ĐÀO TRẦN QUANG CÁT : TÌM HIỂU VỀ GỐC TÍCH HỌ TRẦN

TÌM HIỂU VỀ GỐC TÍCH HỌ TRẦN
(bài Đào Trần Quang Cát)

Về họ Trần, tộc Mân Việt dòng Bách Việt
Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Trước kia, tổ tiên vua (Trần Thái tông) là người đất Mân”. Đất Mân là vùng cư trú của tộc Mân Việt thuộc dòng Bách Việt.
Người Bách Việt vốn sống từ sông Trường Giang về phía Nam. Theo nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh có tới 500 tộc Bách Việt sống rải rác ở Hoa Nam Trung Quốc, Miến Điện, bắc Việt Nam, bắc Lào, hình thành một số bộ tộc lớn: người Âu Việt ở vùng Chiết Giang-Trung Quốc ngày nay, người Mân Việt ở vùng đất Mân (tỉnh Phúc Kiến)-Trung Quốc ngày nay, người Dương Việt ở vùng đông Hồ Nam, một phần Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Đông, người Lạc Việt ở vùng tây Hồ Nam, Quảng Tây, phần bắc và trung Việt Nam ngày nay, người Điền Việt ở vùng Vân Nam-Trung Quốc ngày nay.
Thời Kinh Dương vương dựng nước đặt tên nước là Xích Quỷ (tên hai ngôi sao ứng với vùng đất này), đông giáp biển Đông, tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên-Trung Quốc ngày nay), bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc ngày nay), nam giáp Hồ Tôn (tỉnh Khánh Hòa–Việt Nam ngày nay). Tiếp sau Kinh Dương vương, vua Lạc Long quân và bà Âu Cơ đã có công thu phục thống nhất dòng Bách Việt về một mối nên Lạc Long quân được suy tôn là “Thủy tổ Bách Việt” (Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim), bà Âu Cơ được suy tôn là “Mẫu Âu Cơ” và truyền thuyết “bà Âu Cơ đẻ bọc một trăm trứng nở một trăm người con” có từ đấy (Bách Việt).
Sau khi thống nhất Trung Quốc, năm 218 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng mở cuộc chiến tranh xâm lược ra các nước xung quanh, sai tướng Đồ Thư đem 50 vạn quân đi trường kỳ đánh người Việt ở phương nam. Trước sức mạnh của quân Tần, các tộc Việt lui dần về phía Nam. Năm 208 trước công nguyên, liên quân Lạc Việt, Tây Âu và các tộc Việt khác đã hợp lực đại phá quân Tần, giết chết Đồ Thư, tiêu diệt mấy chục vạn quân Tần. Tần Nhị Thế buộc phải bãi binh. Vùng đất chiếm được, nhà Tần đặt thành các quận, huyện. Đất Mân đặt tên là quận Mân Trung. Đến đời nhà Đường đặt tên là Phúc Kiến quan sát sứ, rồi sau này đổi thành tỉnh Phúc Kiến ngày nay.

Cuốn gia phả cổ xưa nhất của họ Trần

Học sử Việt Nam, chúng ta đều biết năm 1285, trước sức mạnh to lớn của giặc Nguyên Mông mở cuộc chiến tranh lần thứ hai xâm lược Việt Nam, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc đã khiếp sợ đầu hàng kẻ thù, được vua Nguyên là Hốt Tất Liệt phong làm An Nam quốc vương. Nhưng các anh em hoàng tộc họ Trần đã đoàn kết một lòng cùng toàn dân đánh tan quân giặc. Trần Ích Tắc trở nên vô dụng, phải về sống lưu vong ở tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc. Đến nay, hậu duệ của Ích Tắc bao gồm 18 nhánh sống rải rác ở Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương, Liễu Châu (Trung Quốc). Người hậu duệ thuộc ngành trưởng hiện giữ từ đường và gia phả họ Trần là ông Trần Đình Nhân, chủ một quán cà phê ở thị trấn Lạc Dương bên hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam-Trung Quốc). Chính sử của ta khi ghi chép về họ Trần chỉ lưu tâm đến dòng họ này từ đời nguyên tổ Trần Lý – liên quan đến việc hình thành triều đại nhà Trần, còn đời thủy tổ Trần Kinh ghi chép rất sơ sài, các đời trước nữa càng mờ mịt. Có lẽ trong những năm tháng cuối đời sống tha hương trên đất khách quê người, vốn có tài văn chương và nguồn tư liệu phong phú, nên cuốn gia phả do Trần Ích Tắc biên soạn là công phu và đầy đủ nhất về họ Trần từ năm 227 trước công nguyên.

Hơn một nghìn năm họ Trần ở đất Kinh Bắc

Căn cứ vào gia phả họ Trần ở Lạc Dương do thống tôn đời 27 Trần Đình Nhân còn lưu giữ được thì gốc tích xa xưa thời chiến quốc, họ Trần thuộc nhóm tộc người Bách Việt sống ở đất Mân (Phúc Kiến-Trung quốc ngày nay). Năm 227 trước công nguyên, Phương Chính hầu Trần Tự Minh đang làm quan cho Triệu Đà (?), vì mâu thuẫn giữa người Hán và người Việt, đã theo dòng người Bách Việt di cư xuống phía Nam. Tự Minh được vua An Dương vương thu nạp, trở thành vị tướng tài ba cùng Cao Lỗ giúp chống lại Triệu Đà. Khi thành Cổ Loa thất thủ, đất nước rơi vào tay cha con Triệu Đà, Trần Tự Minh lui về sống ẩn dật ở đất Kinh Bắc, hậu duệ phân ra nhiều nhánh.

Dựa trên nguồn tư liệu gia phả do Trần Ích Tắc viết, đối chiếu với lịch sử Việt Nam và Trung Quốc có thể hiểu: Trần Tự Minh trước kia làm tướng thời nhà Tần, giúp nhà Tần thống nhất Trung Quốc, được vua Tần phong tước Phương Chính hầu (lúc này Triệu Đà đang là một chức quan nhỏ, huyện lệnh huyện Long Xuyên thuộc nhà Tần nên chưa thể phong tước cho Trần Tự Minh được). Sau khi thống nhất Trung Quốc, năm 218 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng đưa 50 vạn quân vượt Trường Giang xâm lược vùng Bách Việt ở phương nam. Bất bình với chính sách xâm lược, bành trướng của Tần Thủy hoàng, Trần Tự Minh theo dòng người Bách Việt di cư xuống phía Nam, tham gia lực lượng chống quân Tần lập công lớn, trở thành vị tướng tài ba của Thục An Dương vương. Khi Triệu Đà đem quân đánh chiếm nước Âu Lạc, Trần Tự Minh đã cùng tướng quân Cao Lỗ giúp An Dương vương chống quân xâm lược Triệu Đà. Con cháu Trần Tự Minh sống ở vùng Kinh Bắc (tỉnh Bắc Ninh ngày nay).

Dòng thống tôn đến đời Trần Tự Viễn (582-637) nổi lên như một nhân tài kiệt xuất ở xứ Giao Châu. Hồi ấy ở Từ Sơn có sư Pháp Hiền, đệ tử của đại sư Ti- ni –đa- lưu- chi (Ấn độ) đang dụng công truyền bá đạo Phật Thiền Tông, thu nạp rất đông môn đệ. Lịch sử nhà Phật chép rằng: Sau khi Ti-ni-đa-lưu-chi tịch, sư Pháp Hiền vào Từ Sơn tập định. Thân hình ngài như cây khô, mọi vật ngã đều quên, các giống chim và thú rừng đến quấn quýt thân mật. Người người bấy giờ mộ tiếng theo học rất đông không kể xiết. Ngài bèn dựng chùa dạy học, cư tăng lúc nào cũng hơn 300 người, Thiền tông phương Nam bấy giờ là thịnh nhất.

Chú bé mồ côi kiếm củi gần chùa lúc bấy giờ là Trần Tự Viễn được sư Pháp Hiền thu nạp, yêu mến dạy cho học thông tam giáo (Phật, Nho, Lão) và cả võ công nữa. Sau nhiều năm tu luyện, Tự Viễn trở thành môn đệ xuất sắc nhất của phái thiền tông và cũng rất nổi tiếng võ công cao cường. Môn phái võ thuật của ông đặc sắc nhất của Phật phái thiền tông và ông đem võ công của mình cùng phật tử giúp dân chống lại sự đô hộ hà khắc của nhà Tùy, nhà Đường. Dân khắp vùng đều sùng kính tôn ông là Phật sống. Có lẽ đây là lý do giải thích vì sao dòng họ Trần sau này rất thượng võ nhưng cũng rất sùng đạo Phật. khai sáng Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử.

Họ Trần di cư về Thái Đường

Họ Trần dòng thống tôn có chữ đệm là “Tự” cư ngụ ở Kinh Bắc, truyền đến đời Trần Tự An (1010-1077) mỗi ngày thêm hiển hách trong giới võ lâm của Đại Việt. Để phân biệt với các võ phái khác, Tự An đặt tên cho võ phái của mình là Đông A, chiết tự chữ “Trần” ra hai chữ “Đông và A” mà thành. Thời ấy ở Đại Việt có 3 phái võ nổi danh: phái võ Lĩnh Nam xuất phát từ Mê Linh, sau lưu truyền quanh vùng Tam Đảo-Ba Vì; phái võ Hoa Sơn xuất phát từ Kinh Bắc rồi lan truyền ra Thăng Long và các vùng phụ cận; phái võ Đông A của Tự An. Ba phái võ trên đều tràn đầy lòng tự tôn dân tộc, nhưng có sự khác nhau về hệ tư tưởng lại muốn thống trị giới võ lâm cả nước nên mâu thuẫn khá gay gắt. Phái Lĩnh Nam sùng bái đạo Lão, hai phái Hoa Sơn và Đông A cùng xuất phát ở Kinh Bắc, cùng theo Phật giáo Thiền tông, nhưng khác nhau về thân phận và võ thuật. Phái Hoa Sơn thuộc hoàng tộc nên lấn át phái Lĩnh Nam và Đông A về nhiều phương diện. Thế nhưng Đông A với sự dìu dắt của Trần Tự An hồi ấy có “Côi Sơn tam anh”, ba nhân vật võ công lừng lẫy là Thanh Mai, Tự Mai, Thông Mai.
Trước khi qua đời, Trần Tự An khuyên con trai là Trần Tự Mai nên tìm cách chuyển võ đường Đông A đi một nơi khác để tránh sự xung đột với phái Hoa Sơn, có hại chung cho sự nghiệp võ lâm Đại Việt. Lúc đầu Tự Mai chuyển đến ở Đông Triều, Chí Linh. Sau đó đến đời con là Trần Tự Kinh (tên nghĩa là Kình) quyết chí đi khẩn hoang ở châu thổ sông Nhị Hà. Mười năm đầu Trần Tự Kinh dựng trại ở Tức Mạc với hai con trai rất giỏi võ là Trần Tự Hấp và Trần Tự Duy. Về cuối đời, ông nghe theo người con trưởng là Tự Hấp chuyển hẳn về ấp Thái Đường, định cư lâu dài, có nhiều ân đức với dân trong vùng. Đến đời Tự Hấp (tên nghĩa là Trắm) kế tục làm trưởng môn phái võ Đông A, thanh thế họ Trần đã rất lớn.
Huyền tích trong tộc phả giải thích lý do họ Trần rời Tức Mạc về Thái Đường rất ly kỳ. Sau khi vua Lý Nhân Tông chết, triều đình có sự rối ren. Một hôm Tự Kinh và hai con Tự Hấp, Tự Duy cùng mấy chục đệ tử đậu thuyền vãn cảnh, bàn luận thế sự, Tự Hấp phát hiện thấy có xác người bị đóng bè trôi sông liền sai thủ hạ vớt lên. Trong số môn đệ phái võ Đông A có Phạm Tử Tuệ giỏi về y thuật. Ông phát hiện thấy xác còn hơi ấm, kinh mạch trì bế nhưng chưa chết hẳn nên hết lòng cứu chữa theo lệnh của Tự Hấp. Kẻ được cứu nạn là Đoàn Thông quê ở lộ Hồng Châu (tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay). Ông ta bị một viên quan gian ác ở Thăng Long là Nguyễn Cố sát hại. Vốn là thày địa lý có tiếng tăm, Đoàn Thông báo với Tự Hấp rằng ở vùng Thái Đường có khu đất tụ nhiều linh khí. Nếu đặt mộ tổ vào đó ắt có ngày sẽ phát đế vương. Tự Hấp nghe xong cả mừng xin cha cho đi gấp về Đông Triều chuyển mộ cụ cố Trần Tự Mai về đặt ở Thái Đường, rồi chuyển gia quyến về đó sinh sống để tiện trông coi phần mộ. Nhờ vậy gia tộc họ Trần mỗi ngày thêm phát đạt, võ môn Đông A càng thêm hưng thịnh, thu hút nhân tài khắp nơi về tụ hợp.
Tự Hấp ở đất Thái Đường sinh ra Trần Lý. Trần Lý lại sinh ra các con Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung. Người em là Trần Tự Duy ở đất Lưu Xá bên cạnh sinh ra Trần Thủ Huy. Thủ Huy sinh ra Trần Thẩm (tước An Quốc vương) và Trần Thủ Độ. Như vậy nếu xét từ đời Trần Tự Kinh thì Tự Hấp thuộc ngành trưởng, Tự Duy thuộc ngành thứ. Đến đời Trần Thừa và Trần Thủ Độ là quan hệ anh em cùng họ nhưng khác ngành, đã sang đời thứ tư. Đó là lý do mà Trần Lý hứa gả Trần Thị Dung cho Trần Thủ Độ. Theo luật tục họ Trần thì cách ba đời là thông gia với nhau được.

Họ Trần khởi nghiệp

Sách Trần Nhân tông viết “Trần Thủ Huy vốn một trang nam nhi tuấn tú và dũng mãnh. Gặp người bị nạn, Thủ Huy đã ra tay cứu giúp. Không ngờ người đó lại là vị thái tử nhà Lý tên là Lý Long Xưởng, con vua Lý Anh tông. Thái tử mang ơn kết tình huynh đệ với Thủ Huy. Thủ Huy giúp Lý Long Xưởng dẹp loạn trừ gian trong hoàng tộc nhà Lý nên được vua Lý gả công chúa Đoan Nghi, trở thành phò mã có quyền, có chức trong triều đình. Về sau, vì nghe lời dèm pha, vua Lý đã đày Trần Thủ Huy và công chúa Đoan Nghi đi sứ phương xa tận nước Kim, nước Liêu (thuộc Mông Cổ ngày nay) . Công chúa Đoan Nghi sinh ra Trần Thủ Độ ở bên đó. Khi đã trưởng thành, Trần Thủ Độ trở về Đại Việt, sống với bác là Trần Lý, góp phần khởi nghiệp nhà Trần.
Lý Long Xưởng vì có tội với vua cha, bị truất xuống làm thứ dân. Em là Lý Long Trát được nối ngôi vua hiệu là Lý Cao tông. Lý Cao tông chơi bời vô độ, không quan tâm chính sự, đất nước đói kém, cướp bóc như ong, các bè đảng nổi lên chiếm cứ các vùng tìm cách cướp ngôi vua. Vua phải chạy lên vùng Quy Hóa (vùng núi tỉnh Phú Thọ ngày nay), thái tử Sảm chạy về Hải ấp (nay là Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Thái tử Sảm thấy Trần Thị Dung, con gái Trần Lý có nhan sắc bèn lấy làm vợ, phong cho Trần Lý tước Minh Tự, phong cho Tô Trung Tử, em vợ Trần Lý làm Điện tiền chỉ huy sứ. Cha con Trần Lý, Trần Thừa, Trần Tự Khánh đều hết lòng thờ vua nhà Lý. Thái tử Sảm nối ngôi cha, hiệu là Lý Huệ Tông, Lý Huệ tông không có con trai. lại bị bệnh tâm thần nên truyền ngôi cho con gái là Lý Phật Kim, thường gọi là Lý Chiêu Thánh hiệu là Lý Chiêu Hoàng. Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Triều đại nhà Trần bắt đầu từ đấy.

Tài liệu tham khảo và trích dẫn: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Nam sử lược-Trần Trọng Kim, …Lịch sử Trung quốc từ thượng cổ đền nha phiến chiến tranh-khu học xá trung ương Trung Quốc xuất bản-1955, Sơ lược lịch sử Trung Quốc- nhà xuất bản ngoại văn Bắc kinh 1963, Sử ký Tư Mã Thiên… Đâu là nơi phát tích của dòng họ Trần và phái võ Đông A, tác giả Vũ Ngọc Tiến- báo Văn nghệ số 7 (2248) ngày 15- 02- 2003, Sách truyện lịch sử “Phật Hoàng Trần Nhân Tông”, tác giả Trần Trương, nhà xuất bản Văn hóa- thông tin 2009.

Đào Trần Quang Cát
————————————————————————————-

Họ Trần

Chữ Hán của « Trần » là « 陳 ». Trần (chữ Hán: 陳) là một họ tìm thấy nhiều ở Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và một số nơi khác trên thế giới. Đây cũng là tên của một triều đại của lịch sử Việt Nam và một triều đại khác ở Trung Quốc. Theo thăm dò của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tháng 1 năm 2006, họ Trần đứng thứ 5 về số người tại Trung Quốc. Họ Trần phổ biến hơn tại miền Nam Trung Quốc. Tại Đài Loan, đây cũng là họ phổ biến nhất, chiếm 11% dân số. Tại Singapore, họ này thỉnh thoảng được viết với ký tự Latinh là Chern. Theo tiếng Quảng Đông, họ này cũng được viết với ký tự Latinh là Chan. Một số cách viết Latinh khác (từ các phương ngữ khác nhau) cũng có thể bắt gặp là Tan (Tân) (tiếng Mân Nam), Tang, Ding (tiếng Phúc Châu), Chin (tiếng Khách Gia, tiếng Nhật: ちん), Chun hay Jin (진) (tiếng Triều Tiên), Zen (giọng Thượng Hải). Theo lối chiết tự, Trần còn được gọi ẩn dụ là Đông A (do chữ Trần 陳 được ghép từ hai thành phần là Đông (東) và A (阿)). Khi nhà Trần tại Việt Nam giành chiến thắng trong ba cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên, khí thế chiến đấu của quân dân nhà Trần được gọi là « hào khí Đông A ».

Tại xứ Tàu Ô HD 981:
Danh từ họ Trần bắt nguồn từ họ Quy (媯, bính âm: Gūi), một họ người Tàu cổ, hậu duệ của vua Thuấn, một trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Khi Chu Vũ Vương thiết lập nhà Chu, ông thấy người họ Trần gốc Việt thuộc dòng máu anh hùng le quá xá nên đã dành vùng đất Trần cho các con cháu vua Thuấn thành lập một tiểu quốc riêng. Để biểu hiện sự kính trọng tới vua Thuấn, tiểu quốc Trần được xem là một trong ba khách quốc của nhà Chu (tam khác, 三恪, bính âm: Sān Kè), nghĩa là quốc gia này không bị lệ thuộc mà chỉ là khách. Tuy nhiên, về sau, lãnh thổ này bị nước Sở chiếm đóng vào thế kỷ 5 TCN. Từ đó, những người sống tại đây lấy Trần làm họ của mình.
Vùng đất Trần thời Chu Vũ Vương cũng là nơi Vĩ Mãn, con Ngu Yên, hậu duệ vua Ngu Thuấn được phong vương và khởi sinh họ Hồ tại đây. Do đó người gốc Hán HD 981 mang họ Trần vốn của người Việt là dựa hơi người gốc Việt, thấy sang bắt quàng vai làm họ mà thôi. Người Hán tộc trời ban bộ óc khéo khoa cọp dê, sắc tộc ưu tú xử dụng chuyên khoa photocopy từ nguyên bản khiến ông Tổng Đônan Chum khi ra tranh cử rất xốn xang bấn xúc xích phạm trù tác quyền chôm chĩa từ chất xám. Tổng Chum đưa vấn đề tác quyền ra thành đề tài quốc sự. Ai cũng bit Quảng Đông, Quảng Tây, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt tộc mấy chú Ba phổng tay chôm luôn, huống chi họ của Trần Văn Tui nhể ?

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Hồ công Mãn là thủy tổ họ Trần chứ không phải họ Hồ. Vua Chu Vũ Vương sau khi diệt nhà Thương, tìm được Quy Mãn là dòng dõi vua Thuấn và phong cho làm vua nước nước Trần. Sau khi mất, Mãn được đặt thụy hiệu là Trần Hồ công. Công là tước, Hồ là thụy hiệu chứ không phải họ. Từ Trần Hồ công truyền các đời, tới Trần Tương công, Trần Thân công… Các vua nước Trần từ thời Tây Chu trở đi đều là dòng dõi Trần Hồ công chứ không phải mang họ Hồ.

Tại Việt Nam:
Tổ tiên của dòng dõi nhà Trần tại Việt Nam có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Đất Mân là vùng cư trú của tộc Mân Việt thuộc dòng Bách Việt. Người Bách Việt vốn sống từ sông Trường Giang về phía Nam. Theo nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh có tới 500 tộc Bách Việt vốn thông minh nhưng thật thà nên bị người láng giềng môi hở răng lạnh 4 tốt 16 chữ vàng ăn hiếp mãn kiếp thoi. Bách Việt tộc quay quần chung sống ở khu Hoa Nam Trung Quốc, Miến Điện, bắc Việt Nam, bắc Lào, hình thành một số bộ tộc lớn: người Âu Việt ở vùng Chiết Giang-Trung Quốc ngày nay, người Mân Việt ở vùng đất Mân (tỉnh Phúc Kiến)-Trung Quốc ngày nay, người Dương Việt ở vùng đông Hồ Nam, một phần Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Đông, người Lạc Việt ở vùng tây Hồ Nam, Quảng Tây, phần bắc và trung Việt Nam ngày nay, người Điền Việt ở vùng Vân Nam-Trung Quốc ngày nay.

Thời Kinh Dương vương dựng nước đặt tên nước là Xích Quỷ (tên hai ngôi sao ứng với vùng đất này), đông giáp biển Đông, tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên-Trung Quốc ngày nay), bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc ngày nay), nam giáp Hồ Tôn (tỉnh Khánh Hòa–Việt Nam ngày nay). Sau khi thống nhất Trung Quốc, năm 218 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng mở cuộc chiến tranh xâm lược ra các nước xung quanh, sai tướng Đồ Thư đem 50 vạn quân đi trường kỳ đánh người Việt ở phương nam. Trước sức mạnh của quân Tần, các tộc Việt lui dần về phía Nam. Năm 208 trước công nguyên, liên quân Lạc Việt, Tây Âu và các tộc Việt khác đã hợp lực đại phá quân Tần, giết chết Đồ Thư, tiêu diệt mấy chục vạn quân Tần. Tần Nhị Thế buộc phải bãi binh. Vùng đất chiếm được, nhà Tần đặt thành các quận, huyện. Đất Mân đặt tên là quận Mân Trung. Đến đời nhà Đường đặt tên là Phúc Kiến quan sát sứ, rồi sau này đổi thành tỉnh Phúc Kiến ngày nay.
Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), lúc đầu cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay; sống bằng nghề chài lưới trên sông nước, trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mạc, huyện Thiên Trường (Nam Định). Đến đời con là Trần Hấp dời mộ tổ sang sinh sống tại Tam Đường, phủ Long Hưng, nay là vùng đất thuộc Thái Bình. Trần Hấp sinh ra Trần Lý. Trần Lý sinh ra Trần Thừa (sau được tôn là Trần Thái Tổ), Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung.

Lịch sử Trước thời Trần
Man Thiện (tên thật là Trần Thị Đoan) thân mẫu của Hai Bà Trưng, người đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của hai bà.
Trần Lãm (Trần Minh Công), một tướng trong thời loạn 12 sứ quân thế kỷ X.
Trần Điền, Trần Điện, Trần Hòa: Được coi là ông tổ của nghề kim hoàn Việt Nam
Thời Trần-Hồ
Giai đoạn nhà Trần – Nhà Hồ có nhiều danh nhân, người nổi tiếng mang họ Trần, có thể kể đến như:
Các vị vua đời Trần bao gồm:
Mười hai đời vua trong triều đại nhà Trần ở Việt Nam, từ vua Trần Thái Tông đến vua Trần Thiếu Đế gồm:
Trần Thái Tông
Trần Thánh Tông
Trần Nhân Tông

Vua Trần Nhân Tông
Trần Anh Tông
Trần Minh Tông
Trần Hiến Tông
Trần Dụ Tông
Trần Nghệ Tông
Trần Duệ Tông
Trần Phế Đế
Trần Thuận Tông
Trần Thiếu Đế
Hai vị vua nhà Hậu Trần là:
Trần Ngỗi (Giản Định Đế)
Trần Quý Khoáng (Trùng Quang Đế)
Một số nhân vật được phong làm vua nhưng thực chất chỉ là bù nhìn và là con bài chính trị như:
Trần Di Ái: Người được Nhà Nguyên phong làm An Nam quốc vương trong cuộc chiến tranh lần 2 (thực chất là con bài chính trị của nhà Nguyên)
Trần Ích Tắc: Người được Nhà Nguyên phong làm An Nam quốc vương trong cuộc chiến tranh lần 3 (thực chất là con bài chính trị của nhà Nguyên)
Trần Thiêm Bình (tên thật là Trần Tông, gia nô của Trần Khang, đã mạo xưng con của Trần Nghệ Tông) người được nhà Minh phong làm An Nam quốc vương. (thực chất cũng là con bài chính trị của nhà Minh)
Trần Cảo, được Lê Lợi tôn làm vua (lấy hiệu là Thiên Khánh) theo yêu cầu của nhà Minh (thực chất cũng là con bài chính trị của Lê Lợi)
Tổ tiên của các vua nhà Trần:
Trần Lý (thủy tổ của nhà Trần, con của Trần Hấp),
Trần Thừa (cha vua Thái Tông, được truy tôn là Trần Thái Tổ)
Các thế hệ tôn thất khai quốc:
Trần Tự Khánh
Trần Thị Dung (hoàng hậu nhà Lý), sau này là Linh Từ quốc mẫu
Trần Liễu cha của Trần Hưng Đạo,
Trần Thủ Độ, Thái sư nhà Trần (người có công kiến lập nhà Trần)
Các tôn thất nhà Trần có công lao cho đất nước:
Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo đại vương – Tiết chế Quốc công)

Danh tướng Trần Hưng Đạo
Trần Quang Khải Thượng tướng, Thái sư nhà Trần
Trần Nhật Duật
Trần Khánh Dư
Trần Quốc Toản
Trần Quốc Tảng (Con trai của Hưng Đạo Vương)
Trần Bình Trọng
Trần Khát Chân (dòng dõi Trần Bình Trọng, người có công giết được Chế Bồng Nga)
Tuệ Trung Thượng sĩ (Trần Quốc Tung): người cùng tham gia trong cả ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông và đặt nền móng cho trường phái Trúc Lâm Yên Tử
An Tư công chúa (người được gả cho Thoát Hoan để nghị hòa trong tình thế nguy kịch của nhà Trần)
Huyền Trân công chúa: người được gả cho vua Chiêm Thành để đổi lấy châu Ô là châu Lý (Rí)
Trần Nguyên Đán, là người có công lật đổ Dương Nhật Lễ giành ngôi lại cho nhà Trần, có nhiều công trình thơ văn giá trị và là ông ngoại của Nguyễn Trãi
Các tôn thất nhà Trần khác:
Trần Quốc Khang (anh trai Trần Quốc Tuấn)
Trần Nhật Hiệu Thái úy, chỉ huy quân Tinh cương của nhà Trần
Trần Kiện
Trần Văn Lộng
Trần Thị Thiều (Hoàng hậu của Trần Thánh Tông)

Danh tướng Trần Nguyên Hãn
Các văn thần, danh nhân:
Trần Chiêu Ngạn, thượng thư bộ Hình thời Trần
Trần Triệu Cơ, công thần gây dựng nhà Hậu Trần
Trần Quốc Lặc: Trạng nguyên khoa Bính Thìn
Trần Cố: Trạng nguyên khoa Bính Dần
Trần Thì Kiến (Trần Thời Kiên)
Trần Thế Pháp, tác giả của Lĩnh Nam chích quái
Trần Quang Triều, tác giả của Cúc đường di khảo (một tác phẩm văn học thời Trần)
Trần Quốc Toại, tác giả của Sầm Lâu tập (một tác phẩm văn học thời Trần)
Trần Đình Thám, thám hoa dưới triều vua Trần Duệ Tông
Trần Nguyên Hãng, Thiếu bảo thời vua Trần Nghệ Tông – là người hợp mưu với Trần Khát Chân trừ khử Hồ Quý Ly bất thành
Trần Nguyên Huyên và Trần Thái Bộc, tướng của nhà Hồ đã tử trận trong chiến tranh với nhà Minh
Trần Phong, tướng hợp tác với nhà Minh trong cuộc xâm lược Đại Việt

Võ tướng nhà Tây Sơn Trần Quang Diệu
Thời Lê-Mạc:]
Trần Nguyên Hãn, danh tướng khởi nghĩa Lam Sơn
Trần Lựu, tướng giỏi của Lê Lợi, người đã dụ khị được Liễu Thăng lọt vào thế trận phục kích ở ải Chi Lăng…

Còn nhiều… viết nhiều mỏi tay quá xá, cho mình break time nhe…

(Trần Văn Tui, VHLA, nguồn sử liệu từ datanet, do Bách khoa Wikipedia, nhưng modified theo cớ sự hóm hỉnh)

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

Connexion à %s