HỒ THỊ HỒNG DUNG : GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI VÀ MỐI DUYÊN NỢ VỚI ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

GIÁO SƯ TRẦN QUANG HẢI

VÀ MỐI DUYÊN NỢ VỚI ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

HỒ THỊ HỒNG DUNG

Tóm tắt:

“Tôi năm nay 94 tuổi, không còn được đi tới nơi này nơi kia. Con trai tôi tiếp nối con đường của tôi. Sau khi được chu du bốn biển, tôi mong rằng con trai tôi cũng như tôi trở về đất nước Việt Nam, dùng những hiểu biết của mình truyền dạy cho người Việt Nam. Dẫu tôi không còn trên trần thế này, nhưng khi có một đứa con tiếp nối nghề, có những người môn sinh tiếp nối con đường của mình thì tôi vui lắm rồi.” Lời nhắn nhủ của người cha – giáo sư Trần Văn Khê luôn ở trong trái tim của người con – giáo sư Trần Quang Hải. Sang học và làm việc tại Pháp từ năm 1961, đi nhiều nơi trên thế giới nhưng tấm lòng của ông vẫn luôn hướng về quê hương và con người Việt Nam.

Chuyến về nước lần này, tháng 4 năm 2017, giáo sư Trần Quang Hải đã dành thời gian để dạy về đánh muỗng, chơi đàn môi, hát đồng song thanh cho học sinh hai trường phổ thông Cát Linh và Nguyễn Siêu ở Hà Nội, cho sinh viên Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, cho cán bộ Viện Âm nhạc và đặc biệt hơn cả là 1000 cuốn sách, 1000 đĩa than, đĩa tiếng về âm nhạc các nước trên thế giới đã đồng hành cùng ông từ Pháp về Việt Nam để trao tặng cho Viện Âm nhạc với mong ước chia sẻ những kiến thức của nhân loại với các nhà nghiên cứu âm nhạc ở Việt Nam.

Từ khoá: Trần Quang Hải, đánh muỗng, chơi đàn môi, hát đồng song thanh, âm nhạc truyền thống

Abstract:

« I’m 94 years old now. I can no longer travel to this place or other place. My son proceeds my path. After traveling all over the world, I hope that as the same me my son returns to Viet Nam and applies his knowledge to teach the Vietnamese. If though I am not on earth, I am very please because I have a son who is continuing my career and my students following my path. » Message from the father who is professor Tran Van Khe is always in the heart of the son who is professor Tran Quang Hai. Professor Tran Quang Hai has studied and worked in France since 1961 and has opportunities to travel many countries in the world. However, his heart is always looking forward to the fatherland and Vietnamese people.

On his trip returning to Viet Nam this time, in April 2017, professor Tran Quang Hai spent his time to teach spoon playing, jew’s harp playing, throat singing to the students of Cat Linh and Nguyen Sieu high schools in Ha Noi, the students of the Viet Nam National Academy of Music and staff of the Vietnamese Institute for Musicology. Specially, 1000 books, 1000 gramophone records of music around the world were accompanied with him from France to Viet Nam to donate to the Vietnamese Institute for Musicology with the hope to share the knowledge of humanity to music researchers in Viet Nam.

Keywords: Tran Quang Hai, spoon playing, jew’s harp playing, throat singing, traditional music

 

 

Vui vẻ, thân thiện, yêu quý người Việt Nam đó là ấn tượng của chúng tôi lần đầu tiên được gặp giáo sư Trần Quang Hải và người vợ của ông là ca sĩ Bạch Yến tại hội nghị lần thứ 37 của ICTM (Hội đồng Âm nhạc Truyền thống Quốc tế) được tổ chức tại Phúc Kiến, Trung Quốc năm 2004. Chụp ảnh, giới thiệu các nhà nghiên cứu Việt Nam với đại diện của ICTM, dành thời gian để chỉnh sửa phát âm tiếng Anh cho từng thành viên, làm chủ toạ cho phiên tham luận về âm nhạc Việt Nam v.v., giáo sư Trần Quang Hải đã là cầu nối giữa đoàn Việt Nam với các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học trên thế giới. Sau lần đó, chúng tôi được gặp ông nhiều hơn, trong những hội nghị sau của ICTM, những lần giáo sư về nước dự hội thảo quốc tế, hay những buổi truyền dạy âm nhạc cổ truyền… Và thời gian gần đây, được gần một tuần đi cùng giáo sư dự những buổi thuyết trình, buổi giảng dạy, buổi trao tặng sách cho Viện Âm nhạc, càng thán phục về tài năng biểu diễn, khả năng thuyết trình của ông, chúng tôi càng hiểu để có được thành công là kết quả một quá trình dày công khổ luyện và tích luỹ.

Giáo sư Trần Quang Hải sinh năm 1944 tại Gia Định trong một gia đình năm đời theo nhạc cổ truyền Việt Nam. Năm 1961, sau khi tốt nghiệp bộ môn vĩ cầm tại Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Pháp du học ở ước mơ trở thành nghệ sĩ violon tài năng. Con đường nghệ thuật của ông rẽ sang hướng khác khi người cha – giáo sư Trần Văn Khê khéo léo sắp đặt cuộc gặp gỡ giữa ông và giáo sư Yehudi Menuhin và nhận được lời khuyên từ vị giáo sư đáng kính: “Người Pháp có nhiều nghệ sĩ violon tầm cỡ rồi. Điều họ cần là một chuyên gia về âm nhạc dân tộc Việt Nam như cha anh – giáo sư Trần Văn Khê”. Vậy là tạm gác niềm say mê với cây đàn violon, ông theo cha học hỏi từng ngón đàn dân tộc và nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam. Ông còn theo học về ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật và âm nhạc ở các trường đại học như Louvre, Sorbonne (Pháp) và Cambridge (Anh). Năm 1968, ông bắt đầu làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia thuộc Bảo tàng Con Người tại Paris. Năm 1973, ông là người Việt Nam thứ hai sau Cha mình nhận bằng tiến sĩ Âm nhạc dân tộc học của trường Đại học tổng hợp Sorbonne. Năm 1989, ông được Bộ Văn hoá Pháp công nhận là giáo sư về âm nhạc cổ truyền.

Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ: “Khi tôi ra nước ngoài, khó nhất là phải làm khác người Tây phương, hay hơn họ thì người ta mới cần tới mình”. Đó chính là lý do vì sao giáo sư Trần Quang Hải có thể chơi được 15 loại nhạc cụ dân tộc, và chọn đánh muỗng, đàn môi, hát đồng song thanh là thế mạnh của mình. Vậy là muỗng, đàn môi, tiếng hát đồng song thanh độc đáo, những nhạc cụ hết sức gọn nhẹ đã đi theo người nhạc sĩ rong ruổi trên nhiều miền đất của thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải đã có trên 3000 buổi giới thiệu về âm nhạc Việt Nam tại 65 quốc gia, giảng dạy tại 120 trường đại học trên thế giới, tham dự hơn 130 liên hoan âm nhạc, hội thảo quốc tế v.v.

Đánh muỗng

Cơ duyên đến với nghệ thuật đánh muỗng của giáo sư Trần Quang Hải từ khi ông mới 6 tuổi. Tới bây giờ ông vẫn còn nhớ như in kỷ niệm xưa: “Vào một buổi tối mùa hè, tôi tình cờ bị lôi cuốn bởi tiếng đánh muỗng giòn tan hoà cùng giọng hát bài Tiểu đoàn 307 của một nhóm các anh bộ đội. Hỏi ra mới biết anh bộ đội học đánh muỗng ở Liên Xô và anh đã ân cần dạy cho tôi từ cách cầm muỗng tới cách chơi làm sao phát ra âm thanh. Về đến nhà, tôi xin bà ngoại hai cái muỗng, bẻ cong cán muỗng và say sưa tập đến sưng tay…”.

Khi sang Pháp, một ngày bắt gặp anh chàng người Mỹ Roger Mason chơi muỗng thì tiếng vọng tuổi thơ lại vang lên trong ông. Giáo sư Trần Quang Hải đã bỏ ra ba tháng để luyện tập kỹ thuật đánh muỗng, sáng tạo kỹ thuật mới, sử dụng các bộ phận trong cơ thể. Với những tìm tòi, sáng tạo độc đáo về cách đánh muỗng, ông đã chiến thắng tại cuộc thi gõ muỗng trong khuôn khổ của Liên hoan âm nhạc tại Cambridge (Anh), năm 1967, và đoạt danh hiệu “Vua muỗng”.

Hiện nay, bộ sưu tầm muỗng của giáo sư Trần Quang Hải đã lên tới 400 cái, phần thì mua, phần thì được người dân địa phương trao tặng. Chúng được làm từ những chất liệu khác nhau nhưng theo ông những chiếc muỗng càng ít tiền, làm bằng nhôm thì đánh càng hay. Chỉ hai chiếc muỗng để sẵn trong túi, đi đến đâu ông cũng có thể thu hút nhiều người bởi màn biểu diễn nghệ thuật độc đáo của mình.

Về kỹ thuật đánh muỗng, đầu tiên phải lựa hai cái muỗng, bẻ cong, đặt hai muỗng đối với nhau, ngón trỏ kẹp vào giữa hai cái cán sao cho hai cái muỗng cách nhau khoảng 2.5mm, nắm chặt tay để hai cái muỗng không động đậy vì nếu di chuyển thì sẽ không phát ra âm thanh. Kỹ thuật đánh muỗng đòi hỏi người chơi không chỉ biết phối hợp giữa tay và đùi, gảy trên 5 ngón tay, đánh trên lưng bàn tay, trong lòng bàn tay, trên các khớp ngón tay, kéo trên khắp cánh tay mà còn phối hợp giữa tay và miệng, thay đổi khẩu hình để tạo những cao độ khác nhau.

IMG_20170921_104642 (Copy).jpg

Giáo sư Trần Quang Hải thuyết trình về kỹ thuật đánh muỗng

tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (4-2017)

Từ một vật dụng tưởng chừng đơn giản, nhưng giáo sư Trần Quang Hải đã đưa kỹ thuật gõ muỗng đạt tới trình độ nghệ thuật. Một trong những bí quyết dẫn tới thành công của ông đó là: “Khi mình chơi một nhạc cụ thì phải có sự sáng tạo và lặn ngụp trong đam mê”. Cùng với người cha của mình – giáo sư Trần Văn Khê, ông đã có những thể nghiệm kết hợp giữa muỗng và các nhạc cụ dân tộc. Hai cha con ông đã có đĩa thu âm mối nhân duyên giữa muỗng và các nhạc cụ dân tộc Việt Nam tại Pháp vào năm 1973. Ngoài ra, tính ngẫu hứng trong đánh muỗng đã được giáo sư Trần Quang Hải kết hợp một cách khéo léo với tiết tấu của những dòng âm nhạc khác nhau như Jazz, Pop, Hip hop v.v. tạo nên sự phong phú và sức lôi cuốn cho loại nhạc cụ gõ này.

Đánh muỗng còn được giáo sư Trần Quang Hải thể nghiệm đưa vào trường học. Ông kể rằng: “Cách đây hơn 15 năm, tại Pháp, trong chương trình dạy về nhạc thế giới, tôi đã đề nghị đem muỗng vào thể nghiệm dạy trong trường học. Tôi đã tổ chức một dàn nhạc chỉ chơi toàn muỗng do 50 em thể hiện. 20 em nhỏ chơi bằng muỗng cafe, 20 em chơi bằng muỗng súp, 10 em ở hai bên chơi bằng muỗng to tạo thành những âm thanh cao thấp khác nhau giống như một dàn nhạc dây có đàn violon, viola, cello, và contrebasse. Tôi dạy cho các em ở từng hàng chơi một loại tiết tấu, tạo nên những cuộc đối thoại giữa muỗng trầm và muỗng cao. Chơi với muỗng giúp các em nhỏ hiểu ra rằng từ những vật dụng gần gũi nhất cũng có thể tạo nên được tiết tấu và giai điệu và các em hoàn toàn có thể tự mình sáng tạo ra cách đánh hoặc tiết tấu mới.”.

Năm 2011, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao tặng danh hiệu “Vua muỗng Việt Nam” cho giáo sư Trần Quang Hải.

Chơi đàn môi

Đàn môi có mặt trong đời sống âm nhạc của nhiều dân tộc trên thế giới. Nguyên tắc chung của đàn môi là có khung cố định và lưỡi gà rung tự do, để vào khoang miệng nhằm khuyếch đại âm thanh.

Năm 1965, cuộc gặp gỡ với nhạc sĩ người Anh – John Wright và được hướng dẫn những kỹ thuật cơ bản của đàn môi là một dấu ấn quan trọng trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của giáo sư Trần Quang Hải. Cây đàn môi mà lần đầu tiên ông được học đó là đàn môi của người châu Âu, khung bằng sắt, lưỡi gà bằng thép. Bắt đầu từ đó, ông sưu tầm những cây đàn môi trên thế giới, nghe những đĩa nhạc về đàn môi của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, tổng hợp các kỹ thuật chơi đàn môi. Và đặc biệt, ông còn giới thiệu cây đàn môi của người Việt Nam tới bạn bè quốc tế.

Ông đã bị chinh phục bởi sự đa dạng không chỉ ở cấu tạo, hình thức, âm thanh mà cả kỹ thuật trình tấu của các cây đàn môi trên thế giới. Theo ông, đàn môi ở các nước châu Âu phần lớn làm bằng kim loại, chất liệu giống nhau, hình thù giống nhau. Đàn môi ở châu Á có nhiều hình dạng và được làm từ những chất liệu khác nhau như: bằng tre, bằng đồng, bằng vàng, bằng xương, bằng ngà, bằng vỏ quả dừa v.v. Ở Việt Nam, đàn môi của người H’mông được làm từ hợp kim đồng, trong khi đó một số dân tộc ở Tây Nguyên như Jarai, Ê Đê, Hrê, Cơ tu v.v. được làm từ tre.

IMG_20170921_104736 (Copy).jpg

Giáo sư Trần Quang Hải dạy đàn môi của người H’mông

tại Viện Âm nhạc (4-2017)

 

Kỹ thuật gảy đàn môi khá phong phú, phần lớn là dùng ngón tay cái bật vào thân để lưỡi gà dao động. Đàn môi của người H’mông để vào môi, gẩy nhẹ nhàng tạo nên bồi âm. Trong khi đó, đàn môi (Khomus) của người Yakutia có cấu tạo khung bằng sắt, lưỡi gà bằng thép lại được ngậm vào răng để chơi. Đàn môi của người Mông Cổ, Nhật, Indonesia hay một số dân tộc ở châu Á lại giựt sợi dây theo vòng tròn để tạo âm thanh.

Chức năng sử dụng của đàn môi cũng khá phong phú. Người Thuỵ Sĩ dùng cây đàn môi để giao lưu, tỏ tình giữa trai gái. Người Ý ở đảo Sicily thì chơi đàn môi mỗi khi đi chăn ngựa và khi họ di cư sang Mỹ cũng mang theo đàn môi nên có hình ảnh những chàng cowboy ở Mỹ chơi đàn môi. Ở châu Á, người H’mông ở Việt Nam dùng cây đàn môi để giao duyên, hay thầy Shaman ở xứ Tuva (nước cộng hoà thuộc Nga) dùng âm thanh của đàn môi để tiếp xúc với thần linh v.v.

Tại lễ hội đàn môi thế giới ở Na Uy, tháng 6 năm 2002, giáo sư Trần Quang Hải là một trong những sáng lập viên của Hiệp hội Đàn môi Quốc tế (International Jew’s Harp Society). Trụ sở của Hiệp hội đặt tại London (Anh) do ông Michael Wright làm Tổng thư ký điều hành. Hội có trên 140 hội viên của trên 30 quốc gia. Giáo sư Trần Quang Hải đã tham dự nhiều lễ hội đàn môi thế giới như ở Molln, Áo năm 1998; Rauland, Na Uy năm 2002; đảo Sicilia, Ý năm 2004; Amsterdam, Hà Lan năm 2006; Leipzig, Đức năm 2010; Kecskemet, Hungari năm 2010; Yakutia, Nga năm 2011; Moscova, Nga năm 2012 v.v.

IMG_20170921_104803 (Copy).jpg

Một phần nhỏ trong bộ sưu tầm đàn môi của giáo sư Trần Quang Hải

(Ảnh chụp tại buổi dạy đàn môi của ông tại Viện Âm nhạc, 4-2017)

 

Đi nhiều nơi, tham dự nhiều lễ hội đàn môi, giáo sư Trần Quang Hải sở hữu một bộ sưu tầm hơn 300 đàn môi trên thế giới. Nhiều nước như Pháp, Nhật, hay Cộng hoà Yakutia ngỏ ý xin bộ sưu tập đàn môi của ông để đưa vào viện bảo tàng nhưng bị ông từ chối vì ông muốn dành tặng món quà quý giá này cho Viện Âm nhạc, để người dân Việt Nam có thể tìm hiểu các loại đàn môi trên thế giới mà ông đã dày công sưu tầm.

Năm 2012, giáo sư Trần Quang Hải được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Người trình diễn đàn môi Hmông tại nhiều quốc gia nhất trên thế giới”.

Hát đồng song thanh

Giáo sư Trần Quang Hải đến với hát đồng song thanh vào khoảng năm 1969, nghĩa là 8 năm sau khi sang Pháp. Ông nhớ lại: “Tôi đã rất ấn tượng với lối hát đồng song thanh (Khoomei) của người Mông Cổ qua tài liệu thu thanh và nghe đi nghe lại hàng nghìn lần để tìm hiểu tại sao họ lại phát ra hai âm cùng một lúc. Từ đó tôi đã tìm tòi, nghiên cứu trong nhiều năm để có thể hát được đồng song thanh.”

Đồng song thanh là lối hát khá đặc biệt của người du mục sống ở Mông Cổ, Nội Mông, Tuva và Siberia. Một người có thể hát hai giọng cùng một lúc: một giọng trầm từ cổ họng kéo dài trên một cao độ, trong khi giọng thứ hai được tạo bởi sự lựa chọn các bồi âm ở phía trên để làm thành giai điệu. Lối hát đồng song thanh của người Mông Cổ với tên gọi Khoomei đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại vào năm 2009.

Không chỉ tập luyện hát đồng song thanh, giáo sư Trần Quang Hải còn theo học một năm âm thanh học, một năm y khoa để tìm hiểu sự vận động của thanh quản. Máy đo bồi âm (Overtone Analyzer) do Bodö Maass sáng chế ra tại Đức luôn đồng hành cùng ông trong những buổi thuyết trình về hát đồng song thanh. Giáo sư Trần Quang Hải đã từng vào bệnh viện của Pháp dùng máy đo luồn vào mũi, miệng để biết được cơ chế hoạt động của dây thanh quản khi hát đồng song thanh. Và nguy hiểm hơn, ông còn chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để biết hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Đam mê nghề nghiệp, hy sinh cả sức khoẻ của bản thân, giáo sư Trần Quang Hải đã tiến sâu trên con đường nghiên cứu khoa học về lối hát đồng song thanh.

IMG_20170921_104841 (Copy).jpg

Giáo sư Trần Quang Hải dạy hát đồng song thanh

tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (4-2017)

Hát đồng song thanh là hát trên các nguyên âm như a, e, i, o, u. Chữ a là giàu về bồi âm nhất, chữ i là nghèo về bồi âm. Theo kinh nghiệm nhiều năm truyền dạy hát đồng song thanh, giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ rằng: “Trẻ em thường bắt chước một cách tự nhiên hơn người lớn. Người châu Á do cách phát âm thường dễ làm hơn người châu Âu”. Bằng phương pháp giảng dạy của mình, giáo sư Trần Quang Hải đã đưa ra những kỹ thuật hát đồng song thanh cơ bản như: hát chữ i sang chữ u rồi trở về chữ i; hát chữ o sang chữ a; hát e sang ư rồi ư lăng, ư long v.v. Hát bằng giọng mũi, đẩy hơi mạnh ra ngoài, lưỡi đẩy lên phía trên chỉ thay đổi khẩu hình, đôi khi phải hãm hơi để lách những bồi âm mình không muốn nghe.

Không chỉ nắm giữ kỹ thuật hát đồng song thanh mà giáo sư Trần Quang Hải còn nghiên cứu để có thể dạy cho những người khác một cách dễ hiểu. Ông đã đi truyền dạy ở gần 70 nước trên thế giới và có trên 8000 học trò hát đồng song thanh. Giáo sư Trần Quang Hải còn ứng dụng lối hát đồng song thanh trong điều trị học cho những người bị tâm thần, đem lại sự thư giãn bên trong đầu óc; giúp cho những người bị đứt dây thanh quản có thể nói được nhờ sử dụng một bộ phận khác của cổ họng để phát âm; giúp những người nói lắp, những người nhút nhát quên đi nỗi lo lắng, có thể tự tin trình bày một cách thuyết phục trước đông người v.v. Ngoài ra, kỹ thuật hát đồng song thanh còn được áp dụng trong nhiều sáng tác âm nhạc của các nhạc sĩ đương đại, những người luôn đi tìm cách thể hiện mới. Kiên trì tập luyện, dày công nghiên cứu, sẵn sàng chia sẻ, giáo sư Trần Quang Hải đã đem lối hát đồng song thanh đến với nhiều người, nhiều nơi trên thế giới, và đặc biệt còn ứng dụng lối hát này trở nên hữu ích đối với cuộc sống của con người.

17974324_414051975624365_1491971563_n

Giáo sư Trần Quang Hải cùng học viên lớp học đàn môi

tại Viện Âm nhạc (4-2017)

 

Thân thiện, cởi mở, mang tới niềm vui đến cho mọi người, đổi lại giáo sư Trần Quang Hải luôn nhận được sự yêu mến của những người xung quanh. Điều gì đã dẫn đến thành công của người nhạc sĩ gắn bó cuộc đời với âm nhạc dân tộc? Ngoài thừa hưởng truyền thống của gia đình, năng khiếu âm nhạc, còn là sự lựa chọn con đường đi riêng, sự đam mê, sáng tạo, kiên trì luyện tập, ý thức học hỏi v.v. góp phần tạo nên thành công của người nhạc sĩ họ Trần. Luôn sẵn sàng chia sẻ những hiểu biết của mình, giáo sư Trần Quang Hải đã và đang tiếp bước con đường của người cha – giáo sư Trần Văn Khê theo đuổi đó là không chỉ giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với thế giới mà còn truyền đạt những hiểu biết của mình cho chính người dân Việt Nam đang sinh sống ở quê nhà.

 

 

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

w

Connexion à %s