamental, et une mélodie superposée formée par des harmoniques sélectionnées dans la cavité buccale.
Tran Quang Hai, ethnomusicologue et musicien, enseigne cette technique dans un atelier d’initiation. Des images radiologiques et spectrales, en temps réel et son synchrone, permettent de visualiser les procédés vocaux du point de vue physiologique puis acoustique.
Deux artistes mongols sont interviewés et filmés lors d’un concert à Paris.

Producteur : CNRS AVCNRS et Musée de l’Homme-Etudes ethnomusicologieSFE
Participation : Min. Culture et Communication – Dir. Musique et DanseCNC
Auteur : ZEMP Hugo (Etudes ethnomusicologie, UMR CNRS, Paris) TRAN Quang Hai (Etudes ethnomusicologie, UMR CNRS, Paris)
Réalisateur : ZEMP Hugo
Procédé audiovisuelPrises de vues réelles. Utilisation d’images d’écrans d’ordinateurs et d’images radiologiques.
Interviews en son direct (mongol sous-titré et français) et commentaire voix off. Musique et chants mongols.
Date de diffusion TV04/1995 (Planète)

(EN LIGNE)

Tarif HT Usage
Privé Institutionnel
DVD  16.66  37.50
Hors frais d’expedition

Discipline

Musique et danse

Lieux

France ; Asie

Fiche Technique
N° notice 606
Public Grand public ; Public spécialisé
Support original Film 16 mm
Version Français ; Anglais
Distribution Vente (usage privé), Vente (usage institutionnel)
Support de diffusion Film 16 mm ; DVD ; Beta SP

 

Comment acheter un film ?

* En créant un panier et remplissant le bon de commande du catalogue en ligne (paiement par carte bancaire, par virement bancaire ou par chèque).

* Par courrier à CNRS Images – Vidéothèque, 1 place Aristide Briand, F-92195 Meudon Cedex ou par fax : +33(0)1 45 07 58 60.

Pour tout renseignement, envoyez un e-mail à videotheque.vente@cnrs.fr

Les films édités en DVD sont vendus avec droits attachés au support pour un usage privé (droit de représentation dans le cercle de famille uniquement) ou un usage institutionnel (droit de visionnages individuels ou en groupe uniquement dans les locaux de l’organisme acquéreur – établissements d’enseignement, bibliothèques, associations, entreprises …).

Hương vị ngọt ngào phương Nam.

Khai mạc, Lễ hội bánh dân gian miền Nam giới thiệu cho du khách hơn 100 loại bánh, xôi, chè, với nhiều màu sắc hấp dẫn.

 

banhdanda1
Lễ hội bánh dân gian miền Nam với chủ đề “Hương vị ngọt ngào phương Nam » diễn ra từ ngày 5-9/4 /2017 tại trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại, và Hội chợ Triển lãm Cần Thơ.

 

banhdanda2
Lễ hội có sự tham gia của hơn 250 gian hàng, với hơn 100 loại bánh, xôi chè, là đặc sản của nhiều vùng, miền, trong cả nước. Bên cạnh đó, Lễ hội còn có gian hàng của các nước như:  Nhật Bản, Campuchia, Malaysia….

 

banhdanda3
Đến đây, ngoài thưởng thức các loại bánh thơm ngon, du khách còn được xem các Nghệ nhân biểu diễn làm bánh, tham gia các trò chơi truyền thống, chương trình văn nghệ hấp dẫn nữa.

 

banhdanda4
Bánh tằm khoai mì là đặc sản quen thuộc với người miền Tây. Bánh hơi dai, có vị bùi thơm của khoai mì (củ sắn) và dừa nạo, kết hợp cùng với vị béo ngậy của nước cốt dừa,  và thơm lừng của mè rang, tạo nên một món ăn khiến ai ăn thử một lần đều khó mà quên được.

 

banhdanda5
Bánh chuối hấp nước cốt dừa là món ăn đơn giản mà lại dễ làm, đặc biệt là miếng chuối được bao phủ bởi lớp bột năng dẻo ngon, ăn cùng với nước cốt dừa béo ngậy,  khiến cho người ăn càng mê hơn.

 

banhdanda6
Bánh bột lọc là món ăn được nhiều người yêu thích, bánh có vị dai, trong suốt, nhân tôm thịt đậm đà.

 

banhdanda7
Bánh lá mơ được làm từ bột gạo, lá mơ, và nước cốt dừa. Bánh lá mơ có vị ngọt bùi, dẻo mịn của bột gạo, chấm với nước cốt dừa.

 

banhdanda8
Bánh hỏi là món ăn phổ biến ở khắp các tỉnh miền Nam và miền Trung. Bánh được làm từ gạo thơm vo kỹ, ngâm nước một đêm, trải qua nhiều công đoạn rồi hấp chín. Bánh được dùng để ăn thay cơm ngay cả trong khi cưới hỏi, cúng giỗ, lễ lạt…

 

banhdanda9
Bánh khọt, hay còn gọi là bánh trứng rồng, là món bánh rất quen thuộc với người dân  miền Nam. Bánh có màu vàng tươi của nghệ, hơi trong, xung quanh màu nâu nhạt giòn tan, chính giữa nổi bật lên màu xanh của hành lá, màu đỏ cam của tôm, của đậu xanh, rất đẹp mắt.

 

banhdanda10
Chè trôi nước vốn rất nổi tiếng ở miền Nam.. Đây là loại chè viên tròn làm bằng bột nếp, dẻo, bên trong có nhân đậu xanh, ăn cùng với nước cốt dừa có vị béo.

 

banhdanda11
Bánh cúng là một món ăn dân dã cùng với bánh cấp của người dân Nam phần, nhất là người miền Tây. Bánh được làm từ bột gạo (gạo nguyên hạt đem xay nước), pha với nước cốt dừa, đường, nước cốt lá dứa. Bánh có vị dai, béo, ngọt, mặn vừa miệng, ăn không ngán, và nhất là màu sắc phải bắt mắt, mùi vị hấp dẫn.

 

banhdanda12
Nhắc đến ẩm thực Tây Nam phần, không thể không nhắc đến những đặc điểm dân dã, dễ làm, và quen thuộc. Quen thuộc từ nguyên liệu đến cái tên của bánh. Bánh có hình dáng giống con tầm thì gọi là bánh tầm, bánh làm từ chuối gọi lá bánh chuối. Và bánh có từng lớp bột mỏng như da lợn nên được gọi là bánh da lợn.

 

banhdanda13
Bánh cuốn ngọt hay còn gọi là bánh ướt có thể xem là đặc sản Bến Tre. Bánh ướt ngọt thực chất là bánh tráng dừa khi mới tráng xong, chưa đem phơi, còn ướt, cuốn thêm ít nhân đậu xanh, dừa bào, để cho ra món ăn chơi thú vị.

Các loại nhạc cụ cổ truyền Việt Nam (phần 1)

Âm nhạc Việt Nam có một truyền thống khá lâu đời. Một dòng chảy từ xa xưa… 

Ngay từ thời cổ cư dân ở Việt Nam đã rất say mê âm nhạc. Đối với họ âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu. Bởi vậy trong quá trình phát triển lịch sử cư dân ở đây đã sáng tạo nên rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tư tình cảm, để có thêm sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động, trong chiến đấu, để giáo dục cho con cháu truyền thống của ông cha, đạo lý làm người, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm tưởng và để bay lên với những ước mơ về một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai…

Trải qua bao biến thiên, ngày nay tại Việt Nam còn lưu giữ một kho nhạc khí đủ loại từ những dạng đơn sơ nhất cho tới những dạng có sự phát triển khá cao với những kỹ thuật diễn tấu tinh tế.

Tại đây ta có thể nghe những điệu hát ru, những bài đồng dao của trẻ nhỏ, những thể loại ca nhạc trong các nghi thức cúng lễ hoặc dùng trong việc giao tiếp giữa các thành viên cộng đồng, trong lao động, trong vui chơi giải trí với những thể hát đố, hát đối đáp thi tài của trai gái, những điệu hát khi chơi bài hoặc khi kể những áng trường ca, những câu ca tiếng đàn của những người hát rong, của các ban « tài tử » cùng những thể loại ca kịch truyền thống…

Âm nhạc cổ truyền Việt Nam phong phú bởi sự tích đọng những thể loại thuộc nhiều thời đại khác nhau và bởi cả tính đa sắc tộc. Cùng một thể loại ca nhạc song ở mỗi sắc tộc lại có phương thức biểu hiện, diễn tấu và âm điệu riêng. Điệu hát ru Việt khác ru Mường, ru Thái, ru Tây Nguyên… Có tộc dùng lời ca tiếng hát để đưa trẻ vào giấc ngủ. Có tộc lại ru con bằng tiếng đàn, tiếng sáo êm ái.

Xưa kia âm nhạc cổ truyền đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người Việt Nam. Ngày nay nó vẫn giữ một vị trí đáng kể trong xã hội. Một số thể loại ca nhạc vẫn tồn tại trong cuộc sống dân dã. Một số khác đã bước lên sân khấu, tiếp tục làm đẹp cho đời và phát huy tác dụng trong cuộc sống mới.

Cây đàn bầu nhạc cụ độc đáo của dân tộc

(Nguồn: internet)

Trong kho tàng văn hoá âm nhạc dân tộc Việt Nam, đàn bầu được coi là nhạc cụ độc đáo và hấp dẫn nhất. Tiếng đàn du dương, trầm lắng khiến ai đã nghe một lần thì thật khó quên. Chẳng thế mà các cụ ngày xưa đã kín đáo nhắc nhủ: « Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu »

« Cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha. Ngân nga em hát, tích tịch tình tang »

Dường như âm thanh mộc mạc, chân quê nhưng sâu lắng đến vô cùng của cây đàn bầu, hoà quện với tấm lòng của tác giả đã tạo nên những vần điệu chất chứa trong bài hát ru ấy. Điều gì đã kiến cho cây đàn bầu có sức quyến rũ độc đáo đến như vậy?

Có nhiều cách giải thích khác nhau về sự xuất hiện của cây đàn bầu trong kho tàng văn hoá dân gian. Chỉ từ trò chơi trống đất của trẻ em đồng bằng Bắc bộ là đào hố và căng dây qua lỗ đất, khi đập nghe tiếng bung bung mà các cụ ngày xưa đã cho ra đời nhạc cụ mang tên đàn Bầu, được làm từ ống tre và quả bầu khô. Từ thời nhà Lý, đàn Bầu đã xuất hiện, nhưng thời ấy nhạc cụ này chỉ được dùng để đệm cho những người hát xẩm. Thời gian qua đi cây đàn dần được cải tiến, đàn được làm từ những chất liệu tốt hơn như gỗ, sừng. Ông Đỗ Văn Thước, một nghệ nhân làm đàn Bầu nói « cuộc sống và mọi sinh hoạt của nông dân Việt Nam đều bắt nguồn từ cây tre: ống nước, ống cơm, rổ rá, đòn gánh, Bởi vậy, để bảo vệ bụi tre họ lấy dây rừng buộc quanh gốc tre, thấy âm thanh phát ra từ đó như những cuộc giao lưu tình cảm khiến người nông dân xưa nghĩ đến việc hạ tre thành cọc căng dây tơ cho âm thanh hay hơn, rồi sử dụng vỏ quả bầu dài làm hộp cộng hưởng ». Song có lẽ tất cả cũng chỉ là những giả thuyết. Còn thực tế thì cây đàn bầu đã gắn bó với làng quê con người Việt Nam từ bao đời nay còn chưa ai biết.

Cái độc đáo ở đây là cây đàn cấu trúc rất đơn giản. Chỉ với một dây nhưng nó diễn tả được mọi cung bậc của âm thanh và tình cảm. Âm thanh cũng mang sức quyến rũ lạ kỳ, gần với âm điệu tiếng nói của người Việt, bởi vậy mà đàn Bầu trở thành nhạc cụ được mọi người ưa thích.

Để có được cây đàn như ý, người làm đàn phải rất công phu trong việc chọn lựa chất liệu. Cây đàn phải hội đủ hai yếu tố « Mặt ngô thành trắc », có nghĩa là mặt đàn phải làm bằng gỗ cây ngô đồng sao cho vừa xốp vừa nhẹ, thớ gỗ óng ả, thẳng thì mới có độ vang. Khung và thành đàn làm bằng gỗ trắc hoặc gụ, vừa đẹp lại vừa bền. Cần rung, còn gọi là vòi đàn được làm từ sừng trâu. Bầu đàn được lấy từ quả bầu khô hoặc tiện bằng gỗ.

Cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong vấn đề cấu tạo cây đàn. Người thì cho rằng nên kéo dài đàn ra để có được tiếng trầm hơn hoặc đổi đàn bầu thành hai dây (một cao, một thấp), hai cần và mở to thùng đàn ra, nhưng cuối cùng tất cả đều không phù hợp. Việc dùng vòi đàn để căng dây lên hoặc hạ chùng dây xuống đã tạo ra nhiều âm thanh và cao độ khác nhau. Cần đàn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sắc độ âm thanh khác nhau và làm cho tiếng đàn tròn, mượt. Mặt đàn với thới gỗ óng ả, khi kết hợp với hộp cộng hưởng sẽ tạo nên những âm thanh vang, trong. Đàn còn được trang trí nhiều hoa văn hoặc khảm trai với các hình ảnh miêu tả cảnh sinh hoạt phong phú của người dân Việt Nam. Ngày nay người ta thường có xu hướng thay thế đàn gỗ bằng đàn điện, kéo dài và làm mỏng thân đàn để tạo âm trường và tiếng vang hơn.

Đàn Bầu thể hiện một cách thành công những làn điệu dân ca khác nhau của từng vùng, từng miền của dân tộc. nó còn có thể diễn tấu rất hay những giai điệu của nước ngoài, từ nhạc dân gian đến nhạc nhẹ.

Phải trăng vì sự độc đáo có một không hai của cây đàn Bầu mà mỗi khi nhắc đến Việt Nam, nhiều khác nước ngoài đã cây đàn bầu như một biểu tượng của Việt Nam « Đất nước đàn Bầu ». « Quê hương đàn Bầu ». Nhà thơ nữ người Pháp MeRay đã thốt lên: « Cây đàn Bầu thật giống với con người Việt Nam. Nghèo của cải mà giàu lòng nhân ái, giản dị mà thanh tao, đơn sơ mà phong phú ».

Đàn Đáy

(Nguồn: internet)

Đàn đáy là nhạc khí đặc trưng trước kia chỉ dùng để đệm cho một thể loại hát duy nhất với hai nhánh mà ngày nay người Việt thường gọi là Hát cửa đình và Hát ả đào (hoặc Ca trù). Chỉ nam giới mới chơi nhạc cụ này. Có lẽ đàn được sáng tạo từ thế kỷ XV với sự định hình của thể loại hát nói trên.

Cũng có những phím cao nhưng cần đàn rất dài nên đàn đáy thuộc loại nhạc cụ trầm và có một kỹ thuật độc đáo là ngón chùn làm cho âm thanh bị thấp xuống so với ngón bấm bình thường.

Âm sắc trầm, đục, ấm nhưng ngắn của đàn đáy tạo nên sự tương phản làm nổi bật âm sắc của những người bạn hoà tấu với nó.
Ngoài thể loại nói trên, ngày nay đàn đáy còn được dùng để đệm cho ngâm thơ. Bởi tính chất khiêm tốn, nhũn nhặn của tiếng đàn trong khi đệm cho hát, có người đã ví đàn đáy như một « triết gia ẩn dật ».

Đàn K’ni

(Nguồn: internet)

Tên gọi mà người Ba Na và Ê-đê dùng để chỉ loại đàn một dây dùng cật tre làm cung kéo của một số tộc sống trên dọc Trường Sơn – Tây Nguyên như Ba Na, Gia-rai, Ê-đê, Xê-đăng, Pa-kô, Hrê…

Thân đàn là một khúc nứa, tre hoặc gỗ tròn nhỏ, không có bầu cộng hưởng. Trên thân có gắn phím bấm. Dây đàn được mắc dọc theo thân đàn. Cung kéo chỉ là một đoạn tre nhỏ hoặc một thanh tre khi diễn tấu người ta cọ phần cật vào dây.

Cấu trúc đơn giản nhưng nét đặc sắc của k’ni là ở phương thức khuyếch đại âm thanh và thay đổi âm sắc bằng khoang miệng nhờ một sợi dây nối từ dây đàn tới miệng người kéo đàn. Vừa kéo cung và bấm vào phím tại những vị trí khác nhau trên dây để tạo nên các cao độ, người chơi đàn vừa thay đổi khẩu hình lúc khép lúc mở theo lời thơ họ muốn diễn đạt. Âm thanh của đàn do đó bị biến dạng theo, nghe gần như tiếng người. Những người hiểu tiếng dân tộc và quen nghe K’ni có thể hiểu được nội dung ca từ mà nhạc công truyền đạt qua tiếng đàn. Chính vì vậy có tộc cho rằng « k’ni hát ». Có nơi đồng bào Ê-đê còn sử dụng k’ni để đọc những bài thơ xen vào khi kể Chơ-nắc.

Âm lượng nhỏ và với đặc tính như trên, k’ni chủ yếu là nhạc khí để bộc lộ tâm sự, tình cảm của các chàng trai với các cô gái vào những lúc thanh vắng tĩnh mịch. Đôi khi người Ê-đê cũng dùng k’ni để đệm cho hát khóc trong lễ tang. Gần đây k’ni cũng bắt đầu được khai thác và giới thiệu trên sân khấu ca nhạc chuyên nghiệp.

Đàn Cò (Đàn Nhị)

(Nguồn: internet)

Cây đờn cò (nhị) đã có mặt trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam từ lâu đời, đã trở nên thân quen và gần gũi với mọi người dân Việt Nam, nó được trân trọng quí báu như cổ vật gia bảo. Đờn cò đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng và đắc lực không thể thiếu trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay.

Người dân Nam bộ gọi là « đàn cò » vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò- Cần đờn như cổ cò – thân đờn như con cò – tiến đờn nghe lảnh lót như tiếng cò. Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhặc tài tử, cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca… đều có đờn cò.

Đàn Nguyệt (Đàn Kìm)

(Nguồn: internet)

Đàn nguyệt được sử dụng rộng rãi trong dòng nhạc dân gian cũng như cung đình bác học cổ truyền của người Việt. Xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI, cho tới nay nó vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việt và là nhạc cụ chủ yếu dành cho nam giới.

Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, nhạc công có thể tạo được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại.

Tiếng đàn trong, vang, khả năng biểu hiện phong phú- khi thì sôi nổi ròn rã, lúc lại nỉ non sâu lắng, do đó đàn nguyệt có mặt cả trong những cuộc hoà tấu nhạc lễ trang nghiêm, những cuộc hát văn lôi cuốn, những lễ tang bùi ngùi xúc động cũng như những cuộc hoà tấu thính phòng thanh nhã với những hình thức diễn tấu khác nhau: đệm cho hát, hoà tấu và độc tấu.

Đàn Tranh

(Nguồn: internet)

Được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ XI đến thế kỷ thứ XIV. Thời Lý – Trần đờn tranh chỉ có độ 15 dây, nên bấy giờ gọi là « Thập ngũ huyền cầm » và được dùng trong ban « Đồng văn, nhã nhạc » (Đời Lê Thánh Tôn thế kỷ thứ XV). Sau này được dùng trong cả ban nhạc giáo phường. Thời Nguyễn (thế kỷ thứ XIX) được dùng trong ban « nhạc Huyền » hay « Huyền nhạc ». Lúc bấy giờ được xử dụng với 16 dây nên được gọi là « Thập lục huyền cầm ».

Hình dáng đờn dài, có 16 dây bằng kim loại. Mặt đờn nhô lên hình vòng cung. Từ trục đờn đến chỗ gắn dây đờn, khoảng giữa của mỗi dây đều có một con nhạn gọi là « Nhạn đờn » để tăng âm, lên dây đờn từ nửa cung đến một cung, khi đờn cần chuyền đổi dây, về sau này đờn tranh rất thông dụng được đứng thứ ba trong bộ tam tuyệt của dàn nhạc tài tử.

Vì đờn tranh được thiết kế theo hình thức nhiều dây, nên khi tấu nhạc, đờn tranh phát ra âm thanh đanh tiếng, sắt tiếng hơn khi tấu chữ, đờn thường là « song thanh », ví dụ khi hết một câu hay hết một đoạn nhạc, hoặc một láy đờn nào đó thường lặp lại một nốt, một chữ nhạc của láy đờn (hò – líu, xàng – xang, xề – xê…).

Đàn T’rưng

(Nguồn: internet)

Với người Tây Nguyên lời ca tiêng đàn luôn luôn là nguồn cổ vũ trong đời sống. Đêm đêm quan ngọn lửa hồng dưới mái nhà rông người ta kể Khan, kể H’mon và hát lên những làn điệu dân ca Jôn-jơ, đợi chờ, giã gạo…

Nói tới âm nhạc Tây Nguyên không thể không nhắc tới kho tàng nhạc khí hết sức phong phú với nhiều loại, nhóm và chất liệu khác nhau. Hầu hết các nhạc khí cổ thường dùng chất liệu sẵn có trong thiên nhiên như sáo, tiêu, goong rel, tù và, k’lông pút và T’rưng.

Đàn T’rưng là một loại nhạc khí « thô » được chế tác từ những khúc gỗ bóc vỏ phơi khô hoặc những ống nứa vót một đầu, chặt theo những độ dài khác nhau để tạo nên những âm vực ưng ý đem treo lên một cái giá đủ trở thành một cây đàn gõ « phím » cho một hoặc hai người diễn tấu bằng cách cầm những dùi tre gõ vào phím này.

Đàn T’rưng thường được diễn tấu bên trong nhà rông hoặc ngoài trời vào các dịp lễ hội truyền thống hay trong sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc người Banah, Jarai, Êđê…

T’rưng có khả năng diễn tấu phong phú và đa dạng. Với nguồn âm thanh bất tận khi êm nhẹ theo giai điệu trữ tình của một khục hát giao duyên, khi hoà cùng dàn nhạc tấu lên bản hợp tấu của núi rừng hùng vĩ… Trong giao lưu văn hoá T’rưng cũng xuất hiện trên các sân khấu ca nhạc hiện đại phụ hoạ theo tiếng hát rực lửa của những người con Tây Nguyên, nâng cánh cho những giọng ca vàng vang đến mọi nơi chốn xa xôi.

Là một loại nhạc cụ đặc sắc trong kho tàng nhạc khí Tây Nguyên, âm thanh độc đáo của T’rưng không chỉ lôi cuốn làm say đắm tâm hồn các dân tộc anh em trên đất Việt, mà còn ra khỏi biên giới ngân vang đến tận những vùng đất xa xôi và được các bạn bè khắp năm châu, bốn bể nhiệt tình đón nhận.

Trải qua quá trình sàng lọc với bao biến thiên của lịch sử, đàn T’rưng đã và sẽ tồn tại mãi mãi cùng với các dân tộc Tây Nguyên và cộng đồng dân tộc Việt.

Klông Pút

(Nguồn: internet)

Một trong số không nhiều nhạc khí dành cho nữ giới. Tên gọi tiếng Xê-đăng này đã trở nên phổ thông để chỉ loại nhạc khí hơi của một số tộc trên Tây Nguyên như Xê – đăng, Ba Na, Gia – rai, Hrê…

Klông pút là một dàn gồm 2 – 3 cho tới 5 – 12 ống nứa, lồ ô hoặc tre cỡ tương đối lớn. Đường kính các ống khoảng 5 – 8 cm, chiều dài 60 – 120 cm, có khi 20 – 200 cm. Có loại Klông pút kín một đầu và có loại rỗng hai đầu. Khi diễn tấu các ống được đặt nằm ngang vừa tầm tay người vỗ trong tư thế đứng lom khom hoặc quỳ. Dùng hai bàn tay khum vỗ vào nhau trước miệng ống, các cô gái tạo nên luồng hơi lùa vào ống làm vang lên âm thanh.

Klông pút được coi là nhạc cụ gắn với sản xuất nông nghiệp và là nơi trú ngụ của Mẹ Lúa. Vì vậy Klông pút là nhạc cụ của giới nữ và chỉ được chơi trên rẫy vào mùa tra lúa và trong buôn làng vào ngày lễ đóng cửa kho lúa hoặc vào dịp tết của tộc và lễ hội ăn lúa mới với số lượng bài hạn chế. Ngày nay Klông pút đã được đưa lên sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp để diễn tấu nhiều loại bài bản khác nhau.

Đàn Đá

(Nguồn: internet)

Nhạc khí tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi nhạc cụ là một bộ gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thước và hình dáng khác nhau, được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ. Vật liệu để làm đàn là những loại đá sẵn có ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Căn cứ vào bộ đàn tìm được ở di chỉ khảo cổ học Bình Đa (Đồng Nai) được biết rằng việc chế tác những thanh đá này đã xuất hiện từ trên dưới 3.000 năm trước.

Cho tới những năm đầu thập kỷ 90 đã tìm được gần 200 thanh đàn đá rải rác ở các tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hoà, Đồng Nai, Ninh Thuận, Sông Bé, Lâm Đồng, Phú Yên. Số lượng thanh ở mỗi tập hợp được phát hiện là 3-15. Bộ đầu tiên tìm được tại Ndut Lieng Krak (Đắc Lắc) vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng « Con người » ở Paris. Nhiều bộ khác đang được bảo quản tại Việt Nam.

Một số tộc ở Tây Nguyên coi những thanh đá được phát hiện như những vật thiêng và giữ gìn như của gia bảo. Có tộc dùng chúng trong những lễ hội lớn để cúng thần, có tộc lại dùng làm đàn đá giữ rẫy.

(còn nữa…)

(Nguồn: http://tranquanghai.info/)

http://www.hoiamnhachanoi.org/content/cac-loai-nhac-cu-co-truyen-viet-nam-phan-1

Các loại nhạc cụ cổ truyền Việt Nam (phần 2)

Bẳng Tăng 

(Nguồn: internet)

Bẳng tăng là nhạc khí tự thân vang, không định âm của người Thái và một số cư dân khác sống ở Tây bắc Việt Nam.

Bẳng tăng được làm bằng nứa. Đó là những ống nứa nhỏ rỗng hai đầu, đường kính khoảng 5 – 7 cm, dài khoảng 30 – 40 cm.

Bẳng tăng là nhạc khí của nữ giới. Khi chơi. Mỗi cô gái hai tay cầm hai ống nứa, dập hai ống vào nhau tạo âm thanh theo những mô hình tiết tấu qui định để phụ họa, làm nền cho các điệu múa. Đôi khi các cô gái vừa diễn Bẳng tăng vừa nhảy múa, lúc này Bẳng tăng có vai trò vừa là nhạc cụ vừa là đạo cụ múa.

Âm thanh của Bẳng tăng vang nhưng không trong. Bẳng tăng thường được diễn tấu vào những dịp lễ, hội và những đêm liên hoan của thanh niên trai gái.

Mõ được xếp là một nhạc khí tự thân vang, phổ biến ở Việt Nam. Trên thực tế mõ đươc sử dụng vào các môi trường khác nhau và có những chức năng khác nhau.

Mõ chùa 

(Nguồn: internet)

1. Mõ chùa làm từ các loại gỗ chắc, cứng, hình dạng thường gặp hình cầu dẹt với nhiều kích cỡ to nhỏ khác nhau: Cỡ to nhất có đường kính khoảng 70 – 80 cm, cỡ vừa đường kính 20 – 30 cm và cỡ nhỏ đường kính 5 – 7 cm. Tất cả ở giữa đều rỗng, khoét theo hình lòng máng. Dùi gõ mõ cũng làm bằng gỗ, kích cỡ của dùi to nhỏ tương xứng với kích cỡ của mõ. Âm thanh của mõ gỗ giòn, âm vang sâu lắng. Trong chùa mõ được sử dụng khi tụng kinh với vai trò điểm nhịp đều theo lời tụng.

2. Mõ làng có nhiều loại: Có loại làm bằng gỗ cứng hình cá trắm dài khoảng 1 m, to, khoét dài rỗng theo bụng cá và thường treo ở điếm làng. Có loại làm bằng gốc tre già gọt theo hình trăng khuyết, đường kính từ 15 – 20 cm, ở giữa có khoét một rạch rỗng. Trong đời sống nông thôn người Việt xưa, mõ có chức năng thông tin. Mõ được làng giao cho một người đàn ông phụ trách, thượng được gọi là “thằng mõ” hay “anh mõ”. Vào những dịp có việc làng hoặc những sự kiện đột xuất cần thông báo “anh mõ” có nhiệm vụ gõ mõ thông tin cho khắp các gia đình trong làng.

3. Mõ trâu được làm bằng gỗ hoặc gốc tre già hình hộp đứng. Mặt đáy khoét rỗng thông với mặt trên. Mặt đáy hình chữ nhật với chiều dài từ 20 – 25 cm, chiều rộng từ 10 – 15 cm. Mặt trên hình chữ nhật với chiều dài, dài hơn chiều dài của mõ và ở giữa buộc 2 đoạn gỗ dài hơn chiều cao của mõ khoảng 1 cm. Người ta buộc mõ vào cổ trâu. Khi trâu chuyển động, đi lại, 2 đoạn gỗ gõ dều đặn vào thành trong của mõ phát ra âm thanh nghe lách cách vui tai.

4. Mõ thuộc bộ gõ, không định âm, tham gia hòa tấu trong các dàn nhạc sân khấu và nhiều loại hình ca hát khác. Cấu tạo của mõ loại này thường làm bằng tre già, hình trăng khuyết như mõ làng, ở một số dàn nhạc tuồng, chèo còn dùng mõ gỗ như mõ chùa, kích cơ vừa phải, đường kính từ 10 – 25 cm. Ngày nay mõ còn được dùng trong các tốp nhạc dân tộc mới và trong dàn nhạc dân tộc tồng hợp. Đặc biệt tham gia vào dàn Đại nhạc Huế hiện nay có loại mõ làm bằng sừng trâu. Mõ này làm từ sừng trâu cong, cắt bỏ phần đầu nhọn, lấy phần gốc dài chừng 10 – 15 cm. Âm thanh của mõ sừng trâu vang, khoẻ.

————————–

Mõ làng

(Nguồn: internet)

Mõ là nhạc cụ tự họ thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Mõ làm bằng củ tre đực, hình bán nguyệt, có khoét một đường rỗng ở giữa. Khi sử dụng, một tay để mõ nằm trong lòng bàn tay, một tay cầm dùi gõ lên thân mõ. Âm sắc của Mõ trầm, ấm.

Mõ thường được sử dụng để đánh nhịp một, giữ nhịp cho người hát hay đàn và Mõ có thể đánh dồn nhanh trong thi nhịp, đổ khổ gây không khí.

————————–

Mõ trâu

(Nguồn: internet)

Là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Được làm bằng một đoạn sừng trâu dày, dài 12 cm. Người ta phải chọn loại sừng hình cong tiếng mới đẹp và vang. Khi diễn tấu nhạc công một tay cầm mõ, còn một tay cầm dùi gõ vào thân mõ. Âm thanh của mõ sừng trâu to, khỏe, vang. Mõ tham gia trong dàn nhạc tuồng, dàn nhạc lễ, dàn đại nhạc của cung đình, hoặc hòa tấu cùng tù và, ngà voi, vỏ ốc biển…

Ưng Quái 

(Nguồn: internet)

Ưng Quái là tên gọi của dân tộc Cơ Tu hiện sinh sống ở Quảng Trị để chỉ nhạc cụ này. Là nhạc cụ khá độc đáo và phổ biến trong sinh hoạt âm nhạc của dân tộc Cơ Tu và nhiều dân tộc khác ở Việt Nam. Mỗi dân tộc đều có tên gọi riêng cho nhạc cụ này như: Người Thái (phía Bắc) gọi là « Hưn Toóng », người Mường là « Páng Tơ ính », hay người Việt gọi là « Đàn Môi »…

Ưng Quái làm bằng đồng dát mỏng hình lá tre dài khoảng 8 cm, người ta đục thủng 2 đường theo hai cạnh của một hình tam giác cân để làm một lưỡi gà sao cho lưỡi gà này có thể rung tự do được.

Có nhiều ý kiến cho rằng « Ưng Quái » có thể xếp vào họ hơi, hay họ dây. Lại có ý kiến cho rằng nên xếp nhạc cụ này vào họ tự thân vang. Cǎn cứ vào nguồn phát âm của nhạc cụ, ta thấy khi chơi đàn, người chơi cầm đàn cho 2 môi giữ chặt lấy 2 cạnh của đàn. Tay trái giữ đàn, tay kia dùng ngón trỏ bật vào đàn. Chấn động rung sẽ thay đổi khẩu hình để tạo ra những âm bồi khác nhau. Cũng có dân tộc dùng dây buộc vào lá đồng, lấy ngón tay gẩy tạo ra âm thanh. Vì thế xếp nhạc cụ này vào họ tự thân vang là hợp lý.

Âm sắc của Ưng Quái đặc biệt, huyền ảo, thì thầm hơi có tiếng rè. Ưng Quái rất thích hợp trong không gian yên tĩnh, trữ tình cho thanh niên nam nữ tâm tình. Trong đêm khuya, tiếng đàn vang lên đối đáp nhau thể hiện tình cảm một cách tế nhị, nên người Cơ Tu luôn coi Ưng Quái là một người bạn không thể thiếu trong cuộc sống của họ.

Thanh la 

(Nguồn: internet)

Thanh la là tên gọi một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. ở miền Nam gọi là Đẩu, miền Trung gọi là Tang.

Được làm bằng đồng kim hợp thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính 15 – 25 cm, mặt hơi phồng, xung quoanh có thành cao 4 cm, ở cạnh thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dùi gõ vào mặt thau tạo ra tiếng vang, trong trẻo.

Thanh la được sử dụng trong dàn đại nhạc, dàn nhạc lễ miền nam, trong ban nhạc chèo, chầu văn và dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Trống Đồng

(Nguồn: internet)

Là nhạc khí tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Trống Đồng được đúc bằng đồng cả vành và tang trống. Theo cách phân loại của F.Heger, Trống Đồng có 4 loại chính:

Loại 1 là loại Trống Đồng lớn, cổ xưa nhất. Ngôi sao ở giữa mặt trống thường có 12 cánh. Một số trống có tượng cóc ở mép mặt trống. Thân trống phần trên phình ra, phần giữa thắt lại và phần dưới choãi ra, có 4 quai.

Loại 2: Có cả loại lớn và vừa. Ngôi sao ở giữa mặt trống thường có 8 cánh. Mặt trống chờm ra khỏi tang. Rìa mặt trống có từ 4 – 8 tượng cóc, có 2 quai, trang trí hoa văn hình hoa lá đối xứng hoặc hình học.

Loại 3: Thường là loại vừa và nhỏ. Ngôi sao có 12 cánh hoặc 8 cánh, có 4 tượng cóc ở mép trống, thân trống phần trên và dưới hình viên trụ, phần giữa thon lại, quai nhỏ.

Loại 4: Đường kính mặt trống thường có kích thước trung bình 50 cm, cao 45 – 50 cm. Mặt trống phủ vừa sát đến thành thân trống, ngôi sao ở giữa mặt trống 12 cánh. Thân trống chia ra 2 phần: Phần trên phình ra đỡ lấy mặt trống, phần dưới hình viên trụ tròn có 4 quai. Hoa vǎn trang trí hình động vật: Rồng, Khỉ, không có tượng cóc trên rìa mặt trống. Trống được đúc bằng hợp kim đồng, nhưng tiếng không trong, không vang xa như trống đồng loại 1.

Trống Đồng được gõ bằng dùi có mấu hoặc bọc vải da. Người đánh trống tay phải cầm dùi đánh vào mặt trống, tay trái cầm một thanh tre gõ vào tang trống tạo ra rất nhiều âm sắc khác nhau:

– Khi đánh vào núm giữa (được đúc dầy hơn), âm thanh nghe có cảm giác trầm hơn so với các vị trí khác.

– Đánh vào vành hoa văn cho cảm giác trong, vang.

– Khi đánh vào các con cóc, âm thanh phát ra sắc, gọ, ngắn.

Âm thanh Trống Đồng vang, khoẻ, hùng tráng. Trống Đồng được sử dụng trong Đường thượng chi nhạc (Thời hậu Lê), trong dàn Nhã nhạc thế kỷ XV, XVI và trong dàn nhạclễ thể kỷ XVIII. Hiện nay chỉ còn thấy trong đời sống văn hóa các dân tộc Khơ Mú, Lô lô và dân tộc Mường thường sử dụng Trống Đồng với tư cách là một nhạc cụ trong tang lễ. Trống Đồng là một hiện vật văn hóa tiêu biểu mà cha ông ta đã để lại. Là một nhạc khí quan trọng trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

(còn nữa…)

(Nguồn: http://tranquanghai.info/)

http://www.hoiamnhachanoi.org/content/cac-loai-nhac-cu-co-truyen-viet-nam-phan-2

Các loại nhạc cụ cổ truyền Việt Nam (phần 3)

Tiu Cảnh 

(Nguồn: internet)

Là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt, gồm 2 chiếc thanh la cỡ nhỏ làm bằng đồng thau, đường kính khoảng 10 cm, một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao, với hai âm cao thấp cách nhau quãng nǎm đúng. Tiu cảnh được treo trong hai vòng tròn của một chiếc khung có tay cầm bằng gỗ. Khi biểu diễn nhạc công tay trái cầm tiu, tay phải cầm que tre có mấu gõ vào mặt thau tạo ra âm thanh cao, vang, lảnh lót. Tiu cảnh tham gia trong ban nhạc chầu vǎn, dàn bát âm, ban nhạc cúng lễ.

Rôneathung 

(Nguồn: internet)

Được xếp vào nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ của người Kh’mer. Rôneathung làm bằng gỗ hoặc tre cứng với độ dày mỏng, dài ngắn khác nhau trông giống như một chiếc thuyền, nên còn được gọi bằng một tên khác là đàn thuyền.

Gồm 17 thanh gỗ dài từ 31 – 42 cm, rộng 6 cm. Các thanh gỗ này được xâu bằng 2 sợi dây rồi treo trên giá. Giá đàn làm từ gỗ dài 120 cm, rộng 16 cm đồng thời làm bầu cộng hưởng. Khi diễn tấu đàn được sử dụng bằng 2 chiếc dùi gỗ có mấu tròn ở đầu.

Rôneathung được sắp xếp theo thang âm 7 cung chia đều, tiếng Roneathung trầm, to, vang khoẻ. Dùng cho nam giới diễn tấu trong dàn nhạc dân tộc Kh’mer Nam Bộ, dùng trong hát, múa và ca múa kịch dân tộc hay trong dàn ngũ âm.

Chũm choẹ

(Nguồn: internet)

Chũm choẹ còn gọi là Não bạt, là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt. Chũm chọe làm bằng hợp kim đồng thiếc, gồm hai chiếc giống nhau, hình tròn như chiếc đĩa, có núm để cầm. Khi đánh chũm chọe, hai tay cầm hai núm, dập hai mặt vào nhau, có lúc dập chéo xuống, chéo lên. Người sử dụng chũm chọe vừa đánh, vừa múa. Âm thanh chũm chọe to, vang, hơi chói tai. Chũm chọe được sử dụng trong dàn nhạc của cung đình, trong sân khấu tuồng, cải lương, trong đám rước sư tử và tham gia trong dàn nhạc dân tộc tổng hợp hoà tấu.

Chuông chùa 

(Nguồn: internet)

Chuông là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Chuông được làm bằng đồng thau, có đường kính từ 15 – 23 cm, chuông có hình giống như cái bát để ngửa. Khi sử dụng người ta cầm một dùi gõ bằng gỗ bọc vải một đầu gõ vào thành chuông tạo ra âm thanh trong trẻo lảnh lót.

Chuông được sử dụng trong đường thượng chi nhạc, trong dàn nhạc huyền, dàn nhã nhạc hoặc tế lễ trong các đền chùa.

Ching Kram 

(Nguồn: internet)

Ching Kram – nhạc cụ họ tự thân vang chi gõ đấm của dân tộc Êđê, là nhạc cụ dành cho nam giới dùng để hòa tấu trong sinh hoạt vui chơi giải trí.

Ching Kram gồm 6 – 7 thanh tre dài 31 – 43 cm, dầy 1 cm, bản rộng 4,2 – 5,3 cm. Mỗi thanh có kèm theo 1 dùi gõ và một ống tre dài 20 – 25 cm làm bầu cộng hưởng. Khi diễn tấu người sử dụng kẹp ống cộng hưởng vào giữa hai chân, tay cầm dùi gõ vào thanh tre tạo ra âm thanh nghe ròn rã vui tai rất thích hợp với không khí vui chơi giải trí.

Chiêng Honh 

(Nguồn: internet)

Chiêng Honh là nhạc cụ họ tự thân vang chi gõ đấm của dân tộc Gia Rai.

Dàn chiêng honh được làm bằng đồng gồm 11 chiêng núm đường kính 19,5 – 83 cm và 13 chiêng bằng đường kính 25, 5 – 53 cm. Là nhạc cụ thiêng rất phổ biến ở Gia Rai, được nam giới sử dụng trong nghi lễ tín ngưỡng như: Hội đâm trâu, hội Pơthi, lễ bỏ mả, hội ǎn mừng lúa mới… dàn chiêng hòa nhịp vang lên là tiếng nói của con người với các đấng thần linh.

Chùm Ma Hính 

Là nhạc cụ tự thân vang chi rung lắc, được dùng để điểm nhịp khi người Thái chơi đàn tính cũng như khi đệm cho múa xòe.

Chùm ma hính gồm 3 – 5 chiếc làm bằng đồng, đường kính 1,5 – 2,5 cm buộc thành chùm. Có nhiệm vụ giữ nhịp trong đội nhạc, khi diễn tấu người ta đeo chùm ma hính vào ngón tay rung theo tiếng nhạc, âm thanh vang lên nghe rộn rã, khoẻ và sáng.

Ân Toong 

(Nguồn: internet)

Ân Toong là nhạc cụ họ tự thân vang chi gõ của dân tộc Tà ôi.

Ân Toong gồm 7 thanh gỗ đường kính 6 -11 cm dài 41 – 72 cm, phần giữa của mỗi thanh được đẽo võng thành 7 thanh đàn. 7 thanh đàn này sắp xếp từ thấp đến cao buộc vào 2 sợi dây mây rồi treo dốc trên giá đàn. Hai dùi gõ bằng gỗ dài khoảng 20 cm. Ân toong là nhạc cụ do nam giới sử dụng để độc tấu, hòa tấu trong sinh hoạt thường ngày và đuổi chim thú đến phá hoại hoa màu.

Luống 

(Nguồn: internet)

Luống – là cái cối đập lúa và giã gạo của dân tộc Thái. Nó cũng là nhạc cụ dùng để độc tấu và đệm cho hát trong sinh hoạt vui chơi giải trí. Được xếp vào họ tự thân vang, chi gõ.

Luống được làm bằng gỗ, thân hình thuyền dài 224 cm, rộng 40 cm. Để biểu diễn luống cần có 7 người con gái (gồm 6 con 1 cái), mỗi người cầm một chiếc chày bằng gỗ dài khoảng trên 100 cm gõ vào thành luống thành những tiết tấu vui nhộn.

Đao – Đao 

(Nguồn: internet)

Đao – Đao là nhạc cụ họ tự thân vang chi gõ đập của dân tộc Khơ Mú, một dân tộc sống ở vùng Lai Châu, Sơn La.

Đao – Đao làm từ một ống nứa dài chừng 1m đến 1,2 m (một đầu kín, một đầu hở), đường kính ống khoảng 3 – 4 cm. ở phần 2/ 3 ống đàn người ta vát ngược hai bên ống, để lại mỗi phía một mảnh có chiều dài chừng 30 cm rồi gọt mỏng bớt phía cật và làm tròn cạnh. Phía ống hơi, gần mấu có khoét 2 lỗ bấm để tạo ra 3 cao độ.

Khi chơi Đao – Đao, tay phải cầm ống, cùng lúc ngón cái và ngón trỏ của tay phải bấm lỗ bấm, rồi gõ ống vào tay trái theo những tiết tấu nhất định. Khi gõ hai mảnh nứa rung lên gây ra tiếng rè rè và tiếng vang rất nhỏ ở ống hơi.

Người Khơ Mú dùng Đao – Đao tạo nhịp điệu cho múa, cho hát. Có thể nói Đao – Đao là nhạc cụ linh hồn trong sinh hoạt múa hát đời thường và trong sinh hoạt nghi lễ của người Khơ Mú.

(còn nữa…)

(Nguồn: http://tranquanghai.info/)

http://www.hoiamnhachanoi.org/content/cac-loai-nhac-cu-co-truyen-viet-nam-phan-3