Mois : mai 2017

THANH HIỆP : Đồng nghiệp nghẹn ngào tiễn biệt NSND Thanh Tòng

24/09/2016 14:36

(NLĐO) – Sáng 24-9, đông đảo nghệ sĩ đã tiễn đưa NSND Thanh Tòng, « vị thống soái » của sân khấu cải lương tuồng cổ, về nơi an nghỉ cuối cùng.

NSƯT Quế Trân cho biết gia đình đã thực hiện di nguyện của NSND Thanh Tòng, an táng ông bên cạnh mộ của ba mẹ ông ở Hoa viên Nghĩa Trang Gò Đen (tỉnh Long An).


NSND Ngọc Giàu, NSƯT Kim Tử Long và gia đình cố NSND Thanh Tòng tại tang lễ

NSND Ngọc Giàu, NSƯT Kim Tử Long và gia đình cố NSND Thanh Tòng tại tang lễ

NSƯT Trường Sơn dặn dò hai cháu trước giờ tiễn biệt NSND Thanh Tòng
NSƯT Trường Sơn dặn dò hai cháu trước giờ tiễn biệt NSND Thanh Tòng

NSND Ngọc Giàu đã khóc và nói: “Bộ môn nghệ thuật cải lương tuồng cổ đã phát triển 40 năm qua với nhiều đổi thay từ cách sáng tác dàn dựng cho đến biểu diễn. Và một trong những gia tộc đã tạo được dấu ấn đậm nét với bộ môn này đó là gia tộc Bầu Thắng – Minh Tơ – Thanh Tòng. Hôm nay, Thanh Tòng đã ra đi, sự phát triển của 40 năm qua đối với bộ môn nghệ thuật tuồng cổ là có nhưng chưa đủ vững mạnh. Trong gia tộc còn NS Xuân Yến, Thanh Loan, Công Minh, Thanh Sang và hai người rễ là NSƯT Trường Sơn, Kim Tử Long. Tôi tin thế hệ trẻ kế thừa gồm: NSƯT Quế Trân, Tú Sương, NS Xuân Trúc, Trinh Trinh, Ngọc Nga, Lê Thanh Thảo, Điền Trung… sẽ tiếp tục phát huy những giá trị của di sản này”.


NS Công Minh và Chí Bảo - người em của NSND Thanh Tòng dìu NSND Đoàn Dũng vào viếng cố NSND Thanh Tòng

NS Công Minh và Chí Bảo – người em của NSND Thanh Tòng dìu NSND Đoàn Dũng vào viếng cố NSND Thanh Tòng

NSND Thanh Tòng, Bạch Tuyết cùng với ông Phan Quốc Hùng (nguyên giám đốc Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang) và các nghệ sĩ: Tú Sương, Lê Thanh Thảo, Điền Trung tại Hậu Giang trong đợt thi tuyển giải HCV Trần Hữu Trang
NSND Thanh Tòng, Bạch Tuyết cùng với ông Phan Quốc Hùng (nguyên giám đốc Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang) và các nghệ sĩ: Tú Sương, Lê Thanh Thảo, Điền Trung tại Hậu Giang trong đợt thi tuyển giải HCV Trần Hữu Trang

NSND Kim Cương viếng NSND Thanh Tòng

NSND Kim Cương viếng NSND Thanh Tòng

NS Bạch Long bày tỏ: “Trong đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ, anh Thanh Tòng đã dẫn dắt được các em trong gia tộc và tuyển được một số diễn viên trẻ theo học nghề, trong đó điển hình như là tôi, rồi anh Thanh Sơn, Công Minh, Chí Bảo… Trong số đó, có anh Thanh Sơn, đang dạy vũ đạo hát bội tại Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh TPHCM được 10 năm nay. Ngoài ra, còn có các NSƯT: Vũ Linh, Thanh Thanh Tâm, Tài Linh, Linh Châu, Linh Tâm, Cẩm Thu, Thanh Hằng, Chí Linh, Vân Hà… đều được anh Thanh Tòng chỉ dạy. Anh Thanh Tòng thường dạy chúng tôi, để trở thành nghệ sĩ cải lương phải có giọng ca thiên phú, thứ 2 là về diễn xuất nội tâm kết hợp giữa ca và diễn. Nhưng với bộ môn cải lương tuồng cổ nó còn đòi hỏi phải có vũ đạo, ca diễn, múa. Nó đòi hỏi phải tôi luyện mới nên nghề. Do đó, nếu ỷ lại tài năng, sẽ mau chóng thất bại”.

Một con bướm màu đen bất ngờ đậu trên vầng khăn tang của NSƯT Quế Trân trong giờ tiễn biệt cha
Một con bướm màu đen bất ngờ đậu trên vầng khăn tang của NSƯT Quế Trân trong giờ tiễn biệt cha
Các nghệ nhân điêu khắc chia buồn với NSƯT Quế Trân
Các nghệ nhân điêu khắc chia buồn với NSƯT Quế Trân
Cháu nội của NSND Thanh Tòng và NSƯT Quế Trân trong buổi sáng tiễn biệt ông về nơi an nghỉ cuối cùng
Cháu nội của NSND Thanh Tòng và NSƯT Quế Trân trong buổi sáng tiễn biệt ông về nơi an nghỉ cuối cùng

Phần lớn những đồng nghiệp sân khấu đến viếng tang lễ của NSND Thanh Tòng đều nhìn nhận ông đã tạo nền tảng và gầy dựng bộ môn cải lương sân khấu tuồng cổ tại Việt Nam, mạnh dạn cải tiến bộ môn nghệ thuật của gia tộc, dày công xây dựng nhiều tác phẩm sân khấu để đời từ bàn tay, khối óc và trái tim đầy đam mê của mình.


Đông đảo người dân đến tiễn biệt vị thống soái của sân khấu cải lương tuồng cổ về nơi an nghỉ cuối cùng

Đông đảo người dân đến tiễn biệt vị thống soái của sân khấu cải lương tuồng cổ về nơi an nghỉ cuối cùng

Thanh Hiệp (ảnh Thanh Hiệp, Công Minh, Thành Lộc)

LÊ CHÍ TRUNG : NSND Thanh Tòng – Nhân cách lớn

27/05/2017 22:12

Đời nghệ sĩ và những vật vã, trăn trở trên con đường đi đến hoài bão lý tưởng của một người làm nghề tâm huyết như Thanh Tòng thì không phải ai cũng biết

1. Tôi không dùng từ « cố » với anh, bởi có cảm giác nụ cười hiền hậu của anh vẫn phảng phất đâu đây trong thế giới này. Ngày anh mất, có báo đặt tôi viết bài về anh. Tôi nói với họ: « Riêng với Thanh Tòng, tôi chỉ muốn viết tặng anh ấy bài thơ ». Bài thơ « Chia tay nhé » sau được in trên báo, với những câu: « … Sài Gòn đang mưa đấy, Thanh Tòng/ Nhớ những chiều xưa anh em mình hay ngồi uống bia/ Chỉ nói với nhau về nghề không một câu tiền bạc… ».

Ai cũng tưởng Thanh Tòng không biết bia rượu. Nhưng ngày đó, đâu cứ khoảng mươi ngày, khi thì anh đến một mình, khi đi cùng chị Nhung, vợ anh, đến bấm chuông và chúng tôi lại kéo nhau ra quán cóc, bên góc đường Ngô Thì Nhiệm lai rai một vài chai bia. Câu chuyện loanh quanh chỉ nói về nghề và nỗi đau đáu của anh khi sân khấu tuồng cổ cải lương đang trên đà sa sút. Giống như cố đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, anh yêu nghề đến mức, ngoài những câu chuyện buồn vui sân khấu, anh cứ ngồi tròn mắt ngớ ra, hồn nhiên như đứa trẻ.

NSND Thanh Tòng - Nhân cách lớn - Ảnh 1.

NSND Thanh Tòng trong trang phục cải lương tuồng cổ Ảnh: THANH HIỆP

Đó là khoảng thời gian 10 năm đầu chúng tôi cộng tác với nhau làm Giải thưởng Trần Hữu Trang cho sân khấu cải lương. Tôi lo các công việc tổ chức giải, còn Thanh Tòng vừa trong tổ đạo diễn vừa là thành viên hội đồng tuyển chọn. Cùng với các NSND Huỳnh Nga, Diệp Lang, Bạch Tuyết, Thanh Vy… trong tổ đạo diễn, anh luôn say sưa, sống hết mình với tiết mục của các em diễn viên tham dự giải. Đến khi bước ra hội đồng tuyển chọn thì công minh, sáng suốt, không phân biệt diễn viên thành phố hay các đoàn tỉnh, không có khái niệm « gà nhà », để chọn ra những gương mặt vàng cho sân khấu cải lương lúc bấy giờ. Sự đánh giá của hội đồng tuyển chọn và hội đồng báo chí, hội đồng khán giả thường đưa ra mẫu số chung tuyệt đối. Thành công rực rỡ của Giải thưởng Trần Hữu Trang trong 10 năm đầu, như một dấu son không thể xóa mờ trên sân khấu cải lương miền Nam, sau năm 1975. Hơn ai hết, các nghệ sĩ Huỳnh Nga, Diệp Lang, Bạch Tuyết, Thanh Tòng, Thanh Vy… cần được trao giải thưởng cống hiến về phát triển nghệ thuật dân tộc.

Tuy nhiên, Thanh Tòng có một lần chấm rất « bậy  » trước ống kính truyền hình trực tiếp, tại sân khấu Nhà hát Hòa Bình. Chẳng là diễn viên nào dự giải anh cũng xăng xái lo như con nhưng đến con gái mình thì anh… bỏ mặc. Anh thì thào bảo tôi: « Bạn ơi, đêm nay con bé Quế Trân thi, bạn cho tôi bỏ chấm ». Tôi giãy nảy: « Anh buồn cười. Làm như thế mới là đem cái cá nhân của mình áp đặt lên bọn trẻ. Nếu con anh xứng đáng thì anh cứ chấm cho nó ».

Sau trích đoạn biểu diễn và bốc thăm trả lời phần thi kiến thức sân khấu, các thành viên hội đồng giám khảo đều cho Quế Trân điểm tuyệt đối, riêng Thanh Tòng giơ lên bảng điểm 8. Rồi cứ thế anh ôm mặt khóc rưng rức trước ống kính truyền hình. Cả khán phòng hơn 2.000 người ngơ ngác nhìn anh, rồi xúc động vỗ tay ầm ầm. Họ thấu hiểu tấm lòng, sự nghiêm khắc của một người cha đối với con và thấy ở anh nhân cách lớn của một người nghệ sĩ. Sau này, anh tâm sự với tôi: « Mong bạn thông cảm. Nhìn Quế Trân trưởng thành, mình không sao kìm được cảm xúc nhưng mình không muốn nó chủ quan, tự mãn ». Tôi im lặng. Dường như chưa kịp nói với anh, đó là nét đẹp của một thời mà chúng tôi chỉ biết sống và lãng đãng hồn bướm mơ tiên trong nghệ thuật.

Năm đó, Giải thưởng Trần Hữu Trang đã trao 2 huy chương vàng cho Quế Trân, Hữu Quốc. Tôi nghĩ, đó là 2 tấm huy chương vàng thật sự xứng đáng trong việc phát hiện tài năng trẻ của sân khấu cải lương. Tiếc rằng, sân khấu cải lương một thời đang trôi dần về quá khứ.

2. Công chúng đã biết nhiều về cuộc đời và sự nghiệp của một người nổi tiếng như NSND Thanh Tòng qua báo chí, chỉ cần nhấp chuột là có đầy đủ mọi thông tin. Nhưng đời nghệ sĩ và những vật vã, trăn trở trên con đường đi đến hoài bão lý tưởng của một người làm nghề tâm huyết như Thanh Tòng thì không phải ai cũng biết. Thanh Tòng hay bức xúc tâm sự với riêng tôi khi bị một số người kỳ thị, coi nghệ thuật của đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ như một sản phẩm lai căng cải lương tuồng Tàu. Dường như anh mặc cảm vì không đủ lý luận và không thể vượt qua những định kiến thời cuộc, để bảo vệ di sản của cả dòng họ và bản thân anh cho một hướng đi khác trên sân khấu cải lương. Đó cũng là sự thiếu hụt lớn nhất về hệ thống nghiên cứu lý luận cho sân khấu cải lương miền Nam. Giờ người ta càng ít khi nhắc đến nó, nghiên cứu một cách bài bản về nó, thay vì đua nhau tìm kiếm những danh hiệu viển vông về các giá trị di sản.

3. Tôi quý Thanh Tòng, trước hết vì anh luôn nhân hậu với đời và những con đường anh đã đi qua. Tôi chưa từng nghe anh nói xấu ai, mọi ưu phiền đối với anh chỉ là do sức khỏe. Tại đại hội Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam gần nhất, tôi đã phải đỡ anh cắn răng tập tễnh từ nhà vệ sinh lên các bậc thềm Nhà hát Lớn Hà Nội. Tôi bảo: « Anh đau thế, ra đây làm gì ». Anh nói ngay: « Không còn nhiều cơ hội đâu. Mình phải ráng đi chơi với anh em. Vui mà bạn ». Giống như nhiều lần anh than thở vì bệnh đau khớp, bước đi không nổi, nhưng nhoáng một cái lại thấy anh xuất hiện trong các chương trình mà người ta mời anh đi diễn. Lại thấy một Thanh Tòng khác, cháy hết mình, thoăn thoắt múa may hóa thân trong các nhân vật.

Tôi giận Thanh Tòng vì lâu lâu tôi điện thoại hỏi anh đang ở đâu, anh đều nói ở tuốt trên Hóc Môn. Đến khi anh mất, đọc thông tin trên báo, tôi mới biết hơn một năm anh chuyển về ngay sát nhà tôi. Anh đã lẩn tránh tôi, như nhiều nghệ sĩ tự trọng là người của công chúng, không muốn ai bắt gặp mình trong hình hài tàn tạ.

Hôm thứ hai sau ngày anh mất, từ sáng sớm vợ chồng tôi qua viếng anh. Tôi đọc bài thơ « Chia tay nhé » trước bài vị của anh. Bỗng một con bướm đen rất to bay vào, lượn lờ trên nắp quan tài. Tôi nói với Quế Trân: « Ba con rởm đời, ông ấy sợ xấu với ai, tại sao về ở đây lại giấu chú. Đáng ra còn có thể trò chuyện với nhau. Đấy, chú mới mắng có một câu, ông ấy đã lảng vảng về kìa ». Quế Trân cũng bảo: « Lạ quá chú ơi. Mấy bữa nay không có, liệu con bướm có phải là ba con?’’. Sau coi nhiều hình post trên mạng, cũng thấy có con bướm đen to đậu giữa trán, ngay trên đầu Quế Trân trong giờ đưa tang.

Tôi không kể lại câu chuyện khá hy hữu để truyền bá mê tín dị đoan, chỉ lờ mờ cảm thấy những ai thật lòng yêu thế giới này, họ sẽ lưu luyến mãi không muốn rời xa. Giờ đây, sáng sáng đi tập qua căn nhà anh luôn cửa đóng then cài, tôi vẫn thấy đâu đây thấp thoáng bóng dáng Thanh Tòng, như một thời anh rạng rỡ cười tươi cùng « Câu thơ yên ngựa » (một tác phẩm của đạo diễn Thanh Tòng).

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 21-5

Nhà viết kịch Lê Chí Trung

WIKIPEDIA : Danh sách các nhạc sĩ Tân nhạc Việt Nam

ân Danh sách các nhạc sĩ Tân nhạc Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
van cao
Văn Cao
pham duy.jpg
Phạm Duy
trinh cong son
Trịnh Công Sơn

Dưới đây là danh sách các nhạc sĩ Tân nhạc Việt Nam. Lưu ý, một số nhạc sĩ có niên đại sáng tác qua nhiều thời kì khác nhau với nhiều dòng nhạc khác nhau nên có thể được nêu nhiều lần trong nhiều giai đoạn.

Mục lục

Danh sách các nhạc sĩ Nhạc tiền chiến

Tên Tác phẩm phổ thông
Anh Việt Bến cũ, Lỡ chuyến đò
Canh Thân Cô hàng cà phê, Khúc ca mùa hè
Cung Tiến Hoài cảm, Hương xưa, Thu vàng
Châu Kỳ Mưa rơi (sáng tác với Ưng Lang), Nhạc sĩ trong sương chiều, Trở về, Từ giã kinh thành (sáng tác với Hồ Đình Phương)
Chung Quân Làng tôi
Dương Thiệu Tước Chiều, Bóng chiều xưa, Bạn cùng tôi, Cánh bằng lướt gió, Dưới nắng hồng, Đêm ngắn tình dài, Hờn sóng gió, Kiếp hoa, Khúc nhạc dưới trăng, Ngọc Lan, Ôi quê xưa, Sóng lòng, Đêm tàn bến Ngự
Doãn Mẫn Biệt ly, Hương cố nhân, Một buổi chiều mơ
Đan Thọ Chiều tím (thơ Đinh Hùng)
Đan Trường Trách người đi
Đặng Thế Phong Con thuyền không bến, Đêm thu, Giọt mưa thu
Đoàn Chuẩn – Từ Linh Chuyển bến, Gởi gió cho mây ngàn bay, Gửi người em gái, Lá đổ muôn chiều, Lá thư, Tà áo xanh (Dang dở), Tình nghệ sĩ, Thu quyến rũ, Chiếc lá cuối cùng, Đường về miền Bắc
Đỗ Nhuận Du kích sông Thao, Đoàn lữ nhạc
Đức Quỳnh Thoi tơ (thơ Nguyễn Bính)
Hiếu Nghĩa Ông lái đò
Hoàng Dương Hướng về Hà Nội, Tiếc thu
Hoàng Giác Cô hái mơ, Lỡ cung đàn, Mơ hoa, Ngày về, Tiếng hát biên thùy
Hoàng Quý Cô láng giềng, Chiều quê, Đêm trong rừng
Hoàng Trọng Dừng bước giang hồ, Gió mùa xuân tới, Một thuở yêu đàn, Nhạc sầu tương tư, Tiễn bước sang ngang
Huyền Linh Hồn Lam Sơn, Qua đền Vạn Kiếp, Trăng giải bên ngàn
La Hối Xuân và tuổi trẻ
Lam Minh Mơ khúc tương phùng
Lâm Tuyền Hình ảnh một buổi chiều, Tiếng thời gian
Lê Bình Đường lên sơn cước
Lê Mộng Nguyên Trăng mờ bên suối
Lê Thương Hòn vọn phu
Lê Trạch Lựu Em tôi
Lê Trọng Nguyễn Nắng chiều
Lê Trực Tiếng còi trong sương đêm
Lê Yên Bẽ bàng, ngựa phi đường xa, Xuân nghệ sĩ hành khúc
Lưu Bách Thụ Con thuyền xa bến
Ngọc Bích Bến đàn xuân, Chờ một kiếp mai, Lời hẹn xưa, Mộng chiều xuân
Nguyễn Đình Phúc Cô lái đò, Lời du tử, Nhớ quê hương
Nguyễn Hiền Tìm đâu
Nguyễn Mỹ Ca Dạ khúc (Nguyễn Mỹ Ca)
Nguyễn Thiện Tơ Giáo đường im bóng
Nguyễn Văn Khánh Chiều vàng, Nỗi lòng
Nguyễn Văn Quỳ Dạ khúc (Nguyễn Văn Quỳ)
Nguyễn Văn Tý Dư âm
Nguyễn Văn Thương Bướm hoa, Đêm đông, Trên sông Hương
Nguyễn Xuân Khoát Bình minh
Nhật Bằng Bóng chiều tà, Khúc nhạc ngày xuân
Phạm Duy Cô hái mơ, Cây đàn bỏ quên, Gươm tráng sĩ, Chú Cuội, Cành hoa trắng, Đêm xuân, Tiếng đàn tôi, Con đường cái quan, Đường chiều lá rụng, Tình kỹ nữ, Nhớ người thương binh, Nhớ người ra đi, Hẹn hò, Tình ca, Chinh phụ ca…
Phạm Duy Nhượng Tà áo văn quân
Phạm Đình Chương Hội trùng dương, Đón xuân, Ly rượu mừng, Mộng dưới hoa, Sáng rừng, Xóm đêm…
Phạm Ngữ Nhớ quê hương
Phan Huỳnh Điểu Mùa đông binh sĩ, Trầu cau
Phó Quốc Lân Xuân ly hương, Hương lúa miền Nam
Tạ Tấn Khi ánh chiều rơi
Tô Hải Nụ cười sơn cước
Tô Vũ Em đến thăm anh một chiều mưa, Ngày xưa, Tạ từ, Tiếng chuông chiều thu
Tu My Tan tác
Tuấn Khanh Chiếc lá cuối cùng
Từ Vũ Gái xuân
Tử Phác Tiếng hát quay tơ
Thẩm Oánh Tôi bán đường tơ, Xuân về
Thu Hồ Quê mẹ, Khúc ca Đồng Tháp, Tím cả rừng chiều
Trần Hoàn Lời người ra đi, Sơn nữ ca
Trần Văn Nhơn Ảo ảnh chiều thu, Hà Nội 49
Trọng Bằng Tình quê hương
Trọng Khương Bánh xe lãng tử
Văn Cao Buồn tàn thu, Cung đàn xưa, Bến xuânĐàn chim Việt, Suối mơ, Thiên Thai, Trương Chi
Văn Chung Bên hồ liễu, Bóng ai qua thềm, Khúc ca ban chiều, Tiếng sáo chăn trâu
Văn Giảng Ai về sông Tương
Văn Ký Trăng xưa
Văn Phụng Bên lưng đèo, Bức họa đồng quê, Mưa trên phím ngà, Tiếng dương cầm, Các anh đi
Văn Thủy Dứt đường tơ
Việt Lang Đoàn quân đi, Tình quê hương
Vũ Minh Cô hàng nước
Vũ Hòa Thanh Tình nước
Vũ Thành Giấc mơ hồi hương

Danh sách các nhạc sĩ Nhạc đỏ

Tên Tác phẩm phổ thông
Văn An Đôi dép Bác Hồ, Ấm tình quê Bác,…
Vĩnh An Hát về miền quê mới, Cây lúa non như con của mẹ, Nắng ấm quê hương,…
Trần Long Ẩn Một đời người một rừng cây, Tình đất đỏ miền Đông,…
Cao Việt Bách Tiếng hát từ thành phố mang tên Người,…
Nguyễn Đình Bảng
Hồ Bắc Ca ngợi Tổ quốc, Dáng đứng Việt Nam, Bến cảng quê hương tôi, Sài Gòn quật khởi,…
Trọng Bằng Bão nổi lên rồi
Hàn Ngọc Bích
Văn Cao Tiến quân ca, Trường ca sông Lô, Tiến về Hà Nội,…
Phạm Trọng Cầu
An Chung
Trần Chung Về Thăm Mẹ
Thái Cơ
Huy Cường Cô gái nuôi quân trên dải Trường Sơn, Rừng xanh yêu thương
Nguyễn Cường Tiếng trống pararuwng
Võ Văn Di
Huy Du Anh vẫn hành quân, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Đường chúng ta đi,…
Văn Dung
Phạm Duy Bà mẹ Gio Linh, Dân ca thương binh, Đường ra biên ải, Đoàn quân văn hóa, Nhớ người ra đi, Lập chiến công, Rèn cán chỉnh quân, Thanh niên quyết tiến, Tiếng hát Sông Lô, Bông Lau rừng xanh pha máu, Thanh niên ca, Người lính bên tê, Thiếu sinh quân, Về miền Trung, Nhạc tuổi xanh, Đường Lạng Sơn, Quân y ca, Xuất quân, Dân quân du kích, Dặn dò, Việt Bắc, Nương chiều, Bao giờ anh lấy được đồn Tây, Áo anh sứt chỉ đường tà…
Ánh Dương
Hoàng Dương Hướng về Hà Nội
Thế Dương Lướt sóng ra khơi
Hồng Đăng Biển hát chiều nay
Phan Huỳnh Điểu Đoàn Vệ quốc quân, Bóng cây Kơ-nia, Đêm nay anh ở đâu, Cuộc đời vẫn đẹp sao, Thuyền và biển, Những ánh sao đêm,…
Xuân Giao Cô gái mở đường
Hoàng Hà Đất nước trọn niềm vui
Bùi Đức Hạnh
Thế Hiển Hát về anh, Nhánh lan rừng
Hoàng Hiệp Chút thơ tình của người lính biển, Cô gái vót chông, Câu hò bên bờ Hiền Lương, Lá đỏ,…
Phan Lạc Hoa Tàu anh qua núi
Trần Hoàn Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm, Lời ru trên nương, Lời người ra đi,…
Vũ Hoàng
Vũ Trọng Hối
Xuân Hồng Xuân chiến khu,…
Dân Huyền
Tân Huyền
Hoàng Sông Hương
Ngô Huỳnh
Trương Quốc Khánh Tự nguyện
Nguyễn Xuân Khoát Tiếng chuông nhà thờ
Văn Ký
Tôn Thất Lập
Hình Phước Long
Lê Lôi
Trương Quang Lục Hoa sen Tháp Mười, Vàm Cỏ Đông
Trọng Loan
Quỳnh Chung Ngọc
Trương Tuyết Mai Huế tình yêu của tôi
Chu Minh
Đỗ Minh Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Đồng Nai Người sống mãi trong lòng miền Nam
Phan Thanh Nam
Phương Nam
Phong Nhã
Phan Nhân Hà Nội nièm tin và hy vọng
Đắc Nhẫn
Doãn Nho Tiến bước dưới quân kỳ,…
Văn Thành Nho Đất nước lời ru
Đinh Nhu Cùng nhau đi Hồng Binh (1930)
Đỗ Nhuận Du kích sông Thao, Áo mùa đông, Việt Nam quê hương tôi, Quê ta từ đất dấy lên, Trên đồi Him lam, Chiến thắng Điện Biên, Hành quân xa,…
Nguyễn Đình Phúc
Xuân Phương
Lưu Hữu Phước Hồn tử sĩ, Lên đàng, Tiếng gọi thanh niên, Tình Bác sáng đời ta, Tiến về Sài Gòn, Giải phóng miền Nam,…
Lê Quang
Minh Quang Hoa sim biên giới, Sông Lô chiều cuối tuần
Minh Quốc Tình đồng chí
Thế Song
Trịnh Công Sơn
Nguyễn Thành Qua miền Tây Bắc
Nguyễn Xuân Tân Dậy mà đi
Vũ Thanh
La Thăng (Nguyễn Văn Ngọ)
Nguyễn Đình Thi Người Hà Nội
Trần Tiến Giai điệu Tổ quốc, Vết chân tròn trên cát,…
Huỳnh Thơ
Ca Lê Thuần
An Thuyên Thơ tình của núi, Mẹ Việt Nam anh hùng,…
Lưu Bách Thụ
Ngô Quốc Tính
Nguyễn Đức Toàn Chiều trên bến cảng, Tình em biển cả, Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Đảng là lẽ sống của tôi,…
Lương Ngọc Trác
Nguyễn Hữu Trí Tiểu đoàn 307
Đỗ Đôn Truyền
Phạm Minh Tuấn Qua sông, Đường tàu mùa xuân, Khát vọng, Bài ca không quên, Đất nước, Dấu chân phía trước, Mùa xuân từ những giếng dầu,…
Nguyễn Tài Tuệ Xa khơi, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó,…
Phạm Tuyên Như có Bác trong ngày vui đại thắng, Đảng đã cho ta mùa xuân, Đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng,…
Diệp Minh Tuyền
Trần Kiết Tường Bài ca chiến thắng
Nguyễn Văn Tý Mẹ yêu con, Bài ca phụ nữ Việt Nam, Dáng đứng Bến Tre, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa,…
Hoàng Vân Hà Nội – Huế – Sài Gòn, Bài ca xây dựng, Tình ca Tây Nguyên, Hò kéo pháo, Hát về cây lúa hôm nay,…
Cát Vận Đi dọc Việt Nam
Hoàng Việt Lá xanh, Lên ngàn, Nhạc rừng, Đêm mưa dầm, Tình ca
Nguyễn Chí Vũ Dáng đứng Việt Nam
Lư Nhất Vũ Khúc hát người đi khai hoang, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn,…
Lê Yên Bộ đội về làng
Thuận Yến Con gái mẹ đã thành chiến sĩ, Bác Hồ một tình yêu bao la, Miền Trung nhớ Bác, Đi trong hương tràm, Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, Mỗi bước ta đi, Em đang ở đâu,…

Danh sách các nhạc sĩ Tình khúc 1954 – 1975

Tên Tác phẩm phổ thông
Anh Bằng Hoa học trò, Khúc thụy du, Nỗi lòng người đi
Duy Quang Kiếp đam mê
Đinh Trầm Ca Sông quê
Đức Huy Đường xa ướt mưa,Bay đi cánh chim biển,Đừng xa em đêm nay
Hoàng Lang Tơ lòng nghệ sĩ, Dạ khúc hoài cảm
Hoàng Nguyên Bài tango cho riêng em, Cho người tình lỡ
Huỳnh Anh Kiếp cầm ca, Thuở ấy có em
Khánh Băng Có nhớ đêm nào, Nếu một ngày, Sầu đông, Tiếng mưa rơi, Tìm ánh sao rơi, Vọng ngày xanh
Lam Phương Bài tango cho em, Cỏ úa, Chờ người
Lê Hoàng Long Gợi giấc mơ xưa
Lê Hựu Hà Hãy yêu như chưa yêu lần nào,Huyền thoại người con gái,Tôi muốn,Vào hạ
Linh Ngân Năm 17 tuổi
Lê Uyên Phương Cho lần cuối, Hãy ngồi xuống đây, Tình khúc cho em, Trên da tình yêu, Vũng lầy của chúng ta
Ngô Thụy Miên Áo lụa Hà Đông, Bài tình ca cho em, Bản tình cuối, Chiều nay không có em, Dấu tình sầu, Giáng Ngọc, Giọt nắng hồng, Giọt nước mắt ngà, Mắt biếc, Mùa thu cho em, Niệm khúc cuối, Paris có gì lạ không em?, Riêng một góc trời, Tình khúc buồn, Tình khúc tháng sáu, Từ giọng hát em, Thu khóc trên ngàn
Nguyễn Ánh 9 Ai đưa em về, Buồn ơi chào mi, Cơ đơn, Không, Lối về, Một phương trời nhớ, Tiếng hát lạc loài, Tình khúc chiều mưa, Tình yêu đến trong giã từ
Nguyễn Hiền Anh cho em mùa xuân, Hồ than thở
Nguyễn Hữu Thiết Ai đi ngoài sương gió
Nguyễn Ngọc Thiện Nếu em là người tình
Nguyễn Trung Cang Bâng khuâng chiều nội trú, Bước tình nồng, Còn yêu em mãi, Giấc mơ qua, Ngày nắng lên, Thương nhau ngày mưa, Xin một bóng mát bên đường
Phạm Duy Tình ca, Tình hoài hương, Ngày đó chúng mình, Thương tình ca, Ngày xưa Hoàng Thị, Giết người trong mộng, Đừng xa nhau, Tìm nhau, Còn gì nữa đâu, Nha Trang ngày về, Cỏ hồng, Tình hờ, Tình ca mùa thu, Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu, Thà như giọt mưa, Em hiền như Ma-soeur, Hai năm tình lận đận, Chỉ chừng đó thôi, Hẹn hò, Đường em đi, Trả lại em yêu…
Phạm Đình Chương Đợi chờ, Nửa hồn thương đau, Xóm đêm
Phạm Trọng Cầu Mùa thu không trở lại
Quốc Dũng Em đã thấy mùa xuân chưa, Hoang vắng, Mai, Thoát ly
Tùng Giang Anh đã quên mùa thu, Biết đến thuở nào, Tôi với trời bơ vơ
Từ Công Phụng Bây giờ tháng mấy, Kiếp giã tràng, Mắt lệ cho nàng, Mùa thu mây ngàn, Tuổi xa người
Thanh Bình Tình lỡ
Thanh Trang
Trầm Tử Thiêng Cơn mưa hạ, Đời không như là mơ, Hối tiếc, Mười năm yêu em, Tưởng niệm
Trần Quảng Nam Mười năm tình cũ
Trần Thiện Thanh Bảy ngày đợi mong, Khi người yêu tôi khóc, Mùa đông của anh, Người xa người, Tình có như không, Tình đầu tình cuối
Trương Quý Hải Khoảnh khắc
Trịnh Công Sơn Hạ trắng, Diễm xưa, Tình sầu, Tình xa, Tình nhớ, Nắng thủy tinh, Gọi tên bốn mùa, Tuổi đá buồn…
Trịnh Nam Sơn Con đường màu xanh, Dĩ vãng, Nhớ, Quên đi tình cũ, Về đây em
Trần Tiến Lá diêu bông
Trường Sa Mùa thu trong mưa, Rồi mai tôi đưa em, Xin còn gọi tên nhau
Văn Phụng Mưa, Tôi đi giữa hoàng hôn, Trăng sơn cước, Giấc mộng viễn du, Tình, Yêu, Yêu và mơ
Vũ Đức Sao Biển Thu hát cho người
Vũ Thành An Bài không tên, Tình khúc thứ nhất, Đêm say, Em đến hăm anh đêm 30, Lời tình buồn, Trong tay nhau
Y Vân Lòng mẹ, Những bước chân âm thầm, Sài Gòn, Xa vắng…

Danh sách các nhạc sĩ Nhạc vàng

Tên Bút danh Tác phẩm phổ thông
Anh Bằng Dạ Cầm, Hoàng Minh, Huy Cường Căn nhà ngoại ô, Chuyện hoa sim, Chuyện giàn thiên lý, Hồi chuông xóm đạo, Nó, Sầu lẻ bóng, Trúc đào…
Anh Sơn Nhà anh nhà em, Tay trắng tay đen, Tình vỗ cánh bay
Anh Thy Hoa biển, Lính mà em…
Anh Việt Thanh Lính thích 33,…
Anh Việt Thu Đa tạ, Mùa xuân đó có em, Nhớ nhau hoài, Người ngoài phố…
Bảo Thu Trần Anh Mai Giọng ca dĩ vãng, Nếu xuân này vắng anh, Xuân trong rừng thẵm…
Bắc Sơn Còn thương rau đăng mọc sau hè, Em đi trên cỏ non
Bằng Giang Thành phố mưa bay, Lính trận miền xa, Người em xóm đạo, Người về đơn vị mới…
Châu Kỳ Anh Châu Con đường xưa em đi. Đón xuân này nhớ xuân xưa, Được tin em lấy chồng, Giọt lệ đài trang, Sao chưa thấy hối âm, Túy ca…
Diên An Phương Kim Hãy quên nhau, Người tình, Vết thương cuối cùng
Duy Khánh Lối về đất mẹ, Tình ca quê hương, Trường cũ tình xưa, Xin anh giữ trọn tình quê…
Dương Thiệu Tước Đêm tàn Bến Ngự, Ơn nghĩa sinh thành…
Dzũng Chinh Những đồi hoa sim, Tha la xóm đạo…
Đài Phương Trang Phạm Vũ Quang Tứ, Quang Tứ Chuyến xe miền tây, Người yêu cô đơn, Ước mộng đôi ta…
Đinh Miên Vũ Sương trắng miền quê ngoại
Đỗ Kim Bảng Bước chân chiều Chủ Nhật, Mưa đêm ngoại ô, Vòng tay giữ trọn ân tình…
Đỗ Lễ Sang ngang
Giao Tiên Ngân Trang, Hoàng Hoa – Thảo Trang, Thu Anh, Kim Khánh, Rạng Đông Đám cưới nghèo, Mất nhau rồi, Nhớ người yêu, Phận gái thuyền quyên, Quán gấm đầu làng…
Hà Phương Du Uyên Mưa đêm tỉnh nhỏ, Mùa mưa đi qua…
Hàn Châu Cây cầu dừa, Những đốm mắt hỏa châu, Thành phố sau lưng, Về quê ngoại…
Hoài An Trang Dũng Phương Câu chuyện đầu năm, Ngày xuân thăm nhau, Tâm sự nàng xuân, Tình lúa duyên trăng, Trăng về thôn dã…
Hoài Linh Hà Vị Dương, Lục Bình Lê Áo em chưa mặc một lần, Căn nhà màu tím, Chuyến đò không em, Nỗi buồn gác trọ,…
Hoài Nam Ba tháng quân trường, Chín tháng quân trường, Vì trong nghịch cảnh…
Hiếu Nghĩa Ông lái đò,Chàng đi theo nước
Hoàng Nguyên Ai lên xứ hoa đào, Bài thơ hoa đào…
Hoàng Phương Hoa sứ nhà nàng, Hương sơri…
Hoàng Thi Thơ Tôn Nữ Trà Mi Chuyện tình cô lái đò bến Hạ, Đường xưa lối cũ, Mấy nhịp cầu tre, Rước tình về với quê hương, Trăng rụng xuống cầu, Túp lều lý tưởng…
Hoàng Trang Triết Giang, Trần Nguyên Thụy, Thiên Tường, Hồng Đạt Kể chuyện trong đêm, Không bao giờ quên anh, Ước nguyện đầu xuân…
Hoàng Trọng Cánh hoa yêu, Người tình không chân dung, Trang nhật ký…
Hồng Vân Trần Quý Đồi thông hai mộ, Gió lạnh đêm hè, Tàu về quê hương…
Hùng Cường Đêm trao kỷ niệm, Về thăm xứ lạnh…
Hùng Linh Áo cưới màu hoa cà, Mùa đông thương nhớ
Huy Phong Màu áo hoa rừng, Sao đổi ngôi, Thị trấn về đêm, Thành phố của em…
Huỳnh Anh Lạnh trọn đêm mưa, Loan mắt nhung, Mưa rừng…
Khánh Băng Anh Minh, Nhật Hà Đôi ngã chia ly, Nỗi buồn đêm đông, Vọng ngày xanh, Vườn tao ngộ…
Lam Phương Chuyến đò vĩ tuyến, Duyên kiếp, Em là tất cả, Kiếp nghèo, Khúc ca ngày mùa, Nắng đẹp miền Nam, Thành phố buồn…
Lê Dinh Chiều lên bản Thượng, Nỗi buồn Châu Pha, Tấm ảnh ngày xưa, Tuyết lạnh…
Lê Minh Bằng Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Giang Minh Sơn, Tây Phố, Trúc Ly Đêm nguyện cầu, Viết từ KBC, Cô hàng xóm, Linh hồn tượng đá, Tình đời, Kiếp cầm ca, Hai mùa mưa…
Lê Trọng Nguyễn Nắng chiều, Bến giang đầu…
Lê Mộng Bảo Anh Bảo, Hoa Linh Bảo, Tuyết Sơn Đập vỡ cây đàn, Nửa đêm thức giấc, Nhớ thương Hàn Mặc Tử…
Lê Văn Thiện
Mai Châu Một người đi
Mạnh Phát Tiến Đạt, Thúc Đăng Dấu chân kỷ niệm, Hoa nở về đêm, Nỗi buồn gác trọ, Sương lạnh chiều đông, Vọng gác đêm sương, Ngày xưa anh nói…
Mạnh Quỳnh Gõ cửa, Tình nồng quê hương
Mặc Thế Nhân Nhã Uyên Cho vừa lòng em, Mùa xuân cưới em, Ngày xuân vui cưới…
Minh Kỳ Biệt kinh kỳ, Chuyện ba mùa mưa, Chuyến tàu hoàng hôn, Đà Lạt hoàng hôn, Mưa trên phố Huế, Người em Vỹ Dạ, Xuân đã về…
Mộng Long Anh hãy về đi, Họa mi ca, Người em xứ Bưởi…
Ngọc Sơn Tú Nguyệt Hai tâm hồn một con số, Tơ duyên, Nét son buồn…
Ngân Giang Thượng Ngàn Anh về kẻo trời mưa, Người tình không đến, Nối lại tình xưa, Tôi vẫn nhớ…
Nguyên Lãng Giấc mơ địa đàng, Tình đã bay cao
Nguyễn Hiền Anh cho em mùa xuân
Nguyễn Hữu Thiết Ai đi ngoài sương gió, Chàng là ai, Hoa nhớ thương ai, Nàng xuân của tôi…
Nguyễn Văn Đông Đông Phương Tử, Phượng Linh, Vì Dân Chiều mưa biên giới, Nhớ một chiều xuân, Phiên gác đêm xuân…
Nguyễn Vũ Bài cuối cho người tình, Bài thánh ca buồn, Huyền thoại một chiều mưa, Lời cuối cho em…
Nhật Ngân Ngân Khánh, Song An cảm ơn, Một mai giã từ vũ khí, Ngày đá đơm bông, Ngày vui qua mau, Tôi đưa em sang sông…
Như Phy Hai đứa nghèo, Người mang tâm sự
Phạm Duy Ngày em hai mươi tuổi
Phạm Thế Mỹ Bông hồng cài áo, Đan áo mùa xuân, Những ngày xưa thân ái, Thương quá Việt Nam, Tóc mây, Trăng tàn trên hè phố…
Phạm Mạnh Cương Loài hoa không vỡ, Nhạc khúc mừng xuân, Thương hoài ngàn năm…
Phạm Minh Cảnh Con sáo sang sông, Chuyến đò chở nặng ân tình…
Phượng Vũ Cánh thư mùa hạ, Rừng ái ân, Chiếc khăn màu tím…
Quốc Dũng Bài ca tết cho em, Chuyện ba người, Chuyện hợp tan, Điệp khúc mùa xuân…
Song Ngọc Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến Chiều thương đô thị, Đàn bà, Định mệnh, Nó và tôi, Xin gọi nhau là cố nhân…
Tâm Anh Chuyện tình không suy tư, Chuyện tình không dĩ vãng, Phố đêm..
Thăng Long Quen nhau trên đường về, Nói với người tình…
Thanh Phong Anh buồn em thương, Đã lỡ duyên rồi, Cuộc gặp bất ngờ
Thanh Phương Căn nhà mộng ước, Nát cành hoa tím, Ngõ hẻm gặp nhau, Quán vắng biên thùy…
Thanh Sơn Sơn Thảo Bài ngợi ca quê hương, Đoản xuân ca, Hành trình trên đất phù sa, Hận Tha La, Lưu bút ngày xanh, Mùa hoa anh đào, Nỗi buồn hoa phượng…
Tô Thanh Tùng Dù anh nghèo, Giã từ, Sao anh nỡ đành quên, Tiễn biệt…
Trường Vũ Chuyện cung trăng, Mùa ly biệt
Trường Sa Chuyện người đan áo, Một lần xa bến, Xin còn gọi tên nhau…
Trương Hoàng Xuân Thy Linh Bạc trắng lửa hồng, Hái hoa rừng cho em, Xé thư tình…
Trầm Tử Thiêng 7000 đêm góp lại, Bài hương ca vô tận, Chuyện một chiếc cầu đã gãy, Đưa em vào hạ, Trộm nhìn nhau…
Trần Thiện Thanh Anh Chương, Thanh Trân Trần Thị Biển mặn, Chuyện hẹn hò, Đám cưới đầu xuân, Đồn vắng chiều xuân, Gặp nhau làm ngơ, Hoa trinh nữ, Lâu đài tình ái, Mùa xuân lá khô…
Trần Quang Lộc Về đây nghe em, Vùng lá me bay
Trịnh Hưng Tôi yêu, Lối về xóm nhỏ, Lúa mùa duyên thắm…
Trịnh Lâm Ngân Mùa xuân của mẹ, Người tình và quê hương, Qua cơn mê, Xuân này con không về…
Trúc Phương 24 giờ phép, Ai cho tôi tình yêu, Bông cỏ may, Con đường mang tên em, Kẻ ở miền xa, Nửa đêm ngoài phố, Tàu đêm năm cũ, Thói đời, Trên bốn vùng chiến thuật…
Trường Hải Những chiều không có em
Tú Nhi Lưu Trần Lê Đêm buồn tỉnh lẻ, Bài ca kỷ niệm, Xin làm người xa lạ, Trong tầm mắt đời, Xin vẫy tay chào…
Tuấn Hải Giận hờn, Như một cơn mê, Nửa đêm khấn hứa…
Tuấn Lê Hờn anh giận em, Tà áo đêm Noel, Lá thư đô thị, Ngày ấy mình yêu nhau…
Tuấn Khanh Quán nửa khuya, Hai kỷ niệm một chuyến đi, Mùa xuân đầu tiên…
Văn Giảng Thông Đạt, Nguyên Thông Hoa cài mái tóc, Tình em biển rộng sông dài…
Văn Phụng Ghé bến Sài Gòn, Giã từ đêm mưa, Xuân họp mặt, Xuân miền Nam…
Vinh Sử Cô Phượng, Hàn Ni Chuyến xe lam chiều, Đêm lang thang, Gõ cửa trái tim, Không giờ rồi, Nhẫn cỏ cho em, Vòng nhẫn cưới…
Vũ Đức Sao Biển
Xuân Tiên Duyên tình, Hận Đồ Bàn, Khúc hát ân tình, Về dưới mái nhà…
Y Vũ Ngày cưới em, Kim…

Danh sách các nhạc sĩ Nhạc trẻ

Tên Tác phẩm
Nguyễn Trung Cang Mặt trời đen, Bên nhau ngày mưa, Phiên khúc mùa đông
Bảo Chấn Bên em là biển rộng, Hoa cỏ mùa xuân, Nỗi nhớ dịu êm, Nơi ấy bình yên
Nguyễn Cường Đôi mắt Pleiku
Quốc Dũng Đường xưa, Cơn gió thoảng, Còn mãi nơi đây, Điệp khúc mùa xuân, Em đã thấy mùa xuân chưa, Hoang vắng, Mai,
Lê Hựu Hà Hãy yêu như chưa yêu lần nào, Cuộc đời, Đừng trách người ơi, Vị ngọt đôi môi, Tôi muốn, Ngỡ đâu tình đã quên mình, Vào hạ
Nguyễn Văn Hiên Bồ Câu Không Đưa Thư
Từ Huy Một thoáng quê hương, Mong đợi ngậm ngùi, Ngày em đến
Phạm Duy Dã ca ngày mùa, Tuổi mộng mơ, Bình ca một, Yêu là chết ở trong lòng, Ta yêu em lầm lỡ, Xin tình yêu Giáng sinh, Anh vái trời, Khúc tình buồn…
Phú Quang Em ơi Hà Nội phố, Im lặng đêm Hà Nội, Hà Nội ngày trở về, Nỗi nhớ mùa đông, Đâu phải bởi mùa thu, Mơ về nơi xa lắm,…
Vy Nhật Tảo Chuyến đò quê hương
Nguyễn Ngọc Thiện Nếu em là người tình, Như khúc tình ca, Chia tay tình đầu, Cô bé dỗi hờn, Cơn mưa lao xao
Trần Tiến Tùy hứng lý qua cầu, Sao em nỡ vội lấy chồng, Mặt trời bé con
Dương Thụ Cho em một ngày, Vẫn hát lời tình yêu, Mặt trời dịu êm, Hơi thở mùa xuân, Tháng tư về, Phố mùa đông, Họa mi hót trong mưa…
Thanh Tùng Em và tôi, Mưa ngâu, Giọt nắng bên thềm, Trái tim không ngủ yên, Một mình

Danh sách các nhạc sĩ Nhạc hải ngoại

Tên Thể loại, phong cách Tác phẩm
Lữ Liên Lạc mất mùa xuân
Trúc Hồ Em đã quên một dòng sông, Dòng sông kỷ niệm, Trái tim mùa đông, Triệu con tim
Nam Lộc Sài Gòn ơi!Vĩnh biệt, Người di tản buồn
Phạm Duy Nghìn năm vẫn chưa quên, Nghìn thu, Bên bờ sông seine ta ngồi ta khóc, Ngục ca, Rong ca, Hoàng Cầm ca, Bầy chim bỏ xứ, Trường ca Hàn Mạc Tử, Minh họa Kiều
Phan Văn Hưng Ai trở về xứ Việt, Bài ca tuổi trẻ
Việt Dzũng Lời kinh đêm, Một chút quà cho quê hương
Nguyệt Ánh Anh vẫn mơ một ngày về, Một lần đi, Cái cò
Jo Marcel Ngày đó
Hoàng Thanh Tâm Tháng sáu trời mưa
Ngọc Trọng Buồn vương màu áo
Nguyễn Tâm Rong rêu, Gặp nhau làm chi
Lê Tín Hương Có những niềm riêng, Con đường tôi về
Khúc Lan Sa mạc tình yêu
Diệu Hương Vì đó là em, Nói với tôi một lời
Hoàng Trọng Thụy Đoạn khúc cuối cho em, Người như cố quên
Nhật Trung Góc phố rêu xanh, Nửa vầng trăng
Phạm Khải Tuấn Trái tim bên lề
Sỹ Đan Tình yêu và trái đắng, Câu kinh tình yêu, Con tim mù lòa
Trúc Sinh Anh là tia nắng trong em, Đến bên nhau, Thà rằng anh nói
Lê Đức Long Tiễn đưa, Tình xuân
Vũ Tuấn Đức Xin hãy rời xa, Tôi không còn yêu em
Bảo Chấn Tình thôi xót xa, Nỗi nhớ dịu êm
Trường Kỳ
Thanh Tùng Trái tim không ngủ yên, Mưa ngâu
Nghiêm Phú Phi
Lê Văn Thiện
Nguyễn Đức Quang Việt Nam quê hương ngạo nghễ
Trần Ngọc Sơn Hạnh phúc lang thang
Châu Đình An Đêm chôn dầu vượt biển
Lê Xuân Trường Chỉ riêng mình ta
Vũ Đức Nghiêm Gọi người yêu dấu
Trần Văn Trạch  Nhạc hài hước
Ngọc Lễ

Danh sách các nhạc sĩ Nhạc đương đại

Tên Thể loại, phong cách Tác phẩm
An Thuyên Nhạc quê hương
Bùi Đình Thảo Nhạc thiếu nhi
Ca Lê Thuần
Cao Việt Bách
Cát Vận Tình yêu của biển
Đàm Linh Bài ca chim ưng,
Đặng Hữu Phúc
Đặng Ngọc Long
Đynh Trầm Ca Nhạc quê hương
Đỗ Dũng
Đỗ Hồng Quân Tiếng rao, Trổ một
Đỗ Nhuận Aria: em nghĩ sao không ra, anh ơi (opera Cô Sao)
Hoàng Dương (Ngô Hoàng Dương) Nhớ về quê hương,
Hoàng Lân Nhạc thiếu nhi
Hoàng Ngọc Tuấn
Hoàng Việt Quê hương
Huy Du Miền Nam quê hương ta ơi,
Huy Thục
Lê Tuấn Hùng
Lư Nhất Vũ
Lưu Hữu Phước
Mộng Lân Nhạc thiếu nhi
Ngô Hoàng Dương
Nguyên Lê
Nguyễn Đình Bảng
Nguyễn Đình Tấn
Nguyễn Mạnh Thường
Nguyễn Hữu Tuấn
Nguyễn Ngọc Thiện Nhạc thiếu nhi
Nguyễn Tài Tuệ
Nguyễn Thiên Đạo
Nguyễn Tiến Nhạc quê hương
Nguyễn Trọng Tạo Nhạc quê hương
Nguyễn Văn Nam
Nguyễn Văn Quỳ
Nguyễn Văn Thương Đồng khởi, Trở về đất mẹ
Nguyễn Xuân Khoát
Nhật Lai (Nguyễn Tuân)
Phan Ngọc
Phạm Duy
Phạm Quang Tuấn
Phạm Trọng Cầu Nhạc thiếu nhi
Phan Quang Phục
Phó Đức Phương Nhạc quê hương
Phú Quang Khát vọng
Tô Hải
Tôn Thất Tiết
Trần Quang Hải  Tân hôn dạ khúc, Mừng Phật Đản
Trần Mạnh Hùng Bạch Đằng Giang, Lệ Chi Viên, Một nửa cõi trần
Trọng Bằng (Nguyễn Trọng Bằng) Người về đem tới ngày vui,
Trương Quang Lục Nhạc thiếu nhi
Vĩnh Cát
Văn Cao
Văn Chung Tiếng sáo quê hương
Vũ Huy Tiến
Vũ Lê Phú

Xem thêm

Danh sách các ca sĩ Tân nhạc Việt Nam

Tham khảo

WIKIPEDIA : Tô Vũ (nhạc sĩ), tiểu sử

to vu 2

WI

Tô Vũ
Tên khai sinh Hoàng Phú
Nghệ danh Tô Vũ
Sinh 9 tháng 4, 1923[1]
Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang, Bắc Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất 13 tháng 5, 2014 (91 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Thể loại Nhạc tiền chiến, nhạc đỏ
Nghề nghiệp Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc, giáo viên, nhà quản lý
Ca khúc tiêu biểu « Em đến thăm anh một chiều mưa », « Tạ từ », « Tiếng chuông chiều thu »

Tô Vũ (tên thật: Hoàng Phú, 9 tháng 4 năm 1923 – 13 tháng 5 năm 2014) là một nhạc sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu âm nhạc đương đại của Việt Nam. Ông cùng với người anh là nhạc sĩ Hoàng Quý đã có mặt từ những ngày đầu tiên của tân nhạc Việt Nam đồng thời là những thành viên sáng lập ra nhóm Đồng Vọng, đại diện cho âm phái Hải Phòng. Hoạt động của nhóm trong làng âm nhạc Việt Nam thời tiền chiến từng tạo nên tiếng vang và để lại ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam. Nghệ danh Tô Vũ là do các bạn văn nghệ đặt cho ông, mượn tên của nhà ngoại giao Tô Vũ thời Hán Vũ Đế ở Trung Quốc.

Mục lục

Thân thế và sự nghiệp

Tô Vũ sinh ngày 9 tháng 4 năm 1923 tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang nhưng từ khi còn nhỏ ông đã chuyển về sống tại Hải Phòng cùng bốn người anh em ruột của mình. Hoàng Phú ít hơn người anh Hoàng Quý ba tuổi. Mẹ mất sớm, bố đi làm xa nên chủ yếu gửi tiền về nuôi các anh em ông. Trong số các anh em, Hoàng Quý và Hoàng Phú đặc biệt say mê âm nhạc. Hai anh em học được những kiến thức âm nhạc đầu tiên (violin) qua một phụ nữ người Pháp tên Leprêtre là chủ cửa hiệu Orphée, chuyên bán nhạc cụ và sách nhạc Tây ở Hải Phòng thời đó. Tuy nhiên, người tích cực khuyến khích hai anh em họ Hoàng đi theo « âm nhạc cải cách » (tân nhạc) là thầy dạy môn văn chương Pháp tên là Ngô Đình Hộ (tức nhạc sĩ Lê Thương), để cùng thầy biểu diễn trong các tiết mục văn nghệ của trường.

Năm 1939, Hoàng Quý và Hoàng Phú (Tô Vũ) quy tụ một số bạn bè trong đó có Phạm Ngữ, Canh ThânVăn Cao để lập ra nhóm nhạc Đồng Vọng. Nhóm Đồng Vọng sinh ra từ phong trào hướng đạo sinh do Hoàng Quý làm trưởng nhóm, lập ra với ý nghĩa như là tiếng gọi tập hợp thanh niên lại với nhau. Từ phương châm này, nhóm Đồng Vọng đã góp phần cổ suý cho nền tân nhạc Việt Nam. Nhóm sáng tác được khoảng 60 ca khúc mang nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng dân tộc. Ngoài ra, một số tình khúc của nhóm như Cô láng giềng của Hoàng QuýBến xuân của Văn Cao cho đến nay vẫn được coi như những tuyệt phẩm của nền tân nhạc Việt Nam.

Cũng như người anh Hoàng Quý, Hoàng Phú sớm tham gia Việt Minh. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ tại miền Bắc, Hoàng Phú gia nhập Ban Văn nghệ tuyên truyền Kiến An (Hải Phòng), còn Hoàng Quý cũng tích cực sáng tác và hoạt động cách mạng. Các ca khúc Cảm tử quân, Sa trường hành khúc của ông đã ra đời trong giai đoạn này. Nhưng vì mắc bệnh nan y nên Hoàng Quý đã qua đời giữa năm 1946 khi mới 26 tuổi. Khi đó Hoàng Phú vẫn hoạt động cách mạng trên địa bàn Hải Phòng. Ca khúc nổi tiếng nhất của ông là Em đến thăm anh một chiều mưa được sáng tác vào năm 1947, khi đơn vị của ông đang công tác tại huyện Tiên Lãng (Hải Phòng). Cũng trong thời kỳ này, nghệ danh Tô Vũ của Hoàng Phú đã được các bạn bè cùng hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ đặt cho ông.

Dù nhận được học bổng du học Pháp nhưng do anh trai là nhạc sĩ Hoàng Quý mất sớm nên Hoàng Phú quyết định ở lại Hải Phòng để lo cho những người em còn lại. Ông xin vào dạy hợp đồng ở trường Bình Chuẩn (tiền thân là Trường Bonnal, nay là Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền). Năm 1948, Hoàng Phú được chọn là đại biểu của Chiến khu 3 đi dự Đại hội Văn hóa Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất. Năm 1950, Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật được thành lập, Tô Vũ được mời tham gia trong ban nghiên cứu âm nhạc do nhạc sĩ Văn Cao làm trưởng ban.

Khác với nhiều tên tuổi của thời kỳ đầu tân nhạc Việt Nam (nhạc tiền chiến) không còn hoặc ít sáng tác về sau, Tô Vũ vẫn tiếp tục sáng tác trong giai đoạn chiến tranh sau này, nổi bật là các ca khúc như Cấy chiêm, Nhớ ơn Hồ Chí MinhNhư hoa hướng dương. Bên cạnh viết bài hát, ông còn sáng tác nhạc cho các loại hình sân khấu như tuồng, chèo, cải lương, múa rối,… và cho điện ảnh. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về chèo, cồng chiêng, đàn đá, thang âm – điệu thức và âm nhạc dân gian Việt Nam.[1]

Ông cũng từng đảm nhiệm cương vị Viện trưởng Viện âm nhạc cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh, Thư ký Đoàn Nhạc sĩ Khu III đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và là một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng Trường Âm nhạc Việt Nam (Nhạc viện Quốc gia sau này). Ông còn là một nhà nghiên cứu có thâm niên và uy tín trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc (nhạc truyền thống) cũng như âm nhạc hiện đại. Bên cạnh đó, ông cũng có công lớn trong việc đào tạo nhiều tài năng thế hệ sáng tác nhạc sau này. Sau sự kiện 1975, ông chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh và làm Viện phó Viện Nghiên cứu Âm nhạc, phụ trách bộ phận phía nam.[1] Ông được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt 1 (năm 2001).

Tô Vũ qua đời hồi 3 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 5 năm 2014 tại nhà riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 92 tuổi.[1]

Một số tác phẩm

Thanh nhạc và khí nhạc

  • Em đến thăm anh một chiều mưa (1947)
  • Tạ từ
  • Tiếng chuông chiều thu
  • Cấy chiêm
  • Nhớ ơn Hồ Chí Minh
  • Tiếng hát thanh xuân
  • Như hoa hướng dương
  • Ngày xưa
  • Những cánh buồm theo gió Đảng
  • Hoàng hôn trên xóm nhỏ
  • Nông thôn đổi mới (tác phẩm khí nhạc, hợp soạn cùng Tạ Phước)

Ấn phẩm

  • Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1995)
  • Băng nhạc Tô Vũ và Tuyển chọn ca khúc Tô Vũ (DIHAVINA và Hội Nhạc sĩ Việt Nam phát hành)

Chú thích

  1. ^ a ă â b Nhạc sĩ Tô Vũ qua đời, Báo Nhân dân, 13 tháng 5 năm 2014

Liên kết ngoài

Đặng Hoành Loan: ĐỜN CA TÀI TỬ – ÂM NHẠC “CỔ TRUYỀN MUỘN” CỦA CƯ DÂN NAM BỘ

  • ĐỜN CA TÀI TỬ – ÂM NHẠC “CỔ TRUYỀN MUỘN”
    CỦA CƯ DÂN NAM BỘ
  • Đặng Hoành Loan
  • dang hoanh loan

Ngày nay, mặc dù bị chi phối mạnh bởi sự hội nhập văn hóa, văn hóa, công nghệ và kinh tế toàn cầu, nhân dân Nam bộ vẫn trân trọng, yêu mến và duy trì lối chơi  Đờn ca tài tử trong đời sống thường nhật.

Đờn Ca tài tử, âm nhạc “cổ truyền muộn” của cư dân Nam bộ xứng đáng được xếp vào hàng Di sản văn hóa phi vật thể quý giá của Việt Nam.

 

XUẤT XỨ

Thế kỷ thứ XIX những người dân Việt ở Nam bộ đã có hai hình thức nghệ thuật có tính chuyên nghiệp đó là Tuồng và Nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làm nòng cốt, Nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc phục vụ hành lễ tín ngưỡng, lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt. Từ nhu cầu chơi nhạc, các nhạc công họat động trong hai hình thức nghệ thuật này, cùng với những nông phu yêu nhạc dựa vào âm nhạc của hai hình thức nghệ thuật trên để sáng tạo ra phong trào “đờn cây” (tức hòa đờn không có bộ gõ) để thoả mãn nhu cầu chơi nhạc trong những lúc nông nhàn, trong những ngày rảnh rỗi. Phong trào đờn cây nhanh chóng lan tỏa khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ. Câu ca dao “Đồng Nai có bốn rồng vàng/ Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi” đã minh chứng cho sự phát triển nhạc đàn của Nam bộ trong thời kỳ này (khoảng năm 1800).

Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều nhạc quan và nhạc công của các ban nhạc triều đình nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần vương. Họ là những người sớm biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam bộ với nhạc Huế để sáng tác ra những bản nhạc Tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp khắp hai miền Đông, Tây Nam bộ.  Đó là nhạc sư: Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi) (1880) ở Long An. Ông đã có nhiều năm nghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ, sáng tác các bản mới, rồi “tập hợp thống nhất được những ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đông-Tây Nam bộ, dựng nên dòng nhạc Tài tử”[1]. Cùng thời với ông còn có các nhạc sư Trần Quang Diệm (1853 -1927) ở Mỹ Tho, là nội tổ của GS. Trần Văn Khê. Lê Bình An (?) là cha của nhạc sư Lê Tài Khị (1862-1924) ở Bạc Liêu, Kinh lịch Trần Quang Quờn ở Miền Tây, thầy Tam, thầy Dũng, cha con ông Nguyễn Liêng Phong, Nguyễn Tùng Bá và hai vị quan chức khoa cử Phan Hiền Đạo, Tôn Thọ Tường học nhạc ở Huế là những người có công sáng tác bài bản, truyền dạy đờn ca tài tử khắp Nam bộ. Như vậy, từ phong trào đờn cây nhờ có các nhạc sư từ kinh đô Huế vào đã tạo ra sự biến đổi về chất để âm nhạc đờn cây trở thành hình thức âm nhạc cổ truyền  mới: Đờn ca tài tử.

NGHỆ THUẬT

a) Đàn tài tử

Để chơi đờn ca tài tử, người ta phải theo học các nhạc sư một thời gian rất dài, thường phải mất hai đến ba năm mới thông thạo các bản đờn, các kỹ thuật chơi đờn như: rung, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn mượn hơi, mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây; các cách đổ hột, rung cung của đờn dây cung kéo; các cách chầy, hưởng, mổ bấm, bịt, day, chớp, búng, phi, rải của đờn tỳ bà. Nhờ vào các ngón kỹ thuật này, người chơi mới chơi được các điệu và hơi trong bài nhạc tài tử.

Đến nay, nhạc mục tài tử đã lên tới vài trăm bản. Trong vài trăm bản đó, giới nhà nghề nhạc tài tử đã gút lại được 20 bản nhạc tiêu biểu và gọi là 20 bản tổ. 20 bản tổ gồm các bản: Lưu Thủy Trường, Phú lục Chấn, Bình Bán chấn, Cổ bản trường, Xuân tình chấn, Tây Thi trường, Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, Nam Xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung, Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang Nam – Cửu khúc, Phụng cầu.

Khi chơi 20 bản tổ cũng như chơi những bản đờn tài tử khác, người chơi được phép ngẫu hứng sáng tạo, để sáng tác ngay khi trình diễn những nét giai điệu mới mẻ trên cơ sở nhịp, câu, lớp, điệu (giọng), hơi, đã được quy định bởi lòng bản.

Lòng bản là những âm cơ bản (âm chính) của âm giai và tiết tấu của mỗi câu nhạc, lớp nhạc. Mỗi câu nhạc có số khuôn nhịp cố dịnh, thường có hai loại câu: câu  nhịp tư  và câu nhịp tám. Câu nhịp tư có 4 nhịp 4/4, câu nhịp tám có 8 nhịp 4/4. Lòng bản được tạo thành trên cơ sở các thang âm Bắc (hơi Bắc, hơi Hạ), thang âm Nam (hơi Xuân, hơi Ai, hơi Đảo) và thang âm Oán (hơi Oán). “Hơi được xác định bởi 4 yếu tố: Thang âm, Âm tựa, Chữ đàn và nét nhạc đặc trưng”[2].

Tất cả các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử phải thuộc thấu đáo lòng bản của từng bản nhạc tài tử. Có vậy khi hòa đờn họ mới nhanh chóng thoát khỏi sự giàng buộc của lòng bản để thăng hoa trong “sáng tác” các câu đờn, chữ đờn mà vẫn bảo đảm sự toàn vẹn bản hòa tấu nhạc tài tử.

Dàn nhạc hòa tấu nhạc tài tử truyền thống thường có có nhạc cụ: đờn kìm, đờn tranh, đờn tỳ bà, đờn cò, đờn bầu và ống tiêu. Khoảng nửa cuối thế kỷ XX có thêm  hai nhạc cụ phương Tây là guitare và violon tham gia vào dàn nhạc tài tử. Để hai nhạc cụ này tương thích với nhạc đàn tài tử  người ta đã cải tiến bằng cách khoét phím đàn guitare lõm xuống, gọi là guitare phím lõm và thay đổi cách lên dây của cả hai cây đờn.

Cách lên dây buông  guitare phím lõm:

– Dây Xề bóp:                 Xòn – Đô – Xon – Rê

– Dây Sài Gòn:               (Rề) – Xòn – Rê – Xon – Rế

– Dây Rạch Giá:             (Rề) – Xòn – Rê – la – mí

– Dây Tứ Nguyệt:            (Rề)- Là – Rê- La – Rế

– Dây Lai:                      (Xòn)- Rề – Xòn – Rê- La- Rế

– Dây Ngân Giang 1:     Xòn – Rê – Xon – Xi-Ré

– Dây Ngân Giang 2:     Rề – Là – Rê – Fa (thăng)-La

– Dây bán Ngân Giang: Rề – Xòn – Rê -Si- Rế

Cách lên dây buông violon:

– Dây Xề buông:             Xòn – Rê – Xon – Rế

– Dây Xề bóp:                 Xòn – Đô – Xon – Rế[3]

b) Ca tài tử.

Trên cơ sở các bản nhạc tài tử, người ta viết lời ca để các ca sĩ hát. Lời ca ra đời đã nhanh chóng trở thành công cụ đắc lực phát huy giá trị nghệ thuật và chức năng giáo dục của Đờn ca Tài tử đối với công chúng – một công chúng dân ca vốn có truyền thống tiếp nhận nội dung âm nhạc thông qua lời hát.

Không bao lâu sau, các ca sĩ trình diễn nhạc tài tử có lời đã thay đổi lối ngồi ca (ca “salon”) bằng cách ca có diễn điệu bộ gọi là “Ca ra bộ”. Ban nhạc tài tử biểu diễn Ca ra bộ được biết đến sớm nhất là ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) với cô Ba Đắc, người ca sĩ diễn ba vai Bùi Kiệm, Bùi Ông và Kiều Nguyệt Nga trong bài ca Tứ đại oán tại hội chợ đấu xảo ở Paris vào năm 1910. Ca ra bộ ra đời là tiền đề cho việc hình thành sân khấu Cải lương Nam bộ. Đến năm 1017, vở diễn Lục Vân Tiên của soạn giả Trương Duy Toản được trình diễn ở Sa đéc. Nhiều người coi đây là vở Cải lương đầu tiên. Vở Cải lương đã đánh dấu sự ra đời loại hình sân khấu truyền thống thứ ba của Việt Nam sau sân khấu Tuồng và sân khấu Chèo. Nhờ vào biểu mục nhạc tài tử phong phú, nhờ vào những giọng ca tài tử điêu luyện, sân khấu Cải lương đã nhanh chóng phát triển và trở thành sân khấu ăn khách nhất trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Nam bộ suốt thế kỷ XX. Ngược lại, sân khấu Cải lương cũng là tác nhân tích cực làm cho nhạc tài tử lan tỏa tới mọi lớp người từ thành thị đến nông thôn Nam bộ.

Nói đến sân khấu Cải lương, không thể không nhắc tới một bản nhạc có tính chất sự kiện, đó là bản Vọng cổ. Tiền thân bản Vọng cổ là bản Dạ cổ hoài lang do nhạc sĩ Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) biên soạn năm 1918 ở Bạc Liêu. Hơn một năm, từ sân chơi Đờn ca tài tử, bản Dạ cổ hoài lang bước lên sân khấu Cải lương. Kể từ đấy, nhờ vào những sáng tạo của nhiều danh ca, danh cầm, khắp Nam bộ, bản Dạ cổ hoài lang đã dần lột xác để biến thành bản Vọng cổ. Vọng cổ ra đời là một sự kiện âm nhạc lớn làm thay đổi diện mạo âm nhạc của sân khấu cải lương. Dần dà, bản Vọng cổ cũng được giới chơi nhạc tài tử yêu mến và trở thành bản nhạc không thể thiếu trong mỗi cuộc đờn ca.

c) Hòa đờn ca tài tử

Như đã trình bầy, những người chơi Đờn ca tài tử phải thuộc làu lòng bản các bản đàn. Khi chơi, họ được phép tự do sáng tạo ngẫu hứng thêm bớt các âm, biến hóa tiết tấu, thay đổi cường độ, tạo chỗ ngưng nghỉ để cho ra một bè đàn có tính cách rêng, kỹ thuật riêng của người nhạc sĩ chơi Đờn ca tài tử. Và cứ như vậy, nếu có 4 người hòa tấu 4 đàn khác nhau trên cùng một lòng bản họ sẽ cho ra 4 giai điệu có tánh cách khác nhau nhưng lại hợp thành “một tác phẩm hoàn hảo”. Lối hòa đàn của Đờn ca tài tử được các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam gọi là lối “hòa tấu biến hóa lòng bản”. FGS-Nhạc sĩ Hoàng Đạm cho rằng “ “Biến hóa lòng bản” là một trong nhiều cách viết âm nhạc khác nhau, mà từ lâu danh từ âm nhạc thế giới đã gọi là hétérophonie (hétéro là dị dạng, biến hóa khác nhau; phonie là âm điệu, giai điệu…Trung Quốc gọi cách viết này là “chi thanh” hoặc “phức điệu chi thanh”[4].

Trước khi vào bản đờn chính, người chơi đờn tài tử phải chơi câu rao. Câu rao là câu nhạc khởi đầu, rất ngẫu hứng của người chơi đờn. Câu Rao không có nhịp phách cố định, không có lòng bản như bản đờn, người chơi câu rao dựa trên cơ sở  điệu và hơi của nhạc tài tử mà sáng tác. Câu rao “chẳng những tạo một bầu không khí phù hợp với bản đờn, vui tươi cho bản Bắc, nghiêm trang cho bản Nhạc, êm ả cho bản Xuân, buồn dịu cho bản Ai, mà còn là một dịp để nhạc công thử dây đờn như người chơi kỵ mã thử ngựa, và lúc đó người nhạc công có thể phô tài của mình hay tuỳ hứng sáng tác những khúc mới lạ”[5].

NHỮNG NGƯỜI CHƠI ĐỜN CA TÀI TỬ

Trước kia những người chơi Đờn ca tài tử là những nhạc sĩ tài tử, họ không sống bằng nghề đàn hát. Họ chơi đờn một mình hoặc hòa đờn với nhau chỉ nhằm mục đích tiêu khiển khi nhàn rỗi. Khi chơi họ phải chọn những người bạn tri âm, tri kỷ, hiểu nhau từ cuộc sống đến nghệ thuật; hiểu nhau từ ngón đờn, chữ đờn đến tài năng nghệ thuật. Bởi với họ, lối chơi nhạc tài tử là đánh lên những âm thanh từ “tâm thức” để tạo ra một bản nhạc của “tâm thế”. Vì vậy chơi nhạc tài tử chính là chơi “tâm tấu”, chơi nhạc bằng cả lòng mình. Để có được điều đó, việc chọn bạn đờn và nơi để chơi đờn là điều vô cùng quan trọng.

Về sau, khi phong trào chơi Đờn ca tài tử lan rộng, quần chúng có nhu cầu thưởng thức, nhiều nhạc sĩ bậc thầy đã đứng ra thành lập các “ban nhạc tài tử” để đi trình diễn các nơi. “Ban nhạc tài tử” ra đời đã tạo ra lối chơi nhạc tài tử khác với lối chơi tiêu khiển trước đấy. Đó là lối biểu diễn nhạc tài tử trên bục diễn trước khán giả. Người ta còn biết “Vào năm 1915 Nguyễn Tống Triều và ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho lên trình diễn ở nhà hàng Cửu Long Giang bên cạnh chợ Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nhạc tài tử lên sân khấu chuyên nghiệp ở Sài Gòn”[6]

Song song với việc thành lập các ban nhạc tài tử, sân khấu Cải lương ra đời đã sản sinh ra nhiều nhạc sư, nhiều danh cầm chơi nhạc tài tử lừng danh. Họ là những người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, họ luôn luôn phải khổ luyện, phải sáng tạo, phải làm mới ngón đờn, chữ đờn của mình trong từng đêm diễn. Sự khổ luyện, sự sáng tạo nghệ thuật ấy đã biến họ thành những người điêu luyện trong trình diễn và nhạy bén trong sáng tạo các ngón đờn, chữ đờn mới, bổ sung, làm phong phú nghệ thuật Đờn ca tài tử.

Những người chơi ngẫu hứng, những ban nhạc chơi trên bục diễn, những nhạc công Cải lương chơi đờn tài tử đã đem lại cho loại hình âm nhạc này sự đa dạng về phong cách diễn tấu, đa dang âm sắc dàn nhạc và đa dạng khán thính giả nghe Đờn ca tài tử.

NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐỜN CA TÀI TỬ  LÀ NHẠC CỔ TRUYỀN

So tuổi đời với nhiều hình thức âm nhac cụ kỵ ở Việt Nam như Hát Xoan, Ca trù, Hát văn, Ca Huế, Hát Xẩm… thì Đờn ca tài tử chỉ dám nhận mình là cháu chắt, bởi nó mới ra đời ngót nghét một trăm năm, đồng tuổi với âm nhạc mới Việt Nam (nhạc tiếp thu của phương Tây từ đầu thế kỷ XX). Mặc dầu là vậy, nhạc tài tử vẫn được người Việt Nam xếp vào kho tàng di sản  âm nhạc cổ truyền của mình.

– Căn cứ thứ nhất, bài bản nhạc tài tử vẫn giữ nguyên lối cấu trúc âm nhạc cổ truyền Việt Nam –  lối cấu trúc lòng bản.

– Căn cứ thứ hai, nhạc tài tử vẫn giữ nguyên vẹn các dạng thang âm, các quãng cao độ trong các dạng thang âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

– Căn cứ thứ ba, các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử bằng các cây đờn kìm, đờn tỳ, đờn tranh, đờn bầu, đờn nhị. Đây là các cây đờn cổ truyền Việt Nam. Nhờ vậy các nhạc sĩ tài tử đã tiếp nối, phát triển, sáng tạo ra nhiều cách nhấn nhá chữ đờn mới để tạo thành âm hưởng nhạc tài tử Nam bộ.

– Căn cứ thứ tư, các nhạc sư dạy đờn tài tử vẫn giữ nguyên cách dạy truyền ngón, truyền khẩu có dựa trên những bài bản được ghi bằng chữ nhạc cổ truyền trên ký tự quốc ngữ.

Ngày nay, mặc dù bị chi phối mạnh bởi sự hội nhập văn hóa, văn hóa, công nghệ và kinh tế toàn cầu, nhưng nhân dân Nam bộ vẫn trân trọng, yêu mến và duy trì lối chơi  Đờn ca tài tử trong đời sống thường nhật.

Đờn Ca tài tử, âm nhạc “cổ truyền muộn” của cư dân Nam bộ xứng đáng được xếp vào hàng Di sản văn hóa phi vật thể quý giá của Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Thanh Bình: Đờn ca Tài tử – tiếng tự tình dân tộc, Thông báo Khoa học, số 13/2004, Viện Âm nhạc

[2] Vũ Nhật Thăng: Một cách hiểu về Điệu và Hơi trong nhạc Cải Lương – Tài tử. Tạp chí Âm nhạc, số  3.1993

[3] GS. Tô Vũ. Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại, tr. 124. Viện Âm nhạc – 2002

[4] FGS. Hoàng Đạm, Hòa tấu biến hóa Lòng bản âm nhạc cổ truyền người Việt. Viện Âm nhạc – 2003

[5] Trần Văn Khê. Vài cái hay cái dở trong nhạc Việt (Lối ca Huế và đàn tài tử). Tạp chí Bách Khoa, số 320. 1969.

[6] Nguyễn Thị Minh Ngọc, Đỗ Hương: Sân khấu Cải lương, tr. 86.  Nxb. Văn hóa Sài Gòn – 2007.

Nguồn: http://vnmusic.com.vn

http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2208-dang-hoanh-loan-don-ca-tai-tu-am-nhac-co-truyen-muon-cua-cu-dan-nam-bo.html

THANH HIỆP : Bảo tồn đờn ca tài tử không phải bằng liên hoan, giải thưởng

Bảo tồn đờn ca tài tử không phải bằng liên hoan, giải thưởng

25/05/2017 22:59

Làm sao để giới trẻ say mê đờn ca tài tử Nam Bộ mới là cách bảo tồn và phát huy hiệu quả di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại này

Hai liên hoan đờn ca tài tử (ĐCTT)- một cấp quốc gia, một của TP HCM (Giải Hoa Sen Vàng 2017) – vừa kết thúc. Nhiều huy chương được trao cho các cá nhân, tập thể, kết thúc một mùa liên loan đầy hoan hỉ của các nghệ nhân và ban tổ chức. Vấn đề đặt ra là liệu liên hoan, giải thưởng có tác động tích cực đến công tác bảo tồn và phát huy đờn ca tài tử Nam Bộ như công chúng và người trong giới mong đợi?

Cần không gian để sống

Những năm gần đây, việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại này được TP HCM và các tỉnh lân cận đẩy mạnh với sự quan tâm của các cấp chính quyền và cộng đồng. Trong không gian các liên hoan lần này, những nghệ nhân đờn và ca từ nhiều vùng miền đã trình diễn, trao đổi giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị ĐCTT. Điều họ trăn trở cũng chính là những câu hỏi cần có lời giải đáp xác đáng để ĐCTT Nam Bộ không « chết » ngay trên chiếc nôi đã sinh ra nó.

Bảo tồn đờn ca tài tử không phải bằng liên hoan, giải thưởng - Ảnh 1.

Chương trình « Đưa Đờn ca tài tử Nam Bộ vào học đường » do Trung tâm Văn hóa quận 1, TP HCM tổ chức tại Trường Bùi Thị Xuân

Theo số liệu mới nhất về hoạt động nghệ thuật ĐCTT trên địa bàn TP HCM, TP hiện có 118 CLB ĐCTT với hơn 2.000 tài tử đờn, ca tham gia sinh hoạt; nhiều hội thi, liên hoan… liên tục được tổ chức. Con số dù đầy lạc quan nhưng thực tế, không ít liên hoan, hội thi chỉ đậm tính phong trào, thậm chí quá hời hợt. Có nơi thành lập CLB ĐCTT chỉ để biểu diễn phục vụ nhân dịp lễ hội chứ chưa thực sự là điểm hẹn của những người yêu thích loại hình này.

Từ những miền quê hẻo lánh, ĐCTT Nam Bộ vẫn sống và bám rễ như cây lúa được ươm mầm qua bàn tay chăm bón của nhà nông. Chẳng có điều gì tạo nên sự dung dị, chân thật bằng những tài tử đờn, ca ban ngày lo việc đồng áng, tối về tụ họp nhau chơi ĐCTT trước sân nhà. Không gian đó đã nuôi dưỡng ĐCTT Nam Bộ bao đời nay và đã ươm mầm cho biết bao thế hệ trẻ say mê bộ môn này.

Gia đình nghệ nhân Phạm Sơn ở tỉnh Bình Phước đã có đến 5 đời gắn bó với ĐCTT Nam Bộ. Họ không xem ĐCTT là cái nghề sinh sống mà là để giải quyết nhu cầu đời sống tinh thần của gia đình. Ngày ngày, sau khi lo công việc đồng áng, người già lại dạy lớp trẻ học đờn, làm quen với đủ các loại nhạc cụ dân tộc để chúng thích chơi ĐCTT.

Khi được hỏi làm thế nào để giới trẻ yêu thích ĐCTT, nghệ nhân Phạm Sơn bày tỏ: « Mình phải chơi thật hay, thật sảng khoái thì con em mới thấy mê, cảm nhận được đó thật sự là thú vui tao nhã, ai cũng có thể hòa nhập. Từ đó, bọn nhỏ sẽ bị kích thích, khám phá và nhập cuộc ». Ông tự tin giới thiệu 9 thành viên trong đại gia đình mình – từ con trai, con gái, con dâu, con rể đến các cháu – đều là tài tử đờn, ca. Nghệ nhân Phạm Sơn cho biết cả xóm ông ở hầu như ai cũng biết đờn, ca; có đám tiệc khỏi mời nghệ sĩ vì « cây nhà lá vườn » đủ mang lại cuộc vui.

Khéo léo định hướng cho lớp trẻ

Gia đình nghệ nhân Chín Mến, ngụ tại Bến Tre, nhiều năm qua đã dành thời gian truyền những ngón đờn kìm, sến, tranh, bầu… cho thế hệ trẻ. Ai trong xóm có con mới học lớp 5, lớp 6, nghệ nhân này cũng khuyến khích đến nhà mình học đờn.

« Nhà tôi có đủ bộ kìm, sến, tranh, bầu…, bọn nhỏ thích cây nào thì tôi dạy cây đó. Khi các cháu say mê, tôi sẽ định hướng chúng theo đúng ngón đờn có khả năng. Nhờ vậy, đội văn nghệ của ấp chúng tôi giờ mạnh ngang ngửa CLB của Trung tâm Văn hóa tỉnh. Khoảng 10 cháu từ 14 đến 23 tuổi hiện gắn bó với tôi, tương lai sẽ là một thế hệ đủ sức phát triển ĐCTT ở địa phương » – nghệ nhân Chín Mến kỳ vọng.

Theo nghệ nhân Chín Mến, vấn đề truyền thụ ở đây là phải biết khơi gợi, đừng ép lớp trẻ phải đi theo đúng nền nếp trong khi họ chưa am tường niêm luật của bộ môn này. Cứ như cách dạy tân nhạc, cứ để lớp trẻ khám phá cây đàn organ, sau đó định hướng khi đi vào từng bài nhạc. Ở đây, cách định hướng cho giới trẻ rất quan trọng.

Nghệ nhân ưu tú Ba Tu cho rằng để giới trẻ thích thú, không gian ĐCTT Nam Bộ phải thật sự trong sáng. « Lâu nay, ĐCTT cứ chạy theo phong trào, đến ngày hội, ngày lễ mới quy tụ và còn mang tính hình thức trong biểu diễn. Trong khi đó, ĐCTT xuất thân từ dân gian, dù được gầy dựng từ CLB, đội nhóm của các trung tâm văn hóa thì vẫn phải trả về đúng với không gian nuôi sống nó: tính ngẫu hứng, không quá câu nệ về phục trang, về cách thức biểu diễn mà thật sự gần gũi đời sống. Giới trẻ cũng có thể ứng dụng nhạc cụ ĐCTT để đờn, ca theo tiết tấu mới, kiểu vọng cổ, bài bản, có như thế mới thật sự làm cho đời sống ĐCTT đồng hành với suy nghĩ, sở thích và ý thức khám phá của giới trẻ » – nghệ nhân này nhìn nhận.

Trong khi đó, NSND – nhạc sĩ Thanh Hải đặt vấn đề: « Tại sao cứ phải treo giải thưởng theo phong trào, phải có được giải thưởng thì mới đầu tư? ». Theo ông, chính vì chạy theo hình thức nên một số tỉnh, thành đã không tạo được sự say mê khám phá ĐCTT một cách trong sáng của giới trẻ. Điều giới trẻ cần chính là tấm lòng truyền nghề một cách tận tình qua từng bài đờn, bài ca của các nghệ nhân đi trước.

« Theo tôi, nếu tránh hình thức, mang tính phong trào, tránh sự giả tạo trong cách nuôi dưỡng mầm non tài năng thì đời sống ĐCTT Nam Bộ sẽ đạt được những thành tựu nhất định » – nhạc sĩ Thanh Hải bày tỏ.

Cần chính sách đãi ngộ hợp lý

Theo thạc sĩ Huỳnh Khải, chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân trong việc giữ gìn, bảo tồn ĐCTT là rất cần thiết. Các nghệ nhân đều đồng tình với quan điểm muốn nuôi dưỡng ĐCTT Nam Bộ, ngoài danh hiệu nghệ nhân dân gian đã trao tặng, nhà nước cần có chế độ chính sách đãi ngộ thiết thực. « Hễ có phong trào đi tập, đi diễn thì mới có tiền bồi dưỡng. Cho nên, nhiều nơi chỉ làm phong trào cốt để nhận tiền còn thực chất gần như chưa nơi nào làm đúng việc nuôi dưỡng tài năng ĐCTT » – nghệ nhân Chín Mến băn khoăn.

Thực tế, theo thời gian, nhiều nghệ nhân dân gian giỏi nghề như: Ba Tu, Tấn Nhì, Chín Mến, Phạm Sơn, Út Mít, Tám Gia, Bảy Vị… đều tuổi cao sức yếu. Những « báu vật sống » này – theo cách gọi của UNESCO – đang dần mất đi. Nếu không có sự đãi ngộ thiết thực cho nghệ nhân trong việc truyền nghề thì sẽ dẫn đến nguy cơ thất truyền ngày càng cao. Từ nhiều năm nay, chính sách về lương bổng giúp nghệ nhân có thể sống và truyền nghề vẫn chưa được hoạch định.

Bài và ảnh: Thanh Hiệp