Mois : octobre 2017

NGUYỄN VĨNH BẢO : DANH SÁCH NHỮNG NHẠC SƯ, NHẠC SĨ MÀ TÔI ĐƯỢC DỊP TIẾP XÚC TỪ NĂM 1925

DANH SÁCH NHỮNG NHẠC SƯ, NHẠC SĨ MÀ TÔI ĐƯỢC DỊP TIẾP XÚC TỪ NĂM 1925

vinh bao

Nhac su NGUYEN VINH BAO
__________________________________________________________

Chết mà không lưu gì lại cho người sống kể như đã chết luôn.
(Publish or perish).
QUÝ ÔNG :
CAO LÃNH
Ba HẠT đàn Tranh và Kìm
Sáu LƯƠNG (em Ô. Ba HẠT) đàn Kìm
Tám TÂY (chũ nhà máy xay lúa) đàn Cò
Chín BÁU (em Ô. Tám TÂY) đàn Cò
Năm KHÁI đàn Kìm
KIM lớn đan Cò
KIM nhỏ đàn Cò và Gáo
Tám TỪ đàn Cò
TƯỜNG (con Ô. Hai Tôn (Mỹ Ngãi)) đàn Kìm
(cháu Ô. Tám Tư)
Sáu KÝ đàn Tranh
Sáu MỸ đàn Tranh
Tư DÕNG (Mười Đờn) đàn Kìm
Nam PHÀN đàn Kìm, Cò, Tranh, Bầu
Năm BÁ đàn Bầu
Tư CÒN đan Cò, Violon
QUI (Thầy giáo) đàn Mandoline và Xến
Ba HÓA đàn Cò
THANH NHA đàn Kìm
Mười LỜI (Đông-y SỈ) đàn Cò ca
Sáu XIẾU đàn Tranh và Kìm
Sáu HƯỚNG đàn Guitare và ca
Tám KĨNH đàn Kìm và ca
NGUYỄN VĂN PHÁT (Anh VĨNH BẢO) đàn Kìm và Tranh
NGUYỄN QUANG CÃNH (Anh VĨNH BẢO) đàn Kìm, Xến, và Mandoline
NGUYỄN VĨNH LOẠI (Anh VĨNH BẢO) đàn Kìm, Tranh và Cò
NGUYỄN VĨNH BẢO đàn Tranh, Kìm, Xến, Đoãn,
Tỳ Bà, Bầu, Mandoline, Guitare,
Cò, Gáo, Violon và Piano

SA- ĐÉC
Tư TỨ đàn Kìm và Tranh
Hai PHÒNG đàn Kìm và Tranh
NGUYỄN VĂN THINH đàn Kìm, Tranh và Tỳ Bà
Sáu NGƯƠN đàn Tranh
Sáu YÊN đàn Tranh
Sáu NHỎ đàn Kìm
Cô TUYẾT MAI đàn Tranh

VĨNH LONG
TRẦN QUANG QUỜN đàn Kìm và Tranh, viết lời ca
Thầy Ký GIỎI đàn Tranh
Hai Lòng đàn Kìm, Tranh, Cò và Gáo
Chị Ba NIỆM đàn Tranh (vừa đàn vừa ca)
Mười ÚT (em Chị Ba NIỆM) đàn Guitare
(chồng của Ca sĩ Năm Cần Thơ. Khoảng năm 1940 có mở tiệm đóng
đàn Guitare-Mando tại đường Hamelin (Hồ Văn Ngà)) sau Garage Nguyển-văn-Hảo.

CẦN THƠ
Mười TÂN đàn Tranh
Sáu HÓA đàn Tranh
Sáu TÝ đàn Tranh
Bảy PHẢI đàn Tranh
Năm NGHĨA (Trà Ôn) đàn Tranh và Guitare
Tư HIỆU (anh Năm Tồn) đàn Violoncelle
Năm TỒN đàn Tranh
Sáu KIỆT đàn Kìm
Tám TRINH đàn Kìm
Hai DUYÊN đàn Guitare
TRẦN VĂN KIÊN (mười KIÊN) đàn Kìm
HỒNG TÚ đàn Kìm và Tranh

TRÀ VINH
HỒNG TẤN PHÁT (Hai PHÁT) đàn Tam, Cò, và Gáo
Ba XÁNG đàn Tam
Sáu LẮC đàn Kìm
Năm CƠ đàn Kìm, Xến và Guitare
TRẦN VĂN BẢY (Bảy BÁ) đàn Tranh, Guitare mando,
(VIỄN CHÂU) và là Soạn giả Tuồng Sân khấu
Cải lương

BẾN TRE
Sáu Ở đàn Cò
Năm CHẤP đàn Gáo
Tư XIẾU đàn Guitare
Năm VINH đàn Kìm, Tranh, Guitare và
Violon
Ba CÒN đàn Kìm

THŨ DẦU MỘT
Út LĂNG đàn Kìm
Út BÚNG đàn Kìm
Út NGỰ đàn Violon
Ba CÒN đàn Kìm

XÓM GÀ
Hai NÉN (anh Ba CÂN) đàn Guitare
Ba CÂN đàn Kìm
MỘT đàn Guitare
Bảy PHUÔNG đàn Cò
Bảy ĐIỀU đàn Kìm
Ba TRUNG đàn Tranh, Kìm và Cò

BẠC LIÊU
Ba CHỘT đàn Kìm và Cò
Mười KHÓI (Mười đòn) đàn Kìm
Năm ĐỜN đàn Kìm
Tư XÌA đàn Kìm
Ba KHI đàn Kìm và Tranh
Hai TÀI đàn Kìm và Đoãn
TÔ HẢO đàn Tranh

MỸ THO
TRẦN QUANG DIỆM đàn Kìm, Tranh, Tỳ Bà và Cò
(Ông nội Giáo sư Tiến sĩ Âm nhạc TRẦN VĂN KHÊ)
TRẦN VĂN CHIỀU (Bảy TRIỀU) đàn Kìm
(Thân sinh Giáo sư Tiến sĩ Âm nhạc TRẦN VĂN KHÊ)
NGUYỄN TRI KHƯƠNG đàn Cò, Tiêu và Sáo
(Cậu Giáo sư Tiến sĩ Âm nhạc TRẦN VĂN KHÊ)
TRẦN VĂN KHÊ đàn Kìm, Tranh, Tỳ Bà, Cò, Gáo,
Guitare và Piano

LONG XUYÊN
Ba LÍCH đàn Guitare

CẦN ĐƯỚC (Long An)
Năm TỊNH đàn Kìm, Tranh và Tỳ Bà
Chín CHIÊU đàn Kìm và Tranh
Sáu THOÀN đàn Tranh và Kìm
TRẦN VĂN ƠN (Năm ƠN) đàn Kìm và Tranh
Ba ĐỒNG đàn Kìm và Tranh
Hai PHÁT (anh Tư HUYỆN) đàn Kìm và Cò
Tư HUYỆN (Nguyễn Thế Huyện) đàn Cò, Kìm, Tranh, Violon, Xến
và Tiêu
Sáu QUÍ (em Tư HUYỆN) đàn Tranh và Kìm
Mười LĂNG (Kinh nước mặn) đàn Tranh và Kìm
Năm GIAI đàn Kìm và Cò
Năm KHIÊT (cầu mồng gà) đàn Tranh và Kìm
Bảy QUẾ đàn Cò (nhóm Chín LÁO)
Mười QUẾ đàn Bầu
Chín LÁO đàn Cò
Chín HÒA đàn Kìm
Năm LÒNG đàn Cò
Bảy HÀM (Trường Văn Đệ) đàn Kìm và Cò
Mười CÒN đàn Cò và Violon
THANH TUYỀN đàn Kìm và Tranh
Mười CỦA đàn Kìm
Hai Tò LE đàn Cò và Gáo
Văn LƯA đàn Cò, Gáo, Xến, và Kèn thau
Ba PHỤNG đàn Kìm
Ô. Xã NĂM đàn Kìm và Cò
Hai BẦU đàn Cò
Năm XEM (ông ngoại nhạc sĩ Huỳnh Văn Biểu)
Hai THANH đàn Kìm
Ba TU (Trươbg-văn-Tự) đàn Kìm, Tranh, Cò, Xến, Guitare
violon
SÀI GÒN
NGUYỄN VĂN KỲ (Chín KỲ) đàn Tranh
Sáu THỚI đàn Kìm và Tranh
Tư BƯỜNG (con Ô. Sáu THỚI) đàn Tranh
CAO HOÀI SANG đàn Kìm và Tỳ Bà
(Gia đình nghệ nhân CAO HUỲNH CƯ)
NGUYỄN VĂN AN đàn Tranh và Kìm
Tám VỊNH (Tám Vị Thủy) đàn Kìm, Tranh, Cò, Gáo và
Guitare
Bảy VINH đàn Tranh
Tư ĐĂNG đàn Cò
Tám THÔI đàn Cò, Gáo và Violon
VŨY CHỖ đàn Tranh, Kìm, và Guitare
Tư BỊ đàn Kìm
Ba TÚY đàn Tranh
Tám HẠNH (đường Faucault) đàn Kìm
Jean TỊNH đàn Violon
Thầy Giáo TIÊN (Rạch Giá) đàn Mandoline
Armand THIỀU đàn Mandoline
Hai KÉO đàn Guitare
Ba CẬY đàn Guitare
Sáu ÉN đàn Tranh
Ba DƯ (Trần-văn-Dư) đàn Tranh
Bảy TIỄU đàn Kìm
Hai NGƯU đàn Kìm
Tám ĐỆ đàn Kìm
Ba THÙA đàn Cò và Violon
Hai CẦN Tiêu
Giáo TÁM đàn Kìm
Năm MINH đàn Kìm
Út TRONG đàn Kìm và dạy ca
Tư KỲ đàn Kìm
Tư LONG đàn Guitare mando
Hai LONG đàn Kìm và ca
Chín TÂM đàn Kìm và Tranh
Sáu LỜI đàn Guitare
Tư NGHI (Phạm-Văn-Nghi) đàn Tranh, Kìm, Cò và Gáo
Năm BỮU (anh Bảy THU) đàn Tam và Hát bội
Bảy THU đàn Kìm và thổi kèn Tây
Sáu VỮNG (Trường Ban Nhạc đàn Cò
VÂN HẠT Radio Sàigòn)
Ba TỮNG đàn Cò
Chín TRÍCH (Hà-Văn-Tân) đàn Cò
Cò QUỐC (Thầy Chính Trích) đàn Cò
Hai THƠM đàn Cò và Violon
NGỌC SÁU đàn Cò và Gáo
Mười HOA đàn Guitare
VĂN GIỎI (khiếm thị) đàn Guitare
DUY TRÌ (khiếm thị) đàn Guitare và Kìm
SÁU KHỎE (khiếm thị) đàn Guitare
VĂN VĨ (khiếm thị) đàn Guitare, Kìm, Xến, Tam,
Tranh, và Tiêu, Sáo
THANH KIM đàn Guitare Hawaiienne
Năm VĨNH đàn Kìm
Sáu LỆ đàn Kìm và Xến
Năm Hòa (anh Ca sĩ Chín Sớm) đàn Tranh và Kìm
Chín SỚM đàn Tranh, ca sỉ
Bảy THẠCH đàn Kìm
Ba THANH đàn Kìm
Anh Y đàn Guitare
(Rể Nghệ sĩ Bảy NHIÊU (Huỳnh-năng-Nhiêu)
chồng Đào KIM LAN em Đào Kim-Cúc)
Năm NGÀ đàn Guitare
PHẠM ĐĂNG ĐÀN đàn Bầu
Ba DIỆP (Đàn Kìm chánh Gánh hát Thanh-Niên) đàn Kìm
(Thân phụ kép Diệp-Lang)
Tám ĐEN đàn Kìm
Năm SÍNH (Trần Công Sính) đàn Kìm và Guitare
Sáu VUI đàn Tranh và Kìm
Mười PHÚ đàn Cò
HOÀNG CƠ THỤY đàn Tranh, Kìm, Cò, và Tỳ Bà
Ứt TỊ đàn Cò
Ba TU đàn Kìm, Tranh, Cò, Gáo, Violon,
và Guitare.
VŨY CHỖ đàn Tranh, Kìm và Guitare
Năm PHỒI đàn Kìm và ca
VĂN THẾ đàn Violon
MINH HỮU đàn Kìm và Guitare
Commis HAI (Bùi Văn Hai) đàn Tranh, Kìm và Tỳ Bà
(Tùng sự tại Bộ Ngoại-giao)

GÒ CÔNG
Sáu TỮNG (Huỳnh Văn Sâm) đàn Kìm và Xến
Mười TIỄNG (Võ Văn Tiễng) đàn Kìm, Tranh và Cò
KIM (con Ô. Mười TIỄNG) đàn Tranh, Kìm và Guitare
Bảy TRƯỜNG đàn Tranh và Kìm
Hai KHUÊ (Võ Văn Khuê) đàn Kìm, Tranh, Tỳ Bà và Cò

TÂN CHÂU
SẮN đàn Kìm
Bảy THÉNG đàn Kìm
NGUYỄN BẢO QUỐC đàn Mandoline
TRẦN BÁ CUNG đàn Mandoline
NGUYỄN NGỌC CHÂU đàn Mandoline

MIỀN TRUNG
VĨNH TRÂN đàn Bầu và Tỳ Bà
NGUYỄN GIA CẪM đàn Kìm
NGUYỄN HỮU BA đàn Kìm, Tranh, Tỳ Bà, Bầu, Cò và Violon.
BỮU LỘC đàn Tranh, Kìm, Tỳ Bà
VĨNH PHAN đàn Tranh, Kìm, Tỳ Bà và Cò
TRỊNH CHỨC đàn Tranh và Kìm
TẠ đàn Cò

MIỀN BẮC
Hàn NĂNG đàn Kìm và Tranh
TRẦN VIẾT VẤN Tiêu và Sáo
VŨ HÒA Tiêu, Sáo và Cò
MẠI đàn Kìm
MÃ đàn Đáy

NAM VANG (PHNÔM-PÉNH)
Ba HÓA đàn Cò
CHẪN đàn Kìm
Tám BÉ (Chánh Dân) đàn Tranh
Hai LÁI (Châu-đốc) đàn Cò
Tư THƯỠNG đàn Kìm và Violon

VĂN VĨ (Đinh Văn Dặm)
Sanh năm 1928 tại lăng Bình Đăng, Quận Cần Giuộc, Tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc Tỉnh Long An, Nam Việt)
Bắt đầu chơi đàn khi lên 7, đến 21 tuổi mới có Thầy dạy.

NĂM CƠ (Dương Văn Cơ)
Sanh năm 1919 tại lăng Ngủ Lạc, Tỉnh Trà Vinh (nay là Vĩnh Bình)
Đã cộng tác với các gánh hát như HOA SEN, KIM CHUNG.

ÔNG GIÁO THINH (Nguyễn Văn Thinh)
Sanh năm Mậu Than (1908) tại Bình hàng Tây, Tổng Phong Nẩm, Tỉnh Sà Đéc.
Học đàn khi lên 14 tuổi.
Ở trong Ban nhạc Tài Tử Cao hoài Diêu (khoảng năm 1930), một trong những Ban Tài Tử cổ nhạc nổi tiếng nhứt ở Miền Đông lúc bấy giờ.

Trình diễn tại Sân Khấu PHILARMONIQUE Sàigòn năm 1938 với nhóm: Tám ĐUỐI (Cò), Ba ĐỒNG (Cò), CHÂU VĂN SÁU (Tranh), Sáu THỚI (Tiêu), Cô Tư Cầu Mồng Gà, Cần Đước (Ca), Tư DƯƠNG (Độc huyền), Cô Hai QUA (vợ Ông Chín KỲ) (Ca), Cô Ba NHƠN (Ca), Tư KIỀU (đàn Tam), Bác sĩ CHÂU (Tỳ Bà), Bác sĩ NGUYỄN VĂN NHÃ (Thân Phụ Nữ Luật sư NGUYỄN PHƯỚC ĐẠI) (Tranh).

THANH HIỆP : Xét tặng NSND, NSƯT: Đừng tước mất cơ hội của nghệ sĩ!

19/10/2017 06:30

Nhiều nghệ sĩ kỳ vọng có sự đổi mới trong cách xét duyệt các danh hiệu này để kết quả mỗi kỳ xét duyệt không còn làm họ tổn thương

NSƯT Phương Quang, NSƯT Minh Vương, NSƯT Thanh Tuấn, NSƯT Giang Châu và nhiều nghệ sĩ khác đã làm hồ sơ xét tặng danh hiệu NSND, NSƯT đợt này. Hồ hởi thực hiện hồ sơ cá nhân gửi về Sở Văn hóa – Thể thao (VH-TT) TP HCM, các nghệ sĩ cho biết họ tin tưởng lần này hội đồng cấp cơ sở sẽ không gạt họ ra ngoài danh sách trước khi gửi đến Vụ Thi đua khen thưởng (Bộ VH-TT-DL).

Chưa qua được ải huy chương

Được công chúng biết đến là những danh ca một thời lừng lẫy, việc họ bị « trượt » danh hiệu NSND từ những lần trước chỉ vì thiếu huy chương vàng, huy chương bạc trong các cuộc liên hoan, kỳ hội diễn theo tiêu chí cần và đủ của quy chế, khiến danh dự của họ bị tổn thương.

NSƯT Phương Quang cao niên nhất trong 4 nghệ sĩ kể trên. Ông có hơn 60 năm cống hiến cho sân khấu, tên tuổi được bảo chứng qua hàng trăm vai diễn nổi tiếng, luôn là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo nhưng vẫn không qua được cửa xét duyệt của hội đồng cấp cơ sở.

Xét tặng NSND, NSƯT: Đừng tước mất cơ hội của nghệ sĩ! - Ảnh 1.

Từ trái sang: NSƯT Thanh Tuấn, Phương Quang, Vũ Luân và Thanh Vy trong chương trình « Làn điệu phương Nam » tại Nhà hát TP

NSƯT Minh Vương, NSƯT Thanh Tuấn, NSƯT Giang Châu đều là 3 danh ca tiếng tăm lẫy lừng của sân khấu cải lương Nam Bộ, quá trình cống hiến của họ được giới chuyên môn ghi nhận bởi sự sáng tạo không ngừng trong việc làm tươi mới, phong phú cách thể hiện bài ca vọng cổ và phả vào vai diễn những dấu ấn đậm nét khiến khán giả chỉ cần nhắc đến tên tuổi họ là nhớ ngay đến các vai diễn của họ như: Nguyễn Trãi (vở « Rạng ngọc Côn Sơn »), Võ Minh Luân (« Đời cô Lựu »), Minh (« Tô Ánh Nguyệt »), Hai Tất (« Sông dài »)… của NSƯT Minh Vương; Huy Bình (vở « Tìm lại cuộc đời »), Chu Văn An (« Nỗi lòng Chu Văn An »), A Khắc Chu Sa (« Người tình trên chiến trận)… của NSƯT Thanh Tuấn; Trùm Sò (vở « Ngao Sò Ốc Hến »), Tâm (« Tô Ánh Nguyệt »), Thừa (« Tìm lại cuộc đời »)…của NSƯT Giang Châu.

Trên hết, họ là những nghệ sĩ đóng góp cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực trẻ thông qua nhiều vở diễn, chương trình mà họ được mời làm cố vấn nghệ thuật hoặc dàn dựng.

NSƯT Thoại Miêu có hơn 45 năm cống hiến cho sân khấu cải lương. Từ chiếc nôi Đoàn Văn công TP HCM, tiền thân của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang ngày nay, chị đã không ngừng tạo nền tảng kiến thức cho đội ngũ diễn viên trẻ của nhà hát. Hầu hết các hội diễn, liên hoan của nhà hát này đều có sự đóng góp âm thầm của chị.

« Những lần trước, cứ xét theo tiêu chí không có đủ huy chương, chúng tôi đã bị đánh rớt ngay từ hội đồng thành phố. Khi đó đích thân những nghệ sĩ có tên trong Hội đồng Xét tặng danh hiệu ở trung ương đã hết sức bất ngờ, họ gặp gỡ, thậm chí điện thoại chia buồn vì sự đáng tiếc này. Tại sao lại tước bỏ cơ hội của chúng tôi ngay từ hội đồng địa phương trong khi chúng tôi đã có nhiều cống hiến như thế » – NSƯT Minh Vương bày tỏ nỗi niềm.

Cấp thành phố đề nghị là được

Dẫn chứng những trường hợp được nhà nước phong tặng danh hiệu NSND nhờ có hội đồng cấp cơ sở bảo vệ trước khi hồ sơ của họ chuyển đến hội đồng chuyên ngành cấp nhà nước, trong đó có mình, NSND Trọng Hữu (tỉnh Kiên Giang) nói: « Chúng tôi (Thảo Vân của Cần Thơ, Ngân Vương của Đồng Nai – PV) đã không bị đánh rớt từ hội đồng địa phương nơi mình công tác. Tôi rất tiếc những đợt xét tặng trước đây, trong danh sách NSND không có tên các nghệ sĩ là đàn anh của tôi kể trên ».

Đối với những nghệ sĩ xứng đáng được truy tặng danh hiệu NSND, dư luận trong nghệ sĩ phía Nam quan tâm đến 3 trường hợp: NSƯT đạo diễn Đoàn Bá, NSƯT Út Bạch Lan, NSƯT Thanh Sang vì những cống hiến to lớn của họ đối với sự nghiệp sân khấu cải lương, trong đó đạo diễn Đoàn Bá là bậc thầy của rất nhiều NSND hiện nay trong lĩnh vực cải lương và kịch nói.

Trên thực tế, việc truy phong danh hiệu NSND rất hiếm được xét duyệt. Gần đây nhất có 2 trường hợp được truy phong là NSND Nguyễn Anh Dũng – Nhà hát Kịch Việt Nam và NSND đạo diễn Trần Kiên – Đài Truyền hình TP HCM. Theo đạo diễn NSND Trần Ngọc Giàu – Chủ tịch Hội Sân khấu TP HCM, hồ sơ của 2 nghệ sĩ này đã được thực hiện trước khi họ qua đời. « Tôi đang lưu ý đến vấn đề này để có thể sớm thực hiện truy phong danh hiệu NSND cho đạo diễn NSƯT Đoàn Bá, vì ông là người xứng đáng hơn cả. Về tiêu chí xét tặng danh hiệu, theo tôi việc đong đếm huy chương vàng, huy chương bạc chỉ là một trong những tiêu chí. Hiểu được điều này, việc bỏ phiếu cho nghệ sĩ từ cấp cơ sở sẽ thoáng hơn, nghệ sĩ không bị mất cơ hội » – ông Giàu nói.

Đừng để nghệ sĩ kêu oan

Trên thực tế, sau mỗi đợt xét tặng danh hiệu, giới nghệ sĩ lại kêu oan cho nhiều trường hợp bị cân đo, đong đếm huy chương hay bị quy cho vi phạm đạo đức nghề nghiệp, nhân cách trong cuộc sống thường ngày. « Những cuộc đấu đá nhau trên mặt báo, trên trang cá nhân mạng xã hội, sau mỗi đợt xét tặng, đọc mà thấy đau lòng. Chúng tôi tin rằng các hội đồng chuyên ngành từ địa phương cho tới cấp nhà nước sẽ có cách làm thoáng hơn để danh hiệu NSND, NSƯT không bị nhuốm màu u buồn như nhiều đợt xét tặng vừa qua » – NSƯT Thanh Tuấn kỳ vọng.

Nghệ sĩ Tâm Tâm, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, cho biết: « Tôi, Thy Trang, Thu Vân, Võ Minh Lâm… cũng được yêu cầu hoàn tất hồ sơ xét tặng danh hiệu NSƯT. Trước hết, đó là niềm vui mừng vì nỗ lực của mình được ghi nhận. Nhưng nếu các nghệ sĩ thuộc thế hệ tiền bối như NSƯT Phương Quang, NSƯT Minh Vương, NSƯT Thanh Tuấn, NSƯT Giang Châu, NSƯT Thoại Miêu được xét tặng danh hiệu NSND và NSƯT Thanh Sang, NSƯT Út Bạch Lan được truy phong danh hiệu NSND thì niềm vui sẽ trọn vẹn hơn, bởi các cô chú vô cùng xứng đáng, là tấm gương sáng đối với thế hệ chúng tôi ».

Bài và ảnh: Thanh Hiệp

Thân thương những tiếng rao hàng rong

« Họ cứ đi, đòn gánh trên vai hay đội rổ trên đầu, các ông và nhất là vô số bà bán hàng rao vang dưới những gốc me hay phượng vĩ… »

Trong kí ức của nhiều người Việt, tiếng rao của những người buôn gánh bán bưng chạy dọc khắp các con phố như: “Chưng gai giò”, “Ai đậu hũ không?”, “bánh mì Sài Gòn, đặc biệt thơm bơ, 2 ngàn 1 ổ”, “cóc vàng làm chà bông đây”… hay đôi khi chỉ là tiếng kim loại leng keng của những chú đấm bóp, giác hơi dạo hoặc tiếng lóc cóc của mì gõ… tất cả luôn là một điều gì đó kỳ lạ nhất, nhưng cũng đẹp nhất, êm đềm nhất.

Từng tiếng rao mộc mạc, thật thà và giản dị như ăn sâu vào tiềm thức mỗi con người của thế hệ trước mà lớp trẻ ngày nay hiếm khi được nghe thấy, họa may chỉ là ở những con hẻm vùng ngoại ô.

Mới đây, bộ ảnh với tên gọi « Tiếng rao Hà Nội » đã khắc họa chân thực những chiếc xe “chở đầy” tiếng rao ấy, được lồng ghép vào những con chữ typography nhuốm màu xưa cũ được chia sẻ trên mạng xã hội đã khiến nhiều người vô cùng thích thú.

« Đây là đài tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội thủ dô nước CHXHCN Việt Nam »

Từng bức hình như đưa người xem bước vào những năm tháng ấu thơ thân thuộc, trong lòng cảm giác háo hức dâng lên hệt như ngày bé mừng rỡ khi nghe tiếng rao đi qua, chạy ra rồi chọn cho mình món ăn vặt khoái khẩu.

Một tác giả người Pháp tên E. Berges đã viết về những âm thanh đường phố này như sau: “Suốt bảy ngày trong tuần, dưới ánh mặt trời miền Nam hay dưới cơn mưa tầm tã, họ cứ đi, đòn gánh trên vai hay đội rổ trên đầu, các ông và nhất là vô số bà bán hàng rao vang dưới những gốc me hay phượng vĩ, quyến rũ những người thèm ăn bữa nhẹ hay mua vài món nho nhỏ dằn bụng…”

Thật vậy, dù nắng hay mưa, dù đêm hay ngày, lúc nào cũng vang lên những tiếng rao quen thuộc của gánh hàng rong khắp các hang cùng ngõ hẻm. Thật kỳ diệu khi từ ngày xưa, chuyện mua bán, theo cung và cầu, đã có những dịch vụ đưa đến tận nhà, không phải đi xa.

Thời đại ngày càng văn minh, những tiếng rao truyền thống đã được thay thế bằng những tiếng thu âm, CD… được phát liên tục. Những tiếng rao như ẩn nấp trong ngăn kéo kí ức của nhiều thế hệ người Việt Nam, chẳng mấy khi nghĩ đến nhưng qua bộ ảnh bỗng được gợi lại, sôi sục trong niềm nhớ.

Trở về tuổi thơ qua những gánh hàng rong

Phỏng vấn: GS. TS. Trần Văn Khê nói về bản sắc văn hóa dân tộc trong những điệu múa (1993)

Phỏng vấn: GS. TS. Trần Văn Khê nói về bản sắc văn hóa dân tộc trong những điệu múa (1993)

Phim tư liệu của Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã.

CÁC LOẠI NHẠC CỤ DÂN TỘC

CÁC LOẠI NHẠC CỤ DÂN TỘC

1. Các nhạc cụ thuộc bộ dây

Các nhạc khí dây Việt Nam rất phong phú, bao gồm caác loại đàn có mắc dây và nhạc công dùng móng tay, móng đeo vào ngón tay hoặc miếng gẩy được làm bằng nhựa, bằng sừng, bằng kim khí,… tác động vào dây (gẩy, đánh…) để phát ra âm thanh.

Nhạc khí dây có một vị trí quan trọng, không thể thiếu trong các tổ chức dàn nhạc dân tộc

Việt Nam. Nó thường được dùng trong các dàn nhạc hoà tấu hoặc dùng để đệm cho phần giai điệu hoặc hát. Ngoài ra, nhiều nhạc khí có thể độc tấu các bản nhạc sáng tác mới dành riêng cho từng loại đàn.

Các nhạc khí thuộc bộ dây

·           Brố
·           Broh
·           Đàn bầu
·           Đàn đáy
·           Đàn nguyệt
·           Đàn sến
·           Đàn tam
·           Đàn tam thập lục
·           Đàn tranh
·           Đàn tứ
·           Đàn tỳ bà
·           Ghi-ta phím lõm
·           Goong kram
·           Kok-ta-lư
·           Tâm plưng
·           Tính tẩu
·           Ta Khê
·           Ta Lư
·           Trống đất
·           Trống quân
2. Các nhạc cụ thuộc Bộ cung vĩ kéo 

Nhạc cụ cung vĩ kéo là loại đàn dây có sử dụng vĩ kéo, làm bằng gỗ hoặc tre. Có loại vĩ kéo được mắc thêm đuôi ngựa, có loại chỉ là một đoạn tre, nứa vót mỏng. Nhạc công dùng vĩ kéo đẩy tạo ra âm thanh. Nhạc khí cung vĩ kéo xuất hiện ở nước ta ít nhất từ thế kỷ thứ X (đời Lý), khi tìm thấy hình cây đàn nhị được chạm khắc trên cột đá chùa làng Phật Tích (Thanh Sơn, Hà Bắc).

Trong các nhạc khí cung vĩ kéo, đàn nhị được phổ biến hơn cả vì có âm thanh trung, thể hiện được nhiều sắc thái tình cảm. Nhạc khí cung vĩ kéo tương đối đồng nhất về mặt mầu âm, âm thanh rõ ràng, mềm mại thường là nhạc cụ đi giai điệu và giữ một vai trò quan trọng trong các dàn nhạc dân tộc. Ngoài ra, một số nhạc khí còn có thể độc tấu những tác phẩm do các nhạc sĩ, nghệ sĩ sáng tác dành riêng cho cây đàn.

Các nhạc cụ thuộc bộ cung vĩ kéo

·             Đàn Nhị
·             Cò líu
·             Đàn hồ
·             Abel
·             Cò ke
·             Kanhi
·             K’ní
·             T`rô khme

3. Các nhạc cụ thuộc bộ gõ:

Nhạc khí gõ chiếm số lượng nhiều hơn cả trong các loại nhạc khí dân tộc cổ truyền Việt Nam. Từ các loại giản đơn như mõ củ tre, bộ phách… đến các loại trống hay các dàn cồng chiêng… đều có một lịch sử lâu đời. Nhiều loại đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm như trống đồng, sênh phách, đàn đá…

Các nhạc khí gõ đều có chung đặc điểm là dùng một dụng cụ phù hợp để gõ, đánh, lắc, rập vào nhau hay cọ sát vào nhau… để phát ra âm thanh. Với độ vang lớn, các nhạc khí gõ thường đảm nhiệm phần đánh tiết tấu, phần đệm rất sinh động, phong phú về nhịp điệu, đem lại cho nền âm nhạc Việt Nam những đóng góp độc đáo. Nhạc khí gõ tham gia trong hầu hết các dàn nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam và luôn giữ một vai trò quan trọng.

Các nhạc cụ thuộc bộ gõ

·             Ân Toong 
·             Bẳng bu
·             Bẳng tǎng
·             Chiêng Aráp
·             Chiêng T’rum
·             Ching Kial
·             Ching Kram  
·             Chũm choẹ
·             Chùm ma hính
·             Chuông chùa 
·             Cồng – Chiêng
·             Đao – Đao
·             Đàn Đé
·             Đởn đang
·             Đồng La
·             Gậy tiền
·             Hơ Tơkding
·             Khinh khung 
·             Luống
·             
·             Mõ chùa
·             Mõ tre
·             Ống Cắc cùng
·             Phách
·             Phương Hưởng
·             Poh
·             Quả nhạc
·             Rang rai
·             Rôneathung
·             Sênh Sứa
·             Sinh tiền
·             Song loan
·             Thanh la
·             Tol mo
·             Tôn đing 
·             T`rưng
·             T’rưng gỗ
·             Tui cảnh
·             Trống Đồng
·             Ưng Quái
·             Yao Prông
·             Mõ làng
·             Mõ sừng trâu
·             Mõ trâu
·             Cái chúc
·             Coọng
·             Blơng Bơng
·             Dàn trống 
·             Hơgơr
·             Hơgơr Tăk M’lia
·             Pơ nưng yun
·             Trống Acưr
·             Trống Ban
·             Trống Bản
·             Trống Bộc
·             Trống Bồng
·             Trống bẹt 
·             Trống cái
·             Trống Cao lan
·             Trống Chầu
·             Trống chiến
·             Trống Chùa
    ·           Trống Dao
    ·           Trống đại
    ·           Trống đế
    ·           Trống đôi Chăm Hroi
    ·           Trống Ga nan knưng
    ·           Trống Ghì nằng
    ·           Trống Khẩu
    ·           Trống mảnh
    ·           Trống nhạc 
    ·           Trống Paranưng
    ·           Trống Phong Yêu
    ·           Trống Tang Sành
    ·           Trống Xẩm
    ·           Trống Hagừnsít
    ·           Trống Sài Dăm
    ·           Trống Săm phu
    ·           Trống Sấm
    ·           Trống cơm
4. Các nhạc khí thuộc bộ hơi

Nhạc khí thổi hơi Việt Nam có một lịch sử lâu đời. Trên mặt các trống đồng cổ xưa đã có xuất hiện những hình chạm khắc người thổi khèn. Trong kho tàng nhạc khí dân tộc Việt Nam, các nhạc khí thuộc bộ hơi cũng rất độc đáo và phong phú. Với rất nhiều các thể loại, từ chiếc kèn lá đến các loại sáo, khèn có cấu trúc tinh vi, phức tạp. Có loại thổi qua dăm, qua lưỡi gà, thổi tia ngang qua lỗ thổi hay thổi qua búp kèn…Các nhạc khí thổi hơi có ưu thế về độ vang xa, từng nhạc khí đã được cấu tạo thuận lợi cho sự thể hiện tính chất dân tộc trong các cách phát âm, luyến tiếng…

Nhạc khí thổi hơi được sử dụng độc tấu hay hoà tấu trong nhiều dàn nhạc tổng hợp hay chuyên loại (như đội bả lệnh gồm toàn nhạc khí thổi hơi và gõ). Trong mọi lĩnh vực sinh hoạt của nhân dân, nhạc khí thổi hơi đã có những tác dụng nhất định, trở thành yêu cầu không thể thiếu của quần chúng. Tục ngữ có câu: “Sống dầu đèn, chết kèn trống”. Trong các dàn nhạc dân tộc nhạc khí thổi hơi luôn giữ phần giai điệu chính và có một vị trí quan trọng trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam.

Các nhạc khí thuộc bộ hơi

·                Ala
·                A lát
·                Areng
·                A vơng
·                Amó
·                Bỉ Đôi
·                Đing Buốt
·                Đing jơng
·                Đing Nǎm
·                Đing Tác Ta
·                Đing tút
·                Đinh pá
·                Đinh pi
·                Kèn Bầu
·                Kèn lá
·                Khlóy chrômóh
·                Kèn Xaranai
·                Kềnh
·                Khèn bè
·                Klon-Pút
·                Kuộc
·                Kupuốt
·                Kypah
·                M`buốt
·                Ống Huân
·                Parin
·                Phong tiêu
·                Pí tót
·                Pí thiu
·                Pí tam lay
·                Pí sên
·                Pí pặp
·                Pí lè
·                Pí Me
·                Púa
·                Sáo diều
·                Sáo Chul
·                Sáo gáo
·                Sáo Hol
·                Sáo Pi
·                Sáo Vơơng
·                Sáo trúc
·                Tâng coi
·                Tơ diếp
·                Tơ nốt
·                Tơ ru
·                Tiêu
·                T’răng bleis
·                Trùng quyển xuý quản
·                Ưng Quái
·                Xi-u
·                Pí Đôi
·                Pí Lao Luông
·                Pí Láo Nọi
·                Pí mo

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam

Nhạc cụ dân tộc Việt Nam

NHẠC CỤ DÂN TỘC

Với bề dày lịch sử gần 4,000 năm dựng nước, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống trong một không gian đa dạng, có núi đồi, đồng bằng và sông biển. Cũng do những điều kiện sinh sống đa dạng ấy, Việt Nam rất phong phú về các thể loại âm nhạc và nhạc khí truyền thống.

1- Cồng chiêng

Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen. Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Nhạc cụ này có nhiều cỡ, đường kính từ 20 đến 60cm, loại cực đại từ 90 đến 120cm.Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ từ 2 đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc.
Ở người Mường và nhiều tộc dọc Trường Sơn – Tây Nguyên, các dàn cồng chiêng không chỉ làm nhiệm vụ điểm nhịp, đi tiết tấu hoặc giai điệu một bè mà còn hoà tấu nhạc đa âm. Các dàn cồng chiêng của họ thường gồm nhiều bộ. Mỗi bộ có số lượng khác nhau và đảm nhiệm những chức năng riêng trong cuộc hoà tấu.
Cồng chiêng có thể được gõ bằng dùi, đấm bằng tay. Có tộc còn áp dụng kỹ thuật chặn tiếng bằng tay trái hoặc tạo giai điệu trên một chiếc chiêng.
Ở nhiều tộc chỉ nam giới mới được đánh cồng chiêng. Dàn cồng sắc bùa của người Mường lại do nữ giới diễn tấu. Ở một số tộc khác nam và nữ đều có thể đánh cồng chiêng. Các kiêng kỵ trong cách sử dụng cồng chiêng cũng khác biệt ở mỗi tộc.Với tộc Mường và nhiều tộc ở Tây Nguyên cồng chiêng có một ý nghĩa lớn và giá trị cao. Hầu như gia đình nào cũng đều có cồng chiêng, thậm chí có gia đình có tới vài bộ. Cồng chiêng gắn bó với người Tây Nguyên từ thuở ấu thơ. Chúng theo sát cộng đồng và từng thành viên của cộng đồng trong mọi sự kiện trọng đại, lúc vui cũng như lúc buồn.
Nhìn chung, cồng chiêng là loại nhạc cụ thiêng, chủ yếu dùng cho các nghi lễ cúng tế, tang ma, cưới xin, mừng năm mới, mừng nhà mới, mừng lúa mới và các nghi lễ nông nghiệp, mừng chiến thắng, đưa và đón các chiến binh, cầu sức khoẻ và may mắn…
Ở Trường Sơn – Tây Nguyên âm thanh của chúng còn là chất men lôi cuốn gái trai vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của làng buôn. Đó là một bộ phận không thiếu trong đời sống tinh thần của nhiều tộc trên đất nước Việt Nam từ thuở xa xưa cho tới nay.

2- Đàn Đá

Nhạc khí tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi nhạc cụ là một bộ gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thước và hình dáng khác nhau, được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ. Vật liệu để làm đàn là những loại đá sẵn có ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.Căn cứ vào bộ đàn tìm được ở di chỉ khảo cổ học Bình Đa (Đồng Nai) được biết rằng việc chế tác những thanh đá này đã xuất hiện từ trên dưới 3.000 năm trước.
Cho tới những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ 20) đã tìm được gần 200 thanh đàn đá rải rác ở các tỉnh Đắk Lắk, Khánh Hoà, Đồng Nai, Ninh Thuận, Bình Phước, Lâm Đồng, Phú Yên. Số lượng thanh ở mỗi tập hợp được phát hiện là 3-15. Bộ đầu tiên tìm được tại Ndut Lieng Krak (Đắk Lắk) vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng « Con người » ở Paris. Nhiều bộ khác đang được bảo quản tại Việt Nam.
Một số tộc ở Tây Nguyên coi những thanh đá được phát hiện như những vật thiêng và giữ gìn như của gia bảo. Có tộc dùng chúng trong những lễ hội lớn để cúng thần, có tộc lại dùng làm dàn đá giữ rẫy.

3- Đàn T’rưng

Với người Tây Nguyên lời ca tiếng đàn luôn luôn là nguồn cổ vũ trong đời sống. Đêm đêm quanh ngọn lửa hồng dưới mái nhà rông người ta kể Khan, kể H’mon và hát lên những làn điệu dân ca Jôn-jơ, đợi chờ, giã gạo…Nói tới âm nhạc Tây Nguyên không thể không nhắc tới kho tàng nhạc khí hết sức phong phú với nhiều loại, nhóm và chất liệu khác nhau. Hầu hết các nhạc khí cổ thường dùng chất liệu sẵn có trong thiên nhiên như sáo, tiêu, goong rel, tù và, klông pút và t’rưng.
Đàn T’rưng là một loại nhạc khí « thô » được chế tác từ những khúc gỗ bóc vỏ phơi khô hoặc những ống nứa vót một đầu, chặt theo những độ dài khác nhau để tạo nên những âm vực ưng ý đem treo lên một cái giá đủ trở thành một cây đàn gõ « phím » cho một hoặc hai người diễn tấu bằng cách cầm những dùi tre gõ vào phím này.
Đàn T’rưng thường được diễn tấu bên trong nhà rông hoặc ngoài trời vào các dịp lễ hội truyền thống hay trong sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê…T’rưng có khả năng diễn tấu phong phú và đa dạng. Với nguồn âm thanh bất tận khi êm nhẹ theo giai điệu trữ tình của một khúc hát giao duyên, khi hoà cùng dàn nhạc tấu lên bản hợp tấu của núi rừng hùng vĩ… Trong giao lưu văn hoá T’rưng cũng xuất hiện trên các sân khấu ca nhạc hiện đại phụ hoạ theo tiếng hát rực lửa của những người con Tây Nguyên, nâng cánh cho những giọng ca vàng vang đến mọi nơi chốn xa xôi.
Là một loại nhạc cụ đặc sắc trong kho tàng nhạc khí Tây Nguyên, âm thanh độc đáo của T’rưng không chỉ lôi cuốn làm say đắm tâm hồn các dân tộc anh em trên đất Việt, mà còn ra khỏi biên giới ngân vang đến tận những vùng đất xa xôi và được các bạn bè khắp năm châu, bốn bể nhiệt tình đón nhận.
Trải qua quá trình sàng lọc với bao biến thiên của lịch sử, đàn T’rưng đã và sẽ tồn tại mãi mãi cùng với các dân tộc Tây Nguyên và cộng đồng dân tộc Việt.

4- Đàn Tam Thập Lục

Là nhạc khí dây, chi gõ của dân tộc Việt. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục.Đàn Tam Thập Lục hình thang cân, mặt đàn hơi phồng lên ở giữa, làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Cầu đàn, thành đàn làm bằng gỗ cứng, trên mặt đàn đặt so le hai hàng ngựa, mỗi hàng 18 ngựa. Cần đàn bên trái có 36 móc để mắc dây, bên phải có 36 trục để lên dây. Dây đàn làm bằng kim khí. Que đàn được làm bằng hai thanh tre mỏng, dẻo, ở đầu được quấn dạ để tiếng đàn được êm. Âm thanh đàn Tam Thập Lục trong sáng, thánh thót, rộn rã.
Âm vực đàn Tam Thập Lục tương đối rộng. Từ âm trầm nhất đến âm cao nhất trên hai quãng 8, được mắc theo gam nguyên.
– Khoảng âm dưới: Tiếng đàn ấm áp, khá vang.
– Khoảng âm giữa: Tiếng đàn đầy đặn, trong.
– Khoảng âm cao nhất: Tiếng đàn sắc, gọn.
Khi biểu diễn nhạc công dùng 2 que gõ vào mặt đàn tạo ra các ngón như: Ngón rung, ngón vê, ngón bịt, ngón á, đánh cồng âm, hợp âm…
Đàn Tam Thập Lục giữ vai trò quan trọng trong các dàn nhạc sân khấu chèo, cải lương. Đàn đệm cho hát, độc tấu, tham gia dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

5- Đàn Tranh

Đàn Tranh được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Thời Lý – Trần, Đàn Tranh chỉ có độ 15 dây nên bấy giờ gọi là « Thập ngũ huyền cầm » và được dùng trong ban « Đồng văn, nhã nhạc » (đời Lê Thánh Tôn thế kỷ 15), sau này được dùng trong cả ban nhạc giáo phường. Thời Nguyễn (thế kỷ 19) được dùng trong ban « nhạc Huyền » hay « Huyền nhạc », lúc bấy giờ được sử dụng với 16 dây nên được gọi là « Thập lục huyền cầm ».Hình dáng đàn dài, có 16 dây bằng kim loại, mặt đàn nhô lên hình vòng cung. Từ trục đàn đến chỗ gắn dây đàn, khoảng giữa của mỗi dây đều có một con nhạn gọi là « Nhạn đàn » để tăng âm, lên dây đàn từ nửa cung đến một cung khi đàn cần chuyền đổi dây. Sau này, Đàn Tranh rất thông dụng được đứng thứ ba trong bộ tam tuyệt của dàn nhạc tài tử.
Vì Đàn Tranh được thiết kế theo hình thức nhiều dây, nên khi tấu nhạc, đàn phát ra âm thanh đanh tiếng, sắt tiếng hơn khi tấu chữ, đàn thường là « song thanh », ví dụ khi hết một câu hay hết một đoạn nhạc hoặc một láy đàn nào đó thường lặp lại một nốt, một chữ nhạc của láy đàn (hò líu, xàng xang, xề xê…).

6- Đàn Nguyệt (Đàn Kìm) 

Đàn Nguyệt được sử dụng rộng rãi trong dòng nhạc dân gian cũng như cung đình bác học cổ truyền của người Việt. Xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ 11, cho tới nay, nó vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việt và là nhạc cụ chủ yếu dành cho nam giới.Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, nhạc công có thể tạo được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại.
Tiếng đàn trong, vang, khả năng biểu hiện phong phú- khi thì sôi nổi ròn rã, lúc lại nỉ non sâu lắng, do đó Đàn Nguyệt có mặt cả trong những cuộc hoà tấu nhạc lễ trang nghiêm, những cuộc hát văn lôi cuốn, những lễ tang bùi ngùi xúc động cũng như những cuộc hoà tấu thính phòng thanh nhã với những hình thức diễn tấu khác nhau: đệm cho hát, hoà tấu và độc tấu.

7- Đàn Cò (Đàn Nhị)

Đàn Cò – Đàn Nhị đã có mặt trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam từ lâu đời, đã trở nên thân quen và gần gũi với mọi người dân Việt Nam, nó được trân trọng quí báu như cổ vật gia bảo. Đàn Cò đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng và đắc lực không thể thiếu trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay.Người dân Nam Bộ gọi là « Đàn Cò » vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò, cần đàn như cổ cò, thân đàn như con cò, tiếng đàn nghe lảnh lót như tiếng cò. Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhặc tài tử, cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca… đều có Đàn Cò.

8- Đàn K’ni

Tên gọi mà người Ba Na và Ê Đê dùng để chỉ loại đàn một dây dùng cật tre làm cung kéo của một số tộc sống trên dọc Trường Sơn – Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Xơ Đăng, Pa Kô, Hrê…Thân đàn là một khúc nứa, tre hoặc gỗ tròn nhỏ, không có bầu cộng hưởng. Trên thân có gắn phím bấm. Dây đàn được mắc dọc theo thân đàn. Cung kéo chỉ là một đoạn tre nhỏ hoặc một thanh tre khi diễn tấu người ta cọ phần cật vào dây.

Cấu trúc đơn giản nhưng nét đặc sắc của k’ni là ở phương thức khuyếch đại âm thanh và thay đổi âm sắc bằng khoang miệng nhờ một sợi dây nối từ dây đàn tới miệng người kéo đàn. Vừa kéo cung và bấm vào phím tại những vị trí khác nhau trên dây để tạo nên các cao độ, người chơi đàn vừa thay đổi khẩu hình lúc khép lúc mở theo lời thơ họ muốn diễn đạt. Âm thanh của đàn do đó bị biến dạng theo, nghe gần như tiếng người. Những người hiểu tiếng dân tộc và quen nghe K’ni có thể hiểu được nội dung ca từ mà nhạc công truyền đạt qua tiếng đàn. Chính vì vậy có tộc cho rằng « k’ni hát ». Có nơi đồng bào Ê Đê còn sử dụng k’ni để đọc những bài thơ xen vào khi kể Chơ Nắc.
Âm lượng nhỏ và với đặc tính như trên, k’ni chủ yếu là nhạc khí để bộc lộ tâm sự, tình cảm của các chàng trai với các cô gái vào những lúc thanh vắng tĩnh mịch. Đôi khi người Ê Đê cũng dùng k’ni để đệm cho hát khóc trong lễ tang. Gần đây k’ni cũng bắt đầu được khai thác và giới thiệu trên sân khấu ca nhạc chuyên nghiệp.

9- Đàn Đáy

Đàn đáy là nhạc khí đặc trưng trước kia chỉ dùng để đệm cho một thể loại hát duy nhất với hai nhánh mà ngày nay người Việt thường gọi là Hát cửa đình và Hát ả đào (hoặc Ca trù). Chỉ nam giới mới chơi nhạc cụ này. Có lẽ đàn được sáng tạo từ thế kỷ 15 với sự định hình của thể loại hát nói trên.Cũng có những phím cao nhưng cần đàn rất dài nên đàn đáy thuộc loại nhạc cụ trầm và có một kỹ thuật độc đáo là ngón chùn làm cho âm thanh bị thấp xuống so với ngón bấm bình thường.
Âm sắc trầm, đục, ấm nhưng ngắn của đàn đáy tạo nên sự tương phản làm nổi bật âm sắc của những người bạn hoà tấu với nó.
Ngoài thể loại nói trên, ngày nay đàn đáy còn được dùng để đệm cho ngâm thơ. Bởi tính chất khiêm tốn, nhũn nhặn của tiếng đàn trong khi đệm cho hát, có người đã ví đàn đáy như một « triết gia ẩn dật ».

10- Đàn Bầu

Trong kho tàng văn hoá âm nhạc dân tộc Việt Nam, đàn bầu được coi là nhạc cụ độc đáo và hấp dẫn nhất. Tiếng đàn du dương, trầm lắng khiến ai đã nghe một lần thì thật khó quên. Chẳng thế mà các cụ ngày xưa đã kín đáo nhắc nhủ: « Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu », « Cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha. Ngân nga em hát, tích tịch tình tang ».Dường như âm thanh mộc mạc, chân quê nhưng sâu lắng đến vô cùng của cây đàn bầu, hoà quện với tấm lòng của tác giả đã tạo nên những vần điệu chất chứa trong bài hát ru ấy. Điều gì đã khiến cho cây đàn bầu có sức quyến rũ độc đáo đến như vậy?
Có nhiều cách giải thích khác nhau về sự xuất hiện của cây đàn bầu trong kho tàng văn hoá dân gian. Chỉ từ trò chơi trống đất của trẻ em đồng bằng Bắc bộ là đào hố và căng dây qua lỗ đất, khi đập nghe tiếng bung bung mà các cụ ngày xưa đã cho ra đời nhạc cụ mang tên đàn Bầu, được làm từ ống tre và quả bầu khô. Từ thời nhà Lý, đàn Bầu đã xuất hiện, nhưng thời ấy nhạc cụ này chỉ được dùng để đệm cho những người hát xẩm. Thời gian qua đi cây đàn dần được cải tiến, đàn được làm từ những chất liệu tốt hơn như gỗ, sừng. Ông Đỗ Văn Thước, một nghệ nhân làm đàn Bầu nói « cuộc sống và mọi sinh hoạt của nông dân Việt Nam đều bắt nguồn từ cây tre: ống nước, ống cơm, rổ rá, đòn gánh, Bởi vậy, để bảo vệ bụi tre họ lấy dây rừng buộc quanh gốc tre, thấy âm thanh phát ra từ đó như những cuộc giao lưu tình cảm khiến người nông dân xưa nghĩ đến việc hạ tre thành cọc căng dây tơ cho âm thanh hay hơn, rồi sử dụng vỏ quả bầu dài làm hộp cộng hưởng ». Song có lẽ tất cả cũng chỉ là những giả thuyết. Còn thực tế thì cây đàn bầu đã gắn bó với làng quê con người Việt Nam từ bao đời nay còn chưa ai biết.
Cái độc đáo ở đây là cây đàn có cấu trúc rất đơn giản. Chỉ với một dây nhưng nó diễn tả được mọi cung bậc của âm thanh và tình cảm. Âm thanh cũng mang sức quyến rũ lạ kỳ, gần với âm điệu tiếng nói của người Việt, bởi vậy mà đàn Bầu trở thành nhạc cụ được mọi người ưa thích.
Để có được cây đàn như ý, người làm đàn phải rất công phu trong việc chọn lựa chất liệu. Cây đàn phải hội đủ hai yếu tố « Mặt ngô thành trắc », có nghĩa là mặt đàn phải làm bằng gỗ cây ngô đồng sao cho vừa xốp vừa nhẹ, thớ gỗ óng ả, thẳng thì mới có độ vang. Khung và thành đàn làm bằng gỗ trắc hoặc gụ, vừa đẹp lại vừa bền. Cần rung, còn gọi là vòi đàn được làm từ sừng trâu. Bầu đàn được lấy từ quả bầu khô hoặc tiện bằng gỗ.
Cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong vấn đề cấu tạo cây đàn. Người thì cho rằng nên kéo dài đàn ra để có được tiếng trầm hơn hoặc đổi đàn bầu thành hai dây (một cao, một thấp), hai cần và mở to thùng đàn ra, nhưng cuối cùng tất cả đều không phù hợp. Việc dùng vòi đàn để căng dây lên hoặc hạ chùng dây xuống đã tạo ra nhiều âm thanh và cao độ khác nhau. Cần đàn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sắc độ âm thanh khác nhau và làm cho tiếng đàn tròn, mượt. Mặt đàn với thới gỗ óng ả, khi kết hợp với hộp cộng hưởng sẽ tạo nên những âm thanh vang, trong. Đàn còn được trang trí nhiều hoa văn hoặc khảm trai với các hình ảnh miêu tả cảnh sinh hoạt phong phú của người dân Việt Nam. Ngày nay người ta thường có xu hướng thay thế đàn gỗ bằng đàn điện, kéo dài và làm mỏng thân đàn để tạo âm trường và tiếng vang hơn.
Đàn Bầu thể hiện một cách thành công những làn điệu dân ca khác nhau của từng vùng, từng miền của dân tộc. Nó còn có thể diễn tấu rất hay những giai điệu của nước ngoài, từ nhạc dân gian đến nhạc nhẹ.
Phải chăng vì sự độc đáo có một không hai của cây đàn Bầu mà mỗi khi nhắc đến Việt Nam, nhiều khách nước ngoài đã coi cây đàn bầu như một biểu tượng của Việt Nam « Đất nước đàn Bầu ». « Quê hương đàn Bầu ». Nhà thơ nữ người Pháp MeRay đã thốt lên: « Cây đàn Bầu thật giống với con người Việt Nam. Nghèo của cải mà giàu lòng nhân ái, giản dị mà thanh tao, đơn sơ mà phong phú ».

11- Đàn Tam

Đàn Tam là nhạc cụ dây gảy của dân tộc Việt. Đàn được mắc ba dây nên gọi là Đàn Tam (tam là ba). 
Hộp đàn là khuôn gỗ dầy hình chữ nhật (4 cạnh tròn), kích thước 14 x 17 cm. 

Thành đàn cao khoảng 5 cm bằng gỗ cứng. Đáy bịt gỗ, có lỗ thoát âm. Mặt đàn làm      bằng da trǎn, da kỳ đà, trên mặt có gắn một cái thú để mắc dây. Cần đàn dài 0,65 m không có phím, trên mặt cần có một miếng gỗ để luồn dây, ba dây được mắc vào cuối bầu đàn chạy qua ngựa và miếng gỗ, miếng gỗ này có tác dụng di chuyển làm cho âm thanh cả 3 dây hạ xuống hay cao lên khi cần thiết. Đầu đàn hình thang cân có 3 trục gỗ để lên dây. Dây đàn bằng tơ xe, nay bằng dây nilon được lên cách nhau một quãng 4 đúng và 5 đúng Sol – Do -Sol1 hoặc Sol – Re – Sol1 Đàn Tam được dùng phổ biến trong  dàn nhạc chèo, phường bát âm, ban nhã nhạc. Ngày nay Đàn Tam đã được đưa vào dàn nhạc dân tộc tổng hợp. 

12- Đàn Tỳ Bà

Tỳ Bà tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người Việt. Nhiều tài liệu đã cho biết, Tỳ Bà xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa, rồi ở Nhật Bản với tên gọi BiWa.Người ta chế tác Tỳ Bà bằng gỗ Ngô Đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Đầu đàn (hoặc thủ đàn) cong có chạm khắc rất cầu kỳ, khi là hình chữ thọ, khi là hình con dơi. Nơi đầu đàn gắn bốn trục gỗ để lên dây.
Toàn bộ chiều dài của thân đàn có số đo từ 94 – 100cm. Phần cần đàn có gắn 4 miếng ngà voi cong vòm lên gọi là Tứ Thiên Vương. Tám phím chính làm bằng tre hoặc gỗ gắn ở phần mặt đàn cho các cao độ khác nhau. Thuở xưa dây đàn se bằng tơ tằm rồi đem vuốt sáp ong cho mịn, ngày nay, người ta thay dây tơ bằng dây nilon. Đàn có 4 dây lên theo 2 quãng 4, mỗi quãng 4 cách nhau một quãng 2: Đồ – Fa – Sol – Đô1 hoặc Sol -Đô1 – Rê1 – Sol1. Khi chơi đàn nghệ nhân gẩy đàn bằng miếng đồi mồi hoặc miếng nhựa.
Ở Việt Nam, đàn Tỳ Bà có mặt trong các dàn nhạc: Nhã nhạc, Thi nhạc của cung đình, Thiền nhạc của phật giáo, ban Nhạc tài tử, Phường bát âm, Dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
Mặc dù đàn Tỳ Bà có xuất xứ từ các nước khác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn của Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc.

13- Đàn Tính

Là nhạc cụ của các dân tộc Tày, Nùng, Thái cư trú tại các tỉnh vùng núi phía bắc Việt Nam. Người Tày, Nùng gọi là Tính Then, người Thái gọi là Tính Tẩu (Tính là đàn, Tẩu gọi là quả bầu).Đàn Tính thuộc họ dây, chi gẩy. Đàn gồm các bộ phận: Cần đàn, bầu đàn, mặt đàn, thủ đàn và dây đàn. Cần đàn làm bằng gỗ nhẹ mềm, thớ quánh, thường là gỗ thừng mực hoặc gỗ dâu. Người ta đo chiều dài cần đàn khi chế tác là 9 nắm tay người chơi đàn (tương ứng với chiều dài 75 -90 cm). Kinh nghiệm dân gian cho thấy số đo này hợp với cỡ giọng người chơi đàn.
Thủ đàn cong hình lưỡi liềm hay hình con chim, gắn hai hoặc ba trục lên dây. Bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm già, tròn và dày đều. Mặt đàn bằng mo bương hoặc gỗ quế bào mỏng chừng 3mm. Dây đàn se bằng tơ tằm vuốt sáp ong hay nhựa khoai lang (nay người ta làm bằng dây cước). Ngựa đàn là một mảnh tre hoặc miếng gỗ cắt nhỏ, hình thang. Phía dưới ngựa đàn khoét hình vòng tròn hoặc hình chữ M, đặt chính giữa áp sát vào mặt đàn.
Đàn Tính có 2 loại, loại mắc 2 dây và loại mắc 3 dây. Loại 2 dây, lên dây cách nhau quãng 4, 5. Loại 3 dây cũng lên dây như vậy nhưng có một dây cách dây cao 1 quãng 8.
Âm vực đàn Tính rộng hơn hai quãng 8, khoảng âm quãng 8 thứ nhất từ Đô1 đến Đô2, tiếng đàn vang thanh thoát giàu tình cảm, đây là khoảng âm được sử dụng nhiều thường đánh giai điệu. Khoảng âm quãng 8 thứ 2 từ Dô2 -Dô3, tiếng đàn hơi mờ, cộc ít khi sử dụng. Tính Tẩu có khả nǎng diễn tấu nǎng động, linh hoạt. Các ngón kỹ thuật thường tập trung ở tay trái : Trượt, vuốt, luyến, láy, rung và đặc biệt kỹ thuật búng, gẩy tại chính nốt bấm cho hiệu quả âm thanh mềm mại.
Đàn Tính được dùng đệm hát trong các nghi lễ Then của người Thái, Tày, Nùng. Các ông bà Then vừa hát vừa tự đệm cho mình. Riêng Tính Tẩu còn được dùng đánh đệm cho hát giao duyên và cho múa xòe Thái. Trong hai trường hợp này thì Tính Tẩu chỉ dùng cho nam giới còn trong Then của Tày chỉ dành cho nữ giới.

14- Khèn

Khèn là một loại nhạc khí bản địa rất cổ đã có mặt ở Việt Nam từ trước Công nguyên. Trên các di vật của nền văn hoá Đông Sơn cổ đại còn lưu lại hình ảnh những người thổi khèn trong nhiều tư thế và bối cảnh khác nhau. Ngày nay, nhiều tộc ở Việt Nam vẫn sử dụng phổ biến loại nhạc khí này.Khèn ở Việt Nam có nhiều kiểu dạng với số lượng ống, hàng âm và kích thước khác nhau. Các ống được làm bằng các loại tre nứa nhỏ. Lưỡi gà bằng đồng hoặc bằng tre. Bầu khèn bằng loại gỗ dẻo hoặc vỏ quả bầu khô rỗng ruột. Số lượng ống thường chẵn, từ 6 tới 12, 14 ống, cá biệt là khèn của người Xá Phó – gọi là ma nhí, có 5 ống. Mỗi ống có 1 lỗ bấm để thổi ra một cao độ theo hàng âm của từng tộc.
Là nhạc cụ đa thanh, khèn có thể dùng để đệm hát, múa, hoà tấu cùng các nhạc cụ khác và độc tấu. Trong sinh hoạt dân gian nó được dùng vào nhiều trường hợp và địa điểm khác nhau, tuỳ theo phong tục của từng tộc.Ở Tây Nguyên người Ê Đê chỉ được dùng khèn trong nhà để thổi những bài nhạc buồn và đệm cho trai gái hát ayray vào những ngày tang lễ. Ngoài nương rẫy khèn được dùng thoải mái đệm cho múa trong những ngày hội đông vui hoặc thổi những điệu trữ tình để giải trí và đuổi thú rừng.
Các tộc ở miền núi phía Bắc dùng khèn tự do hơn. Đặc biệt, với người Mông, kềnh (khèn) giống như cơm ăn nước uống. Nó theo họ khắp nơi: khi lên nương, lúc xuống chợ, vào ngày hội vui cũng như ngày buồn. Trong tay các chàng trai Mông, khèn đồng thời là nhạc cụ và đạo cụ để họ vừa thổi vừa múa trổ tài trước các cô gái trong những dịp đông người. Với họ, khèn có khả năng biểu cảm rất lớn: « Nghe khèn, biết khóc hay cười ».

15- Klông Pút

Một trong số không nhiều nhạc khí dành cho nữ giới. Tên gọi tiếng Xơ Đăng này đã trở nên phổ thông để chỉ loại nhạc khí hơi của một số tộc trên Tây Nguyên như Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Hrê…Klông pút là một dàn gồm 2 – 3 cho tới 5 – 12 ống nứa, lồ ô hoặc tre cỡ tương đối lớn. Đường kính các ống khoảng từ 5 đến 8cm, chiều dài từ 60 đến 120cm, có khi từ 20 đến 200cm. Có loại Klông pút kín một đầu và có loại rỗng hai đầu. Khi diễn tấu các ống được đặt nằm ngang vừa tầm tay người vỗ trong tư thế đứng lom khom hoặc quỳ. Dùng hai bàn tay khum vỗ vào nhau trước miệng ống, các cô gái tạo nên luồng hơi lùa vào ống làm vang lên âm thanh.
Klông pút được coi là nhạc cụ gắn với sản xuất nông nghiệp và là nơi trú ngụ của Mẹ Lúa. Vì vậy Klông pút là nhạc cụ của giới nữ và chỉ được chơi trên rẫy vào mùa tra lúa và trong buôn làng vào ngày lễ đóng cửa kho lúa hoặc vào dịp tết của tộc và lễ hội ăn lúa mới với số lượng bài hạn chế. Ngày nay Klông pút đã được đưa lên sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp để diễn tấu nhiều loại bài bản khác nhau.

16- Trống Xẩm

Trống Xẩm hay còn gọi là trống mảnh, là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ của dân tộc Việt.Tang trống làm bằng gỗ cứng cao 4 – 5cm, trống chỉ có một mặt đường kính 15 – 20cm. Dùi đánh Trống Xẩm làm bằng tre dài 20cm.
Khi biểu diễn nhạc công thường để trống lên đùi, một tay cầm dùi gõ vào mặt trống. Âm thanh Trống Xẩm đục, không vang. Trống Xẩm thường hòa tấu cùng đàn bầu, đàn hồ, mõ tre, và cặp kè trong dàn nhạc đệm cho hát xẩm.

17- Trống Đồng

Là nhạc khí tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. Trống Đồng được đúc bằng đồng cả vành và tang trống. Trống Đồng có 4 loại chính:

Loại 1: là loại Trống Đồng lớn, cổ xưa nhất. Ngôi sao ở giữa mặt trống thường có 12 cánh. Một số trống có tượng cóc ở mép mặt trống. Thân trống phần trên phình ra, phần giữa thắt lại và phần dưới choãi ra, có 4 quai.
Loại 2: Có cả loại lớn và vừa. Ngôi sao ở giữa mặt trống thường có 8 cánh. Mặt trống chờm ra khỏi tang. Rìa mặt trống có từ 4 – 8 tượng cóc, có 2 quai, trang trí hoa văn hình hoa lá đối xứng hoặc hình học.
Loại 3: Thường là loại vừa và nhỏ. Ngôi sao có 12 cánh hoặc 8 cánh, có 4 tượng cóc ở mép trống, thân trống phần trên và dưới hình viên trụ, phần giữa thon lại, quai nhỏ.
Loại 4: Đường kính mặt trống thường có kích thước trung bình 50cm, cao 45 – 50cm. Mặt trống phủ vừa sát đến thành thân trống, ngôi sao ở giữa mặt trống 12 cánh. Thân trống chia ra 2 phần: Phần trên phình ra đỡ lấy mặt trống, phần dưới hình viên trụ tròn có 4 quai. Hoa văn trang trí hình động vật: Rồng, Khỉ, không có tượng cóc trên rìa mặt trống. Trống được đúc bằng hợp kim đồng, nhưng tiếng không trong, không vang xa như trống đồng loại 1.
Trống Đồng được gõ bằng dùi có mấu hoặc bọc vải da. Người đánh trống tay phải cầm dùi đánh vào mặt trống, tay trái cầm một thanh tre gõ vào tang trống tạo ra rất nhiều âm sắc khác nhau:
– Khi đánh vào núm giữa (được đúc dầy hơn), âm thanh nghe có cảm giác trầm hơn so với các vị trí khác.
– Đánh vào vành hoa văn cho cảm giác trong, vang.
– Khi đánh vào các con cóc, âm thanh phát ra sắc, gọ, ngắn.
Âm thanh Trống Đồng vang, khoẻ, hùng tráng. Trống Đồng được sử dụng trong Đường thượng chi nhạc (Thời hậu Lê), trong dàn Nhã nhạc thế kỷ 15, 16 và trong dàn nhạc lễ thể kỷ 18. Hiện nay chỉ còn thấy trong đời sống văn hóa các dân tộc Khơ Mú, Lô Lô và dân tộc Mường thường sử dụng Trống Đồng với tư cách là một nhạc cụ trong tang lễ. Trống Đồng là một hiện vật văn hóa tiêu biểu mà cha ông ta đã để lại. Là một nhạc khí quan trọng trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

18- Trống Chiến


Là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ của dân tộc Việt.Tang trống làm bằng gỗ mít cao khoảng 34cm. Mặt trống có đường kính 32cm, bưng bằng da trâu, Dùi trống làm bằng gỗ gǎng. Khi đánh người ta đặt trống lên giá đỡ, gõ vào mặt trống sao cho một mặt có tiếng trầm, một mặt có tiếng bổng (tùng và tang) được gọi là mặt âm và mặt dương. Âm thanh Trống Chiến rộn ràng, khoẻ, vang xa.
Là nhạc cụ hòa tấu tham gia trong dàn nhạc lễ, đặc biệt, Trống Chiến là trụ cột trong dàn nhạc sân khấu tuồng, dùng đánh chấm câu, mở câu, thôi thúc nhịp điệu, tạo nên tiết tấu múa hát tuồng.

19- Trống Đất
Xem thêm nội dung về Trống đất

Ngoài đền thờ 18 vị Vua Hùng có công tạo dựng đất nước, tỉnh Phú Thọ – một địa danh được gọi với cái tên đất Tổ – là nơi gìn giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống, vật thể và phi vật thể, trong đó, Trống Đất – một trong những nhạc cụ cổ nhất của dân tộc Việt Nam.
Theo các nhà khoa học thì đây là một loại nhạc cụ có từ rất sớm, là thủy tổ của những loại trống đang có. Theo truyền thuyết một trong các Vua Hùng sau khi thắng giặc, trên đường về đã cho quân sĩ hạ trại tại xã Tân Lập để khao quân, ăn mừng chiến thắng. Trong quá trình đào đất, chôn cọc dựng trại, Đức Vua nằm nghỉ áp tai xuống mặt đất nghe được âm thanh của tiếng đào đất chôn cọc « thình thình » dội lại thật lạ tai nên nhà vua đã nghĩ tới việc làm Trống Đất. Từ đó Trống Đất đã trở thành nhạc cụ cho ngày hội ăn mừng khao quân thắng trận.
Nghệ nhân Đinh Văn Nhật, 58 tuổi, sống tại xóm Nưa Thượng, xã Tân Lập, là người đã từng làm và chơi Trống Đất từ thuở nhỏ. Ông được các thế hệ đi trước truyền dạy hết sức cẩn thận về cách làm và cách diễn tấu.
Theo nghệ nhân Nhật, trước khi làm ra chiếc « Trống Đất », người làm nó phải làm lễ tế trời đất. Công việc tiếp đến là đào một hố tròn có đường kính 18cm-20cm, sâu khoảng 30-35cm hình chum trên một mặt đất phẳng. Dùng 2 chiếc bẹ bương khô xếp tráo đầu đuôi đậy lên miệng hố làm mặt trống. Sau đó, lấy một chiếc lạt tre chốt một đầu và sâu qua chính giữa 2 chiếc bẹ đó. Mặt trống được ghim xuống đất bằng 4 que tre sau đó được ép phẳng kín với mặt đất bằng 4 chiếc nẹp nứa. Công việc tiếp sau đó là đóng 2 chiếc que được làm bằng nhánh cây bương, cách tâm của mặt trống chừng 1m về hai phía. Lấy sợi dây sắn rừng có đường kính chừng 5-7mm buộc căng vào hai đầu của 2 chiếc que vừa đóng rồi kéo sợi dây từ mặt trống buộc căng chặt lên sợi dây sắn rừng. Tất cả những thao tác trên được làm trong khoảng 10 phút. Trống Đất đã được chế tạo xong.
Âm thanh của « Trống Đất » phụ thuộc vào độ kín của mặt trống, độ căng của sợi dây cũng như đường kính, độ dài của sợi dây và chiều rộng, chiều sâu của hố đất. Độ mịn, quánh, dẻo của đất cũng có tác động lên âm thanh của trống. Hai chiếc que buộc với sợi sắn rừng có chức năng của một cần âm thanh. Người diễn tấu trống dùng 2 đũa tre gõ lên sợi dây lạt truyền qua mặt trống xuống đất. Những âm thanh trầm bổng được vang lên có lúc âm rền như công-tơ-bát. Nếu người diễn tấu dùng một tay vít vào cần âm thanh thì tiếng trống có độ ngân dài như tiếng đàn bầu, nếu chặn ngón tay vào dây, tiếng trống sẽ khô và đanh hơn. Ngoài ra, người chơi trống có thể tạo ra các âm thanh như tiếng vó ngựa dồn dập bay về báo tin thắng trận, có lúc như tiếng quân reo náo động.
Theo lời các nghệ nhân địa phương, trước đây, trong những ngày lễ hội « Trống Đất » được kết hợp với các loại nhạc cụ dân tộc khác để đệm cho hát giang, hát ví của dân tộc Mường. Hiện nay, vị trí của « trống đất », một nhạc cụ dân dã, tại các buổi lễ hội có phần lu mờ trước sự lấn át của các loại nhạc cụ khác, hiện đại hơn.
Mơ ước của nghệ nhân Đinh Văn Nhật cũng như đồng bào dân tộc Mường xã Tân Lập muốn đưa « Trống đất » sánh cùng các nhạc cụ dân tộc khác để phục vụ đông đảo khách thập phương hành hương về giỗ Tổ ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm tại đền Hùng, nơi cội nguồn dân tộc Việt Nam.

20- Trống Cơm

Trống Cơm – nhạc cụ họ màng rung, chi vỗ của dân tộc Việt. Được gọi là « Trống Cơm » vì trước khi sử dụng, nhạc công dùng cơm nóng nghiền nhuyễn gắn vào mặt trống để điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh.Thân Trống Cơm có hình ống, hai đầu hơi múp, được làm từ một khúc gỗ khoét rỗng dài khoảng 56 – 60 cm. Đường kính hai mặt khoảng 15 – 17cm, bịt bằng da trâu hoặc da bò, mặt trầm gọi là « mặt thổ », mặt cao là « mặt kim ». Một hệ thống dây chằng bằng da hoặc mây gọi là dây xạ có tác dụng làm cǎng, trùng hai mặt trống. Là nhạc cụ hòa tấu, được dùng trong nghi lễ phong tục và dàn nhạc chèo, âm thanh trống cơm trầm, vang, hơi đục.

21- Trống Paranưng

Trống Paranưng là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ vỗ của tộc người Chǎm Ninh Thuận, Bình Thuận.Trống chỉ có một mặt, đường kính khoảng 45 – 50cm, bịt bằng da hoẵng hoặc da dê. Tang trống liền làm từ gỗ lim hoặc gỗ cà chỉ cao khoảng 9cm. Mặt trống được cǎng bằng hai đai tròn làm từ một đoạn mây song và một hệ thống dây chằng đan chéo nhau để cǎng mặt trống. Từ giữa tang đến vành phía dưới là những con nêm để cǎng trống khi bị trùng.
Người đánh trống Paranưng được gọi là « ông thầy vỗ », vì khi diễn tấu, trống được đặt ở trước bụng, rồi sử dụng các ngón của hai bàn tay vỗ (chứ không dùng dùi) vào những vị trí khác nhau trên mặt trống tạo các âm có mầu sắc: Tìn ; Tin; Tắc.
– Tìn: Dùng các đầu ngón tay phải khép lại, vỗ vào mặt trống cách vành khoảng 12cm, rút tay lên ngay tạo âm vang rền.
– Tin (hoặc tâm): Dùng các đầu ngón tay phải mở ra vỗ vào mặt trống cách vành 5-6cm, rút tay lên ngay tạo âm cao hơn Tìn.
– Tắc: Dùng các đầu ngón tay trái khép lại vỗ vào mặt trống cách vành 5 – 6cm, nhưng ấn giữ nguyên tạo âm ngắt và đục.Paranưng có chức nǎng vỗ nhịp đệm cho hát, hòa cùng nó thường là kèn Xaranai và trống Ghì Nằng. Người sử dụng Paranưng là ông Mư tuồn chủ lễ, có lẽ vì thế trống Paranưng trở thành một nhạc cụ quan trọng trong lễ hội của dân tộc Chǎm.

22- Trống Đế

Trống Đế là nhạc khí gõ, họ màng rung của dân tộc Việt. Đúng như tên gọi, Trống Đế làm nhiệm vụ đế, có nghĩa là lót, là chỗ dựa, làm điểm xuyết cho diễn viên khi biểu diễn và ca hát.Trống Đế có hai mặt hình tròn, đường kính khoảng 15cm, bưng bằng da nách của con trâu. Những nghệ nhân làm trống cho rằng da nách mỏng, dai và bền, đủ sức chịu đựng độ cǎng mặt trống. Tang trống cao khoảng 18cm, khoét từ một khúc gỗ mít (gọi là tang liền). Dùi trống làm bằng gỗ cứng, dài khoảng 25cm, một đầu to, một đầu nhỏ.
Âm thanh Trống Đế nghe vui, cao, lảnh lót, hơi đanh nhưng gọn tiếng. Người ta đánh vào nhiều vị trí khác nhau trên trống đã tạo ra được nhiều âm thanh khác nhau:
– Đánh vào giữa mặt trống, tiếng trống nghe vang, ròn.
– Đánh vào mặt trống nhưng giữ nguyên dùi, âm thanh sẽ khô, xỉn.
– Đánh vào cạnh mặt trống nghe như tiếng phách.
Nhờ kết hợp tài tình các lối đánh ở mặt và tang trống, gây ra sự đối lập nhưng lại hài hòa về màu sắc, âm thanh.
Kỹ thuật diễn tấu:
– Ngón vê: Hai tay thay đổi nhau gõ thật nhanh và liên tục hai bên tang trống và trên mặt trống.
– Ngón nóc: Hai tay thay đổi gõ nhanh vào tang trống, nhưng thường là nǎm tiếng một, tiếng sau cùng có độ ngân bằng bốn tiếng đầu.
Trống Đế có ở Việt Nam từ lâu đời. Trống được coi là nhạc khí gõ cao âm quan trọng, không thể thiếu trong sân khấu chèo truyền thống. Ngoài ra, trống cũng được dùng trong một vài thể loại ca nhạc dân tộc khác như: ca trù, chầu vǎn… Nhưng không phổ biến.

23- Trống Cái

Trống Cái là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ có kích thước lớn của dân tộc Việt.Tang trống bằng gỗ hình viên trụ cao từ 50 – 70cm. Hai mặt trống bưng bằng da trâu hoặc da bò có đường kính từ 40 – 60cm. Trống được đánh bằng dùi gỗ, âm thanh trống cái trầm, cường đội âm thanh lớn, vang xa. Là nhạc cụ hoà tấu dùng trong sinh hoạt tín ngưỡng, trong biểu diễn nghệ thuật và thông tin trong cộng đồng.

 

24- Trống Bồng

Là nhạc khí màng rung, chi vỗ của dân tộc Việt.Tang trống làm bằng gỗ cao 44cm, thắt eo ở giữa. Trống chỉ có một mặt được bịt bằng da trǎn, đường kính 21cm. Ở xung quanh tang trống có một hệ thống dây chằng bằng mây, có tác dụng làm cǎng, trùng mặt trống. Khi diễn tấu, nhạc công dùng hai tay vỗ vào mặt trống phát ra hai âm thanh, một cao, một trầm. Âm thanh Trống Bồng đục, ít vang.
Trống Bồng thường dùng trong dàn Đại nhạc, trong sân khấu tuồng, chèo, hoặc trong đám rước, lễ hội. Người đánh Trống Bồng thường có kết hợp múa.
Tang trống làm bằng gỗ cao 44cm, thắt eo ở giữa. Trống chỉ có một mặt được bịt bằng da trǎn, đường kính 21cm. Ở xung quanh tang trống có một hệ thống dây chằng bằng mây, có tác dụng làm cǎng, trùng mặt trống. Khi diễn tấu, nhạc công dùng hai tay vỗ vào mặt trống phát ra hai âm thanh, một cao, một trầm. Âm thanh Trống Bồng đục, ít vang.
Trống Bồng thường dùng trong dàn Đại nhạc, trong sân khấu tuồng, chèo, hoặc trong đám rước, lễ hội. Người đánh Trống Bồng thường có kết hợp múa.

25- Sáo Trúc

Sáo Trúc là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi hơi vòm của dân tộc Việt. Đặc biệt rất được phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.Sáo được làm bằng một đoạn ống trúc, hoặc nứa có chiều dài 40 – 55cm, đường kính 1,5 – 2cm. Ở phía đầu ống có một lỗ hình bầu dục đó là lỗ thổi. Trong lòng ngay gần lỗ thổi được chặn bằng một mẩu nút bấc hoặc gỗ mềm để điều chỉnh độ cao thấp khi cần thết. Thẳng hàng với lỗ thổi có khoét 6 lỗ bấm, lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi 12cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau (1cm). Mở dần các ngón ở 6 lỗ bấm ta sẽ có các âm Do1, Rê1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1, Do2. Phía sau cuối ống sáo có một lỗ không bấm là lỗ định âm.
Khi thổi sáo, thân sáo đặt ngang sang bên phải, miệng đặt lên lỗ thổi. Người thổi sáo có thể điều chỉnh luồng hơi (rót hơi yếu đường hơi đi từ từ và yếu, rót hơi mạnh đường hơi đi nhanh và mạnh). Sáo thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu nhạc.Khoảng cuối thập kỷ 70, nghệ sĩ Đinh Thìn và Ngô Nam đã cải tiến cây sáo 6 lỗ thành sáo 10 lỗ để mở rộng âm vực, cho các nghệ sỹ chơi những tác phẩm tương đối dễ dàng hơn như « Tiếng gọi mùa xuân » của Đinh Thìn, « Tình quê » của Hoàng Đạm, « Tiếng sáo bản Mèo » của Ngọc Phan…

26- Sáo Diều

Là nhạc cụ họ hơi, chi hơi lùa của dân tộc Việt. Thân sáo được làm bằng một đoạn tre hoặc bương dài 30 – 55cm, đường kính 5 – 11cm. Ở giữa thân sáo người ta khoét 4 lỗ hình chữ nhật để buộc vào thân diều, hai đầu đều có một lỗ thổi hình chữ nhật để đón gió lùa vào. Gió càng mạnh thì diều càng lên cao, tiếng sáo càng vang xa.
Sáo diều thường ngân vang trên xóm làng quê hương trên cánh đồng bát ngát vào những chiều hè gió mát, những đêm trăng sáng, hoặc dùng trong sinh hoạt vui chơi giải trí.

27- Sáo Mông
 

« Sáo » là danh từ tiếng Việt để chỉ loại nhạc cụ hơi một ống bằng tre hoặc trúc, có 6 lỗ bấm và thổi ngang. Tuy vậy, « sáo » cũng thường được dùng để chỉ nhiều loại nhạc khí hơi khác của các tộc ít người mà cấu trúc hết sức đa dạng: gồm 1 hoặc 2 ống không gắn cũng như có gắn lưỡi gà, không lỗ bấm cũng như có 1-2 cho tới 6-7 lỗ bấm, thổi dọc cũng như thổi ngang. Tên gọi « Sáo Mông » (hoặc « sáo Mèo ») vì vậy mà xuất hiện. Sáo Mông là dạng sáo đơn, có gắn lưỡi gà, tiếng dân tộc gọi là trà pùn tử. Âm thanh của Sáo Mông có màu sắc độc đáo. Có những tiếng thô đục và rè bên cạnh những tiếng trong trẻo êm ái như tiếng người thủ thỉ, thấm sâu vào lòng người. Bởi vậy từ khi được giới thiệu trên sân khấu ca múa nhạc chuyên nghiệp nó lập tức chiếm được trái tim thính giả khắp nơi và không ngừng được cải tiến để mở rộng khả năng diễn tấu và biểu hiện.
Trong dân gian Sáo Mông là nhạc cụ của các chàng trai. Họ thường mang theo người như một người bạn đường, bạn trong lao động và là người hỗ trợ đắc lực trong việc chinh phục trái tim các cô gái. Tiếng sáo say đắm gọi người yêu và thổ lộ tâm tình cùng nàng trong những đêm trăng sáng trên các triền núi cao…

Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam