TRẦN NGỌC : ĐẠI CƯƠNG VỀ THÁI CỰC QUYỀN (TAI CHI)

 
ĐẠI CƯƠNG VỀ THÁI CỰC QUYỀN (TAI CHI)
 
                              

I.                  ĐỊNH NGHĨA VÀ NGUỒN GỐC CỦA THÁI CỰC QUYỀN.

 

Thái Cực Quyền hiện nay được biết đến như là một môn thể dục dưỡng sinh trị liệu tốt, phổ biến rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Hàng triệu triệu người đã hăng say tập luyện Thái Cực Quyền. Không kể Trung Hoa là nơi đã xuất phát ra Thái Cực Quyền, các nước như Nhật Bản, Âu Châu và nhất là Hoa Kỳ đã xem Thái Cực Quyền như một phương pháp tập luyện để dưỡng sinh, thư giãn tâm hồn và chống căng thẳng thần kinh (stress) . Thật vậy, Thái Cực Quyền đã giúp trị được nhiều bệnh mãn tính của cơ thể con người mà nhiều khi không cần đến thuốc men, cũng như làm giảm những bệnh ngoại cảm thời khí, và đặc biệt làm chậm tiến trình lão hóa nơi những người lớn tuổi.

 

Hai chữ “Thái Cực ” được dịch từ hai chữ “ Tai Chi” của Trung Hoa. “Tai” nghĩa là mênh mang rộng lớn, “ Chi” nghĩa là tuyệt cao tuyệt đỉnh. Tai Chi hay Thái Cực nghĩa là nguyên lý tột cùng của vũ trụ, là đầu mối nguyên thủy của vũ trụ. Theo kinh dịch, vũ trụ lúc đầu là khoảng trống không gọi là Thái Cực, sau Thái Cực phân thành Lưỡng Nghi (Âm Dương). Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng (Thái Dương- Thiếu Âm -Thiếu Dương- Thái Âm) và Tứ Tượng sinh Bát Quái (Kiền- Đoài- Ly- Chấn- Tốn- Khảm- Cấn- Khôn). Đến giai đoạn Bát Quái là vũ trụ được hình thành cùng với sự sống của sinh vật trên trái đất. Còn chữ “Quyền” là dịch ở chữ “ Chuan” của Trung Hoa.

 

Theo võ sử Trung Hoa thì môn Thái Cực Quyền được sáng tạo vào thế kỷ13 bởi Đạo Sĩ Trương Tam Phong (Chang Sen Feng) người đồng thời sáng lập ra môn phái Võ Đang. Nhân một hôm đang luyện tu trên núi, chân nhân Trương Tam Phong thấy một cuộc chiến đấu giữa con rắn và con chim ưng. Chim ưng dùng cánh, mỏ và móng vuốt cứng để mãnh liệt tấn công con rắn, nhưng rắn với sự chuyển mình uyển chuyển đã hóa giải được tất cả các thế đánh của chim ưng khiến chim ưng không làm gì được và phải bay đi. Từ cuộc chiến giữa rắn và chim ưng, Trương Tam Phong đã nghiên cứu và nghĩ ra một môn võ công phối hợp với triết lý của Đạo Gia, có âm có dương và dùng nhu khắc cương, đặt tên là Thái Cực Quyền (Tai Chi Chuan). Môn võ Thái Cực Quyền tỏ ra là một môn võ công tuyệt thế trong giới võ lâm hồi bấy giờ khiến môn phái Võ Đang nổi tiếng gần như ngang hàng với môn phái Thiếu Lâm đã có từ ngàn năm, và Thái Cực Quyền đã được truyền lại qua nhiều đời tại Trung Hoa. Cho đến nay có năm trường phái Thái Cực Quyền nổi danh nhất do các Đại Quyền Sư họ Trần, Dương, Ngô, Võ, Tôn đã vận dụng sáng tạo và biến cải thành môn võ đặc thù riêng của hệ phái mình và được truyền lưu cho hậu duệ. Về tính cách phổ thông thì Thái Cực Quyền họ Dương được coi như được biết đến nhiều nhất và được nhiều người trên thế giới luyện tập nhiều nhất. Về phương diện võ thuật thì tuy các chiêu thức của mỗi hệ phái có biến cải đôi chút trong phương thế và bộ vị, có thay đổi trong tên gọi và số lượng chiêu thức, nhưng tựu trung vẫn cùng tôn trọng những nguyên lý căn bản .

.

II. NGUYÊN LÝ CĂN BẢN CỦA THÁI CỰC THIỀN QUYỀN.

Nói một cách tổng quát, Thái Cực Quyền vận dụng nguyên lý phối hợp Âm Dương, nên các động tác đều chậm rãi, khoan thai, uyển chuyển và có hư có thực, như thế mới phát triển được cái lẽ dùng nhu để thắng cương hay cái lẽ có cương ở trong nhu.

Có 6 yếu quyết chính cần phải tôn trọng trong lúc luyện tập Thái Cực Thiền. Những yếu quyết này xin được tóm lược như sau:

 

1) An thư diện mục.

Người tập Thái Cực Quyền lúc nào cũng phải giữ nét mặt điềm đạm, an vui và thư thái, theo đúng lẽ hư vô của triết thuyết Lão Tử. Có biết được lẽ hư vô thì tâm hồn mới thoát ra được khỏi những tham sân si và hỉ nộ ái ố tầm thường của thế nhân.

Khi có được sự an vui thư thái thì những sự căng thẳng (stress) của thần kinh sẽ giảm và cơ thể sẽ ít bệnh tật. An thư diện mục ảnh hưởng đến hai cơ quan nội tạng là Tuyến Tùng Quả ở sâu trong não và Hung Tuyến ở trong lồng ngực,. Hai tuyến này đều tiết ra kích thích tố giúp tăng cường hệ thống miễn nhiễm và giảm mức nhũ toan trong máu, giúp tăng cường sức khỏe.

Trên phương diện tâm linh, an thư diện mục giúp con người biết gần gũi và thương yêu nhau để tạo nên một gia đình và một xã hội hiền hòa, bền vững và hạnh phúc.

2) Dũ mạn dũ hảo.

Dũ mạn dũ hảo là càng chậm càng tốt. Khi các động tác chậm rãi thì chiêu thức được chính xác, sự hô hấp sâu lắng và khí trầm nơi đan điền. Dũ mạn dũ hảo ảnh hưởng trực tiếp đến làn sóng não, với tần số não phát ra thật thấp từ 8 đến 12 chu kỳ (hertz) khiến tâm hồn được thư giãn và thần kinh không còn bị căng thẳng . Nội dung là lấy tịnh cai quản động nên nhịp tim chậm lại, khí huyết trao đổi trọn vẹn nơi từng tế bào trong cơ thể giúp lục phủ ngũ tạng được an lành.

 

3) Tương liên bất đoạn.

Các động tác của Thái Cực Quyền cần diễn ra từ đầu tới cuối triền miên không ngừng, như dòng nước luân lưu chảy. Chiêu thức này tiếp theo chiêu thức kia, vòng đi rồi lại trở về, tuần hoàn thao thao bất tuyệt. Kình lực cũ chưa hết mà kình lực mới đã sinh, khiến vòng quyền thức không có chỗ nào sơ hở.

Sinh khí triền miên sẽ khiến cho nội tâm an vững, nhịp tim đều hòa, làm gia tăng sức chịu đựng của cơ thể và làm điều hòa mức cholesterol trong cơ thể..

4) Hư linh đỉnh kình.

Hư linh là để khí huyết tự nhiên lưu thông, không gò ép. Đỉnh kình là đầu cổ ngay thẳng so với sống lưng, để tinh thần sâu suốt trên đỉnh, linh hoạt và dễ tập trung, đối phó thích ứng với biến động bên ngoài.

Hư linh đỉnh kình phù hợp với khoa chỉnh hình ( chiropractic) , nghĩa là giữ cho cột sống ngay thẳng, không bị lệch nhưng vẫn xoay trở được uyển chuyển .Xương sống bị lệch sẽ đè lên dây thần kinh khiến năng lượng do não bộ phát ra không tới được các lục phủ ngũ tạng và cơ thể có nguy cơ bị bệnh.

Hư linh đỉnh kình chính là phương pháp giúp cả cho hai sức mạnh thể chất và tinh thần được dồi dào.

5) Chân biệt hư thực.

Thái cực Quyền lấy sự phân biệt âm dương hư thực là điều quan trọng hàng đầu. Nếu trọng lượng toàn thân dồn về chân phải, thì chân phải là thực (dương) và chân trái là hư ( âm). Ngược lại, nếu trọng lượng dồn về chân trái, thì chân trái là thực và chân phải là hư. Cũng còn gọi là bán khinh bán trọng và điều cần nhớ làø trọng tâm của thân thể cần đặt ở điểm 1/3 trong khoảng cách giữa hai chân về phía chân mang trọng lực “dương”. Nói cách khác, sức nặng toàn thân dồn 2/3 trên chân “ thực” và 1/3 trên chân “hư”. Điều này cũng phù hợp vói nguyên lý của lực học. Có phân biệt hư thực thì sự chuyển động mới vững vàng, nhẹ nhàng và linh hoạt, không phí phạm sức lực. .

 

6) Thượng hạ tương tùy.

Thượng hạ tương tùy là trên dưới theo nhau, nghĩa là tâm ý, động tác và hơi thở cần phối hợp chặt chẽ khi tập Thái cực Thiền. Khi cả ba yếu tố phối hợp thì sẽ vận chuyển được hai mạch nhâm đốc và nhãn thần sẽ theo đó mà động để đạt được nội ngoại tương hợp. Đó là điều rất cần cho công thủ và tiến thoái.

 

.

 

II.               QUÁN NIỆM VỀ HƠI THỞ.

 

Mỗi khi bắt đầu luyện tập Thái Cực Thiền, phải hô hấp trước đủ 16 lần và hô hấp theo phương pháp sau đây, được diễn giảng bởi Giáo Sư Thanh, người sang lập môn phái Thái Cực Thiền ở Houston TX.

 

– Đứng với hai bàn chân song song, rộng ngang vai, hai đầu gối chùng xuống, miệng ngậm, đầu lưỡi khẽ chạm vào hàm ếch trên, mắt hơi nhắm .

– Giữ lưng thẳng, hai tay xuôi theo hai bắp vế với đầu ngón cái chạm đầu ngón tay giữa, lòng bàn tay hướng ra sau.

– Thở bằng bụng, khi hít vào thì thóp bụng vô và nhón hậu môn lên, khi thở ra thì phình bụng và nhả hậu môn.

 

 

Phương pháp thở này gọi là Reversed breathing.

 

Còn một phương pháp thở khác, cách thức cũng như trên, chỉ khác là khi hít vào thì phình bụng và khi thở ra thì thóp bụng. Phương pháp thở này giống như cách thở bình thường, gọi là Natural breathing. Điểm quan trọng giống nhau là cả hai phương pháp đều thở bằng bụng (abdomen, belly) và hơi thở phải vận chuyển phù hợp với động tác. Khi động tác tay chân có tính cách thu hay co thì hít vào và khi động tác có tính cách phóng hay đẩy thì thở ra. Theo nguyên lý thái cực âm dương, khi thu hay co vào là “âm” và khi phóng hay đẩy ra là “dương”.

 

III. LỢI ÍCH CỦA THÁI CỰC QUYỀN

Luyện tập Thái Cực Thiền đúng phương pháp, lâu dài và thường xuyên sẽ giúp trị được rất nhiều tật bệnh, có thể kể như bệnh phong thấp, bệnh tiểu đường, bệnh đau bao tử, bệnh viêm khớp, viêm cuống phổi, bệnh hen suyễn, bệnh về tim mạch như cao máu, cao cholesterol… và có thể ngay cả những bệnh về tâm thần như bệnh mất ngủ, mất trí nhớ, bệnh trầm cảm( depression) .v.v…Áp dụng yếu quyết “dũ mạn dũ hảo” trong lúc tập, các hoạt động của cơ thể đều an hòa và chậm lại, khiến các Stress hormones (ví dụ như Adrenaline của Nang thượng Thận) sẽ không tiết ra quá mức bình thường để trở thành độc tố có hại cho cơ thể . Do đó chúng ta được sẽ khỏe mạnh và mau bình phục nếu có bệnh.

Xin đơn cử kết quả của một vài cuộc thí nghiệm về việc tập luyện Tai Chi :

-Năm 1998, cơ quan Wushu Research Institute ở Bắc kinh đã làm cuộc thí nghiệm trên hai nhóm người: nhóm không tập Tai Chi và nhóm tập Tai Chi từ 5 năm trở lên. Kết quả như sau: Trong nhóm tập Tai Chi, có sự tăng trưởng về làn sóng não Alpha ( làn sóng thư giãn 8 – 12 hertz). Mức serum cholesterol giảm và kết quả dương tính trên nhịp tim điều hòa. Những người có bệnh động mạch tim, tập Tai Chi đều có dấu hiệu hoặc bớt hoặc khỏi bệnh rất khả quan.

– Năm 1992, Department of Physical Education của Đại học Shizuoka ở Nhật bản cho biết Tai Chi là bộ môn thể dục lý tưởng về Aerobic fitness , rất tốt cho lứa tuổi trung niên và cao niên. Trong lúc tập, sự uyển chuyển co giãn của đầu gối ảnh hưởng đến sự điều hòa của nhịp tim và sự điều hòa hấp thụ về lượng oxygen.

– Năm 2003, Giáo sư Michael Urwin thuộc Đại Học UCLA Neuropsychiatric Institute đã làm cuộc thí nghiệm: trong số 36 người cao niên, một nửa không tập Tai Chi và một nửa có tập Tai Chi trong 15 tuần lễ. Kết quả sau đó là trong cơ thể người có tập Tai Chi, số tế bào miễn nhiễm chống bệnh “giời leo” (shingles) gia tăng 15% .

– Gần đây các khoa học gia thuộc các viện Đại học Salk Institute và Princeton University ở San Diego đã nghiệm chứng rằng tập luyện cả Tâm lẫn Thân có thể làm sinh trưởng thêm tế bào thần kinh mới ( new neurons) đồng thời kéo dài thêm sự sống của các tế bào não đang có.

Như vậy chúng ta còn chờ gì nữa mà không tập luyện Tai Chi?

 

IV. 24 TRONG 108 CHIÊU THỨC THÁI CỰC THIỀN QUYỀN.

 

Thái Cực Quyền thuộc hệ phái Dương Gia gồm có tất cả 108 chiêu thức,

được truyền từ đời Dương Lộ Thiên và hậu duệ (1799- 1872) rồi được kiện toàn vào các đời của Dương Trừng Phủ (1838- 1936) và tới thế kỷ thứ 20 thì được đệ tử Trương Mãn Thanh du nhập vào các nước tây phương và Thái Cực Quyền tức Tai Chi từ đó được phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được hàng triệu triệu người nhiệt thành đón nhận và tập luyện.

 

Sau đây là tên của 24 chiêu thức được sắp xếp theo thứ tự trước sau:

 

1. Khởi thế (bắt đầu)

2. Tả hữu dã mã phân thông (ngựa rừng hất bờm sang trái/phải)

3. Bạch hạc lượng xí (hạc trắng xòe cánh)

4. Tả hữu lâu tất ảo bộ (tay vuốt gối, chân linh hoạt trái/phải)

5. Thủ huy tỳ bà (tay gảy đàn tỳ bà)

6. Tả hữu đảo niện hầu (khỉ khoa tay múa chân trái/phải)

7. Tả tiến bộ lãm tước vĩ (nắm đuôi chim bên trái): Bằng (ngăn đỡ), lý (kéo), tê (ép), án (đẩy)

8. Hữu tiến bộ lãm tước vĩ (nắm đuôi chim bên phải) 9. Đơn tiên (cây roi)

10. Vân thủ (cuộn tay như mây)

11. Đơn tiên (cây roi)

12. Cao thám mã (vuốt bờm ngựa)

13. Hữu đặng cước (đá gót chân phải)

14. Song phong quán nhĩ (hai nắm tay xuyên mang tai)

15. Chuyển thân tả đặng cước

16. Tả hạ thế độc lập (ngồi xuống thấp bên trái)

17. Hữu hạ thế độc lập (ngồi xuống thấp bên phải)

18. Tả hữu ngọc nữ xuyên thoa (cô gái đẹp đưa thoi – trái/phải)

19. Hải để châm (kim chìm đáy biển)

20. Phiến thông bối (cánh tay như tia chớp)

21. Chuyển thân ban, lan, chùy (ép, gạt, đấm)

22. Như phong tự bế (ngăn, chặn, đóng lại)

23. Thập tự thủ (chéo tay chữ thập)

24. Bái tổ (Thu thế).

 

 

 

Đến đây chắc hẳn chúng ta đã có một khái niệm tổng quát về Thái Cực Quyền tức Tai Chi. Sự luyện tập Thái Cực Quyền nếu chỉ căn cứ trên động tác thì có thể nói là chưa đầy đủ và kết quả còn khiêm tốn. Nhưng nếu nghiên cứu và áp dụng đầy đủ 6 yếu quyết cùng quán niệm hơi thở trong lúc tập luyện Thái Cực Quyền  thì kết quả về dưỡng sinh và trị bệnh sẽ hiển nhiên mau chóng và khả quan hơn. Điều cần thiết là phải tập đều đặn và kiên trì. Xin chúc tất cả chúng ta may mắn và thành công.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Tài liệu giảng dạy Thái Cực Thiền của G.S Nguyễn Cao Thanh, Trung Tâm Thiền Sinh Hội Sharpstown và Linh Sơn, Houston TX, 2002-2003.

2. Tài liệu “ Tai Chi” thuyết trình bằng Anh Ngữ của B.S. Phạm Tiến tại Harris County Health Department, Houston TX, May 1999)

3. Tạp Chí Psychosomatic Medicine, Sep.03.(Tai Chi bolster shingles immunity) tường thuật bởi W. Whitney)

4. Journal of Martial Arts, Volume 5, 1996 by Robert W. Smith.

5. Thái Cực Quyền toàn tập, Nguyễn Anh Vũ biên dịch

6. Dương Gia Thái Cực Quyền của Thôi Trọng Tam

7. Kinh dịch nhập môn của Đoàn Văn Thông

8. Cô gái Đồ Long của Kim Dung, dịch giả Từ Khánh Phụng.

9. Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh

10. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức.

                                     Trần Ngọc

                                                                   Houston TX, revised 2010

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion /  Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion /  Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion /  Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion /  Changer )

w

Connexion à %s