Mois : juillet 2017

Nhạc DÂn Tộc Hòa Tấu Đàn Tranh Quê Hương Việt Nam Hay Nhất 2014

Nhạc DÂn Tộc Hòa Tấu Đàn Tranh Quê Hương Việt Nam Hay Nhất 2014

Published on Nov 8, 2014

Nhạc DÂn Tộc Hòa Tấu Đàn Tranh Quê Hương Việt Nam Hay Nhất 2014
1. Dạo Nam
2. Hương Sen Đồng Tháp
3. Lá Thư Tuyền Tuyến
4. Lới Lơ
5. Sang Xuân
6. Tò Vò
7. Tứ Đại Cảnh
8. Khốc Hoàng Thiên
9. Xuân Quê Hương

Xuất Xứ Những Bài Nhạc Việt Vang Bóng Một Thời.

   Xuất Xứ Những Bài Nhạc Việt
   Vang Bóng Một Thời.
 

Dù ngày nay với thời Kinh Tế Thị Trường Nhạc Việt nhiều khi được (bị) sáng tác theo kiểu mì ăn liền nhiều khi nghe kỳ cục. Lời nhạc Việt diễn tả sự phản kháng hay khôi hài hóa sự việc nào đó (nhạc nháy). Thế nhưng thông thường, nó diễn tả tâm tư của người nhạc sĩ trong cuộc sống hàng ngày, tình yêu, bạn bè, cảnh tan hợp hơp tan, ngay cả nỗi niềm của người trai đành xếp bút nghiên phải lên đường diệt cộng để bao vệ tổ quốc dưới thời VNCH. Do đó mà rừng nhạc lính rất tràn gian đại hải, là kho tàn âm nhạc quý giá mà dân Việt đáng tự hào. Bạn muốn nhớ lại Bình Long Anh Dũng, Kontum Kiêu Hùng, Trị Thiên Vùng Dậy thì hãy tìm nghe lại những bài hát kiêu hùng của Trần Thiện Thanh. Tôi có ST được xuất xứ của một số bài nhạc Việt thời đệ nhất và nhị cộng hỏa ngay cả thời Tiền Chiến, xin chia sẽ nơi đây, có thể các anh các chị muốn kể lại cho con cháu nhiều kỷ niệm oai hùng của dĩ vãng, dù nhiều năm tháng đã trôi qua và dòng đời cứ trôi mãi, nhưng theo tôi kỷ niệm sẽ mãi in sâu vào tim của một số đồng hương Đất Việt.

Đa số bài viết Xuất Xứ được trích từ Blog Cà Phê Diễm Xưa, lời xuất xứ được thố lộ từ chính các tác giả của nhạc phẩm!

XUẤT XỨ BÀI BIỆT LY

 Tôi viết Biệt ly năm vừa tròn 20 tuổi trong hoàn cảnh chính quyền thực dân Pháp tuyển mộ rất nhiều người Việt Nam sang làm thợ hoặc lính đánh thuê cho các thuộc địa khác của Pháp. . Hồi đó, cha tôi làm việc ở ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Sân ga Hàng Cỏ bấy giờ sôi động hơn bao giờ hết, liên tục đưa đón tàu đi tàu về chuyên chở những chàng trai Việt lên đường tha hương. Người đi kẻ ở. Buồn lắm. Đau xót lắm. Cái không khí tiễn đưa không hẹn ngày về tác động mạnh đến tâm cảm vốn day dứt của tôi.Nhà ở gần ga nên tôi thường được chứng kiến những cuộc chia tay đầy nước mắt trên sân ga.

Điều đó khơi dậy trong lòng tôi nhiều cảm xúc và tôi có ý định sáng tác một bài hát về đề tài này.tôi được anh bạn kể chuyện anh ta phải lòng một cô gái nhưng bị bố mẹ ngăn cấm và mối tình tan vỡ. Câu chuyện đó và những cảm nhận của thời thơ ấu đã giúp tôi viết Biệt ly

Lần đầu, Biệt ly được công bố trước đám đông khán giả là vào năm 1940 ở Hà Nội. Chị Phụng, một ca sĩ ở ngõ chợ Khâm Thiên là người đầu tiên hát. Không còn nhớ rõ nghệ danh, tôi chỉ nhớ tên gọi thân mật là chị Phụng – một giọng hát được nhiều người Hà thành yêu mến. Sau một thời gian nằm im ắng, đến năm 1988 Biệt ly mới chính thức được hát trở lại trên các sân khấu trong Nam ngoài Bắc, được đưa vào chương trình Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam. Cùng với Biệt ly, nhiều ca khúc tiền chiến của các nhạc sĩ khác như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước, Hoàng Quý… cũng được biểu diễn trở lại.

Mấy phút bên nhau rồi thôi Đến nay bóng em mờ khuất Người về u buồn khắp trời Người ra đi với ngàn nhớ thương Mấy phút bên em rồi thôi Dáng em sống trong hồn tôi Xa cách ta còn tìm đâu ngày vui Biệt ly ước bao đường tơ Réo rắt trong muôn hương mơ Thành sầu tiễn đưa Biệt ly ước mong hoàng hôn Êm đềm về ru ấm tâm hồn Người yêu đương cách xa Đành sống vui cùng gió sương.

XUẤT XỨ BÀI GIỌT MƯA THU

Từ ô cửa nhỏ, mưa ngâu chảy ra tới sông dài, bể rộng, bây giờ nhạc sĩ của mưa mùa thu đã đi và đi xa muôn thuở trong lòng người yêu nhạc bởi duy nhất ba bài hát bất hủ. Ba giọt nước ấy đã góp cho ly nước của nền âm nhạc Việt Nam thêm sóng sánh, quánh vàng.

Sinh ra trong một gia đình nghèo tại Nam Định, cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, lại có tới sáu người con. Chú bé Phong đã phải sớm bỏ học, rời quê lên Hà Nội kiếm sống. Nhờ vào năng khiếu vẽ tranh mà Phong đã có việc cho một số tờ báo như vẽ truyện tranh, hình minh họa… và được vào học dự thính tại trường cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Trong một kì thi, thầy giáo cho các học viên tự sáng tác. Đến lượt chấm tác phẩm của Phong, thầy giáo người Pháp TARDIEU đã rất tâm đắc, khen ngợi nhưng lại phán một câu “E rằng con sẽ không sống được lâu bởi hình là vận mệnh người” do trong đó Phong vẽ nhưng thân cây khô của mùa thu, khẳng khiu và đặc biệt tất cả đều cụt ngọn
Quả đúng như thế, cuộc sống của Phong rất long đong, khốn khổ. Anh không chỉ sống ở Hà Nội mà còn lang bạt qua Campuchia, dạt về Hà Nội với đủ nghề nhưng vẫn không thể sống nổi. Từ vẽ tranh, dạy vẽ, mở lớp dạy nhạc, sáng tác và cả nghề hát nhạc hội…

Cám cảnh với oan nghiệt cuộc đời như một định mệnh vương vào tuổi đời. Phong đã viết những bài hát não nề diễn tả tâm trạng của mình, đặc biệt cả ba bài nổi tiếng nhất đều được viết trong mùa thu vàng vọt, mưa não nề. Bởi thu chỉ đẹp và lãng mạn cho người đang mặn nồng, say đắm. Mùa thu sẽ là nỗi đớn đau của người bệnh tật từ thể xác, tâm hồn cho đến nghèo túng.

Thu 1942, Phong bệnh nặng. Một hôm mưa tầm tã, rơi lộp bộp trên mái lá, không thể ngủ, cũng chẳng thể nằm vì nước lạnh thấm ướt căn nhà nhỏ sơ sài. Phong ngồi ôm gối nhìn qua cửa sổ đếm từng giọt rơi xuống, vỡ bóng hòa vào dòng nước lênh láng, trôi tuột và nghĩ rằng có lẽ cuộc đời của mình cũng như thế. Nỗi buồn đã buông chụp xuống ngay từ khi mới chào đời. Hàng ngàn nỗi khổ đã bủa vây và chưa có ngày nhìn thấy hào quang. Đau quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để Phong gắng gượng lết tới bàn tuôn trào những cảm xúc lai láng trong một giai điệu hết sức da diết, não nề và tuyệt vọng.

“…Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây

Lòng vắng muôn bề không liếp che, gió về

Ai nức nở thương đời châu buông mau

Dương thế bao là sầu…”

Vừa viết, Phong vừa ôm ngực ho lên từng hồi dài. Bài hát được đặt tên “Vạn cổ sầu” có nghĩa là những nỗi buồn không thể giải thoát.

Ngay sau đó những người bạn vì lo lắng cho sức khỏe của Phong đã đội mưa tới thăm. Ôm đàn, vuốt ngực, đè nén cảm xúc, chàng trai trẻ đã hát cho mọi người cùng nghe thay cho tâm sự không thể tỏa bày. Cung điệu trầm lắng, rời rã, ngưng đọng, nức nở của một con người chẳng còn định hướng tựa con thuyền nhỏ trên sông vạm vỡ mờ bóng đêm. Phong đã trải lòng theo từng lời ca ngọt ngào, không ủy mị, rên rỉ làm mọi người nín lặng và cùng buồn chỉ muốn khóc.

“Bài hát hay lắm Phong ơi, như xoáy vào tim, vào óc của người cùng tâm trạng, nhưng bi thảm quá. Đặc biệt tựa đề “Vạn cổ sầu” nghe tang thương lắm, nên sửa lại đi” – bạn bè góp ý như thế với Phong sau khi cùng lén lau những giọt nước mắt. Phong nghĩ, cũng đúng, bởi đâu phải mình khóc trong lòng, mà sau này người khác hát cũng sẽ phải đồng tâm trạng. Chẳng lẽ các ca sĩ yêu bài này cũng phải chịu vận mệnh như mình sao?

Nhìn những giọt mưa ngâu của Ngưu Lang – Chức Nữ vẫn tuôn trào chưa ngơi nghỉ dội xuống qua ô cửa, Phong thấy sao phũ phàng tựa đời mình quá. Thôi thì sửa tựa cho nhẹ nhàng hơn và “Vạn cổ sầu” được đổi thành “Giọt mưa thu”.

Có lẽ bài hát như một lời tạ từ, điềm báo trước và cũng là di chúc cuối cùng nên chẳng bao lâu sau chàng nhạc sĩ tài hoa, bạc mệnh, yểu đời: Đặng Thế Phong đã mang theo “Vạn cổ sầu” mãi đi vào màn đêm nhạt nhòa khi mới 24 tuổi tại quê hương Nam Định của mình vì căn bệnh của những người nghèo: bệnh Lao.

XUẤT XỨ BÀI ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Ai trong chúng ta cũng đã từng hát một lần bài  » ÁO LỤA HÀ ĐÔNG » của nhạc sĩ NGÔ THỤY MIÊN, nhưng mấy ai biết rằng bài hát này lại có xuất xứ từ một cuộc thi hoa hậu đầu tiên của Việt Nam.

Năm 1930, xứ Bắc Kỳ đã tổ chức cuộc thi người đẹp (giống như thi Hoa hậu bây giờ) với những ấn tượng lạ: không phải ở Hà Nội mà ngay tại tỉnh Hà Đông; các cô gái bất cứ lứa tuổi, kể cả đã có chồng, ngành nghề gì cũng đều được tham gia; phải mặc áo lụa của xứ Hà Đông.
Người đăng quang trong cuộc thi là người đẹp LÝ LỆ HẰNG, xuất thân từ một nông dân nghèo tỉnh Thái Bình. Do cuộc sống mưu sinh, cô phải lên Hà nội làm nghề hát cô đầu cho các quán rượu.

Sau khi thay đổi cuộc đời, cô trở nên nổi tiếng và là niềm ước mơ của bao công tử nhà giàu trong cả nước. Tuy nhiên chẳng ai có thể với tới được móng chân của người đẹp « chân lấm, tay bùn » bởi chỉ một thời gian sau Quốc Vương Bảo Đại đã chọn LÝ LỆ HẰNG làm người tình.
Có lẽ cũng như bao chàng trai si mê sắc đẹp khác, dù đã trải qua hơn 20 năm sau, nhà thơ NGUYÊN SA vẫn mơ tưởng đến nụ cười, ánh mắt khuynh đảo của hoa hậu đầu tiên và buộc ông phải viết bài thơ ca ngợi người đẹp mặc áo lụa ấy.
Mãi đến năm 1969, khi nghe câu chuyện về hoa hậu « thuần nông » phút chốc trở thành người yêu của ông vua cuối cùng Việt Nam, chàng trai 21 tuổi NGÔ THỤY MIÊN đã viết nên ca khúc nổi tiếng « ÁO LỤA HÀ ĐÔNG » được phổ lời từ bài thơ của NGUYÊN SA như để ngưỡng mộ những cô gái tựa như đóa sen vươn lên từ đầm lầy.
 

XUẤT XỨ BÀI NỮA HỒN THƯƠNG ĐAU

Vào những năm 60, báo chí Sài Gòn hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kì vụ li dị giữa ca sĩ Khánh Ngọc và nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm họ trở nên nổi tiếng hơn.

Lúc đó, chàng nhạc sĩ họ Phạm là thành viên chính trong ban hợp ca Thăng Long, ban nhạc đình đám nhất cả nước lúc ấy bởi các thành viên của nhóm nhạc đều là những ngôi sao đương thời như: vợ chồng ca sĩ Thái Hằng – Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương – Khánh Ngọc…

Vợ của nhạc sĩ họ Phạm này là một ca sĩ được nhiều người biết đến với tên gọi “ngọn núi lửa” bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả nam say đắm mỗi khi cô lên hát.

Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh vợ mình ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những tin “lá cải” ấy. Chỉ đến khi một số người bạn hẹn ông đi bắt ghen tại Thủ Thiêm thì sự việc mới đổ bể. Chẳng hiểu sao báo chí biết rất nhanh và vụ “ăn chè Thủ Thiêm” được mọi người biết đến như một chuyện khôi hài đương thời.

Kẻ trong cuộc gây ra đổ bể này không ai xa lạ hơn lại chính là người anh rể của ông. Nhạc sĩ nổi tiếng thuở ấy: Phạm Duy.

Người đau lòng nhất :chàng nhạc sĩ. Anh rất yêu thương vợ, nhưng cả dư luận xã hội đều rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin li dị. Đây là quãng thời gian đau khổ, ông không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong ban hợp ca nữa mà lui về trong bóng tối viết những tình ca buồn như để tâm sự với chính mình trong gương. Một loạt bài hát mang tâm trạng như thế ra đời: “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…
Sau li dị, ông được quyền nuôi con trai khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, bắt đầu đi biểu diễn trở lại. Một lần, tình cờ ông gặp vợ mình trên sân khấu của chương trình nhạc hội. Cuối buổi diễn ông có nhã ý muốn được tiễn cô về vì trời đang mưa nhưng Khánh Ngọc từ chối.

Ông lặng lẽ trở về căn nhà kỉ niệm, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc giờ trôi theo dòng nước, tan vỡ như những bong bóng mưa. Một người vẫn còn đây, người còn lại đã rời xa. Trái tim yêu đã chia làm đôi. Lời thề vỡ vụn… Chịu đựng không nổi nỗi đau dằn xé, ông dự định tìm đến cái chết nhưng đúng lúc ấy tiếng khóc con trẻ đòi mẹ trong đêm làm ông phải vụt ôm con vào lòng dỗ dành mà nước mắt tuôn trào…

Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời của bài hát “ Nửa hồn thương đau” được ông viết trong đêm rã rời đó như lột tả từng mảng tâm trạng bị chà xát. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.

Dẫu là một bản tình ca, nhưng khi nhắc tới nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người ta lại nghĩ ngay đến “Nửa hồn thương đau” bởi sự bất hủ của tuyệt tình ca và sự chung thủy trong tình yêu của một người đàn ông. Sau này ông đã ở vậy nuôi con và ra đi lặng lẽ tại California năm 1991.
 
 

XUẤT XỨ BÀI GỬI GIÓ CHO MÂY NGÀN

Vào đầu thập niên 50, một nhà tỷ phú trẻ từ Hải Phòng lên tận nhà hát Lớn Hà nội để xem đoàn hát Sài Gòn ra diễn. Sau đêm đầu, chàng đã ở lại và xem tiếp những đêm sau chỉ vì đem lòng hâm mộ cô ca sĩ chính của đoàn: ca sĩ MỘC LAN.

Khi đó ca sĩ MỘC LAN đang là một ngôi sao lớn của cả nước, không chỉ đẹp, đoan trang, hiền lành mà cô còn nổi tiếng bởi đang sống rất hạnh phúc bên chồng cũng là một ca sĩ hàng đầu: ca sĩ CHÂU KÌ. Hai người từng được mệnh danh là cặp tài tử giai nhân, trai tài gái sắc.

Trở lại câu chuyện Công tử đất Cảng Hải phòng, khi cô ca sĩ về Sài Gòn, vì tương tư, anh cũng liền mua vé bay vào tìm cách gặp gỡ. Nhưng vì biết họ đang yên bề gia thất, hạnh phúc bên nhau nên chàng dùng kế “mưa dầm thấm lâu”. Nhà tỷ phú đã đặt khoản tiền rất lớn cho một tiệm hoa trên đường Nguyễn Huệ với điều kiện nơi đây phải làm theo lời đề nghị bí mật của anh Từ ngày ấy, mỗi sáng khi mở cửa nhà, cô ca sĩ đều nhận được một bó hoa hồng tươi thắm (trị giá món quà lãng mạn đó bằng 3 bữa ăn cho một gia đình trung lưu thuở ấy). Đều đặn như thế mà ca sĩ Mộc Lan vẫn không hề biết tên người hâm mộ mình, cũng như mục đích của người tặng. Tuy nhiên, với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, cô dần quyến luyến với người vô hình và trở nên nôn nóng chờ đợi đêm qua thật nhanh để sáng sớm được ôm bó hoa thơm ngây ngất.

Suốt 3 tháng trời, không thể chờ đợi được nữa, cô liền ra tiệm hoa Nguyễn Huệ và nhờ chuyển một bức thư cho người “vô danh, ẩn tích” với những lời cám ơn chân thành và một chút ẩn ý ngọt ngào. Như mưa gặp bão, khi nhận được những lời nói mà chàng hằng mong đợi, ngay trong đêm đó chàng công tử đã thức suốt để mơ mộng, thả hồn theo gió vào Nam, ngất ngây với tâm hồn kẻ đa tình và sáng sớm ra Bưu điện để gởi nhanh cho nàng một lá thư. Trước khi dán phong thư, chàng còn không quên xịt ít nước hoa vào và hôn nhẹ lên tờ giấy poluya màu xanh (loại giấy mỏng, dùng viết thư tình, chỉ đến khi thời đại computer ra đời người ta mới quên dùng giấy này để viết thư) Nhận thư, ca sĩ MỘC LAN vô cùng bàng hoàng sững sờ, bởi trong đó không phải là những lời nói tỏ tình, yêu đương mà chỉ có một bài hát. Các khuông nhạc được kẻ bằng tay cẩn thận, lời hát được viết nắn nót trên nền tờ giấy mỏng tanh tình tứ “gửi bướm muôn màu tìm hoa, gửi thêm ánh trăng, màu xanh lá thư, về đây với thu trần gian…” chứng tỏ người theo đuổi nàng bấy lâu rất thật tình và gửi gắm hết tâm huyết thương mến.

Nàng còn ngạc nhiên hơn khi biết bài hát được sáng tác chỉ trong một đêm và viết dành riêng tặng cho nàng. Điều đặc biệt, tác giả tình khúc ấy là người không chỉ nổi tiếng giàu có nhất ở đất Cảng, khắp Bắc Kỳ, mà khi đó ông cũng đang là một nhạc sĩ lừng danh với tên gọi “ông Vua Slow – ĐOÀN CHUẨN” không ai không biết tên tuổi. Ngay hôm sau, trên sân khấu Sài Gòn, ca sĩ MỘC LAN đã hát vang “ GỬI GIÓ CHO MÂY NGÀN BAY ” của nhạc sĩ ĐOÀN CHUẨN (1924 – 2001). Chỉ trong một thời gian ngắn bài hát trở nên nổi tiếng với những giai điệu du dương, lời hát êm ái, sâu sắc và lãng mạn. Nhưng cũng từ khi câu chuyện tình nghệ sĩ này “thanh thiên, bạch nhật” thì mái ấm hạnh phúc của gia đình trai tài, gái sắc MỘC LAN – CHÂU KỲ cũng “gửi gió cho mây ngàn bay”. Bởi ít lâu sau nàng đã ngã vào vòng tay của chàng công tử đa tình đất Cảng.
 

XUẤT XỨ BÀI NỖI LÒNG

Phố Khâm Thiên những năm 30 là nơi phức tạp nhất của đất Hà Thành, ở đây tập trung những quán cô đầu, lầu xanh, nhà chứa, thuốc phiện, sòng bài, khu nhà ổ chuột … , tất tần tật các tệ nạn xã hội. Thế nhưng giữa vũng bùn như thế lại mọc lên một đóa sen tinh khiết – Một câu chuyện tình trinh son.

Còn đang học đệ thất (lớp 7 ngày nay), nhưng cậu bé Khánh đã để ý cô bé cạnh nhà. Vì còn quá nhỏ, ngây thơ, nên cả hai chẳng dám cho ai biết họ đang có tình ý. Để gặp nhau nói mấy câu bóng gió, thường thì cô cậu giả vờ vô tình cùng làm những chuyện gì đó ngay bên hàng rào, như phơi quần áo, xách nước giếng, quét sân, rửa bát… đây cũng là dịp hiếm hoi sau giờ học hoặc khi người lớn đi vắng.

Tình yêu non nớt, vụng dại vẫn kéo dài cho tới năm chàng Khánh học đến lớp đệ nhất. Đến kì thi Thành chung (tốt nghiệp phổ thông hiện nay) thì Khánh bị rớt. Biết vì phân tâm do yêu, không lo học, cô bé hàng xóm tránh mặt, không gặp nữa dù hai nhà chỉ cách nhau một hàng rào. Nàng gửi lời nhắn tới Khánh: khi nào thi đậu Thành Chung thì mới thấy nhau. Trong thời gian chàng lo dùi mài kinh sử để thi lại, đột ngột, chỉ trong một đêm gia đình cô gái chuyển gấp lên Thái Nguyên, nơi người cha sẽ tới làm việc. Không được gặp người yêu, Khánh chỉ kịp chuyển tới nàng một chiếc khăn tay. Kì thi ấy Khánh có bằng Thành Chung. Có kết quả, Khánh tức tốc đón xe lên Thái Nguyên. Sau bao tháng chưa nhìn thấy người yêu, sau bao thời gian xa cách, dồn nén nhớ thương, tình yêu của họ giờ mới có dịp nảy nở. Tựa như hạt mầm dưới lớp đất phủ, chỉ chờ đêm mưa đã vội vã vươn lên thành lá non. Chàng dám công khai chuyện tình cảm với gia đình nàng sau khi có việc làm trong ngành điện của thành phố.

Cũng cần nói thêm, thuở ấy, đường từ Hà Nội lên Thái Nguyên không thuận tiện như ngày nay. Xa hơn cả trăm hai chục cây số và phải đi bằng nhiều phương tiện khác nhau: tàu hỏa, ô tô, phà và cả băng rừng, chưa kể những nguy hiểm của cuộc chiến, thú dữ. Gần như mất cả ngày mới tới nơi. Vậy mà mỗi chiều thứ bảy Khánh lại bỏ Khâm Thiên sau lưng, lặn lội suốt đêm, sáng lên gặp nàng và trưa Chủ nhật vượt quãng đường xa về lại Hà Nội. Đều đặn từng tuần như thế. Mỗi lần gặp nhau họ lại xách đàn lên một ngọn đồi trước nhà nàng để hòa nhịp cùng gió trời thổi sáo vi vu trên những ngọn thông. Một lần, do bận công việc nên hai tuần liền chàng không thể đi như đã hẹn. Cuối tuần thứ ba chàng mới khăn gói lên thăm. Tới nhà, một không khí ảm đạm, buồn bã bao phủ. Cha nàng lặng lẽ đưa chàng một chiếc hộp gỗ. Đây là chiếc hộp từng đặt chiếc khăn tay và chàng trao tặng đêm gia đình nàng rời khỏi Hà Nội ngày xưa . Bên trong vẫn còn nguyên chiếc khăn trắng có thêu hình đôi chim bồ câu và một xấp thư mà chàng đã từng gửi trong những ngày không gặp. “Gió Thái Nguyên rét về Yên Thế Đất Thái Nguyên nước độc, rừng thiêng” Sau vài ngày bạo bệnh, nàng đột ngột ra đi. Ôm đàn lên ngọn đồi thông, chàng vật mình vào ngôi mộ người yêu còn thơm mùi đất, chưa kịp mọc cỏ non. Những giây phút lãng mạn hạnh phúc tuột vụt vào quá khứ. Chẳng còn tiếng gió vi vu thổi sáo trên lá, chẳng còn người yêu nghiêng tai nghe đàn. Thay vào đó là ngọn gió đông ào ạt như quất rát xuyên qua lồng ngực đớn đau, chĩa thẳng vào tim. Nước mắt chưa kịp rơi đã bay ngược hư vô. Kỉ niệm cùng nàng tuôn trào theo từng tiếng đàn rời rã “ yêu ai, yêu cả một đời, tình quá khắt khe khiến cho đời ta, đau tủi cả lòng, vì yêu ai mà lòng hằng nhớ …”. Bài hát “Nỗi lòng” đã nghiệt ngã ra đời bên một ngôi mộ mới, trên một đồi thông chất chứa như tiếng khóc ai oán của một cuộc tình chưa chạm tay tới hạnh phúc. “…Lòng vẫn biết nếu yêu rồi một ngày Là đến với đớn đau Nhưng sao trong ta vẫn yêu vẫn nhớ Dù sao, dù sao nếu có một ngày Một ngày gieo trong tim ta Là tình yêu kia ly tan Mà lòng vẫn thương vẫn nhớ…”

Về lại Hà Nội, về lại ngõ nhỏ trong phố Khâm Thiên. Cùng với tác phẩm đầu tay “NỖI LÒNG”, chàng trai trẻ chỉ kịp giãi bày nỗi đớn đau tột cùng của mình trong một tuyệt tình ca nữa “CHIỀU VÀNG”, sau đó ông mãi về cõi xa cùng người yêu ngay tại ngôi nhà nhỏ có hàng rào xưa đầy kỉ niệm. Dẫu là một người viết nhạc không chuyên, chỉ với 2 bài duy nhất trong cuộc đời, nhưng NGUYỄN VĂN KHÁNH vẫn được đặt vào hàng ngũ những nhạc sĩ tài danh của dòng nhạc Tiền chiến.
 

XUẤT XỨ BÀI EM ƠI HÀ NỘI PHỐ

Cứ độ tháng 11, 12 thì trời Sài Gòn dẫu đang là nắng chói chang nhưng trong tôi cồn cào lên nỗi nhớ rét mùa đông. Còn cả ngàn nỗi nhớ cỏn con mà quay quắt như vậy…
Cái se lạnh cuối thu và gió heo may với ly cà phê đen nghi ngút khói trong quán nhỏ sớm mai. Căn phòng chật cùng những ly “quốc lủi »? và những thoáng say với vẻ mặt trầm ngâm của những bạn bè nghệ sĩ nghèo. Nụ hôn lạnh mùa đông, vòng tay bồi hồi ướt giá dưới một tri mưa bụi của những ngày tháng tình yêu còn nồng ấm. Rồi nỗi nhớ về căn nhà tôi đã sống ở Hà Nội qua suốt tuổi ấu thơ mà mùa đông năm 1972 khi những cành bàng trụi lá thì căn nhà ấy, và người bạn thân thiết nhất của tôi cũng vĩnh viễn bị bom B52 dập vùi. Thay vào đó là tượng đài về những người đã chết như một vết sẹo dẫu đã phủ kín rêu xanh mà chẳng bao giờ nguôi rát bỏng mỗi lần tôi nghĩ tới.

Rồi một ngày ngẫu nhiên gặp Phan Vũ trên đường Sài Gòn. Anh đưa tôi một bài thơ thật dài “Em ơi, Hà Nội phố ». Tôi đọc lần đầu tiên mà như đã đọc từ rất lâu, như chính tôi vẫn thường nghĩ thế: “Em ơi, Hà Nội phố ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùi hoa sữa… Ta còn em… Ta còn em… Chiều Hồ Tây lao xao hoài con sóng… Chợt hoàng hôn về từ bao giờ… Đọc xong bài thơ linh cảm mách bảo cho tôi đó sẽ là bài ca mà tôi yêu thích. Tôi tin vào linh cảm ấy và bài thơ dài hàng trăm câu sang bài ca chỉ còn lại vài câu.

Vẫn biết một bài ca có đáng là bao để trả cho món nợ ra đi. Nhưng, bài ca được viết ra tôi đã được giải thoát dù chỉ là phần nào và dẫu ít ỏi tôi cũng đã xây được chút gì cho kỷ niệm (một lần hành hương về dĩ vãng). Một chút gì nhỏ nhoi cho Hà Nội, nơi chứng kiến bao buồn vui của tôi trong suốt nửa cuộc đời.
(Ns. Phú Quang)  
 

XUẤT XỨ BÀI HÀN MẶC TỬ

Đứng từ con đường mới mở chạy ngang sườn núi ven thành phố Quy Nhơn (Bình Định), vào những ngày trời ít sương mù, người ta có thể nhìn thấy những mái nhà của làng phong Quy Hoà lô xô ven biển. Con đường dốc đổ xuống nơi thi sỹ Hàn Mặc Tử sống những ngày cuối đời hơn nửa thế kỷ trước, lượn quanh co, vắng heo hút.

Ông được chôn trong nghĩa địa của làng phong.một nấm đất nhỏ như kích cỡ của hàng trăm ngôi mộ khác, xếp theo dãy thứ tự, nằm lặng lẽ trong muôn vàn cái chết lặng lẽ của người mắc bệnh cùi – vốn không có gia đình, hay nhiều bè bạn khi cuối đời.
Suốt 19 năm Hàn nằm lại trong nghĩa địa làng phong. Theo lời kể của nhiều nhà nghiên cứu về cuộc đời và thơ Hàn, trong thời gian đó, do hoàn cảnh chiến tranh, đường giao thông không thuận lợi và điều kiện khó khăn, nên mãi đến ngày 13.01.1959, gia đình và bạn bè mới cải táng sang địa điểm mới cho người đã chết. Buổi lễ cải táng cho nhà thơ được tiến hành khá đơn giản: chỉ có hai người chị, hai người em, ba người bạn và một vị linh mục tham dự.
Đến năm 1991, nhạc sỹ Trần Thiện Thanh cùng một số nhạc sỹ khác yêu mến tài năng thơ trẻ này đã đóng góp tiền để xây dựng một ngôi mộ – đài tưởng niệm, trên nền mộ cũ của Hàn.

Cảm động vì số phận của một nhà thơ lớn suốt hàng chục năm phải nằm nhỏ nhoi, quạnh quẽ, sau một lần viếng thăm mộ Hàn Mặc Tử, nhạc sỹ đã sáng tác bài hát về Hàn Mặc Tử và đau đáu nuôi ý định: “Nơi một thi sỹ lớn đã sống những ngày cuối đời và nằm cô quạnh suốt hai mươi năm, chẳng lẽ không có một dấu vết gì để nhớ?”.
 

XUẤT XỨ BÀI DIỄM XƯA

Sơn bắt đầu câu chuyện. Hai chị em đều đẹp và quí phái. Tôi theo cô Diễm. Mối tình học trò, có lẽ đơn phương, kéo dài từ khi tôi còn ở Huế cho đến lúc vào Sài Gòn trọ học. Cha mẹ Diễm khó và không thích tôi. Nhưng tôi vẫn cứ đeo đuổi hình bóng của Diễm, bởi Diễm cũng chưa có biểu hiện nào xa lánh tôi và cũng không có lời lẽ cự tuyệt. Năm đó tôi thi trượt Bac II. Diễm đậu và vào Sài Gòn để vào đại học Văn Khoa. Còn tôi thì về lại Huế, bỏ ngang việc học vì gia đình đang lâm cảnh sa sút. Phần buồn, phần tự ái, tôi không còn tìm cách liên lạc với Diễm nữa. Có lẽ vì vậy mà Diễm cũng lơ luôn.

Diễm đâu biết rằng trong thời gian này tôi đau khổ nhất. Tôi đã cố nén mọi khổ đau trong im lặng. Sự khổ đau và nhớ nhung dày vò tôi từng đêm, tôi đã phải viết nên bài « Diễm Xưa » để trút bớt nỗi khổ đau trong lòng. Nhưng có điều lạ là khi tôi viết xong bản nhạc này, tôi lại thấy lòng mình thanh thản, nhẹ nhàng. Tôi cảm thấy vơi đi rất nhiều nỗi nhớ và tình yêu. Trong lòng tôi bấy giờ chỉ còn một chút tình mong manh như sương, như khói. Nó không còn nồng nàn, mãnh liệt như trước kia. Một dịp tôi vào Sài Gòn, tìm đến cư xá nơi Diễm đang nội trú với ý định tặng nàng bản nhạc để làm kỷ niệm một thời tuổi trẻ, rồi thôi. Nhưng không gặp được Diễm. Tôi nhờ mấy cô bạn gái đang đứng ngoài cổng trao lại dùm. Khi tôi quay lưng đi được một quãng thì nghe tiếng Diễm từ trên « ban công » gọi theo:

– Anh Sơn! Anh Sơn! Anh Sơn ơi!

Nhưng tôi không ngoái lại. Tôi cắm đầu đi thẳng. Tiếng gọi tên tôi vẫn còn văng vẳng sau lưng. Từ ấy đến nay, tôi tự nhủ lòng, sẽ không bao giờ tìm gặp lại Diễm nữa.
 

XUẤT XỨ BÀI GỢI GIẤC MƠ XƯA 

Năm 1954, ông quen cô gái có cái tên khá dễ thương: Lê Thu Hiền. Gia đình cô gái này vốn là người Bắc định cư tại Sài Gòn. Tình cảm hai người ngày càng đằm thắm, và ông luôn tin rằng cuộc tình ấy sẽ mang đến những điều như ông hằng mong ước. Bỗng một ngày, cô nói với ông rằng có người đang hỏi cưới cô. Ông liền liều đến nhà cô để gặp người bố và thưa chuyện hai đứa, nào ngờ chẳng ngăn được số phận, thời gian sau cô thật sự đi lấy chồng, lấy anh giám đốc trường dạy lái xe Auto Ecole Mayer.

Đó là thời điểm giáp tết Ất Mùi (1955), ngày cô lên xe hoa, ông ngồi ở quán cà phê cạnh nhà cô, nhìn thấy cô mặc lễ phục cô dâu, ôm bó hoa trắng. Đám cưới ấy to lắm, đoàn rước dâu đi một vòng rồi mới về nhà chú rể. Mỗi vòng bánh xe quay là mỗi lần nghiền nát tim ông. Nỗi buồn, sự đau đớn dâng ngập trong lòng ông. Đoàn xe cưới qua đi, ông bần thần trở về căn gác trên đường Lý Thái Tổ, vùi mình trầm tư và lúc ấy dường như bao nhiêu nỗi đau lại tuôn ra. Bài Gợi giấc mơ xưa được ra đời trong trạng thái đó. Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi… Cả phần nhạc lẫn phần lời chỉ hoàn thành trong vòng khoảng 10 phút!

Ông đưa bài hát này cho ca sĩ Mạnh Phát, và được phát đầu tiên trên đài phát thanh Pháp Á. Bài hát trở nên nổi tiếng, và câu chuyện tình trong bài hát được nhiều người quan tâm. Vì sao ông đang ở Sài Gòn mà bài hát được bắt đầu bằng Ngày mai lênh đênh trên sông Hương? Vì ngay từ cái lúc nhìn người yêu đi lấy chồng, ông đã quyết tâm từ bỏ Sài Gòn để chạy trốn nỗi đau. Ông ra Huế, dù bao nhiêu người ngăn cản. Trong khoảng thời gian này, ông lao vào nhiều mối tình để tìm quên. Ca sĩ có, diễn viên cũng có. Hầu hết đều cảm mến ông từ bài hát Gợi giấc mơ xưa. Nhưng 2 năm sống ở Huế ông đau xót nhận ra một điều rằng, ông chẳng thể nào quên mà ngược lại, càng nhớ nhung nhiều hơn. Mối tình ấy trong ông quá sâu đậm, mỗi con đường, mỗi âm thanh đều gợi cho ông nhớ về ngày xưa Ngày mai lênh đênh trên sông Hương, Theo gió mơ hồ hồn về đâu? Sóng sầu dâng theo bao năm tháng, ngóng về đường lối cũ tìm em! Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi Xa em ! lòng anh muốn nói bao lời gió buông lả lơi. Hình bóng đã quá xa mờ dần theo thời gian. Kiếp sau xin chắp lời thề cùng sống bước lang thang. Em ơi ! tình duyên lỡ làng rồi còn đâu nữa mà chờ, Anh đi lòng vương vấn lời thề nhớ kiếp sau chờ nhau. Tha hương lòng thương nhớ ngày nào cùng tắm nắng vườn đào. Gió xuân sang anh buồn vì vắng bóng người yêu. Rồi mai khi anh xa kinh đô. Em khóc cho tàn một mùa thơ. Nhớ người em nương theo cơn gió. Ru hồn về dĩ vãng mộng mơ. Thương anh thì thương rất nhiều mà ván đã đóng thuyền rồi. Đa đoan trời xanh cắt cánh lìa cành khiến chim lìa đôi Chiều xuống mưa gió tiêu điều reo trên dòng Hương. Tháng năm chưa xóa niềm sầu vì đứt khúc tơ vương. Anh ơi, đời đã lỡ hẹn thề thì đâu có ngày về. Xa anh đời em tắt nụ cười héo hắt đôi làn môi. Đêm đêm đèn le lói một mình ngồi ôm giấc mộng tình. Kiếp sau đôi tim hòa chào đón ánh bình minh. 
 
      XUẤT XỨ BÀI CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI

“Bản nhạc Chiều Mưa Biên Giới được viết vào năm 1956. Khi ấy tôi là trung úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác chiến. Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt.
Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muới sát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu…”

Tuy được phổ biến trong chiến khu Đồng Tháp Mười, nhưng phải đợi đến năm 1960, nhạc phẩm « Chiều Mưa Biên Giới” mới được đài Phát thanh Sài Gòn phổ biến, trong khi nhạc phẩm “Sắc Hoa Mầu Nhớ” sáng tác sau, nhưng lại được phổ biến trước. Sau đó nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới” đã được quái kiệt Trần Văn Trạch cất cao tiếng hát giưa thành phố Paris với một hơp đồng thu thanh Pháp-Việt lần đầu tiên vào hãng đĩa của Pháp. Khi Trần Văn Trạch qua Pháp, ông có nhờ nhiều nhạc sĩ danh tiềng ở Paris như Đan Trường, Nguyễn Thông, vv… giúp về việc dịch thuật từ lời Việt ra lời Pháp để trình bầy bằng cả hai ngôn ngữ. Chiều mưa biên giới anh đi về đâu ? Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu Kìa rừng chiều âm u rét mướt Chờ người về vui trong giá buốt người về bơ vơ Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang Trăng còn khuyết mấy hoa không tàn Cờ về chiều tung bay phất phới Gợi lòng này thương thương nhớ nhớ Bầu trời xanh lơ Đêm đêm chiếc bóng bên trời Vầng trăng xẻ đôi Vẫn in hình bóng một người Xa xôi cánh chim tung trời Một vùng mây nước Cho lòng ai thương nhớ ai Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng người tìm về trong hơi áo ấm Gợi niềm xa xăm Người đi khu chiến thương người hậu phương Thương màu áo gởi ra sa trường Lòng trần còn tơ vương khanh tướng Thì đường trần mưa bay gió cuốn Còn nhiều anh ơi Lòng trần còn tơ vương khanh tướng Thì đường trần mưa bay gió cuốn Còn nhiều anh ơi…
 

XUẤT XỨ BÀI LỜI BUỒN THÁNH

Từ ngày Nguyễn Văn Ba chết, chúng tôi buồn vì thiếu vắng một người bạn, nên không còn hứng thú trong những buổi lang thang nữa.

Những ngày bó gối nằm nhà, Sơn thường ngồi tư lự trước bàn viết duy nhất dành cho cả hai soạn bài, nhìn đăm đắm ra con đường đất đỏ. Mùa này bông lau nở trắng khắp nơi. Lau trắng dọc theo con đường dốc chạy dài từ trong buôn ra tới quốc lộ, băng ngang trước nhà chúng tôi. Buổi chiều, gió nồm thổi nhẹ từng cơn, lướt qua rừng lau, xô chúng ngã nghiêng xuống, rồi chúng bật dậy, tạo thành những âm thanh xào xạc nhè nhẹ, đều đều, buồn buồn. Chiều xuống dần. Những vạt nắng cuối cùng chiếu xiên trên những ngọn bông lau, lấp lánh sáng ngời. Gió lắng dần. Không gian trở nên im ắng, tĩnh mịch. Chợt tiếng kèn đồng xa xa vẳng lại, lúc nghe, lúc mất. Thật hắt hiu buồn. Đó là lúc cô nữ sinh hàng xóm, cô Ngà, đúng giờ đi lễ chiều. Chuông nhà thờ đang vang vang, dồn dập từng hồi, thúc dục con chiên đến giáo đường.

Thật đúng như tên đặt, da cô trắng ngà. Người mãnh mai với mái tóc thề chấm ngang vai, với khuôn mặt phảng phất nhiều nét như Đức mẹ Maria. Rất dịu dàng trong dáng đi. Mỗi buổi chiều cô đi lễ, đều đi ngang nhà chúng tôi. Hai tay ấp quyển Thánh Kinh trước ngực, đầu hơi cuối xuống, lặng lẽ, khoan thai bước. Đã bao lâu rồi? Cái hình ảnh rất đẹp ấy, cái màu áo dài trắng nổi bật trên nền đất đỏ, thấp thoáng ẩn hiện trong đám lau trắng, đã đi ngang nhà chúng tôi bao nhiêu chiều rồi mà chúng tôi không hề hay biết. Thật uổng phí! Chẳng là, cứ ba giờ chiều, chúng tôi đã túc trực quanh mấy cái bàn bi da để dành chỗ rồi chơi cho đến khi tắt điện mới mò về, thì làm sao có thì giờ để biết bên hàng xóm có người đẹp. Cái tên Ngà, mãi về sau, theo dõi, lắng nghe mấy đứa em cô gọi, mới biết.

Với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, Sơn đã thành công khi đưa tất cả những âm thanh mơ hồ của ngàn lau, của tiếng kèn đồng, tiếng chuông nhà thờ cùng dáng yểu điệu của cô Ngà, hòa nhập với gió chiều nhè nhẹ, để cấu thành chất liệu tuyệt vời tạo nên nhạc phẩm Lời Buồn Thánh.
 
       XUẤT XỨ BÀI GÁI XUÂN

Mỗi dịp Tết đến, những giai điệu quen thuộc của bài hát Gái Xuân lại vang lên: « Em như cô gái hãy còn xuận Trong trắng thân chưa lấm bụi trần… »

« Xuân Quý Tỵ (1953), tôi đang học lớp điện tử trong khuôn viên trường Petrus Ký. Lúc ấy tôi 21 tuổi sống xa gia đình, không bạn bè giữa Sài Gòn phồn hoa, đô hội. Buồn, chỉ biết lục sách báo ra đọc. Tình cờ mớ sách gối đầu giường có tập thơ Mây Tần của Nguyễn Bính. Tôi đọc thấy bài Gái Xuân, một bài thơ ngắn (chỉ hai khổ thơ) nhưng lại có hấp lực dẫn dắt tâm trí tôi quay về với cố hương ở Thường Tín (Hà Đông). Hà Đông là quê lụa nên câu Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân như đưa tôi về trong hoài nie^.m…Ro^`i những câu « Lòng Xuân lơ đãng, ý xuân nồng. Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng. Đôi tám xuân đi trên mái tóc. Đêm xuân cô ngủ có buồn khổng. Tài tính nét thơ Nguyễn Bính diễn tả tâm trạng cô gái mới lớn. Tôi cũng là thằng trai 21 tuổi. Thấm nhau lắm anh ạ. Tôi đọc bài thơ dăm lần là đã ngấm, cầm bút giấy viết luôn một mạch ». PV hỏi: Với cây đàn guitar? Ông lắc đầu và nói: Ồ không, giấy bút và solfe’ cho đến lúc bản nhạc hoàn tất, sau đó mới dùng guitar để thẩm âm lại.

Cho đến bây giờ tôi cũng tự thấy mình là kẻ ngoại đạo trong lĩnh vực sáng tác và ca nhạc, nhưng tôi vẫn còn đó một niềm đam mệ Số là năm 1950 tôi theo gia đình vào Sài Gòn, một lần ghé vô tiệm nhạc trên đường Catinat tôi mua được cuốn Lárt de Composition Musicale. Cuốn sách đã cho tôi những căn bản về sáng tác. Tôi viết Gái Xuân trong giai đoạn này. Viết, nhưng bài thơ quá ngắn, tôi mạn phép tác giả (đến nay tôi vẫn chưa từng gặp Nguyễn Bính lần nào), thêm vô hai câu của tôi: « Xuân đi, xuân đến hãy còn xuận Cô gái trông Xuân biết bao lần » để đủ độ dài thích hợp. Viết xong, cũng không nghĩ bài hát sẽ được phổ biến. » Nhạc sĩ Từ Vũ kể tiếp: Dạo đó, tôi quen với ca sĩ Linh Sơn bèn nhờ cô ấy hát nhưng do cô ấy quá bận rộn, chúng tôi không có dịp trao đổi nên ngày ra mắt Gái Xuân, thú thật tôi vẫn chưa ưng ý lắm. Sau đó, tình cờ tôi gặp nữ ca sĩ Tâm Vấn ở Đài phát thanh Sài Gòn, Tâm Vấn trách: Sao anh không tặng tôi bài hát của ạnh Tôi đã chép tặng Tâm Vấn trên một tờ giấy. Sau đó tôi phải theo bố ra Phan Thiết nên cũng chẳng biết Tâm Vấn « xử lý » như thế nào với bài hát của tôi, chỉ thấy bạn bè viết thư ra cho biết Tâm Vấn hát bài Gái Xuân rất hay và hát thường xuyên ở đài phát thạnh Ở Phan Thiết, trong một đêm lang thang ngoài phố, tình cờ tôi nghe Đài Phát thanh Huế phát bài hát này qua tiếng hát của cô Diệu Hượng Tôi không biết Diệu Hương là ai nhưng tiếng hát ấy đã làm tôi đứng tựa cột đèn, ngây ngất, đến bây giờ cảm giác ấy vẫn còn.

Gái xuân (Nguyễn Bính)
Em như cô gái hãy còn xuân, Trong trắng thân chưa lấm bụi trần, Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở. Gái xuân giũ lụa trên sông Vân. Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng. Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng, Đôi tám xuân đi trên mái tóc. Đêm xuân cô ngủ có buồn không? Gái Xuân (Từ Vũ) Em như cô gái hãy còn Xuân Trong trắng thân chưa lấm bụi trần Xuân đến hoa mơ, hoa mận nở Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân Xuân đi, Xuân đến, hãy còn Xuân Cô gái trông Xuân đến bao lần Xuân đến hoa mơ, hoa mận nở Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân Lòng Xuân lơ đãng, má Xuân hồng Cô gái Xuân mơ chuyện vợ chồng Đôi tám Xuân đi trên mái tóc Đêm Xuân cô ngủ có buồn không? Em như cô gái hãy còn Xuân Trong trắng thân chưa lấm bụi trần Xuân đến hoa mơ, hoa mận nở Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân.

 

XUẤT XỨ BÀI ƯỚT MI

Thuở còn trọ học ở Sài Gòn, năm đó tôi mười bảy tuổi -Sơn kể- đêm nào tôi cũng lò dò đến phòng trà ca nhạc để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn. Vì tôi nhỏ tuổi hơn, lại nhiều mặc cảm nghèo và vô danh. Trong khi đó Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước là phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc « Ướt Mi » đầu tiên trong đời.
Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát bục sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán thính giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay gót về hậu trường. Đêm đó tôi nôn nao không ngủ được. Trong lòng nổi dậy biết bao là mộng mơ, thắc mắc. Những câu hỏi cứ hiện ra trong đầu, nhưng tôi không dám trả lời dễ dàng cho mình thỏa mãn. Nhưng câu hỏi cứ trở đi, trở lại trong tôi là: – Liệu nàng có để ý gì đến bản nhạc mà tôi đã thao thức bao đêm để làm nên vì nàng không? Hay nàng chỉ khách sáo cầm hờ rồi vứt bỏ nó ở đâu đó! Vứt đi! Tim tôi đau nhói khi nghĩ đến hai chữ ấy.

Suốt gần một tuần, tôi hồi hộp theo dõi nàng mỗi đêm, đón từng ánh mắt nàng nhìn xuống khán giả thử xem nàng có dừng lại nơi tôi không, để tôi hy vọng. Nhưng không, vẫn như mọi lần. Một cái nhìn chung để gây cảm tình chung. Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho ban nhạc tạm im tiếng cho nàng nói vài lời. – Thưa quí vị! – Nàng bắt đầu nói và tôi hồi hộp chờ đợi.- Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm mới của một nhạc sĩ rất lạ, tặng cho Thúy. Đó là nhạc phẩm « Ướt Mi » của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng rằng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn. Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động. Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc. Tôi thu hết can đảm, bước tới bục, ngước lên và nói: – Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi. Nàng a lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp: – Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không? Tôi luống cuống gật đầu. Lúc ấy tôi sung sướng quá, hạnh phúc quá nên không tìm ra được lời nào để đáp lại. Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng. Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẽm. Căn nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi: tủ lạnh, quạt máy. Mọi vật dụng trong nhà đều sang trọng, đắt tiền. Tối hôm ấy nàng cùng tôi nói đủ thứ chuyện. Tôi không còn nhớ chuyện gì ra chuyện gì. Tôi kể cho nàng nghe hoàn cảnh của tôi từ Huế vào trọ học. Nàng kể cho tôi nghe cuộc đời nàng từ Phan Thiết lớn lên…
(Về Một Quãng Đời Trịnh Công Sơn Nguyễn Thanh Ty)
 

XUẤT XỨ BÀI EM ĐI CHÙA HƯƠNG

Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật « Nam mô cứu khổ quan thế âm Bồ Tát ». Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi. « Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa? ». Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi Chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ.

Cô gái Chùa Hương khi in vào tập Ngày Xưa thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Bài thơ trước đây đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không được phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác đã phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát Hôm qua em đi chùa Hương. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, Hôm qua em đi chùa Hương đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi.

Hôm qua em đi chùa Hương Hoa cỏ còn mờ hơi sương Cùng thầy mẹ em vấn đầu soi gương Nho nhỏ cái đuôi gà cao Em đeo cái dải yếm đào Quần lĩnh áo the mới Tay em cầm chiếc nón quai thao Chân em đi đôi dép cao cao Đò đi qua bốn động Mọi người ngắm nhìn em Thẹn thùng em khẽ nói Tuổi bây giờ mới tròn mười lăm Em còn bé lắm chứ mấy anh kia ơi Giờ đi qua cổng này Mọi người ngắm nhìn em Thẹn thùng em khẽ nói Nam mô a di đà Nam mô a di đà Giờ đi qua cổng này Mọi người ngắm nhìn em Thẹn thùng em khẽ nói Nam mô a di đà Nam mô a di đà Em Đi Chùa Hương Hôm nay đi chùa Hương Hoa cỏ mờ hơi sương Cùng thầy me em dây Em vân đầu soi gương Khăn nhỏ duoi gà cao Lưng đeo giải yê’m dào Quần lĩnh áo the mới Tay cầm nón quai thao Mẹ cười thầy nó trông Chan di doi dep cong Con tôi xinh xinh quá Bao gio co lay chồng Em tuy mơi mươi lăm Mà dã lăm người thăm Nhờ mối mai đưa tiếng Khen tươi như trăng rằm Nhưng em chưa lấy ai Vì thầy bảo người mai Rằng em còn bé lăm Ý đơi người tài trai Em đi cùng vơi me Me em ngồi cáng tre Thầy theo sau cưỡi ngựa That lưng dài đỏ hoe Thầy me ra đi đò Thuyền mâp mênh bên bờ Em nhìn sông nước chảy Đưa cánh buôm lô nhô Mơ xa lại nghĩ gần Đời mây kẻ tri âm Thuyền nan vưa lẹ bươc Em thây môt văn nhân Người đâu thanh la thuong Tướng mao trong phi thường Lưng cao dài trán rộng Hỏi ai nhìn không thuơng Chàng ngồi bên me em Me hỏi chuyện làm quen Thưa Thầy đi Chùa ạ Thuyền đông Giời ôi chen Chàng thưa vâng thuyền đông Rồi ngắm giời mênh mông Xa xa mờ núi biếc Phơn phớt áng mây hồng Giòng sông nước đục lờ Ngâm nga chàng đọc thơ Thầy khen hay , hay quá Em nghe ngồi ngẩn ngơ Thuyền đi bên đục qua Mỗi lúc găp người ta Thẹn thùng em không nói Nam mô a di dà Réo rat suoi đưa quanh Ven bờ ngọn núi xanh Nhip cầu xa nho nhỏ Cảnh dep gần như tranh Sau núi oản ,gà,xoi Bao nhieu la khỉ ngồi Tơi núi con voi phục Có đủ cả đầu đuôi Chùa lâp sau rừng cây Thuyen ta đi mot ngày Len cửa chùa em thấy Hơn môt tram an mày Em đi chàng theo sau Em khong dám đi mau Ngại chàng chê hâp tâp Số gian nan không giàu Thây me dến điện thờ Trầm huong khoi toa mờ Huong nhu là sao lạc Lớp song nguoi lô nhô Chen vào that lam công Thay me em lễ xong Quay ve nha ngang bảo Mai mơi vào chùa trong Chàng hai má đỏ hồng keu voi thàng tiểu đồng Mang túi thơ bầu rươu Mai ta vào chùa trong Dêm hôm ây em mưng Mui trầm huong bay lừng Em năm nghe tiê’ng mõ Rồi chim keu trong rừng Em mơ em yeu đời Mơ nhiều viet thế thôi Kẻo ai mà xem thây nhìn em dên nực cươ`i Em chưa tỉnh giâc nô`ng mây núi dã pha hồng Thây me em sap sửa Vang huong vao chua trong Duong may đá cheo reo Hoa đỏ tím vàng leo Vì thương me quá mêt San sóc chàng di theo Me bảo đuơ`ng còn lâu Cứ vưa di ta cầu Quan Thế âm bồ tat Là tha hồ đi mau Em ư ,em không cầu Nhưng dươ`ng vẫn đi mau Chàng cũng cho như thế Ra ta hợp tâm đầu Khi qua Chùa Giải oan trông thấy bức tuờng ngang Chàng dưa tay lẹ but Thảo bài tho lien hoàn Tấm tăc thầy khen hay Chữ dep nhu rồng bay Bài thơ này em nhơ Nên chả chep vào đây Ôi chua trong đầy rồi Dông tham bong xanh ngoi Gấm thêu trần thạch nhũ Ngọc nhuôm huong tram rơi Mẹ vui mừng hả hê Tăc ! con duong ma ghê Thầy kêu mau lên nhé Chiều hôm nay ta về Em nghe bỗng rụng rời Nhin ai luống nghẹ lời Giờ vui đời co vây thoàng ngay vui qua rô`i Làn gió thổi hay hây Em nghe tà áo bay Em tìm hơi chàng thớ Chàng ơi chàng có hay Đươ`ng day kia lên giời Ta bước tưa vai cươ`i Yêu nhau yêu nhau mãi Đi ta di chàng oi Ngun ngút khói hương vàng say trong giấc mơ màng Em cầu xin Giời Phât Sao cho em lấy chàng Nguyễn Nhược Pháp.
 

XUẤT XỨ BÀI NẮNG CHIỀU

Năm 1950, anh Lê Trọng Nguyễn trở về ẩn náu tại quê nhà. Và năm 1953, anh sáng tác bản “Nắng Chiều”. Trong một cuộc phỏng vấn, Lê Trọng Nguyễn đã nói: « Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy! ».Nắng Chiều ra đời trong một lần hứng tác của Lê Trọng Nguyễn trên cầu Vĩnh Điện khi chiều xuống ở bến sông Thu Bồn. Hiệp Ðịnh Geneva ký kết xong, năm 1954 Lê Trọng Nguyễn ra Huế và Ðà Nẵng làm việc cho cơ sở thương mại ngoài đó. Cũng chính nơi đây, anh có dịp quen và làm bạn cho đến chót cuộc đời nghệ sĩ sáng tác của anh, với những Minh Trang, Dương Thiệu Tước, Kim Tước, Nguyễn Hiền v.v.. Và ca khúc Nắng Chiều được xuất bản trong lúc này. Người thâu tiếng hát đầu tiên bản Nắng Chiều vào dĩa nhựa là ca sĩ Minh Trang. Giữa năm 1955, người em gái duy nhất của anh Lê Trọng Nguyễn là Lê Thị Ba qua đời, anh quá đau buồn và đem bản Nắng Chiều ra ký giao kèo tái bản để có một món tiền tác quyền khiêm nhường đưa về quê cùng mẹ lo liệu cho em gái và chuẩn bị nuôi nấng cháu. Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sĩ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Ki Lo Ha, một ca sĩ người Hoa, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan và Hồng Kông. Nhờ mấy may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại ngoại quốc… Những ngày gần đây, Vũ Trung Hiền, Phạm Anh Dũng và tôi cùng nhau làm việc cho cuốn CD Collection #2. Nảy ra ý định thu được bản Nắng Chiều hát bằng tiếng Nhật, chúng tôi cố gắng vào Net để tìm tung tích bà Midori Satsuki, một người đã nổi danh hơn bốn mươi năm nay và vẫn còn hoạt động trên Ðài Truyền Hình Ðông Kinh. Và kết quả liên lạc được với nơi sản xuất CD ca nhạc bên Nhật nữa. Bà Midori Satsuki trực tiếp gọi phôn nói chuyện với tôi. Và sau đó được sự giúp đỡ của hai anh Ðỗ Thông Minh và Phan Hiên, bà Midori xác nhận vẫn còn nhớ bản Nắng Chiều. Ðối với tôi, Nắng Chiều được hát bằng Hoa ngữ và Nhật ngữ từ 40 năm nay như một kỷ niệm đẹp bền của tình thân hữu văn hóa Á Châu. Nhưng đặc biệt bản Nắng Chiều bằng lời Việt mới có ý nghĩa hơn cả: Nó đã được viết ra từ trên nửa thế kỷ qua mà nay chúng ta nghe lại vẫn thấy sống động, bùi ngùi cảm động. Tôi muốn nói đến nét trẻ trung trường tồn của ca khúc Nắng Chiều trong nền âm nhạc Việt Nam – Á Châu.

Bài hát viết theo điệu Rumba, giai điệu rộn rã phối hợp giữa ngũ cung và thất cung, lời ca đầy hình ảnh, màu sắc, nhưng nội dung phảng phất nét buồn. Phần lời nói lên tâm trạng hoài tiếc của một người khi thăm lại cảnh xưa. Trông thiên nhiên, cảnh vật vẫn hồn hậu sống động, lòng ấy bồi hồi nhớ lại một hình bóng đẹp tươi, nay đã không còn: Qua bến nước xưa lá hoa về chiều lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa …anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh Bản dịch tiếng Hoa về nội dung nhìn chung vẫn giữ ý chính của bài: 我又來到昔日海邊,海風依舊吹皺海面 那樣熟悉那樣依戀,只有舊日人兒不見 (Tôi về thăm lại bến nước xưa, gió biển như năm cũ, thổi lộng vào mặt, bóng dáng cũ vẫn in đậm trong tâm trí tôi, nhưng người xưa thì không thấy nữa Nắng chiều Qua bến nước xưa lá hoa về chiều lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa khi đến cuối thôn chân bước không hồn Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm Má em mầu ngà tóc thề nhẹ bay Nay anh về qua sân nắng chạnh nhớ câu thề tim tái tê chẳng biết bây giờ người em gái duyên ghé về đâu Nay anh về nương dâu úa giọng hát câu hò thôi hết đưa hình bóng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà Gợn buồn nhìn anh em nói em nói: « Mến anh! » Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi…

Bản dịch tiếng Hoa
我又來到昔日海邊 海風依舊吹皺海面 那樣熟悉那樣依戀 只有舊日人兒不見 不該來到昔日海邊 海暇嬌豔湧著海面 那樣熟悉那樣依戀 只有故人離去多年 那往事一慕慕 到我眼前 是夢景還是幻想 令人常懷念 那夢境何日能 回到眼前 你又在我的身邊 無限情纏綿 不該來到昔日海邊 海暇嬌豔湧著海面 那樣熟悉那樣依戀 只有故人離去多年
 
XUẤT XỨ BÀI MỘNG DƯỚI HOA

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã đóng góp nhiều tác phẩm thật đẹp, như những hạt kim cương lóng lánh, vào kho tàng âm nhạc Việt Nam – đây tôi không có tham vọng trình bầy về sự nghiệp sáng tác phong phú và giá trị của ông, mà chỉ xin ghi lại một giai thoại nhỏ đã được chính ông kể trong một lần tôi chở ông trên xe khi đi thăm ca sĩ Hoài Trung đang nằm trong một bệnh viện ở Pasadena vào năm 1990 . Khi tôi hỏi về trường hợp sáng tác bản MỘNG DƯỚI HOA th`i ông cho hay là khoảng năm 1957 gì đó, ông đọc tập thơ Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng, thấy bài Tự Tình Dưới Hoa hay hay, có nhiều hình ảnh đẹp, lời thơ có vẻ cổ điển ước lệ với mỹ nhân, với trăng sao, mây nước, suối rừng, mơ mộng . . . v. v . . . ông bèn âm ư nho nhỏ trong miệng, rồi bật ra thành những nốt nhạc đầu tiên, và ông đã ghi lại trên giấỵ Khi phần nhạc đã hoàn chỉnh thì chỉ có một số lời thơ được giữ nguyên văn, ngoài ra chính ông và thi sĩ Đinh Hùng đã gọt giũa lại rất nhiều . Đến phần điệp khúc, thì cấu trúc của bài nhạc lại thay đổi, không thể dùng 7 chữ được vì chỉ có 6 nốt, nên ông đã yêu cầu Đinh Hùng đặt lời mới cho đoạn đó . Dĩ nhiên công việc này không quá khó khăn với nhà thơ và cũng có phần đóng góp của chính Phạm Đình Chương . Từ đó, 2 đoạn điệp khúc 6 chữ đã được lồng vào giữa bài hát, một cách rất khéo léo, tự nhiên và nhất quán, nghĩa là vẫn giữ được không khí rất lãng mạn và cổ điển của bài thơ.

Trích đọan bài báo: « Một chút giai thoại về bài hát Mộng Dưới Hoa » của Nguyễn Đình Cường đăng trong báo « Văn Nghệ », số 7, 2001 (trang 64-65, Lê Xuân Trường chủ biên). Nguyễn Đình Cường Mộng Dưới Hoa (nhạc Phạm Đình Chương – thơ/lời Đinh Hùng) Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại Âu yếm nhìn tôi không nói năng Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ Mây ngàn gío núi đọng trên mi Áo bay mở khép nghìn tâm sự Hò hẹn lâu rồi em nói đi Nếu bước chân ngàn có mỏi Xin em dựa sát lòng anh Ta đi vào tận rừng xanh Vớt cánh rong vàng bên suối Ôi hoa kề vai, hương ngát mái đầu Đêm nào nghe bước mộng trôi mau Gió ơi gởi gió lời tâm niệm. Và nguyện muôn chiều ta có nhaụ &*& Tôi cùng em, mơ những chốn nào Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao Sánh vai một mái lầu phong nguyệt Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao Hy vọng thơm như má chớm đào Anh chờ em tới hẹn chiêm bao Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng Hoa lệ ân tình môi khát khao Bước khẽ cho lòng nói nhỏ Bao nhiêu mộng ước phù du Ta say thành mộng nghìn thu Núi biếc sông dài ghi nhớ Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề Mây hồng giăng tám ngã sơn khê Bóng hoa ngã xuống bàn tay mộng Và mộng em cười như giấc mơ Tự tình dưới hoa (Thơ Đinh Hùng) Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng: Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại, Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay, Ôi mộng nào hơn giấc mộng nàỷ Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ, Nửa như hoài vọng, nửa như say Em đến như mây, chẳng đợi kỳ Thương hàng gió núi động hàng mi Tâm tư khép mở đôi tà áo, Hò hẹn lâu rồi — Em nói đi Em muốn đôi ta mộng chốn nàỏ Ước nguyền đã có gác trăng sao Chuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý, Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ, Nắng trong hoa, với gió ven hồ Dành riêng em đấỵ Khi tình tự, Ta sẽ đi về những cảnh xưa Rồi buổi u sầu, em với tôi Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời Vai kề một mái thơ phong nguyệt, Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười Suôi Dòng Mộng Ảo Chim hồng về khu rừng cũ, Xuân ấy hai lòng mới yêu . Cùng hoa, bướm trắng sang nhiều, Nắng thơm những chiều tình tự . – Xin em ngồi trên nhung cỏ, Nghe suối ca vui nhịp nhàng. Anh ru cho hồn em ngủ, Bằng điệu ca sang dịu dàng. Chim xanh về khu rừng cũ, Hè tới, hai lòng còn yêu . Cỏ thơm mọc đã cao nhiều, Cành mộng bao nhiêu hoa đỏ! – Nếu bước chân ngà có mỏi, xin em dựa sát lòng anh. Ta đi vào tận rừng xanh, Vớt cánh rong vàng bên suối. Lá đỏ rơi trong rừng cũ, Thu về, hai lòng còn yêu. Đường tình trải một làn rêu, Ngơ ngẩn hồn chiều tư lự. – Em có lên sườn núi biếc, Nhặt cánh hoa mơ gài đầu. Này đôi nai vàng xa nhau, Có tiếng gọi sầu thảm thiết. Chim buồn xa khu rừng cũ, Đồi núi trập trùng cỏ rêu. Hai lòng nay đã thôi yêu, Có tiếng suối chiều nức nở. – Em không nghe mùa thu hết? Em không xem nắng thu tàn? Trời ơi! Giọt lệ này tan, Là lúc linh hồn anh chết!
 

XUẤT XỨ BÀI CÁT BỤI

Vào một buổi chiều ngày tháng không còn nhớ, tôi một mình đến rạp Casino xem phim.” Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm” tập 6 . Đây là bộ phim nhiều tập, đã xem tập này thì không thể không chờ xem tập khác. Nói chung là tập nào cũng hấp dẫn. Trong 6 tập có đoạn hiệp sĩ mù xuất kiếm giải cứu cho một nàng Kiều xinh đẹp. Cứ mỗi tuyệt chiêu xuất ra là nghe có một tiếng nói bình giả ca ngợi. Đường kiếm như có thêm sức mạnh mỗi lúc một uyển chuyển huy hoàng hơn. Sau khi cứu được nàng Kiều, hiệp sĩ mù quay về phía tiếng nói vái tay chào hỏi., Hoá ra bên vệ đường dưới gốc cây to có một người mù khác đang ngồi xếp bàn, trên hai chân có cây đàn bọc trong bao vải gác ngang.Người nghệ sĩ mù có nhã ý chơi một bản đàn tặng hiệp sĩ mù. Hai người bèn kéo nhau vào một khu rừng gần đấy. Hình như rừng vào thu nên các cành đều trơ lá, chỉ thấy một đám lá vàng đỏ trải dài trên mặt đất. Hai người ngồi tựa vào hai gốc cây đối diện nhau. Tiếng đàn cất lên như một lời than thở ngậm ngùi về đất trời, về kiếp người. Tiếng đàn nửa chừng bỗng đứt giây. Người nghệ sĩ mù nói : có kẻ bất thiện dang nghe lén. Quả đúng như vậy, có một tên gian đang rình rập hiệp sĩ mù. Thế là hai người lặng lẽ chia tay.
Hết phim, tôi tản bộ ngang trên đường phố. Không hiểu sao cái đoạn phim ngắn ngủi ấy khiến tôi buồn buồn. Chiều tôi về nhà, sau khi ăn, tôi ngồi đọc lại cuốn “ Zorba le Grec”. Đến đoạn Zorba than thở : “ Chim đa đa ơi thôi đừng hót nữa, tiếng hót mày làm tan nát tim ta”, tôi bỗng gập sách lại và không đọc nữa. Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi.Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lập đi lập lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ. Đến khi về nhà ghi lại thì bài hát đã gần như hoàn chỉnh. Sáng hôm sau mang hát cho một số bạn bè nghe, hầu như ai cũng thích.
Đó là câu chuyện sự ra đời của bài “ Cát bụi”
Mỗi bài hát đều bắt nguồn từ một duyên cớ nào đó. Có khi từ một câu chuyện không đâu.
Bây giờ thì người hiệp sĩ mù kia đã chết rồi. Khoảng hai năm nay.
Người viết Zorba đã qua đời dĩ nhiên con chim đa đa kia cũng đã chết. Và nếu Zorba là một con người có thật được Nikos Kazantzakits tỉểu thuyết hoá thì nay ông cũng mất rồi.
“ Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…”

Thời gian đã nghiền nát tất cả thành cát bụi hết rồi…

Trịnh Công Sơn
Tạp chí thế giới Âm nhạc , số 1- 1998

XUẤT XỨ BÀI CHUYỆN TÌNH MỘNG THƯỜNG

Câu chuyện về Thiếu úy Hoàng Châu và cô giáo Mộng Thường yêu nhau được ba năm mà gần nhau chỉ ngắn ngủi trong những ngày phép vội vàng của người lính chiến. Lúc đó Mộng Thường dậy học ở một trường thủ đô, còn Hoàng Châu nơi bốn vùng chiến thuật quen dấu giầy. Chiến chinh, cách xa là chiếc lăng kính lọc trong mầu thủy chung cho mối tình lứa đôi. Dấu phấn trắng, mầu bảng đen học trò, không cản được tâm hồn cô giáo Mộng Thường thả rong ra ngoài lớp học, để tưởng tượng người yêu đang dầm sương giãi nắng giữa làn tên mũi đạn. Hình ảnh khói thuốc súng, giao thông hào, những đêm nhìn hỏa châu rơi, không làm cho Hoàng Châu tránh được bồi hồi vọng tưởng đến người yêu ở phương trời xa thẳm. Tình yêu của hai người chỉ được nấu chín từ những giấc mộng êm đềm nửa đêm về sáng hay nằm gối tay trên mơ giữa thực tế nghìn trùng xa cách. Những cánh thư đi về. Những hẹn hò sum hợp với màu hồng pháo cưới vẫn là hoài vọng chân tình của đôi lứa. Một đám hỏi đơn sơ, bình dị như cuộc sống chân sình, tay phấn của trai tiền tuyến, gái hậu phương trong những ngày phép vội vã. Chàng trai gió sương hẹn cô giáo mùa Xuân năm tới sẽ đốt pháo rước dâu. Sau ngày vui đám hỏi, Hoàng Châu trở ra mặt trận, vùng địa cầu giới tuyến. Lúc đó mức độ tàn khốc của chiến trường càng ngày càng gia tăng mãnh liệt. Hoàng Châu hiên ngang dũng cảm chiến đấu bất chấp mọi hiểm nguy, chàng được thượng cấp báo tin khen thưởng thăng cấp “Trung uý” tại mặt trận. Tin vui về với Mộng Thường, nàng càng hãnh diện với người chồng sắp cưới anh hùng, đến nỗi ngẩn ngơ trong một chiều dậy học. Đám học trò sững sờ thấy cô giáo dễ thương để rơi viên phấn trắng vỡ đôi trên nền gạch thanh bình. Và để chia sẻ niềm hân hoan với hôn phu, nàng sắp xếp giờ dậy, xin phép đến mặt trận để dự lễ thăng cấp của Hoàng Châu. Và trên chuyến xe đò định mệnh, chưa kịp tới với người yêu, một quả mìn ác độc do giặc giăng cài, nổ tung, cắt đứt đành đoạn tình đôi lứa. Đứt ruột, đau đớn trước bi thảm kịch này, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh kể thành nhạc khúc “Tình Thiên Thu”.
 

XUẤT XỨ BÀI THÓI ĐỜI

Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,”bèo dạt hoa trôi”…Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.Tôi nghĩ ra được một cách..là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ…Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng…thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta..thế là mình lấy 1 đồng về….như là tiền thế chân…Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm…

Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi ,tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “thằng cha đi tiểu vỉa hè”, thế rồi cũng phải nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn …Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết sau này..
 
    XUẤT XỨ BÀI ẢO ẢNH

 Sau hai năm lập gia đình, ở một buổi trình tấu nhạc nơi đài phát thanh Saigon vừa tan, khoảng năm 1965, (lúc bấy giờ Y Vân là nhạc trưởng của một ban nhạc lớn: ban nhạc Y Vân, cùng với Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương làm nền trình diễn) trên đường về, Y Vân được một chú bé « Stop » xe anh lại và mời vào một quán café bên đường. Nơi này có một thiếu nữ nhan sắc đang ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu người thiếu nữ này tên Huyền – sinh viên ban Việt Hán đại học Văn Khoa Saigon.

Huyền có đôi mắt buồn não nề, trên bâu áo có chít một mảnh tang đen. Y Vân cố moi lại trong ký ức một thân quen nào đó từ người thiếu nữ đối với anh, nhưng vẫn không tìm ra một liên hệ nào. Bằng xã giao bình thường, người Nhạc Trưởng bèn buông lời chia buồn một cách bâng quơ, vịn vào cớ mảnh tang đen đính trên áo người thiếu nữ. Huyền cười thảm não: « Em đâu có ai là người thân quen qua đời, mảnh tang này là dành cho mối tình em đó ». Sau lời minh biện như vậy, Y Vân bị đưa vào thế ngượng ngùng. Anh đã manh nha về một bí ẩn nào đó, thôi thúc người thiếu nữ này muốn diện kiến anh. Nhưng nỗi sầu man mác ẩn chứa trên khuôn mặt gấm hoa ấy, khiến cho Y Vân ái ngại không dám hỏi thăm thêm. Chàng viện cớ bận rộn và xin cáo từ. Trước khi từ giã Huyền và chú bé, Y Vân xin địa chỉ hai người để còn dịp gặp lại lần khác.

Hai ngày sau đó, Y Vân tìm đến nhà Huyền trong một khu nghèo nàn có chiếc cầu cao vắt ngang ao rau muống đường Trương Minh Giảng. Lòng rối bởi một chuyện không đâu, người nhạc sĩ Y Vân bỏ những bước chầm chậm, đếm mòn ưu tư gập ghềnh theo nhịp gỗ. Sau tiếng gõ cửa đầu tiên, Y Vân được chú bé em Huyền ra mở cửa. Căn nhà vách gỗ đơn sơ cũng đìu hiu như chủ, giống như bốn câu thơ của Lưu Khâm: « Nhà vắng tơ giăng sầu cõi nhện Chiếu khăn nằm lạnh lẻ loi tình Êm đềm mà nghe con nước vỗ Đàn ai vừa đứt một giây trầm. » Huyền không có mặt ở nhà. Cậu bé kể: « Chúng tôi là con một ông Hội Đồng ở tỉnh Long An. Hai chị em được gia đình gởi lên Saigon trọ học. Chị Huyền yêu anh không biết từ lúc nào, cho nên sách vở biếng lười. Trong tập vở học trò, chỉ chép toàn nhạc anh – thay vì tiền gia đình gửi lên cung cấp cho chị hoàn tất ban cử nhân Văn Khoa, chị Huyền phung phí vào một lớp học nhạc Tây Ban Cầm cho đến khi chị đàn được, suốt ngày chỉ đệm và hát nhạc anh. Hát một mình đơn lẻ. Mấy năm liên tục, chị không đậu thêm được một chứng chỉ nào. Ba mẹ nhiều lần từ tỉnh lên thăm, thấy con gái tiều tụy, biếng ăn lười học, nên đã đưa hai chị em trở về quê nhà cấm cố, và bắt ép gả chồng cho chị – một sĩ quan hải quân, hình như người ấy có tên là L.T.Đ, ông ấy đẹp trai, có chức phận, con nhà giàu, nhưng chị Huyền vẫn một mực chối từ. Bẽ mặt với phía đàng trai mà không hiểu được tấm lòng người con gái đã gửi trọn về mối tình anh. Ba mẹ buông lời từ đứa con không vâng lời ấy. Chị Huyền chặt dạ ôm ấp mối tình ảo ảnh của anh, nên trốn bỏ gia đình trở lại Saigon, nơi mà chị đã dại khờ mở cửa con tim tuổi thanh xuân yêu một chiều người nhạc sĩ Y Vân. Chị một mình tìm kế mưu sinh để chờ dịp gặp anh, hy vọng hai con tim cùng hòa nhịp. Đến khi biết rõ ra anh đã có vợ, chị Huyền đớn đau như chiếc cây gục ngã giữa bão tình. Kể từ đó, chị chít tang đen trên bâu áo. Giã từ người yêu không tưởng, chôn chết nỗi si mê dại khờ. Tội nghiệp chị Huyền, tưởng với mảnh vải đen có thể làm nhát dao chặt đứt mối tơ tưởng tình yêu. Nhưng không, tình chết trên mảnh vải sô, mà lại sống hoài nơi lòng chị ấy. Chị muốn gặp anh để nói điều này. Và chị đã không dám nói, làm con ốc mượn hồn, yêu thương chôn chặt mối hận tình… » Nghe đến đây, Y Vân gục đầu xuống bàn. Anh nào có biết oan nghiệt ấy đã đến từ anh cho người con gái yêu thương không dám nói. Anh ra về như chạy. Hình như có bóng ai đang rượt đuổi đòi hỏi một ân tình. Nhạc phẩm « Ảo Ảnh » ra đời sau buổi ra về với trọn đêm thức trắng. Trí tưởng tượng của anh đi trên niềm hối hận. Ảo ảnh cuộc đời, ảo ảnh tình yêu đã có thực nơi những tâm hồn lãng mạn: Yêu mặn nồng, đắng cay, tha thiết. Gió ở trên non, gió cuốn mây trôi, cho dù bầu trời vẫn xanh thờ ơ không mảy may hay biết: Yêu cho biết bao đêm dài Cho quen với nồng cay Yêu cho thấy bao lâu dài Chỉ còn vài trang giấy Giòng mực xanh còn đấy Hứa cho nhiều dù bao lời nói Đã phai tàn thành mây thành khói Cũng xem như không mà thôi Những ân tình em đong bằng nước mắt Khóc cho đầy hai chữ tình yêu Phấn hương nồng anh xem tựa tấm áo Đã thay màu ân ái từ lâu Những neo thuyền yêu thương dễ đứt Khiến bao chiều trên bến tịch liêu Vắng con tàu sân ga thường héo hắt Thiếu anh lòng em thấy quạnh hiu Xưa đêm vắng đưa nhau về Nay đơn bóng đường khuya Khi vui thấy trăng không mờ Lòng buồn nên trăng úa Kìa phồn hoa còn đó Những con đường buồn vui lộng gió Những ân tình chìm trong lòng phố Cũng theo hư không mà đi…

Ý NGHĨA BÀI MÙA THU CHẾT CỦA PHẠM DUY
Trích hồi ký “Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975” cùa Nguyễn Việt – MTSG
Khi NNS nói đến bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire, nhắc đến Hoa Thạch Thảo không ai không nhớ đến nhạc phẩm “Mùa Thu Chết” của nhạc sĩ Phạm Duy.

Và khi nói đến nền tân nhạc miền Nam nếu không nói về Phạm Duy quả thiếu sót, không phải Phạm Duy thuộc hàng cổ thụ, có quá trình sáng tác dồi dào từ dân ca, nhạc trẻ, trữ tình lãng mạn, nhạc lá cải cho đến nhạc được đặt hàng theo yêu cầu, chỉ thiếu một thứ Phạm Duy chưa soạn thứ nhạc quảng cáo dùng cho băng vệ sinh, thuốc tăng lực như các nhạc sĩ có tên tại Sài Gòn hiện nay vẫn làm.

Trước ngày 30/4, Phạm Duy thường cho rằng ông là niềm vinh dự của chính phủ lúc bấy giờ, vì chính Phạm Duy từng nói : “… chính phủ phải sử dụng đến tôi, nếu ở Hà Nội có Văn Cao thì ở Sài Gòn chỉ có Phạm Duy để tạo thế cân bằng văn nghệ giữa hai miền, thuộc ngón đòn tâm lý chiến chính phủ cần sử dụng”.

Có lẽ vì vậy sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đỗ, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương lúc này do tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch, giao Phạm Duy cho bộ Công Dân Vụ do Nguyễn Tôn Hoàn chủ đạo; sử dụng Phạm Duy trong chiến dịch “Bình Định Nông Thôn” làm chiêu bài thu hút thành phần SVHS tham gia, một chiến dịch không phải đi cất nhà, làm đường cho dân quê mà để mật vụ đặc nhiệm lùng sục bắt bớ du kích Việt Cộng nằm vùng. Chiến dịch được Mỹ tài trợ, Phạm Duy đưa SVHS đi vào vùng sâu vùng xa hát cho dân quê nghe những bài như “Giọt mưa trên lá” mới sáng tác không lâu v.v…

Hay từ năm Mậu Thân trở đi Mặt trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) công cụ của Bắc Việt đang bành trướng, Phạm Duy liền có bài “Mùa Thu Chết” để đánh đòn tâm lý chiến với các chiến binh cộng sản chính quy cũng như du kích địa phương.

Thật ra Phạm Duy phổ bài “Mùa Thu Chết” theo một thi ca trữ tình lãng mạn của Pháp. Nhưng lúc phổ biến nhạc phẩm ra công chúng, lại vào rơi vào khoảng không gian khi Hà Nội và MTGPMN hô hào kỷ niệm cuộc Cách Mạng tháng 8 còn gọi Cách Mạng Mùa Thu.

Vậy ý nghĩa “Mùa Thu Chết” là gì ? Phải chăng nên hiểu, Cách Mạng Mùa Thu sẽ không tồn tại, mà không tồn tại có nghĩa miền Bắc sẽ không còn Cộng Sản, vì đã vào tay người miền Nam (?), bởi lúc này tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ đang hô hào Bắc tiến. Để rồi có một Bạch Tuyết và một Thẩm Thúy Hằng ngồi tại một tiền đồn heo hút trên đầu đội nón sắt lính VNCH mang hàng chữ “hãy bỏ bom Bắc Việt”, được in chần dần trên tờ Time và Newsweek dạo đó ai cũng thấy.

Phạm Duy tiếp tục ca tụng một Phạm Phú Quốc rớt máy bay chết tại một cây cầu miền Bắc với bài “Huyền thoại ca một người mang tên Quốc” hay bài “Kỷ vật cho em” ca tụng những người lính đã bỏ mình vì nước.

Nguyễn Cao Kỳ ưu ái đến Phạm Duy qua chiến dịch “Bình định nông thôn” hay những nhạc phẩm Phạm Duy ca ngợi người lính VNCH và cho cả ông ta.

Sau khi Đài Truyền Hình số 9 được Mỹ xây dựng lên vài năm (hình thành sau ngày Ngô Đình Diệm bị lật đỗ), Phạm Duy từ bên Công Dân Vụ được cắt cử về trông phần văn nghệ của đài.

Từ khi Phạm Duy về làm ở Đài truyền hình số 9, nhiều “đại gia văn nghệ” tranh nhau miếng đất màu mở này để kiếm tiền, không phải tiền “chương trình” được đài chi trả – vì thù lao chẳng có là bao, một show ca nhạc 45 phút được trả tối đa 20.000đ bấy giờ (khi vàng 24K mới hơn 30.000đ/lượng), bao gồm chi phí cảnh trí, ca sĩ, nhạc phẩm, nhạc công và các tạp vụ khác. Tính chi li mỗi nhạc phẩm được ca sĩ trình diễn, bình quân chỉ có 2.000đ, trong khi bầu show phải trả thực tế tiền cát-xê cho ca sĩ như Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy từ 5.000 đến 10.000đ/bài, trung bình như Giao Linh, Phương Hồng Quế từ 3.000 đến 5.000đ/bài, tức nếu có một chương trình trên Đài số 9, ông bà bầu show đều chịu lỗ (một show ca nhạc 45 phút thường gồm 9 đến 10 ca khúc) nhưng các ông bà bầu show vẫn làm và làm càng xuất sắc, lý do mỗi khi họ có chương trình trên truyền hình thì họ sẽ có tất cả : tiền quảng cáo nhạc phẩm do nhạc sĩ sáng tác hay các nhà xuất bản porter bỏ ra chi phí, đôi khi chi cả tiền “poa” cho caméraman để có góc cạnh đẹp; Còn bầu show được tiếng có chương trình hay, lò nhạc hay đại nhạc hội, phòng trà khiêu vũ trường của họ được nổi tiếng là cách gián tiếp tiếp thị quảng cáo rất có trọng lượng, riêng các nhạc sĩ hay nhà xuất bản nhạc những người bỏ tiền chi phí cho màn trình diễn của ca sĩ cũng hốt bạc do poster bán rất chạy. Và chính Phạm Duy thuộc loại “ngư ông đắc lợi”, ngoài việc bầu show có nghĩa vụ “điếu đóm” lại được chính quyền khen ngợi là một thiên tài văn nghệ.

Đài TH số 9 thời Phạm Duy là như thế, các ông bà bầu show người có khả năng nghề nghiệp, người chỉ là dân i-tờ trong làng văn nghệ, đúng là bát nháo ! Nhưng Phạm Duy lại hãnh diện bởi công việc của mình, và để góp thêm phần bát nháo, Phạm Duy sáng tác những bài hát như Sức mấy mà buồn, Bỏ qua đi Tám mà ông gọi là “Tục Ca” hay nhạc vĩa hè, nhạc cái bang.

Giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ có nhận xét, Phạm Duy đã đánh mất cái tôi của mình, hiện thân một người xu thế, nhạc sĩ của mọi thời, một người có vòng quay 180 độ. Khi Tạ Tỵ viết về Phạm Duy trong cuốn “Phạm Duy còn đó nổi buồn” tuy không lên án và có phần bênh vực cho một người đang bị xã hội chê cười, vẫn đánh giá “Phạm Duy hôm nay không còn là Phạm Duy ngày xưa nữa !”

Ở trào ông Diệm, Phạm Duy cùng với các xếp Trần Kim Tuyến, Nguyễn Tôn Hoàn phát động phong trào Bình Định Nông Thôn với áo bà ba đen, vỗ ngực là người của 9 năm kháng chiến chống Pháp để mà mị những người dân ruộng đồng chất phát luôn sùng bái những ngày đánh Pháp, ở chiến dịch này Phạm Duy có các bài hát “Ngày trở về”, “Giọt mưa trên lá”, qua thời Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh do phong trào SVHS đang cuồng nộ với chế độ quân sự, Phạm Duy đưa ra những bản nhạc Du ca để đánh bóng tên tuổi khi những Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên làm mưa làm gió về tình ca, được sự yêu chuộng của giới trẻ các nơi. Phạm Duy viết những nhạc phẩm như Kỷ vật cho em, Người tình không chân dung, Huyền sử ca một người mang tên Quốc, Mùa thu chết (hình thức nhạc tâm lý chiến), Phượng yêu, Tóc mai sợi vắn sợi dài (loại nhạc tình ca)… để tranh thủ cảm tình tầng lớp người trẻ đã đánh mất và lấy lòng chánh quyền.

Đến đời Nguyễn văn Thiệu, Phạm Duy không còn làm ở Đài số 9, liền nhảy sang cộng tác với nhóm Văn Hóa Mỹ của đài phát thanh Tiếng nói Tự Do, làm cố vấn các chương trình chiến tranh tâm lý.

Phạm Duy còn là “thợ sáng tác” theo đơn đặt hàng của các nhà xuất bản hay các hãng băng nhạc, vì chỉ trong vòng vài ngày Phạm Duy có ngay tác phẩm theo yêu cầu. Tôi có nghe nhà phát hành Minh Phát lúc đó – nằm ở góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực bây giờ – nói nhạc Việt hóa tức nhạc ngoại quốc lời Việt đang thịnh hành nên có đặt Phạm Duy phổ lời cho cả chục bài để xuất bản, tôi nói sáng tác như vậy lấy gì là hay, ý tứ đâu mà chỉ trong vài ngày là xong cả chục bài hát ? Ông Minh Phát cười trả lời, chỉ cần cái tên trên bản nhạc là hốt bạc rồi, cần gì lời ca !? Do mình nhái tên Phạm Duy không được đành phải mua cái tên với giá 100.000đ một bài, nhiều khi Phạm Duy còn để cho con cái phổ nhạc không chừng – con Phạm Duy – Thái Hằng là Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo ban The Dream’s còn con dâu là Julie Quang.

Con người Phạm Duy cũng rất trần tục, nhớ lại những năm đầu di cư vào Nam 1954; báo Sàigòn Mới của bà Bút Trà đã làm rùm cái chuyện “Phạm Duy ăn chè Nhà Bè”, một scandal của làng tân nhạc thời bấy giờ, báo Sàigòn Mới kể rằng : Phạm Duy trốn vợ để dẫn cô em vợ Khánh Ngọc xuống tận Nhà Bè hú hí, nhưng trời bất dung nhan Thái Hằng biết được đánh ghen um sùm, các báo lúc đó như SàiGòn Mới, Tiếng Chuông, Dân Chúng thi nhau khai thác, khiến Phạm Duy phải cầu cứu với Bộ Thông Tin yêu cầu các báo ngưng loạt bài đó.

Vào năm 1972 hay 73 gì đó, Phạm Duy được mời tham dự cuộc thi Nhạc Pop tại Nhật, cùng Ngọc Chánh, Thanh Lan mang chuông đi đánh xứ người với hai nhạc phẩm “Tuổi biết buồn” và “Bao giờ biết tương tư. Chuyện đáng nói trong chuyến đi dự thi, ban tổ chức cuộc thi không biết điều khiển phần hòa âm phối khí bài Tuổi biết buồn như thế nào, còn bài Bao giờ biết tương tư chỉ mang tính biểu diễn. Vì rằng phần hòa âm phối khí của Phạm Duy quá lỗi thời đến chục năm so với tiến bộ của thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng. Hòa âm bài “Tuổi biết buồn” của Phạm Duy chỉ sử dụng chừng mười nhạc khí, còn hòa âm tại cuộc thi nhạc Pop là cả dàn đại hợp xướng, sử dụng hàng mấy chục nhạc khí.

Thanh Lan khi trở về đã mô tả, họ phải hòa âm lại hết và chỉ cho cô ca thử một lần khi tổng dượt, nên không thể nào hát hay được, lại thêm khi trình diễn với sân khấu quay 4 chiều càng làm ca sĩ bị khớp, nên kết quả bài “Tuổi biết buồn” đứng cuối bảng xếp hạng, còn Phạm Duy chẳng cần chuyện có thứ hạng hay không, vì thời đó mốt xuất ngoại để hưởng thụ đang thịnh hành, mỗi khi được ra nước ngoài nếu không là du học sinh thì phải thuộc tầng lớp ông nghị trở lên với mác đi công vụ… Phạm Duy là thế !

 

                                                       
                           
                   

                                             
                                                  
                                             
  

Virus-free. www.avast.com


Bạn nhận được thư này vì bạn đã đăng ký vào nhóm Google Groups « NHOM NHAN ANH TAN VAN ».
Để hủy đăng ký khỏi nhóm này và ngừng nhận email từ nhóm, hãy gửi email đến nhom-nhan-anh-tan-van+unsubscribe@googlegroups.com.
Để đăng lên nhóm này, hãy gửi email đến nhom-nhan-anh-tan-van@googlegroups.com.
Hãy truy cập nhóm này tại https://groups.google.com/group/nhom-nhan-anh-tan-van.
Để xem cuộc thảo luận này trên web, hãy truy cập https://groups.google.com/d/msgid/nhom-nhan-anh-tan-van/MWHPR2001MB1838DEB236CF7A8B2BCDDCB5A5BC0%40MWHPR2001MB1838.namprd20.prod.outlook.com.
Để có thêm tùy chọn, hãy truy cập https://groups.google.com/d/optout.

PHÓNG SỰ CỘNG ĐỒNG: Đại hội âm nhạc truyền thống Việt Nam lần thứ 4 tại Paris

PHÓNG SỰ CỘNG ĐỒNG: Đại hội âm nhạc truyền thống Việt Nam lần thứ 4 tại Paris

Published on Jul 26, 2017

Trong nỗ lực bảo toàn và phát triển nền văn hoá âm nhạc dân tộc tại hải ngoại, Giáo sư Kim Uyên tại Canada đã khởi xướng ý tưởng tổ chức Đại Hội Âm Nhạc Truyền Thống Việt Nam để tập hợp các giáo sư âm nhạc và học viên khắp nơi trên thế giới. Đại hội lần thứ 4 được tổ chức tại Pháp quốc từ ngày 20 đến 22 tháng 7 vừa qua. Xin quý vị theo dõi phóng sự được tường trình từ Paris.

Mời quý vị ghé thăm trang nhà của SBTN tại địa chỉ: WWW.SBTN.TV

Quý vị khán giả ở Hoa Kỳ muốn xem các chương trình ở SBTN xin gọi ngay DirecTV tại số 1 (800) 531-5000 hoặc các hãng cable địa phương để bắt đài.

Quý vị khán giả ở Úc Châu, xin liên lạc số 0401365264.

Quý vị khán giả ở ngoài Hoa Kỳ và Úc, xin hãy download SBTN APP tại trang http://www.sbtnapp.com

PHAN ANH DŨNG biên soạn: TƯỞNG NIỆM NHẠC SĨ VŨ ĐỨC NGHIÊM (1930-2017)

TUỞNG NIỆM NHẠC SĨ VŨ ĐỨC NGHIÊM (1930-2017) – Biên soạn: Phan Anh Dũng PDF Print E-mail

 *** TRANG TƯỞNG NIỆM NHẠC SĨ VŨ ĐỨC NGHIÊM VẪN TIẾP TỤC ĐƯỢC BỔ TÚC VỚI TÀI LIỆU NHẬN ĐƯỢC KHẮP NƠI ***

 

Trân trọng kính báo tin bào huynh của chúng tôi là:

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm  (Khoá 1 Sĩ quan Trừ bị Nam Định) vừa an nghỉ trong nước Chúa sáng nay 24 tháng 7 năm 2017, nhẹ nhàng trong giấc ngủ bên cạnh vợ và các con tại San Jose, hưởng thọ 87 tuổi.
 
Các chi tiết sẽ thông báo sau.
 
Vũ ngọc Bích

Thưa quý Hội Thánh, Bà Vũ Bạch Cúc và Ông Vũ Ngọc An,

Vừa được tin Ông Vũ Đức Nghiêm là Bào Huynh của Cô Vũ Becky Bạch Cúc và Ông Vũ Ngọc An đã về nước Chúa sáng nay tại San Jose.
Thay cho toàn thể con dân Chúa trong Hội Thánh Tin Lành Garden Grove (CA), tôi kính gửi thành kính phân ưu đến Bà Vũ Bạch Cúc, Ông Vũ Ngọc An và toàn thể đại gia đình Họ Vũ, đặc biệt Bà Quả Phụ Vũ Đức Nghiêm và tang quyến trước sự ra đi của Ông.
 
Chúng ta cảm tạ Chúa về cuộc đời của Ông Vũ Đức Nghiêm. Gia đình mất đi một người Ông, Cha, Anh; Hội Thánh của Chúa mất đi một tin hữu kính yêu Chúa và dâng hiến tài năng âm nhạc Chúa ban cho để phục vụ Hội Thánh, mang lại nguồn cảm hứng và khích lệ đức tin cho bao cuộc đời.
 
Cầu xin Chúa Thánh Linh hiện diện trong tang lễ, an ủi và nâng đỡ Cụ Bà và mỗi người trong tang quyến trong giờ phút ly biệt và cùng trông đợi trùng phùng trong nước vinh hiển của Ngài.
Kính xin Hội Thánh tiếp tục cầu nguyện cho Bà QP Vũ Đức Nghiêm, Ông Vũ Ngọc An, Cô Vũ Bạch Cúc và toàn thể tang quyến trong những ngày sắp đến.
 
Khi tôi nhận được tin tức gì thêm về tang lễ sẽ kính chuyển đến với quý Hội Thánh.
 

Nha Trong Tran, Lead Pastor

For to this you have been called because Christ also suffered for you leaving you an example, so that you might follow in his steps (I Peter 2:21)

Cảm ơn Mục sư Nhạ và Hội Thánh

Khi nhận được tin Anh tôi về với Chúa sáng sớm nay, tôi khá bình tĩnh.

Nhưng những kỷ niệm, những hình ảnh, những nhắc nhở… thì các giọt nước mắt thi nhau tuôn tràn.

Xin tiếp tục cầu nguyện để những người thân yêu được Chúa an ủi, được Ngài nâng đỡ và dậy dỗ để biết yêu Chúa hơn và hết lòng sống cho đẹp lòng Chúa chúng ta.

Kính thư,

Vũ Bạch Cúc

                                         Tiểu Sử

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh ngày 30-6-1930 tại làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Ông qua đời ngày 24-7-2017 tại tỉnh San Jose, tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Là con thứ trong một gia đình tin kính Chúa, ông đã say mê âm nhạc từ thuở nhỏ, và bắt đầu sáng tác ca khúc vào năm 17 tuổi. Năm 1951 ông gia nhập quân ngũ, học Khóa 1 trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định. Cấp bậc cuối cùng là Trung Tá, Huấn Luyện Viên Tiếp Vận, Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Đà Lạt-Long Bình. Sau 1975, ông bị bắt đi các trại tập trung của Cộng Sản suốt 13 năm. Cuối năm 1990, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm và gia đình sang Hoa Kỳ theo diện H.O., và cư ngụ tại San Jose, California.

Với hằng trăm ca khúc viết suốt hành trình theo Chúa, Vũ Đức Nghiêm đã trở thành một trong những nhạc sĩ Cơ Đốc được biết đến nhiều nhất qua những ca khúc như: Khi tôi quỳ nơi chân Chúa, Tôi ước mơ là viên than hồng, Vững bước đi trên khổ đau… Bài Gọi Người Yêu Dấu trước 1975 là một trong những nhạc phẩm được phổ biến rộng rãi và thính giả yêu mến. Ngoài những CD như Dâng Tình, Đóa Hồng Cho Người Yêu Dấu đã thực hiện sau khi Ông định cư ở Hoa Kỳ, trong những năm gần đây nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đã thực hiện các CD Tôn Vinh Ca và 2 CD: Mùa Xuân Thung Lũng Hoa Vàng và Dòng Sông Đứng Lại (cộng tác với nhạc sĩ Phạm Anh Dũng). Năm 2002, Ông được bà Elaine Alquist, dân biểu tỉnh Santa Clara, tiểu bang California, tuyên dương và trao giải thưởng đặc biệt. Giải này dành cho những nghệ sĩ cao niên đã phục vụ nghệ thuật trên 50 năm, đã tạo thành tích ở Việt Nam và tiếp tục sau khi định cư ở Hoa Kỳ.

Theo tác giả, dòng nhạc Vũ Đức Nghiêm có thể được chia làm bốn thể loại, tương ứng với bốn giai đoạn khác nhau:

1. Quân hành ca: Viết lúc còn trẻ, thời kỳ sống trong quân đội.
2. Tình ca: Viết ở lứa tuổi trưởng thành.
3. Ngục tù ca: Viết trong thời gian 13 năm ở các trại tù tập trung của Cộng Sản.
4. Tôn vinh ca: Viết từ giai đoạn sau đó cho đến nay
.

 

Phan Anh Dũng, Vũ An Thanh, Phạm Dương Hiển, Nathalie Monges, Tâm Hảo, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Thái Phượng, ÔB Vũ Đức Nghiêm, Trương Anh Thụy, Nguyễn Huy Long (2011)

Khóa 1 Nam Định: B. Trương Anh Thụy, ÔB Nguyễn Văn Thành, B. Trần Quốc Khang, Ô. Nguyễn Huy Long, Ô. Phan Duy Du, Ô. Vũ Đức Nghiêm, Ô. Trần Quốc Khang, B. Vũ Đức Nghiêm, Ô. Hoàng Song Liêm *, Ô. Nguyễn Duy Hinh,  Ô. Hoàng Ngọc Lung

Hàng trước: Nathalie Monges, Trần Đại Bản, Dương Nguyệt Ánh, Ô Vũ Đức Nghiêm, Võ Thành Nhân, B. Vũ Đức Nghiêm, Ngọc Quỳnh, Tâm Hảo, B Nguyễn Văn Lân, Ngọc Thanh, Vũ An Thanh, Thu Hiền
Hàng sau: Phạm Hùng, Phạm Minh Xuân, Thái Ninh, Nguyễn Văn Lân , Phan Anh Dũng, Đặng Hữu Thọ, Ngô Minh Trí, Hoàng Cung Fa, Phạm Dương Hiển, Vũ Trung Hiền

                                     Phân Ưu từ khắp nơi

Quỳnh-Giao con,

 
Cảm ơn con cho cô biết tin.  Cô cầu-xin Chúa an-ủi Mẹ và các con: Quỳnh-Giao-Dũng-Duyên-Thơ-Trinh-Tuấn.
Xin Chúa lo cho Lễ Tang của Bố được mọi sự tốt lành… 
 
Bây giờ cô báo tin cho các bạn của cô, những người biết và quý-mến Bố mà cô có đia-chỉ email của họ.    
 
Vĩnh-Phúc

Vô cùng thương tiếc Nhạc Sĩ Vũ Đức Nghiêm.
 
Cầu nguyện linh hồn Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm hưởng Nhan Chúa nơi đất Thánh.
Mời quý vị thưởng thức ca khúc « Bài thơ Nhớ » do Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm phổ nhạc từ bài thơ của Sóng Việt Đàm Giang:
            MP3   Bản nhạc (PDF)
 

Đàm Giang Nguyễn (Sóng Việt Đàm Giang)

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm vừa qua đời hôm qua 24 tháng 7-2017 tại San José, hưởng thọ 87 tuổi. Tôi có may mắn quen nhiều với ông trong khi vợ chồng tôi sống ở San José. 
 
Tôi hát bài Gọi Người Yêu Dấu của ông để tưởng niệm người nhạc sĩ khả ái mà tôi quý mến.
 
– Gọi Người Yêu Dấu (Vũ Đức Nghiêm): https://www.youtube.com/watch?v=RP-l2IVBVuo
 PHẠM NGỌC LÂN (FRANCE)

 Kính gởi các anh chị…

Em xin chia buồn cùng các anh chị về sự ra đi của bác VŨ ĐỨC NGHIÊM.
Cầu xin Chúa gìn giữ và an ủi từng anh chị, và cùng đại gia đình họ VŨ.
Mong bác được an nghỉ đời đời bên Chúa.


Nhớ bác, em nhớ những bài Thánh ca bác sáng tác khi đi “cải tạo”, tới dạo gần đây.
Mới tháng trước ba em còn gặp, đi ăn phở vui vẻ với bác, vậy mà bác đi nhanh quá.

Minh Thanh

XIN THÀNH KÍNH CHIA BUỒN VỚI BÀ QUẢ PHỤ VŨ ĐỨC NGHIÊM CÙNG TOÀN THỂ TANG QUYẾN.

CẦU MONG LINH HỒN ÔNG SỚM VỀ NƯỚC CHÚA NƠI THIÊN ĐÀNG.

RẤT THƯƠNG NHỚ MỘT NGƯỜI ANH VĂN NGHỆ LỊCH SỰ, HIỀN HÒA, KHIÊM TỐN VÀ CÓ TRÍ NHỚ PHI THƯỜNG (ÔNG CHO BIẾT ĐÓ LÀ NHỜ CÁCH LUYỆN TẬP CHO NHỚ DAI KHI Ở TRONG TÙ VÌ KHÔNG CÓ GIẤY BÚT).

VỢ CHỒNG CHÚNG TÔI KHÔNG THỂ QUÊN NHỮNG KỶ NIỆM ĐẸP KHI GIÚP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH « VŨ ĐỨC NGHIÊM, NỬA THẾ KỶ VIẾT CA KHÚC » NĂM 2011, HỌP MẶT TẠI TƯ GIA Ở RICHMOND VÀO CUỐI MÙA THU VÀ HÀN HUYÊN THÂN TÌNH NHIỀU LẦN MỖI KHI CHÚNG TÔI GHÉ THĂM SAN JOSE.

NHẠC SĨ VŨ ĐỨC NGHIÊM ĐÃ RA ĐI NHƯNG DÒNG NHẠC CỦA ÔNG VẪN SỐNG MÃI VÀ SẼ CẤT CÁNH BAY CAO VÀ XA HƠN VỚI SỰ TIẾP TAY PHỔ BIẾN CỦA QUÝ VỊ YÊU NHẠC.

PHAN ANH DŨNG & TÂM HẢO
RICMOND, VIRGINIA 

 

Phan Anh Dũng & Tâm Hảo và ÔB Vũ Đức Nghiêm – 2011

Phan Anh Dũng, Tâm Hảo, Vũ Đức Nghiêm, Hoàng Tiếp, Thái Phượng, Brother Ruyệt, Thế Linh, Vũ Trung Hiền – Richmond, Virginia 2011

 

MỘT SỐ VIDEO VỚI NS VŨ ĐỨC NGHIÊM TRONG NHỮNG NĂM  GẦN ĐÂY:

Đêm Thánh Nhạc Ngợi Khen Thiên Chúa qua các ca khúc của Nhạc Sĩ Vũ Đức Nghiêm – June 4, 2017

THI THIÊN 90Ca Đoàn Tin Lành Sống Tin Hy Vọng

CHỪNG NÀO TÔI CÒN SỐNGCa Đoàn Tin Lành Sống Tin Hy Vọng

VỮNG BƯỚC ĐI TRÊN KHỔ ĐAUKim Hồng & Mục sư Khắc Phước

TÔI ƯỚC MƠ LÀM VIÊN THAN HỒNGTrâm Anh, Ngọc Diễm, Phương Oanh, Phượng Dung, Hồng Bửu, Giao Duyên

KHI TÔI QUỲ BÊN CHÂN CHÚATiếng hát: Quý Dự

ĐÊM KỲ DIỆUTiếng hát: Huyền Thanh

PHỎNG VẤN ÔNG BÀ VŨ ĐỨC NGHIÊM2016 – Tin Le thực hiện

SINH NHẬT NS VŨ ĐỨC NGHIÊM 83 TUỔI2013 – Mạc Phương Đình thực hiện

 
  ĐÊM ĐÔNG XƯANhạc: Vũ Đức Nghiêm – Hòa âm: Vũ Tôn Bình – Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi trình bày – 2013
 MỘT SỐ PHỎNG VẤN – THỰC HIỆN NĂM 2011 KHI NS VŨ ĐỨC NGHIÊM GHÉ THĂM VÙNG HOA THỊNH ĐỐN

                               

    Phỏng vấn NS Vũ Đức Nghiêm (youtube) – « Phỏng Vấn & Tìm Hiểu » – Bùi Dương Liêm & Bé Bảy

                        

          PV Kiều Thu phỏng vấn NS Vũ Đức Nghiêm (youtube):   phần 1   phần 2     phần 3

        Viết về Vũ Đức Nghiêm –  Anh Hoa-Hoa Văn Ngô Văn Hòa

Năm 1960 tôi thuyên chuyển về SĐ 22 Bộ Binh tại Kontum. Vũ Đức Nghiêm là người viết bản nhạc SĐ 22 hành khúc. Năm 1962 tôi đổi về Bộ Tư Lệnh QK II tại Pleiku, thường gặp Vũ Đức Nghiêm tại Câu Lạc Bộ, vì hàng ngày chúng tôi ăn cơm tại Câu Lạc Bộ và ở tại Câu Lạc Bộ. Thời gian này chúng tôi thường tâm sự với nhau. Nghiêm học khoá 1 SQTB, tôi khoá 4 phụ cũng SQTB. Thời còn là Sĩ quan trẻ nên chúng tôi hay nói chuyện vu vơ nhất là chuyện mấy em gái. Bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu của Vũ Đức Nghiêm sáng tác được lấy từ cảm xúc cuả mối tình đẹp này, và người đẹp từ SàiGòn lên ĐàLạt. Năm 1979, chúng tôi cùng bị đưa ra tù tại tỉnh Yên Bái ngoài Bắc. Tôi và Diên Nghị cùng trại 8, còn Vũ Đức Nghiêm trại khác cũng thuộc LĐ7 Việt cộng. Có một hôm, tôi và Diên Nghị phải gánh lúa từ trại 8 lên nộp cho trại Chỉ huy VC, chúng tôi đang đi thì nghe có người đọc thơ tôi. Bài thơ đó là:

BUỔI ĐẦU

Phấn hương còn lại buổi đầu
Lắng nghe thành quách dựng sầu thiên thu
Giấc chiêm bao giấc hư phù
Thôi em ngần ấy cũng vừa mắt trông
Nhìn nhau lòng xót xa lòng
Tuổi thơ dại hỏi đã từng náu nương
Bom rơi súng giục sa trường
Hồn rưng rức mộng đêm cuồng loạn rơi
Đau thương tàn phế cuộc đời
Nửa trời hi vọng nửa trời tha ma
Thương em tuổi mộng da ngà
Mùa Xuân chớm hẹn nửa tà áo bay
Em đi nắng lụn mưa dày
Tình đơn độc chở tháng ngày cô liêu.

(Bài thơ này tôi viết khoảng đầu thập niên 60. Lúc gặp nhau trong tù, Nghiêm chỉ đọc 8 câu thôi, còn bây giờ tôi ghi lại toàn bài thơ tình đầy đủ)

À thì ra chàng nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đọc thơ tôi. Sở dĩ Nghiêm thuộc thơ tôi vì hai chúng tôi thường kể cho nhau nghe những chuyện tình vụn vặt mà bài thơ này lại rất hợp với hoàn cảnh của Vũ Đức Nghiêm. Hoàn cảnh của tôi cũng vậy.

Vũ Đức Nghiêm có phổ cho tôi một bản nhạc từ lâu lắm, đó là bài thơ MƯA CAO NGUYÊN tôi viết khi mới thuyên chuyển về Pleiku.

Hôm nay nhắc lại chuyện xưa để nhớ người bạn thân của tôi mới chia tay vĩnh viễn với bằng hữu, Vũ Đức Nghiêm, một người bạn tâm giao mà tôi rất qúy mến. Cầu nguyện cho Bạn về nước Chúa an lạc đời đời.

Anh Hoa-Hoa Văn Ngô Văn Hòa
Richmond, ngày 25/7/2017

                                Vũ đức Nghiêm, kẻ ở người đi
                     Giao Chỉ San Jose – Nguồn: https://vietbao.com/ – 25/07/2017

Chuyện mấy ông già chúng tôi, quanh đi quẩn lại toàn là chuyện xưa  và sau cùng là chung sự. Mới đọc được bài ông Huy Phuơng viết về tuổi lên Tám… chục. Rất thú vị. Biết được chuyện vua  tổ chức mừng thọ 4 chục. Chưa được bao lâu thì ngài băng hà. Cuối tuần nay chúng tôi lại được mời tham dự tiệc mừng tuổi thọ của ông chủ tiệm phở Hiền Vương. Ông lên chức 90. Được coi là đại thọ. Nhờ đọc tiểu sử nên được biết bạn Hiền một thời nổi tiếng phở gà từ Sài Gòn đến San Jose nguyên là chiến binh từ lực luợng đăc biệt mà chuyển qua nhẩy dù. Ở San Jose chúng ta có đô đốc Trần văn Chơn đã qua tuổi 90 từ nhiều năm và đang tiến dần đến con số 100. Thượng thọ. Hồ sơ bảo hiểm nhân thọ Hoa Kỳ hiện nay chấp nhận còn số hưởng thọ cao nhất là 121 tuổi. Thực tế chưa thấy ai sống đến tuổi thượng thừa như thế. Bạn thân Vũ Đức Nghiêm của chúng tôi vừa ra đi ở tuổi 87. Tin tức ở miền Nam do người em Vũ Ngọc Bích loan báo. Ở miền Bắc do cô con gái Vũ Thơ Trinh báo tin. Dù mới ra đi nhưng tang gia đã kịp thời thông báo chi tiết về tang lễ. Sẽ quàn tại nghĩa trang Oak Hill, khu Oak Chapel, San Jose. Lễ cất đám thứ Bẩy ngày 5 tháng 8-2017 Giờ thăm viếng: 9 am đến 12 pm.

Gia đình đã có chuẩn bị cả tinh thần lẫn vật chất. Tháng trước có một chương trình văn nghệ vinh danh người nhạc sĩ của tình ca và cả thánh ca. Năm nay, cơ quan IRCC chúng tôi sẽ tổ chức tưởng nhớ ngày Quốc Hận, Geneve chia đôi đất nước cũng vào trưa thứ bẩy 5 tháng 8-2017 tại Santa Clara County, San Jose. Trong số các bạn Bắc Kỳ Di Cư ban tổ chức đã mong có ông Nguyễn Công Luận và ông Vũ Đức Nghiêm tham dự. Cả hai người đều là những nhân chứng của cuộc di tản từ các chiến trường miền Bắc về Hà Nội, Hải Phòng và đi vào Nam cùng đồng ca bài Ghé bến Sài Gòn. Ông Luận còn trẻ nhưng về sau vào Nam cũng nhập ngũ. Phần ông Nghiêm xuất thân khóa 1 trừ bị đã đi theo đơn vị vào Nam. Ông Luận qua đời tại San Jose mấy tháng trước. Bây giờ đến lượt ông Nghiêm. Tuy cùng họ Vũ nhưng bác Nghiêm với chúng tôi không phải họ hàng trực hệ. Ngay từ khi còn ở Việt Nam, tôi chỉ biết bạn qua bản nhạc não nùng Gọi người yêu dấu. Bài này quả thức xuất sắc. Nhiều ca sĩ trình diễn và các nhạc si cùng ca ngợi. Chính nhạc sĩ tác giả cũng không có bài nào khác so sánh được. Để tưởng niệm người ra đi, kẻ ở lại chúng tôi xin nhắc vài kỷ niệm đáng nhớ. Khi cơ quan IRCC và Vivo lên DC hội họp tranh đấu cho tù chính trị vào cuối thập niên 80 thì bác Nghiêm vẫn còn trong tù cùng bác Lê Đình Vọng. Khi các ông được tự do HO qua Mỹ thì hai cơ quan chúng tôi thành lập tổ chức yểm trợ và định cư HO đầu tiên tại CA. Với một số ngân khoản khiêm nhường chúng tôi tổ chức trung tâm với một ông chánh, một ông phó và cô thư ký. Các bạn có biết ai là người đủ điều kiện nhận trách nhiệm không. Chánh sở là trung tá Vũ Đức Nghiêm. Ông phó là trung tá Lê Đình Vọng kiêm công tác tìm việc cho các bạn tù. Hai ông làm việc rất hữu hiệu và đạt được kết quả tốt đẹp trong nhiều năm. San Jose là nơi đầu tiên tổ chức đại hội HO với các giới chức thẩm quyền từ thủ đô về tham dự. Sau này bác Lê Đình Vọng cũng là người đầu tiên phát động phong trào huynh đệ chi binh giúp cho thương phế binh và quả phụ tại Việt Nam.

                                       NS Vũ Đức Nghiêm – tháng 6, 2017

Sau cùng bác Vọng ra đi bất ngờ hơn 15 năm trước. Bây giờ đến bác Nghiêm. Dù bạn Vũ Đức Nghiêm đã đau bệnh già từ nhiều tháng qua, ai cũng biết sẽ có ngày sau cùng sẽ đến nhưng trong nghĩa tử sinh với tình chiến hữu, anh em cao niên chúng tôi thương tiếc bạn mà cũng thương thân mình. Xin nhắc lại chuyện xưa để lưu tình vĩnh cửu.Lúc còn sinh tiền bác Nghiêm luôn luôn điện thoại khích lệ chúng tôi và cháu Phạm Phú Nam trong công tác sinh hoạt văn hóa Dân Sinh. Mấy năm trước IRCC tổ chức chương trình văn nghệ « Tình khúc cho em » có danh ca Ý Lan trình diễn. Ban tổ chức muốn giới thiệu và vinh danh nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm đã thu xếp để Ý Lan hát song ca với cô con gái. Thoạt đầu Ý Lan rất ngần ngại nhưng nể lời bác Lộc đã đồng ý. Ai ngờ màn này hết sức thành công vì đôi song ca Ý Lan & Vũ Thơ Trinh xuất sắc và nhạc sĩ có dịp lên sân khấu cảm động không nói nên lời. Hôm nay, ngàn thu vĩnh biệt chúng tôi xin đại diện cho IRCC, Dân Sinh Media và Việt Museum chia buồn cùng tang quyến. Cầu nguyện cho bác Nghiêm sớm về nơi vĩnh cửu.

Xin các bạn vào youtube tìm bản Gọi người yêu dấu do Khánh Ly hát qua tác phẩm nhiếp ảnh của Vũ Công Hiển (VCH) để cùng tưởng niệm người nghệ sĩ tài hoa và hết sức hiền lành của miền Bắc Cali.

Liên lạc tang gia: Vũ Thơ Trinh số 408-608-7916 hoặc email là vuthotrinh@yahoo.com

Giao Chỉ Vũ Văn Lộc San Jose

          Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm – thong dong tuổi 84

Tôi ghé thăm nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, tác giả của bài hát nổi tiếng Gọi Người Yêu Dấu. Năm nay ông đã 84 tuổi, sinh năm 1930 tại tỉnh Nam Định và qua bao nhiêu thăng trầm, cuối đời ông định cư ở thành phố San Jose, California . Nhờ trời sức khỏe vẫn còn tốt, giọng nói vẫn còn sang sảng và văn chương như những lời ca trong các nhạc phẩm của ông.

Trung tá Vũ Đức Nghiêm sau tháng 4/1975 bị tù Cộng sản 13 năm và sang Hoa Kỳ theo diện HO vào cuối thập niên 90 ở Thung lũng hoa vàng từ đó cho đến nay. Tôi hỏi về nguồn cảm hứng nào để ông viết nên ca khúc dễ thương Gọi Người Yêu Dấu. Ông trầm ngâm kể lại mối tình nồng nàn mấy tháng với một cô gái và cả hai chia tay trong nước mắt; lúc đó ông đã có vợ con. Ông gọi đó là mối tình “ngọai hôn” và cuối cùng người nhạc sĩ đa tình vẫn phải trở về với bổn phận một người chồng, người cha. Ông cũng nói thêm rằng có một MC đã thuật lại chi tiết mối tình này và tô vẽ thêm cho lâm ly trên băng hình ca nhạc và người tình năm cũ đã gọi phôn trách móc tại sao ông lại kể chi tiết cho người ta biết để rồi phổ biến khắp nơi.

Tâm lý của người đời là thích nghe những tình sử trong các ca khúc. Tác giả có người muốn kể hết tâm sự, đôi khi vẽ vời thêm; nhưng cũng có người ngại ngùng vì còn có vợ bên cạnh và cũng ngại cho đối tượng cũng vướng víu chồng con. Nhưng có cuộc tình lãng mạn thì mới có nguồn cảm hứng để cho ra đời những bản tình ca làm đẹp cho cuộc sống, cho những kẻ đang yêu nhau hát cho nhau nghe.

Bài hát Gọi Người Yêu Dấu ra đời tháng 11 năm 1969, lúc vừa chia tay; nhạc sĩ ngồi bên bờ hồ Xuân Hương viết và ca sĩ Thanh Lan lên Đà Lạt chơi gặp Vũ Đức Nghiêm hỏi có viết ca khúc nào mới và ông đưa bản này. Tháng 1 năm 1970, tíếng hát Thanh Lan lần đầu tiên giới thiệu bài tình ca ướt át này trên đài truyền hình Sài Gòn, được thính giả ưa thích. Bài hát điệu Boston, ¾ chậm buồn, lời ca chải chuốt và da diết : “ Gọi người yêu dấu bao lần, nhẹ nhàng như gió thì thầm, làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi, thương người xa xôi… Thương đôi mắt sao trời lung linh, thương yêu ngón tay ngà xinh xinh, thương yêu dáng vai gầy thanh thanh, thương yêu vòng tay ghì siết ân tình… Gọi người yêu dấu xa vời, mà lòng lưu luyến bồi hồi, ngày biệt ly đành nhớ nhau thôi, khi chiều nhẹ rơi.

Bài tình ca đầu tiên của Vũ Đức Nghiêm vịết vào năm 1947 lúc ông 17 tuổi có tên là Bến May; chữ May ở đây là gió heo may. Và ông cũng viết một vài bản tình ca tặng cho vị hôn thê tuổi đôi mươi, kém ông một tuổi và cũng là người vợ gắn bó tới hôm nay.

Trong thời gian ở tù Cộng sản, ông sáng tác bản Đóa Hồng Cho Người Yêu Dấu (Ái Vân hát) tặng cho nguời vợ của ông đã hết lòng thăm nuôi ông và chăm sóc con cái. Bài Muôn Trùng Xa Em Về tả cảnh ông nhìn người vợ từ giã trại tù giam ông để về nhà có những câu cảm động : “ Gượng cười bên nhau phút cuối, nghẹn ngào bâng khuâng tiếc nuối, dáng em đường dài đơn côi, vai gầy chiếc bóng lẻ loi. Muôn trùng xa em về, bụi mờ vương theo bước chân đi…”

Tuy thương vợ nhưng tính lãng mạn vẫn có trong người nhạc sĩ và Vũ Đức Nghiêm cũng động lòng trước một vài bóng dáng yêu kiều.

Bản Trong Ngục Tù Bao La ông sáng tác năm 1970 khi quen biết một người con gái và cô này đi lấy một người cô không yêu làm chồng. Tác giả tưởng tượng ra cô gái ấy ở trong một ngục tù bao la và sống cô đơn như một cung nữ bị đày đọa trong lãnh cung. Lời ca như sau:

“Ta thấy em âm thầm sống đọa đày. Nơi lãnh cung xạc xào gió heo may. Ta thấy em môi hồng mắt mê say. Mái tóc xanh phai tàn với cỏ cây… Ôi mắt xưa u hòai. Ôi mắt xưa vời vợi. Ta thấy em lạc lòai lê bước chân miệt mài. Ta thấy em như thiên thần sa ngã. Em có vui trong ngục tù bao la.

Bản Trong Ngục Tù Bao La đã được hát một cách say mê trong giới trẻ của Sài Gòn sau tháng 4 năm 1975. Họ đồn rằng đây là một bài hát của Liên Xô hoặc của các nước Đông Âu thuộc phe xã hội chủ nghĩa. Với lời ca tả người em bị đọa đày nơi lãnh cung của vua chúa và có vẻ như chỉ trích chế độ phong kiến. Trong khỏang hai ba năm từ khi Việt Cộng chiếm Miền Nam, họ cấm đóan tất cả các bài hát của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chỉ hát tòan nhạc đỏ. Cho nên có được một bản tình ca ướt át như Trong Ngục Tù Bao La thì giống như đang ăn cơm độn thì có được một bát cơm trắng. Hôm nay mới biết ra rằng ca khúc đó là của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm và bài hát trở thành một kỷ niệm cho những dân nghe nhạc đã từng sống ở Việt Nam khỏang thời gian từ 4/1975 cho đến 1978.

Sự nghiệp sáng tác của Vũ Đức Nghiêm có thêm những bài hát tôn vinh Chúa khi ông ở trong các trại tù Cộng Sản suốt 13 năm như trại Long Giao, trại Suối Máu (Tân Hiệp), trại Yên Bái Hoàng Liên Sơn, trại Văn Bàn Lào Cai, trại Xuân Phước.

Những bài như Khi Tôi Quỳ Bên Chân Chúa: “Khi tôi quỳ bên chân Chúa, hồn bay thánh thóat về chốn cao vời. Dâng lên Ngài lòng tan vỡ, nghẹn ngào cay đắng lầm lỡ trong đời…

Bài Lời Nguyện Chiều: “Khi nắng mong manh phai nhạt dần, dãy núi xa mờ sương ngân tiếng chuông chiều buông. Mây xám theo nhau bay về ngàn, đêm tối tăm tràn lan, bóng đêm sâu dần xuống. Nghe gió reo trong tim dạt dào, xin Chúa trên trời cao nghe tiếng con nguyện cầu…

Bài Ngài Đến Bên Tôi Giữa Muôn Khổ Đau có câu: “Nhiều lúc trong gian truân, tôi tưởng rằng Chúa đã bỏ tôi. Nhìều lúc tôi bơ vơ, trong xà lim nhạt nhòa bóng tối. Ngài đến bên tôi giữa muôn khổ đau, lời nói êm êm “ Con đừng lo, ta dìu con, hãy vững lòng bước đi bình an”.

Thời còn trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, Vũ Đức Nghiêm viết mấy bản hành khúc như Sư Đòan 3 Dã Chiến Hành Khúc, Sư Đòan 22 Bộ Binh Hành Khúc, Sư Đòan 23 Bộ Binh Hành Khúc.

Sang Hoa Kỳ, ông thực hiện một vài CD như Đóa Hồng Cho Người Yêu Dấu và các bài ngợi ca Thiên Chúa.

Nhạc sĩ , Trung tá Việt Nam Cộng Hòa, ở tù Việt Cộng 13 năm từ 1975 đến 1988, Vũ Đức Nghiêm đã trải qua những thăng trầm cuộc đời. Ông bùi ngùi nói rằng nhìn lại thì chỉ là một thóang chiêm bao. Tuy nói vậy nhưng người nhạc sĩ vẫn canh cánh trong lòng một vài ca khúc và đang nhờ một vài ca sĩ phổ biến. Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ, đã yêu âm nhạc thì vẫn mang nỗi đam mê đó suốt đời.

Tôi chụp ông bức hình, ông bảo không cần phải sửa soạn quần áo, cứ để tự nhiên vì đã là một ông lão 84 tuổi. Ông rất vui vì có bạn văn nghệ tới thăm hỏi. Người bạn đời của ông vẫn khỏe mạnh và tỏ vẻ gắn bó như đã từng mấy chục năm nay. Tác giả của Gọi Người Yêu Dấu, Trong Ngục Tù Bao La và những bài ca tôn vinh Chúa thiết tha thiêng liêng vẫn còn yêu đời, có lẽ lòng yêu nghệ thuật làm con người quên tuổi tác.

Trần Chí Phúc – 9/2014

MỜI XEM CÁC TRANG VỀ NHẠC SĨ VŨ ĐỨC NGHIÊM DO PHAN ANH DŨNG THỰC HIỆN Ở WEBSITE CỎ THƠM:

                                            

Trang Nhà Liên Kết Liên Lạc Tạp Chí Cỏ Thơm Liên Lạc Website
   Copyright © 2007 Cỏ Thơm

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_frontpage&Itemid=28

NHẠC SĨ VŨ ĐỨC NGHIÊM từ trần ngày 24 tháng 7, 2017 tại San José,California,Hoa Kỳ


Tin Buon Vu Duc Nghiem <<< click link

Image may contain: text and natureImage may contain: 1 person, sunglasses and suit
“Chúng tôi vô cùng xúc động nhận được tin buồn:
“Niên trưởng VŨ ĐỨC NGHIÊM, nhạc sĩ, nguyên giảng viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội QLVNCH, vừa từ trần sáng nay, 24/07/2017, tại San Jose, California.
“Xin thông báo để toàn thể anh em Trường Sinh Ngữ Quân Đội cùng góp lời cầu nguyện và chia buồn cùng tang quyến.
“Nghi thức tang lễ sẽ được thông báo sau.
“Trân trọng.
                                                                      ***
Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sinh ngày 30/6/1930 tại làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Là con thứ trong một gia đình, ông đă say mê âm nhạc từ thuở nhỏ, và bắt đầu sáng tác ca khúc vào năm 17 tuổi. Năm 1951 ông gia nhập quân ngũ, học Khóa 1 trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định. Cấp bậc cuối cùng là Trung Tá.
Dòng nhạc Vũ Đức Nghiêm có thể được chia làm bốn thể loại, tương ứng với bốn giai đoạn khác nhau:
1. Quân hành ca: Viết lúc còn trẻ, thời kỳ sống trong quân đội.
2. Tình ca: Viết ở lứa tuổi trưởng thành.
3. Ngục tù ca: Viết trong thời gian 13 năm ở các trại tù tập trung của Cộng Sản.
4. Tôn vinh ca: Viết từ giai đoạn sau đó cho đến nay.
Nổi tiếng nhất là bài “Gọi người yêu dấu”, Vũ Đức Nghiêm tâm sự:
« Tôi viết Gọi Người Yêu Dấu vào năm 1969 trong một cuộc phiêu lưu tình cảm. Khi viết xong, ca sĩ Thanh Lan ghé nhà chơi. Tôi đưa cho cô và may mắn Thanh Lan đã đem về hát ở Đài Truyền Hình và các Đài Phát Thanh. Từ đó nhạc phẩm đuợc giới trẻ biết đến. Tôi rất nhớ ơn Thanh Lan đã chắp cánh cho “Gọi Người Yêu Dấu” của tôi đuợc bay xa và bay cao. Lời 1 là hoàn toàn của tôi viết năm 1969. Sau đó thi sĩ Hoàng Anh Tuấn có viết lời 2. Khi ở tù, tôi cũng viết thêm lời 2. Ra tù, tôi kết hợp lời của tôi và của Hoàng Anh Tuấn. Tóm lại, lời 2 gồm 3 phần, phần A và C là của tôi , phần B là của Hoàng Anh Tuấn ».
Mời các bạn thưởng thức “Gọi người yêu dấu” qua tiếng hát Thanh Lan:
https://www.youtube.com/watch?v=l0Vy9VTYOvg

ĐẶNG HOÀNH LOAN : Nhớ GS. Trần Văn Khê

Nhớ GS. Trần Văn Khê

Tác giả:
Đặng Hoành Loan

GS.Trần Văn Khê chia tay chúng ta đi về cõi vĩnh hằng đã hai năm. Nhân sinh nhật lần thứ 96 của Giáo sư (24/7/1921 – 24/7/2017) chúng tôi xin trích một phần bài tổng thuật buổi nói chuyện của Giáo sư tại Viện Âm nhạc năm 2000. Bài tổng thuật có tựa đề « Làm thế nào để nhạc truyền thống Việt Nam đến được với người nước ngoài », đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Âm nhạc, số 45 (Tháng 5 – 8/2015)

Những năm sống và làm việc ở nước ngoài, hễ có dịp về nước là Giáo sư Trần Văn Khê lại ghé thăm Viện Âm nhạc. Lần nào ghé thăm Viện, giáo sư cũng có quà tặng, khi là những cuốn sách nghiên cứu âm nhạc của nước ngoài, khi là một hai chiếc máy thu âm nho nhỏ, một chiếc máy ảnh xinh xinh và cả những cuộc trò chuyện thân mật và cởi mở với rất nhiều các chủ đề khác nhau, từ cách thức điền dã, cách làm tư liệu sau điền dã, cách thức truyền bá âm nhạc và phương pháp phân tích âm nhạc cổ truyền Việt Nam của Giáo sư.

Với học vấn uyên thâm, giọng hát truyền cảm, ngón đàn điêu luyện, kinh nghiệm điền dã sâu rộng và đặc biệt là tình yêu âm nhạc truyền thống thiết tha, giáo sư đã biến nhưng vấn đề phức tạp của nghiên cứu âm nhạc học, âm nhạc dân tộc học thành dung dị, dễ hiểu, lôi cuốn người nghe. Tôi không thấy giáo sư sử dụng lí thuyết âm nhạc phương Tây và cách diễn đạt cầu kì để phân tích cấu trúc, phân tích cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của âm nhạc truyền thống Việt Nam mà thường sử dụng tất cả những thuật ngữ về điệu, hơi, nhịp, phách, ém hơi, đổ hột, rung giọng và lối hát nhặt, khoan của âm nhạc truyền thống Việt Nam để lí giải, phân tích cấu trúc của các loại hình âm nhạc này.

Trong rất nhiều buổi nghe Giáo sư nói chuyện, có một buổi đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc, một bài học làm lòng, đó là buổi nói chuyện vào mùa hè năm 2000 tại Viện Âm nhạc, lúc Viện còn ở 32 Nguyễn Thái Học, Hà Nội.

Buổi nói chuyện đó diễn trong phòng thu thanh nhỏ nhắn của Viện đúng vào những năm Đảng, nhà nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Năm đó, nhà nước đã đầu tư cho Viện một số thiết bị thu thanh hiện đại, Chính phủ Nhật Bản cũng đã tài trợ cho Viện những phương tiện điền dã đồng bộ. Năm đó Viện Âm nhạc được nhà nước giao cho nhiệm vụ phải có trách nhiệm nghiên cứu và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam rộng rãi toàn thế giới.

Để thực hiện nhiệm vụ, chúng tôi đã bàn bạc và đưa ra rất nhiều các cách thức khác nhau, nào sản xuất băng đĩa nhạc, nào xây dựng các chương trình biểu diễn, xây dựng Ngân hàng Dữ liệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, xuất bản các công trình nghiên cứu. Tất cả những nội dung đó sẽ là công cụ hữu dụng để truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Thời ấy, chúng tôi tin rằng, nhiều hình thức âm nhạc truyền thống còn tồn tại đến ngày hôm nay, đó là những kiệt tác nghệ thuật của dân tộc. Và đã là kiệt tác nghệ thuật của dân tộc mình thì sẽ dễ dàng nhận được sự đồng cảm và thích thú của các dân tộc khác. Ấy vậy mà buổi nói chuyện của Giáo sư hôm đó đã gỡ bỏ chúng tôi khỏi cái niềm tin có chút gì đó ngây thơ. Đồng thời giúp chúng tôi có cái nhìn biện chứng hơn về cách thức truyền bá nhạc truyền thống Việt Nam ra nước ngoài.

Để sẻ chia điều này với quý độc giả tạp chí, chúng tôi xin tổng thuật lại nội dung buổi nói chuyện của Giáo sư ngày hôm đó .

Khởi đầu cuộc trò chuyện, giáo sư nói:

« Hôm nay tôi hết sức vui khi trở lại thăm Viện Âm nhạc. Tôi nhớ ngày xưa tôi đến đây nó chưa được cơ ngơi, chưa có được máy móc. Băng từ thì để dưới gầm giường, những hình ảnh xếp cũng không có theo lề lối. Lần này tôi đến đây tôi thấy chỗ trưng bày nhạc cụ có máy móc được tinh vi, lại có cả nhân viên làm việc, mà người nào cũng hăng hái, thu thập, ghi chép lại được bao nhiêu việc. Những cái chuyện tưởng đã mất đi rồi, hôm nay lại có thể tìm trở lại được, dường như là cho nó hổi sinh. Tôi nghĩ rằng có người khách quốc tế nào đến đây, chúng ta có thể hãnh diện đưa ra cho người ta xem mà không mất mặt với người ta, là bởi vì các bạn vừa sưu tầm đúng phương pháp, rồi bảo quản cũng có phương pháp. Kể ra máy móc bây giờ cũng không phải là ghê gớm nhưng cũng đã đủ để hoạt động, điều đó làm cho tôi rất vui”.

Sau những câu khen ngợi tình cảm và chân thành, giáo sư bắt đầu bài nói chuyện. Giáo sư nói ngay vào cái điều mà chúng tôi lâu nay vẫn lầm tưởng.

Giáo sư nói:

“Thật ra nói thế giới say mê âm nhạc Việt Nam thì không đúng đâu. Là bởi vì trên thế giới không biết có bao nhiêu là truyền thống âm nhạc. Mà Việt Nam là một trong những truyền thống mà người phương Tây chưa biết. Bây giờ có ai nói lên thì họ nghe. Mà nói lên mà họ nghe được thì họ nghe nhiều, mà nói lên họ nghe không được thì họ không ngồi nghe nữa.

Các bạn có hỏi: Người phương Tây họ nghe nhạc truyền thống Việt Nam thế nào? Họ đánh giá thế nào và tại sao họ thích nhạc truyền thống Việt Nam? Họ thích ở chỗ nào?

Thưa các bạn, người phương Tây, thứ nhất là không biết nhạc Việt Nam, tìm đến nhạc Việt Nam là hiếu kì. Để thỏa mãn cái hiếu kì thì họ hỏi cái gì mình giống họ, cái gì mình khác họ. Tôi thường giải thích: Nhạc của chúng tôi có cấu trúc động và mở, còn các bạn là cấu trúc tịnh và đóng. Mình phải nói cho họ thấy cái khác nhau, đặng rứt họ ra khỏi cái hệ thống bình quân đã thấm sâu vào họ, cho họ bước vào cái lĩnh vực mà âm thanh nó di động, mà nó di động theo cái phong cách của chúng ta – phong cách Việt Nam. Thì chừng đó để họ tìm tòi, họ thấy nó có cái mới lạ, nó có cái sự sinh động mà mỗi một cái thanh của chúng ta nó không phải là một, là hai, mà nó nhiều, nó biến chuyển.

Ví dụ: Mình lấy Hát Bội cho họ nghe, mình nói cho họ biết láy rúc như thế nào, láy nhún như thế nào, láy đắp bờ như thế nào, lay sa hầm là như thế nào. Trong truyền thống ngữ khí của chúng ta thì nó vô cùng biến chuyển. Cái chuyện đó lần lần dẫn cho người ta hiểu, thế thì người ta thấy người ta thích ».

Sau những lời giảng giải có tính lí thuyết, Giáo sư kể chuyện về những chuyến đi giảng bài và biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam ở một số nước trên thế giới. Câu chuyện của những chuyến đi đó là những đúc kết của giáo sư về phương pháp truyền bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới. Mỗi câu chuyện là một chủ đề, mỗi câu chuyện là một cách vận dụng phương pháp làm cho người nước ngoài muốn tìm hiểu âm nhạc Việt Nam, muốn nghe âm nhạc Việt Nam.
……….

Kết thúc buổi nói chuyện, GS. vừa đờn tranh vừa ngâm bài kệ này của Mãn Giác (1052 – 1096) một thiền sư nổi tiếng văn chương thời nhà Lý.

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Giáo sư dịch ý:
Mùa xuân đi thì trăm hoa rụng
Mùa xuân đến trăm hoa nở
Trước mắt sự qua mãi
Nhìn trên đầu thấy cái già đến rồi
Nhưng đừng tưởng hễ xuân tàn thì hoa rụng hết
Đêm hôm qua sang trước cửa chùa
một cành mai đang nở »

Ngâm xong bài thơ của thiền sư Mãn Giác, giáo sư buông đàn, mỉm cười, nói: « Mỗi một lần gặp nhau, nó có một cái thú vị, bởi vì trên con đường đi của chúng ta, mỗi con đường đi một khác, nhưng chúng ta hướng về một hướng. Nhờ vậy gặp gỡ với nhau dễ dàng lắm, mà cũng coi chúng ta như là anh em ruột thịt một nhà ».

Hà nội vào thu – 2015

http://www.hoinhacsi.vn/nho-gs-tran-van-khe

BẢN SA : Để hát Xoan lan tỏa trong đời sống văn hóa cộng đồng

18:36 ngày 08/10/2016

(PL&XH) – Đã gần 5 năm từ ngày kho tàng “Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp” của nhân loại chính thức có thêm một thành viên mới, đó là nghệ thuật hát Xoan (Phú Thọ, Việt Nam). Và trên con đường tạo sự lan tỏa của loại hình nghệ thuật độc đáo này rất cần sự chung tay của cả cộng đồng để hát Xoan sẽ tiếp tục đồng hành cùng sự phát triển của đất nước, như loại hình nghệ thuật này đã song hành qua hàng nghìn năm phát triển xuyên suốt cùng chiều dài lịch sử dân tộc.

Đưa hát Xoan tới gần hơn với đời sống đương đại

Con đường đưa hát Xoan thực sự phát huy vai trò là Di sản Văn hóa phi vật thể của thế giới không thể tiếp tục nếu như không đưa hát Xoan tới gần với xã hội hiện tại. Một tiêu chí quan trọng của Di sản Văn hóa thế giới đó là di sản đó không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mà nó còn phải đóng một vai trò quan trọng trong xã hội đương thời. Điều này có nghĩa là di sản không phải thứ để “đóng khung” trưng bày mà nó cần phải có sự kế thừa tiếp nối, khác với Di sản văn hóa vật thể, Di sản Văn hóa phi vật thể sẽ bị mai một, thậm chí biến mất vĩnh viễn nếu không được duy trì, phát huy. Ý thức được điều này nên trong quá trình bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát Xoan, tỉnh Phú Thọ đã chủ trương chú trọng bảo tồn các giá trị văn hóa cổ, đồng thời cũng đưa những làn điệu hát Xoan hòa nhập vào thế giới đương đại, để hát Xoan không những chỉ có ý nghĩa về lịch sử mà còn có cơ hội phát triển hơn. Ông Hoàng Dân Mạc, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Thọ đánh giá, hát Xoan là nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung, của tỉnh Phú Thọ nói riêng. Đây là Di sản văn hóa phi vật thể quan trọng cần được bảo vệ. Được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thì đó là niềm tự hào của Việt Nam nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng. “Để bảo tồn và phát huy giá trị của hát Xoan, trong thời gian tới đây chúng tôi tiến hành phổ biến, quảng bá giới thiệu giá trị của hát Xoan với cộng đồng trong tỉnh, trong nước và với bạn bè quốc tế. Đồng hành với đó là việc tổ chức truyền dạy và phổ biến rộng rãi nghệ thuật hát Xoan. Các trường học, nhất là các trường phổ thông ở TP Việt Trì hiện nay đang dạy cho các cháu tiếp cận và hiểu được giá trị của hát Xoan. Các nghệ nhân của tỉnh Phú Thọ cũng đang tích cực tổ chức truyền dạy cho các thế hệ trẻ sau này”, ông Mạc khẳng định.

Trong quá trình khảo sát thực tế tại vùng Xoan Phú Thọ, các nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhất trí với kế hoạch xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận hát Xoan Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Từ thực tế đang tồn tại ở vùng Xoan, các nhà khoa học đều đồng tình với việc chú trọng sưu tầm, nghiên cứu, hệ thống hóa, phân tích đánh giá giá trị các tư liệu liên quan đến hát Xoan, đồng thời thống nhất tiến hành công tác phục dựng hát Xoan theo đúng nghi thức cổ truyền của dân tộc. Đồng quan điểm về vấn đề phục dựng nghệ thuật hát Xoan, GS.TS Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam cho rằng, hát Xoan mang bản chất loại hình nghệ thuật dân gian, việc cải biên lời mới dựa trên cơ sở những làn điệu cũ sẽ làm cho hát Xoan mất đi tính nguyên gốc. Đề cập đến việc giữ gìn và bảo tồn nghệ thuật hát Xoan, GS.TS Tô Ngọc Thanh khẳng định: “Chúng ta cần đầu tư cho việc bảo tồn hát Xoan một cách tập trung, có trọng điểm. Cấp thiết nhất là việc tiến hành phục dựng lại những di tích gốc, tạo ra không gian biểu diễn cho hát Xoan. Cùng với đó và việc bổ sung kinh phí hoạt động cho các phường Xoan, các nghệ nhân duy trì sinh hoạt. Ngoài ra, việc đưa hát Xoan vào trường học và phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian cho các nghệ nhân hát Xoan để khuyến khích họ duy trì và phát triển nghệ thuật hát Xoan cũng là một biện pháp thiết thực”. Dưới góc độ nghiên cứu âm nhạc, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan phân tích, Xoan là một hình thức âm nhạc cổ truyền rất cổ, kết hợp giữa văn hóa, lịch sử và nghệ thuật. Với những tiêu chí này, chúng ta có quyền hy vọng hát Xoan sẽ được cộng đồng quốc tế công nhận là di sản văn hóa. Tuy nhiên, nhạc sĩ Hoành Loan cũng đề xuất, điều quan trọng trước tiên khi hát Xoan được thế giới công nhận là Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp thì chúng ta phải bảo vệ toàn vẹn về nghệ thuật, phương thức sinh hoạt cũng như lối hát Xoan. Nếu không bảo vệ được toàn vẹn, chúng ta sẽ để cho Xoan bị mất dần bản chất của nó. Sự bảo vệ toàn vẹn trong nhiều năm tới sẽ đưa hát Xoan đến được với đông đảo cộng đồng dân cư Phú Thọ cũng như cả nước và thế giới. Cũng theo nhà nghiên cứu, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, muốn để Xoan duy trì và phát triển thì phải khôi phục được cả 18 làng Xoan trước kia. Ngoài không gian đình làng, một trong những cái thiếu dẫn đến khó khăn trong quá trình phục hồi di sản văn hóa phi vật thể là chúng ta thiếu không gian văn hóa làng quê.

Trong tiến trình đề cử UNESCO công nhận hát Xoan là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, Bộ Ngoại giao đã đặc biệt quan tâm tới công tác vận động cho hồ sơ hát Xoan của tỉnh Phú Thọ. Trong đó, việc tổ chức chương trình đêm hát Xoan ngoại giao là hoạt động ngoại giao hữu hiệu, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế cũng như nhìn nhận hát Xoan là xứng đáng với các tiêu chí của UNESCO đề ra.

Việc đưa hát xoan tới gần hơn với đời sống đương đại sẽ giúp loại hình nghệ thuật độc đáo này của dân tộc được lưu tồn.     Ảnh tư liệu

Nỗ lực “tôn tạo” hát Xoan

Để hát Xoan thực sự trở thành nhịp cầu nối giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa thế giới không thể không nhắc tới những nghệ nhân của điệu hát cổ truyền này. Nói đúng hơn chính họ đã góp phần đưa hát Xoan trở thành một Di sản mới của thế giới. Trong đó những câu chuyện về “tình Xoan” của người Phú Thọ chính là giá trị nhân văn sâu sắc nhất của Di sản văn hóa này.

Ông Nguyễn Văn Đọc, đã ngoài 80 tuổi, trùm phường Xoan Thét, từng là kỹ sư địa chất, năm 1990, ông về hưu và thấy phong trào hát Xoan ở quê hương có phần mai một, vì vậy ông đã đứng lên tập hợp những ông bà, trai gái biết hát Xoan thành một nhóm nhỏ. Cứ vào ngày mùng 3 tháng Giêng có tiệc làng thì nhóm hát Xoan của ông Đọc lại đem lời ca tiếng hát của mình ra phục vụ dân làng. Sau này, uy tín của ông trong làng được nâng cao, dân làng đề cử ông làm trùm phường Xoan Thét để truyền dạy cho thế hệ sau. Bà Nguyễn Thị Nhạn, vợ ông Đọc dù tuổi đã cao nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, minh mẫn. Bà vẫn thường ngồi cạnh chồng mường tượng lại về chuyện tình của ông bà nên duyên, nên phận cũng là nhờ có hát Xoan. Trong hát Xoan có phần hát giao duyên trai gái, mỗi đêm diễn cùng nhau, cất lời hát trao duyên cũng chính là những năm tháng đáng nhớ trong cuộc đời chồng, vợ của họ. Tình yêu và tình Xoan đã cùng họ đi suốt cuộc đời. Câu chuyện tình từ hát Xoan cũng được ông Nguyễn Văn Vị, trùm phường Xoan Kim Đái luôn nhớ như in. Ông Vị đi du kích từ năm 15 tuổi. Bà Vũ Thị Thơ cũng đi cùng đợt với ông Vị. Mỗi đêm trăng sáng, khi những đội du kích tập hợp để họp và vui văn nghệ thì tiếng hát của ông Vị và bà Thơ lại được song ca trong những điệu Xoan mượt mà, sâu lắng tình quê hương. Xoan đã làm họ gần nhau hơn và kết tóc se duyên từ ngày ấy. Đến nay, tuổi đã ngấp nghé 80 nhưng mỗi chiều tà, ông Vị và bà Thơ lại quây quần bên manh chiếu cùng dạy Xoan cho các cháu nội ngoại.

Tuy nhiên, hiện nay do sự phát triển của đời sống xã hội nên hát Xoan bị ảnh hưởng không nhỏ. Nghệ nhân Nguyễn Thị Lịch ở làng Xoan An Thái, xã Phượng Lâu, TP Việt Trì trầm ngâm: Những năm đất nước còn kháng chiến, hát Xoan được người dân rất ưa chuộng, một phần vì ngày đó đình làng vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, những loại hình nghệ thuật khác chưa phát triển, “món ăn tinh thần” của người Phú Thọ chủ yếu là hát Xoan. Nhưng đến ngày nay, kinh tế thị trường làm mai một phần nào nghệ thuật này và hướng khắc phục nghệ thuật Xoan gặp vô vàn khó khăn. Hiện nay, ở Phú Thọ cũng đang tồn lại nhiều loại hình dân ca như hát Ghẹo ở xã Tam Cường (Tam Nông) là hát giao duyên, trữ tình, có không gian rộng hơn, không bị ràng buộc như hát Xoan. Ngoài ra còn một số làn điệu dân ca như hát Ru, hát Ống (của người Mường), hát Cò lả, hát Xình ca, Vèo ca… cũng cần được bảo vệ nghiêm ngặt.

Trước vấn đề này tỉnh Phú Thọ đang có kế hoạch duy trì thường xuyên các CLB hát Xoan, đưa loại hình nghệ thuật này vào dạy ở các trường học. Tỉnh cũng đã nhiều lần tổ chức thành công “Tiếng hát Xoan toàn tỉnh”. Nghệ nhân Nguyễn Thị Lịch, trùm phường Xoan An Thái vẫn hy vọng vào thế hệ kế tiếp sẽ phát huy tốt truyền thống hát Xoan khi cho rằng, bản thân bà sẽ luôn có trách nhiệm truyền dạy hát Xoan cho các thế hệ con cháu. Hiện phường Xoan của bà đang tồn tại 4 – 5 thế hệ từ nhỏ nhất là các cháu lên 8 – 9 tuổi cho đến nghệ nhân cao niên nhất là gần 90 tuổi. Đối với nghệ nhân Lê Xuân Ngũ, trùm phường Xoan Phù Đức, khi được hỏi về quan điểm bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát Xoan đã bày tỏ: “Muốn duy trì nghệ thuật hát Xoan cho các thế hệ sau, các cấp lãnh đạo, cơ quan đoàn thể cần quan tâm hơn đến các phường Xoan cả về vật chất và tinh thần. Nên có định hướng trong việc truyền dạy hát Xoan cho các lớp thế hệ trẻ, đặc biệt là các cháu học sinh ngay từ trong trường học, để các cháu nắm bắt được và hiểu rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn bảo tồn nghệ thuật hát Xoan”. Vậy là đằng sau vinh dự là cả một gánh nặng cần lưu giữ, truyền dạy để nghệ thuật Xoan xứng đáng với niềm kỳ vọng của UNESCO. Đầu tư có trọng điểm, truyền dạy và phổ biến rộng rãi cho thế hệ trẻ là những biện pháp thiết thực trong việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Xoan để loại hình nghệ thuật hết sức đặc sắc của dân tộc Việt sẽ vẫn tiếp tục phát huy những giá trị nhân văn vốn có của mình.

Bản Sa

http://phapluatxahoi.vn/giai-tri/de-hat-xoan-lan-toa-trong-doi-song-van-hoa-cong-dong-119801

ĐẶNG HOÀNH LOAN : Tổng tập nghiên cứu về Hát Xoan Phú Thọ, Viện âm nhạc, 2017

HÁT XOAN.jpgHAT XOAN 3.jpgHAT XOAN 2.jpg

L’image contient peut-être : texte
Aucun texte alternatif disponible.
Aucun texte alternatif disponible.
Minhchau a ajouté 3 photos.

« Đàn bà xấu không có quà », nhưng đàn bà già vưỡn được nhận quà!
Thời buổi văn hóa đọc xuống xề, bỏ đói các con mọt sách thì xuất bản được cuốn sách nghiên cứu hay lý luận phê bình đúng là kỳ tích. Cám ơn nhạc sĩ Đặng Hoành Loan về món quà khủng gần 1500 trang khổ lớn ném vỡ đầu này. Chúc mừng các nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan Bùi Trọng Hiền Huong Pham Minh Thuy Tien Nguyen…, và tự chúc mừng cả tôi đã từng « cày » với Xoan để góp mặt trong cuốn sách này.
Lại thấy buồn cho 2 tập bản thảo xếp xó nhiều năm nay và tập bản thảo thứ 3 dở dang vì lòng đã nguội.

 

Gia đình Đức Trí và gs Trần Văn Khê tại nhà năm 1989.

Gia đình Đức Trí và gs Trần Văn Khê tại nhà năm 1989.

Published on Jun 23, 2015

Ngày xưa, mỗi lần bác Khê về nước, gia đình rất vinh hạnh được tiếp bác ghé chơi, đàn ca Tài tử với các thầy như thầy Năm Vinh, Mười Phú, Út Du… Còn có thầy Phạm Lý, Ba Trung, gs Lưu Hữu Phước, cô Bích Hường…