CAO ĐẮC TUẤN : Âm nhạc Miền Nam Trước ngày 30 -4-1975

CAO ĐẮC TUẤN : Âm nhạc Miền Nam Trước ngày 30 -4-1975

 Tóm Lược: Âm nhạc miền Nam trước ngày 30-4-1975 là một kho tàng nghệ thuật phong phú của Việt Nam, cho thấy mức sáng tạo tuyệt vời, tinh thần tự do và nhân bản, phản ảnh tình người, củng cố niềm tin, nhắc nhở tình thương yêu, và tô điểm lòng ái quốc của người miền Nam. Tôi lựa ra 304 bài hát mà tôi rất ưa thích và dùng nhan đề và các trích dẫn ngắn của những bài hát này, lồng vào câu chuyện về cuộc đời, tình người, và quê hương, để đánh dấu ngày 30 tháng 4. Tôi chỉ chú trọng đến nội dung qua nhan đề của các bài hát và không đề cập đến các khía cạnh âm nhạc (thí dụ, giai điệu, tiết tấu), lời ca (thí dụ, cách dùng chữ, kỹ thuật), và tác giả. Một số rất ít bài được viết trước năm 1954 ở miền Bắc, nhưng được lưu hành rộng rãi ở miền Nam, và do đó được coi như thuộc về âm nhạc miền Nam. Hẳn nhiên tôi có nhiều thiếu sót, nhưng tôi nghĩ những ca khúc này thể hiện sức mạnh vô bờ bến tiềm tàng trong âm nhạc miền Nam. Sức mạnh này vẫn còn mãi, nếu không muốn nói là ngày càng lớn mạnh.
***
Hầu như bất cứ ai sinh sống trong miền Nam trước ngày 30-4-1975 cũng nhận ra những ca khúc miền Nam thời ấy nói lên cuộc sống họ trên các giai đoạn và khía cạnh của cuộc đời trước ngày cộng sản chiếm đóng miền Nam vào ngày 30-4-1975. Đó là vì lời ca tiếng nhạc miền Nam trước ngày 30-4-1975 là bài Hương ca vô tận ru vào lòng người « những lời yêu đương, » « chuyện tình gãy gánh giữa đường, » « nỗi buồn quê hương, » hay « mưa giăng thác đổ đêm trường. » Âm nhạc miền Nam còn có những tình ca quê hương diễn tả « quê hương tôi ấp ủ Trường Sơn, quê hương tôi là đây nước chảy xuôi nguồn, sông cát dài biển xanh Thái Bình. » Tiếng hò của hội trùng dương kết hợp tiếng sông Hồng, tiếng sông Hương, và tiếng sông Cửu Long, « ba chị em là ba miền, nhưng tình thương đã nối liền, gặp nhau bên trời biển Đông thắm duyên. »
Tôi không bao giờ quên những ngày xưa thân ái trong quãng thời gian tôi sống trong miền Nam, từ tuổi thơ, tuổi học trò, tới tuổi yêu đương và tuổi trưởng thành trong thời chiến tranh.
Ba mẹ tôi là người Bắc. Khi ba tôi gặp mẹ tôi, thấy mẹ tôi là cô Bắc Kỳ nho nhỏ và có nét hiền lành, nên có lòng thương yêu, và hai người lấy nhau. Ba mẹ tôi di cư vào Nam vào năm 1955, khoảng 6 tháng sau ngày hiệp định Geneva năm 1954. Như những gia đình theo chuyến đò vĩ tuyếnhoặc con tàu khổng lồ chuyên chở dân di cư vào Nam, gia đình chúng tôi là một phần của đoàn người lữ thứ trốn chạy cộng sản vì « miền Bắc giờ đau thương tràn khắp đồng sâu. » Đối với ba mẹ tôi, nỗi lòng người đi của hai người bấy giờ là chỉ muốn thoát ly chế độ cộng sản tìm cuộc sống thanh bình tự do cho gia đình. Sau này, ba mẹ tôi rất ngạc nhiên khi biết có những người vợ ở trong miền Nam khắc khoải trong giấc ngủ cô đơn hàng đêm trông chờ chồng tập kết ra Bắc trở về, kêu gọi « người bên vĩ tuyến, xin nhớ quay về khung trời miền Nam sống trong tình thương. »

Ba mẹ tôi không vào thẳng Sài Gòn, lúc đầu cư trú ở Đà Nẵng, Nha Trang, sau cùng mới định cư ở Sài Gòn cho tới tháng 4 năm 1975. Vì còn quá nhỏ, tôi có rất ít trí nhớ về Đà Nẵng và Nha Trang, « miền quê hương cát trắng. »
Mẹ tôi là một cô gái quê không được cho đi học, nhưng mẹ tôi đã cho chúng tôi, và nhất là tôi, một mối tình ca sâu đậm về tiếng Việt, khiến « tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. » Nếu tôi có chút khả năng và ý thích về nghệ thuật, văn chương, và thi ca, đó là có từ mẹ tôi. Ba tôi rất nghiêm trong việc dậy dỗ con cái trong khi mẹ tôi lúc nào cũng chiều các con, và lo lắng cho các con mọi chuyện từ quần áo, ăn uống, thuốc men, đến học hành, sách vở. Nếu anh em chúng tôi có được chút gì ngày nay, đó cũng là do ơn nghĩa sinh thành vĩ đại của ba mẹ tôi. Tôi không nhớ tuổi đời mẹ tôi chồng chất như thế nào, nhưng qua bao năm tháng, nhất là từ khi sang định cư ở Hoa Kỳ, tôi càng biết rõ mẹ tôi « tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày, » và « bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại, cầu mong con mình có một ngày mai. » Mỗi lúc dưới ánh đèn khuya, tôi « nhớ khi mẹ lo sớm chiều, nhớ nụ cười khi nâng niu, đôi tay run run ánh mắt dịu hiền. » Mẹ tôi tuổi con gà, lại càng làm tôi nghĩ đến hình ảnh bà mẹ quê với « vườn rau, vườn rau xanh ngắt một mầu; có đàn, có đàn gà con nương náu; mẹ quê, mẹ quê vất vả trăm chiều; nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu. »
Ba mẹ tôi và tôi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1975 khi tôi đã trưởng thành, nhưng tôi nhớ mãi những kỷ niệm với mẹ tôi những ngày tôi còn bé ở Việt Nam. Tôi thường tưởng tượng hình ảnh quê mẹ « nơi chốn xưa có người mẹ hiền, tóc màu hoa bạc chiều chiều mắt ngấn lệ vì con » và vui mừng khi còn bông hồng cài áo. Giờ đây bông hồng không còn trên áo nữa nhưng tôi không thể nào quên được lòng mẹ « bao la như biển Thái Bình dạt dào » với tình thương yêu con cháu vô bờ bến.
Khi tôi lớn hơn, ý nghĩa chữ « mẹ » không còn hạn hẹp trong căn nhà tôi ở, mà còn bao trùm toàn thể đất nước. Lối về đất mẹlà « đường xưa còn ấp ủ bóng trăng gầy » và « mẹ ơi chỉ còn đất mẹ mà thôi. » Tôi rất thích nghe mẹ tôi ru vì nghe như tám điệp khúc với lời thề « Mẹ Việt Nam ơi! con xin ghi xin khắc nguyện lời thề. » Những đóa hoa cài mái tóc khiến « Mẹ Việt Nam mắt ngời sáng quắc. » Mẹ Việt Nam không chỉ là mẹ sông hồ, mẹ núi non, mà còn là Mẹ trùng dương « cho con luôn luôn tôm to cá lớn tươi ngon đầy thuyền. » Ngay cả tên nước Việt Nam! Việt Nam! cũng gắn bó với nôi bên mẹ vì « Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời, Việt Nam hai câu nói bên vành nôi. » Càng lớn lên trong miền Nam, tôi càng phát huy niềm hãnh diện về đất nước Việt Nam quê hương ngạo nghễ với những hình ảnh kiêu hùng của « máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt này cha ông ta miệt mài. »
Tuổi thơ quả là một thiên đường. Dù không sống ở vùng quê, tôi thường vẽ ra cảnh tượng tôi là em bé quê, ngất ngưởng trên mình trâu nghêu ngao, « ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ. » Tết trung thu là dịp vui đùa, khi đêm đến, tôi và mấy đứa bạn rước đèn tháng tám quanh xóm, chỉ chỏ lên thằng cuội trên trời, « bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già ôm một mối mơ. »
Từ lúc còn nhỏ, tôi đã biết đến những chuyện cổ tích và huyền thoại về đất nước Việt Nam. Một mẹ trăm con là « truyện cũ trong tích xưa » với « năm mươi con vượt đồi non » và « năm mươi con dọc Trường Sơn. » Tôi bị mê hoặc bởi tích Hòn vọng phu về người vợ « bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về » và những câu chuyện kỳ bí như chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ và thiếu phụ Nam Xương. Các câu chuyện lịch sử ghi khắc trong tâm khảm tôi mạnh mẽ. Tôi nhớ các trận trên Bạch Đằng Giang, con sông « hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng. » Vào lớp Nhất tiểu học (lớp 5), trường tôi tổ chức một buổi văn nghệ trong đó có màn nhạc kịch về Hội Nghị Diên Hồng với diễn viên là học sinh trong trường. Tôi hừng chí khi nghe mấy đứa bạn trên sân khấu đồng thanh quát to « Hy sinh » sau câu hỏi « Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh? »
Học đường là nơi dậy dỗ tôi nên người và giúp tôi phát huy trí tuệ, đạo đức, và tình yêu thương đất nước. Trong suốt các năm tiểu học, chúng tôi hát Quốc ca, bài « Tiếng gọi công dân » với giai điệu hùng hồn và lời kêu gọi thiết tha. Lên trung học, chúng tôi chào cờ và hát quốc ca ngay giữa sân trường mỗi sáng thứ hai cho những lớp học buổi sáng. Lá cờ vàng ba sọc đỏ in đậm trong tâm khảm tôi từ đó. Tinh thần yêu nước được củng cố vào giờ thể dục khi chúng tôi đồng ca bài « Khỏe vì nước » với lời kêu gọi: « Thanh niên ơi, hồn thiêng núi sông đợi chờ! Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ. » Khi lên trung học, trong cảnh chiến tranh nhiều đứa bạn tôi bỏ học, gia nhập quân đội. Có nhiều kỷ niệmtrường cũ tình xưa, khi trở về trường cũ để biết « bạn cũ xa rồi, có người về đất buông xuôi, năm ba đứa bạt phương trời, hai thằng chờ đầu quân năm tới. »
Học đường còn là nơi tôi có những mối tình nhỏ bé. Thực ra, ở tuổi học trò, tình yêu thường được chớm nở trong tuổi dậy thì cho tới Đại học. Ở tuổi mười ba, cũng có thể có tình yêu khi « áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường. » Hầu như ai cũng có dịp đi qua con đường tình ta đi và các chàng trai kêu lên « hỡi người tình Văn Khoa, » « lá đổ để đưa đường cho người tình Trưng Vương, » và « hỡi người tình Gia Long. »
Thực ra, với tôi, mối « tình » đầu của tôi không xảy ra ở trung học hay đại học, mà xảy ra ở tiểu học. Tôi « yêu » một cô gái lúc tôi 9 tuổi. Tôi gặp em khi đi học lớp hè. Giây phút đầu tiên tôi gặp em trong lớp, tôi ngây ngất vì em có tóc mai sợi vắn sợi dài và làn da trắng. Tôi không bao giờ dám nói chuyện với em, một phần vì em học trên tôi một lớp, một phần vì tôi quá nhút nhát. Một hôm, khi thầy cho tan học sớm, tôi lẽo đẽo đi theo em về nhà để điều tra nhà em ở đâu, y như trong cảnh ngày xưa Hoàng thị. Quãng đường dài độ hai cây số. Khi sắp về đến nhà, em rẽ vào một khu cư xá, nhưng tôi nhát quá nên không dám đi theo vào khu cư xá. Thế rồi, lớp học hè mau chóng hết. Ngày cuối cùng, ông thầy cho phép đám học trò ăn uống ca nhạc. Em hát bài « Nếu hai đứa mình. » Tôi cứ nghĩ đến câu « nếu hai đứa mình không về cùng chung lối đường » trong bài mà cảm thấy rộn niềm vui. Sau buổi tíệc cuối cùng đó, tôi không còn gặp em nữa. Trong suốt hơn mười năm sau đó, tôi thường đi trên con đường xưa em đi và qua khu cư xá, hy vọng gặp em đi ra, nhưng cho tới ngày tôi rời Sài Gòn, con đường còn đó, mà bóng dáng em vẫn bặt tăm. Tôi nhớ mái tóc em dài quá vai và tự hỏi về đâu mái tóc người thương. Ngay cả cho đến bây giờ, quá nửa thế kỷ, nghìn trùng xa cách, thỉnh thoảng tôi vẫn thắc mắc không biết em bây giờ ra sao.
Nhà tôi ở trong một ngõ rẽ từ một đại lộ. Tôi có được diễm phúc là hàng xóm quanh nhà tôi có nhiều cô gái đẹp. Có cô láng giềng tuyệt đẹp có làn da trắng bóc đã khiến « tôi mơ trời xuân bao tươi thắm, đôi mắt trong đen màu hạt huyền, làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng. » Thế rồi, thời gian trôi qua, gia đình cô dọn đi nơi khác, khiến anh em chúng tôi tiếc rẻ vô vàn. Các cô khác trong xóm rồi cũng dần phai mờ, có người có bồ, có người dọn đi. Ngoài các cô hàng xóm, tôi cũng để ý các cô hàng nước, cô bán cuốn bò bía đầu ngõ nhà bạn tôi. Tuy tôi chẳng có chuyện tình nào với họ, các cô gái xinh đẹp này cho tôi những xúc cảm đậm đà đầu tiên về tình cảm trai gái.
Khi ba tôi cho tôi lái xe gắn máy, tôi bắt đầu nổi loạn. Tuy nhiên, ban đầu tôi vẫn nhút nhát, chỉ dám gác cổng các trường nữ nhìn các cô nữ sinh tan học mà không dám tán tỉnh. Thế rồi, tôi thay đổi dần dần và trở nên bạo dạn hơn. Tôi theo đuổi một cô nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng, sau này chuyển sang trường Lê Văn Duyệt. Nàng không thật đẹp, không có cặp mắt như đôi mắt người Sơn Tây « u uẩn chiều luân lạc, » nhưng nàng có nét dịu dàng thùy mị của một cô gái miền Nam thuần túy. Tôi lẽo đẽo theo nàng cả tháng trời đến độ ghi nhớ bảng số xe gắn máy của nàng cho đến bây giờ, mê mệt tự hỏi bao giờ biết tương tư. Nàng biết tôi đi theo nhưng gặp nhau làm ngơ dù nàng và tôi « chung một đường, kẻ trước, người sau » cả tháng trời. Sau cùng, tôi thu hết can đảm chận xe nàng tại góc gần nhà nàng, cạnh con đường nhà nàng thơ mộng rạp lá, lắp ba lắp bắp ngỏ lời đầu tiên với nàng. Có lẽ sự vụng về của tôi động được lòng nàng. Thế là từ đó, nàng là người yêu chính thức của tôi và con đường nhà nàng trở thành con đường mang tên em.

Trong giai đoạn đầu, những chuyện hẹn hòvới nàng khiến tôi than vãn, « Hẹn chiều nay mà sao không thấy em, gió hiu hiu, lòng bỗng nghe lạnh thêm. » Tôi vẫn thường bướcnhững bước chân âm thầm « khi người yêu không đến, tuổi xuân buồn lặng căm. » Dần dà, chúng tôi thân thiện với nhau và gần gũi nhau nhiều hơn, nhưng mối tình tôi với nàng rất ngây thơ trong trắng, không có chuyện qua cầu gió bay mà như giấc mộng dưới hoa khi chúng tôi « gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ, mây ngàn gió núi đọng trên mi. » Nàng và tôi yêu nhau một cách hiền lành, như hai người bạn. Tôi chẳng bao giờ thắc mắc hỏi ai nói yêu em đêm nay hoặc đặt giả thiết nếu ta đừng quen nhau. Chúng tôi yêu nhau trong sự kính trọng và không cần phải có những hứa hẹn hoặc điều kiện trăng sáng vườn chè như « anh chưa thi đỗ thì chưa thì chưa động phòng. »

Như những người bạn thân, chúng tôi chở nhau đi học, hẹn nhau sau giờ học, đùa nghịch với nhau vô tư, hỏi nhau những câu hỏi ngu ngơ bây giờ tháng mấy« rồi hỡi em? » hoặc đố nhau những câu đố ai cắc cớ, « đố trăng mấy tuổi trăng già, để em để em lên tiếng mặn mà mặn mà yêu anh, » hoặc dựa đầu bên nhau dưới gốc cây, ru em từng ngón xuân nồng với « bàn tay em năm ngón anh ru ngàn năm. » Có những hôm nàng đến nhà tôi trong chiếc áo dài trắng và nón lá mang hình ảnh người em không đợi khiến tôi xao xuyến. Tôi không nhất thiết yêu nàng với đủ mười thương, nhưng chỉ cần « một thương tóc xõa mơ màng, hai thương em ăn nói mặn mà có duyên » cũng đủ làm tôi hạnh phúc. Chúng tôi cũng đề cập đến chuyện hôn nhân, đến cảnh gia đình hạnh phúc dưới túp lều lý tưởng và hai trái tim vàng, nhưng chỉ nói chuyện đó cho vui, chứ thực ra chúng tôi không dự tính hôn nhân quá sớm. Thuở đầu tiên trong cuộc tình thật hạnh phúc, như dư âm xa xưa « hẹn em từ muôn kiếp trước, nhớ em mấy thuở bạc đầu. » Tôi yêu em « vì ta ghét buồn, yêu em vì ta ghét hờn, yêu em vì ta khinh khi dối gian. » Với tôi, những tháng ngày đầu tiên của cuộc tình thật nên thơ khingày đó chúng mình « có anh mơ lại mộng ngời, và se tơ kết tóc giam em vào lòng thôi. » Lúc ấy, tôi nghĩ tôi sẽ yêu nàng suốt đời và thường nói niệm khúc cuối, « dù cho mưa tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời. »
Nhưng rồi, một thời gian sau, khoảng 1-2 năm, tôi cảm thấy có thay đổi trong tình cảm tôi dành cho nàng, và dằn vặt không hiểu tôi có ngộ nhận tình yêu hay không. Những cảm xúc nồng nàn lúc ban đầu bớt dần. Tôi có cảm tưởng mối tình tôi với nàng như tình là sợi tơ « mong manh. » Thỉnh thoảng có lúc tôi muốn gửi nàng một tình khúc cho em « như hoa đem tin ngày buồn, như chim đau quên mùa xuân » để cho nàng biết tôi muốn thoát ra khỏi vũng lầy của chúng ta. Vào những tháng ngày cuối của chuyện tình không suy tư, tôi nhận ra « tình yêu mới vừa hôm qua, mà nay mắt trông mắt cay. » Có những buổi trưa chờ nàng tan học bên bàn bi-da, tôi ngậm ngùi nghĩ đến « nắng chia nửa bãi chiều rồi, vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu. »
Tôi và nàng không bao giờ chính thức nói lời xa nhau, nhưng hai người ít gặp nhau hơn, cho tới ngày tôi và gia đình rời Sài Gòn. Tôi không rõ lý do tại sao có sự xa nhau, nhưng có lẽ là lỗi của tôi, vì nàng là người em sầu mộng, « là gái trong song cửa, » trong khi tôi « là mây bốn phương trời » và « theo cánh gió chơi vơi. » Trong những tháng ngày không liên lạc với nàng, tôi nghĩ tới nàng và muốn nói với nàng về chuyện chúng mình. Có những đêm tôi thao thức, tự hỏiđêm nay ai đưa em về và mơ đến dạ khúc cho tình nhân vào « ngày em thắp sao trời, chờ trăng gió lên khơi. » Thỉnh thoảng, tôi coi mối tình với nàng như trong ca khúc « Bài không tên số 2 » vì « kỷ niệm xưa đã chết, cơn mê đã chiều, » và « tình yêu đã hết, » nhưng không đến nỗi « xót xa đã nhiều. » Tôi cũng vui là đối xử với nàng tốt đẹp, như trong ca khúc « Bài không tên số 4 » vì « đời con gái cũng cần dĩ vãng. mà em tôi chỉ còn tương lai, » và không để cho ngày em hai mươi tuổi là ngày khiến em phải « tay cắt mái tóc thề, giã từ niềm vui nhé, buồn ơi hãy chào mi. »
Tuy chuyện tình giữa nàng và tôi chẳng có gì đẹp đẽ, nó cũng không tệ hại như nhiều chuyện tình khác. Ít ra tôi nghe theo lời khuyên đừng nói xa nhau, hoặc không van xin ai cho tôi tình yêu. Ngoài ra, tôi không bị đau buồn vì người yêu đi lấy chồng, khiến mình tưởng như tôi đưa em sang sông, hoặc lên cơn sầu tím thiệp hồng, luyến tiếc nhìn những tà áo cưới. Tôi còn may mắn hơn nhiều người than khóc cho cuộc tình như trong ca khúc « Bài không tên cuối cùng, » dằn vặt với câu hỏi « mưa bên chồng, có làm em khóc, có làm em nhớ những khi mình mặn nồng, » hoặc than thở cho duyên kiếp mình, « Em ơi nếu mộng không thành thì sao, non cao đất rộng biết đâu mà tìm. »
Cũng may, cuộc tình hai ba năm đó của tôi không đến nỗi là hai năm tình lận đận, và không có những hận thù chua chát, muốn giết người trong mộng, tự trách mình là ta yêu em lầm lỡ, nuối tiếc cho cuộc tình lỡ, hoặc than khóc chotình đầu tình cuối « khi một ngày một người đã ra đi, » hoặc đau khổ tê tái vớinửa hồn thương đau và « nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt. » So với các chuyện tình của thiên hạ, tôi thấy nàng và tôi rất may mắn, không đưa đến những kết cục bi thương như chuyện tình người trinh nữ tên Thi, chuyện tình Lan và Điệp, hoặc Thúy đã đi rồi. Đôi khi tôi nghĩ nàng và những cô gái khác là những mối tình xa, khi « từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. » Họ là những người đi qua đời tôi « trong những chiều đông sầu » và cho tôi cái ảo ảnh « yêu cho biết sao đêm dài, cho quen với nồng cay » để rồi « cũng theo hư không mà đi. »
Nói đến tình yêu là phải nói đến phong cảnh và thiên nhiên. Tình người ăm ắp chứa chan một phần vì miền Nam có phong cảnh hữu tình, đồng ruộng mênh mông, bờ biển bát ngát, sông ngòi, rừng núi, vùng cao nguyên, và vùng ̣đồng bằng. Mây, gió, mưa, nắng, trăng, sao đóng góp thêm cho nét thơ mộng của đất nước miền Nam.
Hàn Mặc Tử là người đầu tiên tự nhận là sở hữu chủ của mặt trăng và rêu rao, « Ai mua trăng, tôi bán trăng cho; trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ. » Ánh trăng hiền hòa thể hiện trăng thanh bình vẽ ra hình ảnh « một đêm ánh trăng thanh rọi xuống khắp đồng quê bao la. » Trăng còn thường được coi là nhân chứng cho các lời thề thốt có lẽ do bởi nét huyền bí của ánh trăng mơ màng trong đêm tối. Do đó, lời trăng thề thường được nhắc nhở trong cuộc tình vào « một đêm trăng sáng lung linh, bên đồn canh vắng im lìm. » Tại miền quê miền Nam, trăng còn có ý nghĩa đặc biệt, thường được liên kết với mùa màng và tình yêu. Với tình lúa duyên trăng, khung cảnh trở nên thơ mộng: « mây bay qua, ánh trăng chiếu dần vào ruộng đồng bao la; nghe xa xa, mấy câu hát vè vọng từ đầu thôn đưa về. »

Những cảnh có vật di động trôi chảy như như mây, nước, sông hồ, suối, biền làm tăng phần thơ mộng hoặc cảm xúc cho con người. Còn gì thơ mộng hơn cảnh trăng mờ bên suối, ngắm suối mơ, hoặc ngẩn ngơ nhìn những con thuyền không bến. Tại những nơi hẻo lánh xa xôi, có những con đò chiều là « đò của người thôn nữ, chờ đưa người viễn xứ. » Bãi biển bao la tạo nên nỗi biển nhớ« tên em gọi về, gọi hồn liễu rũ lê thê, gọi bờ cát trắng đêm khuya. » Trong những cơnmưa hồng, ta có thể cảm nhận « trời ươm nắng cho mây hồng, » và « mây âm thầm mang gió lên. » Tất cả những cảnh vật thiên nhiên đó tạo nên tình yêu thương quá Việt Nam nhẹ nhàng và đơn giản như « em nghe gì không hỡi em, con chim nó hót vang đầu hè. »

Khi tôi có dịp đi tới vùng đồng quê miền Nam, tôi mới biết được cảnh đẹp miền Nam qua những con sông nhỏ, ruộng lúa phì nhiêu, và những cô thôn nữ xinh tươi ca hát những khúc ca ngày mùa và tiếng hò miền Nam, và các em bé ca hát về tía em má em. Tôi có dịp lái xe gắn máy qua những con đường quê chật hẹp, băng qua mấy nhịp cầu tre, rẽ vào đường về hai thôn, trải qua chiều làng em, đi qua những mái tranh trong xóm khi nắng lên xóm nghèo, hoặc đi vào lối về xóm nhỏ nơi có « vài cô gái nhỏ to vui chuyện trò. » Đêm về, cuộc sống ruộng đồng trở nên mê hoặc, với ánh trăng về thôn dã và hình ảnh gạo trắng trăng thanh với « tiếng chày khua » văng vẳng đâu đây.
Tôi nghe kể những mối tình của các chàng trai và các cô gái trong miền quê qua những dịp gặp nhau nơi đồng ruộng. Những mối duyên quê thật đơn sơ, chỉ cần « dăm miếng trầu cay một buồng cau trắng » mà nên vợ thành chồng, hoặc tình thắm duyên quê với « tình nồng thắm xuyên qua bao mái tranh, » dẫn đến đám cưới trên đường quê, với « cô dâu con con y trang mỹ miều, cô dâu non non dung nhan mặn mà. » Có lần, sau cuộc tình với nàng, tôi đến quê bạn tôi, nó có cô em gái thật dễ thương, khiến lòng tôi xao xuyến, thầm ca khúc hát ân tình, mơ tưởng đến « tình Bắc duyên Nam, » và lo lắng đến nụ tầm xuân, sợ lỡ duyên khi nàng trách « sao anh không hỏi những ngày em còn không? »
Ngoài khoảng thời gian ngắn sống ở Đà Nẵng và Nha Trang lúc tôi còn bé, tôi có đến miền Trung vài lần. Tôi đến thăm viếng thành phố buồn Đà Lạt khi tôi 17 tuổi, và ngây ngất với những cô nữ sinh đi học có cặp má đỏ hồng hồng trông thật dễ thương. Nhưng ấn tượng mạnh mẽ nhất là cảnh Đà Lạt hoàng hônkhi ánh chiều tà rải nhẹ trên đồi thoai thoải. Tôi không biết có ai lên xứ hoa đào« dừng chân bên hồ nghe chiều rơi » nhưng tôi biết chắc tôi « nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai. » Lúc bấy giờ tôi không biết đến đồi thông hai mộnên không ghé thăm để trải qua « một chiều rừng gió lộng một chiều rừng. »
Tôi chưa từng bao giờ đến Huế, nhưng biết đến Huế qua văn chương thi ca và nỗi đau thương trong Tết Mậu Thân năm 1968. Những lời kêu gọi ai ra xứ Huếcho biết « bến Vân Lâu còn sâu thương nhớ, thuyền Bến Ngự còn đợi anh về. » Có người thơ mộng hóa cơn mưa trên phố Huế, cho biết « tiếng mưa còn vương kỷ niệm ngày quen nhau dưới chân Thiên Mụ, anh còn nhớ không? »
Tôi đã tới Vĩnh Long, Cần Thơ, Thốt Nốt, nhưng chưa đến Hà Tiên, và các tỉnh cao nguyên miền Trung. Tôi chỉ biết những nơi đó qua trí tưởng tượng, nhìn cảnh Hà Tiên thật đẹp với « những bóng dừa xanh mát biển khơi, » nghe văng vẳng tiếng hát Mường Luông, ngắm nụ cười sơn cước, lắng nghe sơn nữ ca, thưởng thức chiều lên bản Thượng, tiếc thương mối hận Đồ Bàn, và trân quýcòn một chút gì để nhớ tới Pleiku.

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

w

Connexion à %s