Mois : mai 2017

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU : Nghệ thuật hò sông Mã và sự phục sinh

Tác giả:
Nguyễn Thị Minh Châu

Thanh Hóa là một tỉnh giáp ranh giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam, phía Tây giáp Lào và phía Đông là biển. Nơi đây có những cảnh quan thiên nhiên rất kỳ thú và đa dạng về địa hình tự nhiên, đủ các vùng từ núi rừng, trung du, đến đồng bằng, sông biển. Nơi đây có đến bảy nhóm dân tộc khác nhau cùng chung sống: Việt, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ mú. Đây cũng là nơi còn lưu lại nhiều dấu tích của hơn bốn nghìn năm lịch sử: di tích thời đại đồ đá, thời đại đồng thau (với trống đồng là sản vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn), các đền miếu, đình chùa, thành quách… Nhờ vị thế đặc biệt như một cửa ngõ giao thông nên trong quá khứ xa xưa đã hai lần tỉnh Thanh được chọn làm kinh đô (đời Hồ thế kỷ XV và thời hậu Lê thế kỷ XVI). Bên cạnh các di tích lịch sử, mảnh đất này còn giữ lại được những truyền thống văn hóa phi vật thể lâu đời, và người dân xứ Thanh có thể tự hào với kho tàng âm nhạc dân gian đặc sắc của mình.

Thiên nhiên, đời sống vật chất và tinh thần của người dân Thanh Hóa gắn liền với dòng sông Mã. Người ta cho rằng cái tên “Mã” của con sông được bắt nguồn từ chữ “ma” tiếng Mường – ma nghĩa là mẹ, sông Mẹ, mẹ của 89 sông con hợp thành trước khi đổ ra biển. Không chỉ nuôi sống cư dân tỉnh Thanh bằng nghề chài lưới, sông Mã còn là nguồn tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp, là tuyến giao thông thuận lợi cho buôn bán nông sản, thủy sản, lâm sản, đồ thủ công (vải, gốm…). Buôn bán sầm uất thúc đẩy sự phát triển các nghề mang tính chuyên nghiệp gắn bó với con sông, đó là nghề đóng thuyền đinh (vì mạn thuyền được ghép vào khung thuyền bằng hàng ngàn chiếc đinh), nghề chủ đò dọc và buôn đò dọc (buôn chuyến dài ngày trên con thuyền đinh dọc theo sông).

Sông Mã có hai bờ cao thấp khác nhau, bên này bồi bên kia lở. Bãi sông bên bồi rộng và thoai thoải thuận lợi cho việc đóng thuyền và dựa theo nước thủy triều đưa thuyền xuống sông. Dọc theo bên lở là những bến đò đưa đón khách. Để cạnh tranh khách, các chủ đò đua nhau đóng đò đẹp, đò to, trọng tải từ 9 lên đến 15 tấn, có mui có buồm và nhiều khoang, như khoang lái, khoang bếp, khoang nghỉ ngơi… thuận tiện cho khách buôn xếp hàng hóa và sinh hoạt ăn ở trong nhiều ngày. Một chuyến đò dọc cần đến mười trai trẻ lực lưỡng, trong đó có một lái chính và một lái phụ, tám người còn lại chia thành hai tốp luân phiên chèo chống. Công việc vận hành đò vất vả, nhưng đi đến đâu các trai đò hát hò đến đó, vừa để hỗ trợ lao động tập thể khi cần đồng tâm hợp lực, vừa là cách giải khuây giãi bầy tâm tư. Từ lao động sông nước và đời sống sinh hoạt trên con đò đã sinh ra những câu hát điệu hò thích ứng với công việc và tâm trạng của người diễn xướng, hình thành một nghệ thuật âm nhạc dân gian mang đậm bản sắc địa phương: Hò sông Mã.

Đến giữa thế kỷ trước, những con đò dọc sông Mã bắt đầu thưa thớt dần rồi gần như vắng bóng do hoàn cảnh chiến tranh, và sau đó còn do đời sống xã hội biến đổi không ngừng theo đà tiến triển tất yếu của cơ giới hóa, kỹ thuật hóa, văn minh hóa. Được thay thế bằng ca nô, tàu sắt, thuyền xi măng gắn máy, con đò dọc bằng gỗ từ một phương tiện giao thông duy nhất đã mất đi vị trí độc tôn và dần dần không còn chỗ đứng hợp lý trong cuộc sống đương đại nữa. Cùng với sự vắng bóng con đò dân dã là sự quên lãng những câu ca điệu hò trên sông từng được coi như đặc sản không đâu có của người xứ Thanh. Nửa thế kỷ trôi qua, Hò sông Mã cũng như hình ảnh con đò dọc, chỉ còn lưu lại trong ký ức của thế hệ cao niên. Họ đang lần lượt ra đi mà chẳng kịp truyền lại cho đời sau những gì gần nhất với nguyên bản của Hò sông Mã.

Để cứu vãn một hình thức nghệ thuật dân gian không còn khả năng tồn tại trong đời sống sinh hoạt ngày nay, một số cơ quan nhà nước và địa phương cùng các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian đã tích cực sưu tầm các làn điệu Hò sông Mã, chủ yếu là thu thanh, ký âm bằng nốt nhạc trên năm dòng kẻ, xuất bản phần ký âm và các tài liệu chuyên khảo về thể loại hò sông nước độc đáo này. Đáng tiếc là giá trị nghệ thuật của Hò sông Mã không còn trọn vẹn khi bị tách ra khỏi môi trường sinh hoạt trên sông nước. Tỉnh Thanh Hóa đã cố gắng làm một việc cần thiết: dựng lại để quay hình môi trường diễn xướng của Hò sông Mã. Chỉ có điều trên con thuyền xi măng, những động tác chèo chống gắn bó hết sức tự nhiên với điệu hò năm xưa đã không thể tái tạo lại một cách chân thật nên chưa thu được một thành phẩm đủ tính thuyết phục về mặt nghệ thuật cũng như khoa học.

Thực hiện dự án “Khôi phục, bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật truyền thống tiểu vùng sông Mã” năm 1999, Viện Âm nhạc liên tiếp tổ chức các đợt điền dã, phỏng vấn các nghệ nhân, làm sống dậy những kỷ niệm xa xưa của người dân vùng sông Mã, chắp nối phục hiện những mảnh ký ức đang phai nhạt dần theo tháng năm. Thấy rõ vai trò của con đò dọc năm xưa trong việc tái tạo môi trường diễn xướng cho Hò sông Mã, dự án đã làm nên một “sự kiện lịch sử” cho mảnh đất từng là nơi cha truyền con nối nghề đóng đò dọc: đóng một con đò gỗ theo đúng quy trình trước đây, bắt đầu từ lễ Phạt mộc (cúng khởi công), làm đáy đò, làm mạn thuyền, rồi đóng ván tầng trên, giương cột buồm, làm mui, bánh lái, bai chèo… Lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ bị “thất nghiệp”, các thợ đóng thuyền đinh còn sống sót nay lại có cơ hội cùng nhau hành nghề cũ theo phương thức thủ công: xẻ gỗ và bào gỗ bằng tay, khoan ván thuyền bằng tay, uốn cong mạn thuyền bằng cách đốt nóng… Vất vả nhất và cũng đáng tận mắt chứng kiến nhất là công đoạn đóng đinh đà: một người đóng vào đinh ở ngoài vỏ thuyền, một người đóng vào cái đà ở trong vỏ thuyền, dù không thấy nhau nhưng nghe tín hiệu là cùng gõ một lúc. Khoảng 20 ngày sau, quy trình tái tạo con đò dọc được kết thúc bằng lễ Hạ thủy (lao thuyền xuống sông) trong niềm vui chen nỗi xúc động rưng rưng của người dân xứ Thanh và những người tham gia dự án. Bao nhiêu năm rồi mới lại vang lên trên bãi sông tiếng hò đẩy thuyền:

Thuyền tôi vừa mới đóng xong
Chúc ông chính chủ buôn trăm bán nghìn

Trên dòng sông Mã lại xuất hiện một con đò gỗ, như đã từng quen thuộc từ hơn nửa thế kỷ trước. Con đò trở thành một “sàn diễn” nổi trôi trong không gian thiên nhiên sông nước mây trời, còn “nghệ sĩ biểu diễn” là các cụ ông từng làm trai đò năm xưa và các cụ bà từng là khách buôn năm xưa. Trở về với cảm xúc của tuổi mười tám đôi mươi,  họ sống lại cùng những câu ca điệu hò thuở nào được sinh ra được nuôi dưỡng bao đời trên con sông này.

Hành trình một chuyến đò dọc sông Mã được phục hiện lại qua các làn điệu được gọi tên theo từng chặng khác nhau từ lúc rời bến đến khi cập bến. Hệ thống Hò sông Mã giống như cuốn nhật ký ghi lại lịch trình con đò giúp ta có thể mường tượng ra một chuyến đi như sau:

Sau khi đón khách đông đủ, con thuyền phấn chấn khởi hành trong làn điệu Hò rời bến chắc khỏe, dứt khoát. Cũng như các điệu hò lao động ở nhiều vùng miền khác, đa số các làn điệu Hò sông Mã được hát theo lối xướng – xô, nghĩa là câu kể của một người bắt cái (thường là người cầm lái) được luân phiên với câu đồng thanh phụ họa của các trai đò.

Chặng đường cực nhọc nhất bắt đầu khi con thuyền bơi ngược dòng nước. Trong điệu Hò đò ngược, sau mỗi câu kể của người bắt cái như hiệu lệnh để cùng thống nhất động tác lấy đà, các trai đò vừa hùa nhau hát câu xô vừa chống sào đẩy thuyền tiến về phía trước. Khi thuyền chẳng may mắc vào những doi cát ngầm cần có người nhảy lên bờ dùng dây kéo thuyền, lúc gay cấn hơn trai đò còn phải lội xuống nước để đẩy hai bên mạn thuyền hoặc dùng vai vác thuyền qua khúc cạn. Dành cho những lúc gặp sự cố đó có các làn điệu Hò mắc cạn, Hò kéo thuyền, Hò vác thuyền… Tiếng xô ở đây thường rút ngắn, giản đơn và có thể không rõ cao độ (Hò vác thuyền). Chưa hết, con thuyền đôi khi còn phải đối đầu với thác gềnh nữa, cả câu xướng lẫn xô trong Hò vượt thác đều ngắn gọn, chắc nịch. Thuyền càng đi ngược lên phía thượng nguồn càng gặp nhiều vực sâu mô đá. Tới những nơi hiểm trở hoặc linh thiêng chủ đò thường cho dừng thuyền lại để trai đò và hành khách cúng bái cầu may cho chuyến đi. Gặp đền thờ, miếu mạo họ thường hát Hò làn văn, qua cảnh chùa chiền lại có Hò niệm Phật.

Khi thuyền thong dong trôi theo dòng nước êm ả, công việc không vất vả căng thẳng như lúc lên thác xuống ghềnh. Người giữ tay lái cất giọng hò các làn điệu Hò xuôi dòng, bốn trai đò chia ra hai bên mạn thuyền thong thả chèo vừa hòa giọng xô vừa nhịp nhàng giậm chân lên mặt ván. Ban ngày hò ít hơn đêm, tiếng hò văng vẳng trong đêm càng hay hơn. Khoảng nửa đêm đến sáng trong cảnh tĩnh lặng mênh mông, họ đưa khách vào giấc nồng bằng các điệu Hò ru ngủ. Trai đò còn “phục vụ” khách đò bằng Hò làn ai  dựa trên các tích chuyện éo le, cảnh đời sầu bi, tình yêu dang dở. Lúc thuận buồm xuôi gió thảnh thơi ngơi chèo cũng là lúc trai đò tha hồ tâm tình ngẫu hứng. Cùng chia sẻ buồn vui với các chàng trai đò, cùng đối đáp với họ trong những khúc giao duyên tình tứ còn có các nàng khách buôn trên thuyền và đôi khi cả các cô gái ở dọc bên bờ sông nữa. Có khi chẳng biết mặt biết người trên bờ, nhưng mê tiếng hát, phục tài đối đáp đến nỗi thuyền phải cắm lại để hò với nhau vài ba câu.

Thuyền anh thấp thoáng bên sông
Thấy cô ngồi bến đứng trông anh về…

Mỗi lần đến bến, trai đò thường hò dăm ba câu báo hiệu đánh thức khách. Con thuyền rộn ràng nhấn mạnh mái chèo theo tiếng xô ngắn gọn, dứt khoát của trai đò trong điệu Hò cập bến. Đây cũng có thể là làn điệu kết thúc cho chuyến đi sau nhiều ngày đêm gắn bó khách với đò.

Phong phú về làn điệu nên Hò sông Mã rất đa dạng về mặt thang âm điệu thức. Dường như hệ thống ngũ cung lâu đời của dân tộc Việt được vận dụng cả vào đây. Có thể thấy từ thang 3 âm, 4 âm đến 5 âm, thậm chí 6 âm nhờ sự kết hợp hai thang âm khác nhau, và gặp đủ mặt 4 thang âm ngũ cung đặc trưng của Việt Nam: Bắc, Nam, Xuân và Oán (xem bảng thí dụ sau).

3 âm g-c-es Sắng đò ngược
4 âm g-a-c-d

g-b-c-d

g-c-d-e

Hò đường trường

Hò ru ngủ

Hò xuôi nhịp đôi, Hò cập bến

5 âm g-a-c-d-e (Bắc)

g-b-c-d-f (Nam)

g-b-c-d-e (Oán)

Hò vượt thác, Xuống chèo, Hò ru ngủ hành khách

Hò cập bến, Hò niệm Phật, Điệu chèo sâu, Điệu chèo cạn

Hò xuôi dòng, Hò làn văn, Hò xuôi ru ngủ

6 âm (do kết hợp hai dạng thức 5 âm) g-a-c-d- (Bắc)
———- (Xuân)g--c-d-f (Nam)
——- (Xuân)
g--c-d-f (Xuân)
——-  (Nam)
Hò xuôi nhịp đôi một
Hò xuôi nhịp đôi hai
Hò kéo thuyền

Điểm độc đáo nhất của Hò sông Mã được làm nổi rõ trong những thước phim của dự án: giai điệu uyển chuyển luôn gắn liền với tiếng giậm chân rộn rã lên mặt ván thuyền theo một âm hình tiết tấu không đổi nghe như nền đệm của nhạc cụ gõ. Có thể hình dung động tác đôi chân trong một chu kỳ tiết tấu như sau: một chân bước lên giậm phách đầu kết hợp với động tác đưa toàn thân về phía trước đẩy chèo, chân kia giậm hai phách yếu rồi trụ lại ở phách mạnh trong lúc toàn thân ngả ra để kéo chèo về phía sau. Khi phát triển hạt nhân tiết tấu chỉ cần điểm thêm các phách yếu ở chân sau. Để tiện so sách, xin dẫn ra sau đây tiết tấu của đôi chân như một âm hình chủ đạo trong một số làn điệu (kèm theo câu xô cũng là một motif lặp lại):

1.Hò rời bến:

2.Hò lèo 2 (xuôi dòng):

3.Hò lèo 3 (xuôi dòng):

4.Hò niệm Phật:

5.Hò làn văn:

6.Hò làn ai:

7.Hò cập bến:

Những làn điệu trên sẽ trở nên vô hồn nếu tách giai điệu ra khỏi nhịp chân có một không hai này. Tính ngẫu hứng theo tâm trạng người hát luôn kết hợp với tính chuẩn mực trong động tác lao động. Tốc độ nhanh chậm của con đò gắn liền một khối cùng giai điệu Hò và tiết tấu đôi chân. Động tác gõ đơn giản hay phức tạp là tùy thuộc vào từng khúc sông khác nhau, thời điểm khác nhau: chẳng hạn lúc rời bến và cập bến thì khẩn trương dứt khoát theo tiết tấu chân phương, lúc xuôi dòng thảnh thơi hơn có thể giậm thêm vài “nhát” ở chân sau. Đôi lúc ngồi cầu khấn thần linh phù hộ cho chuyến đi, các trai đò cũng vỗ tay lên mặt ván thay nhịp đôi chân, để duy trì tiết tấu như duy trì một hạt nhân xuyên suốt hầu hết các làn điệu trong Hò sông Mã. Các trai đò vừa là người lao động, vừa là tác giả, vừa là người diễn xướng. Với động tác đôi chân, họ còn giữ thêm vai trò “nhạc công” và “múa minh họa”. Bởi vậy, Hò sông Mã chỉ để “nghe” chưa đủ mà phải “xem” mới thấy hết vẻ khác lạ của nó. Chẳng vô cớ khi động tác giậm chân lên ván cũng đi vào lời ca điệu hò:

…Anh tài đạp lái chúng tôi cầm chèo
Phách nhất chèo mở mái ra
Phách nhì chân giậm, phách ba reo hò
(Hò đường trường)

Xuống thuyền anh giậm nhịp ba
Anh giậm nhịp bảy nó ra nhịp mười
Anh chẳng giậm thời thuyền chẳng đi
Giậm ra, ván nát, thuyền thì long đanh…
(Điệu chèo cạn)

Hò sông Mã có hàng ngàn lời ca lấy từ kho tàng dân gian truyền miệng phản ánh sinh hoạt vật chất và đời sống tinh thần của người dân, đôi khi câu hò còn do trai đò tức hứng theo thể thơ lục bát để gửi gắm tình cảm riêng tư. Là những người lao động nghèo, không được học hành, nhưng trai đò có tài hát đối, khéo vận những chuyện tình cảm vào câu hò làm mê lòng khách, biết lựa theo tâm trạng gia cảnh của khách mà ngâm Kiều, Lục Vân Tiên, Tống Chân Cúc Hoa cùng nhiều tác phẩm vô danh hữu danh khác. Gặp nhau, mến nhau qua tiếng hát hò, mến rồi không gặp cũng nhớ – khách nhớ đò, đò nhớ khách.

Vắng cơm một bữa chẳng sao
Vắng em một bữa lao đao cả ngày
Vắng em chỉ một phiên đò
Trầu ăn chẳng có chuyện đò thì không.

…ở nhà cha mắng mẹ hò
Em đi đò dọc em không muốn về.

…Cô lấy thầy lý một năm
Không bằng cô ngủ một đêm dưới đò

Các nghệ nhân kể lại rằng có bà vợ quan huyện say trai đò bỏ cả cuộc sống sung túc nơi huyện đường để đi theo đò, lại có những người tu hành đi đò rồi mê mẩn bỏ cả chùa theo trai đò. Dù bị miệt thị và phải sống cuộc đời gian truân, nhưng bù lại các trai đò không những được khách đò yêu mến mà còn được chủ đò chiều chuộng. Nếu trai đò không vừa lòng bỏ sang đò khác thì chủ đò sẽ mất khách. Đò nào có trai đò hò hát hay đối đáp giỏi chắc chắn thu hút nhiều khách hơn đò khác. Sự cạnh tranh khách diễn ra giữa các đò khi đó không còn bằng mách lới vật chất, mà bằng nghệ thuật, bằng cái duyên cái tài của người nghệ sĩ dân gian.

Thật may mắn là nhờ dự án này mà Viện Âm nhạc đã kịp thời lưu lại nhiều câu chuyện, những làn điệu, cách diễn xướng của chính các nghệ nhân phần lớn đã quá tuổi 70 vào thời điểm đó, nay tuổi cao thêm chắc gì họ còn đủ sức hát hò nói chi đến vừa chèo đò vừa hát. Trên cơ sở các tư liệu âm thanh và hình ảnh ghi lại được từ dự án, năm 2002 Viện Âm nhạc đã phát hành một CD các làn điệu Hò sông Mã và một VCD có lời bình mang tính khoa học và phổ cập. Chỉ tiếc cho đến nay Viện Âm nhạc vẫn chưa có điều kiện làm phụ đề tiếng Anh cho băng hình này để mở rộng việc giới thiệu Hò sông Mã ra nước ngoài.

Nếu xét từ góc độ phát triển truyền thống, thì từ nhiều năm nay, Hò sông Mã vẫn được khôi phục như những làn điệu dân ca độc lập tách khỏi môi trường lao động để chuyển thành tiết mục nghệ thuật, thành chất liệu âm nhạc trong những sáng tác mới và được đưa vào chương trình giáo dục phổ cập. Còn xét theo góc độ bảo tồn truyền thống, thì trong số các công trình nghiên cứu sưu tầm đáng chú ý nhất là cuốn sách khá đồ sộ do Viện Âm nhạc xuất bản năm 2004 Hò trong dân ca người Việt  (Lư Nhất Vũ – Lê Anh Trung). Kèm theo hệ thống bài bản, cuốn sách đã miêu tả môi trường và cách thức diễn xướng, phân tích nội dung, thang âm điệu thức và cho thấy vị trí Hò sông Mã trong tổng thể chung của thể loại hò trên toàn cõi Việt Nam. Vấn đề cấp bách hiện nay trong kế hoạch phục hồi nghệ thuật dân gian này là làm sao để Hò sông Mã không chỉ được phát triển mà trước hết phải được bảo tồn, và không những được bảo tồn trong tài liệu sách vở mà còn được tái sinh trong đời sống thực?

Một ý tưởng mới, một cách nhìn mới đã được gợi mở từ dự án nói trên. Kết quả dự án không những đã giúp cho nhiều người biết đến, hiểu đúng và sâu hơn về Hò sông Mã, mà còn làm cho các tổ chức văn hóa và du lịch địa phương thấy rõ lợi ích của việc chuyển đổi chức năng sử dụng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của Hò sông Mã trong đời sống đương đại. Đưa Hò sông Mã trở về với con đò con sông của nó, trở về với môi trường diễn xướng đích thực của nó là một chương trình tuyệt vời cho văn hóa du lịch. Một chuyến du lịch trên con đò dọc dòng sông vừa ngắm cảnh quan thiên nhiên, vừa thưởng thức nghệ thuật hò “gin” của những người chèo đò nhất định sẽ đem lại ấn tượng khó quên, thu hút thêm nhiều khách tham quan trong và ngoài nước đến với miền đất truyền thống ngàn đời văn vật này.

Đây là mong ước chung của người dân địa phương cũng như của các nhà nghiên cứu âm nhạc và văn hóa dân gian. Song sự cố gắng chỉ từ phía các nhà chuyên môn và các tổ chức địa phương thôi có lẽ chưa đủ để làm nên chuyện. Mơ ước vẫn chỉ là ước mơ. Sông Mã vẫn vắng bóng những con đò và những tiếng hò. Chiếc thuyền đinh, kỷ niệm sống động của dự án, như con cá bị vớt lên bờ, hiện đang nằm phơi mình trên cạn, âm thầm khô nứt giữa khuôn viên của Bảo tàng Dân tộc tại Hà Nội. Còn các nghệ nhân già năm đó hào hứng kể, say sưa hò trong những thước phim tư liệu của dự án, giờ này ra sao, ai còn ai mất?

3/2005

ho song ma

Hò Sông Mã

http://www.hoinhacsi.vn/nghe-thuat-ho-song-ma-va-su-phuc-sinh

Hò sông Mã

https://www.youtube.com/watch?v=jylLp3QFr2Q

https://youtu.be/jylLp3QFr2Q

Xoan singing of Phú Thọ Province, Viet Nam

Xoan singing of Phú Thọ Province, Viet Nam

Mise en ligne le 21 nov. 2011

UNESCO: List of Intangible Cultural Heritage in Need of Urgent Safeguarding – 2011
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/USL…
Description: Xoan singing is practised in Phú Thọ Province, Viet Nam, in the first two months of the lunar year. Xoan guilds traditionally performed in sacred spaces such as temples, shrines and communal houses for the spring festivals. Xoan singing is accompanied by dancing and musical instruments such as clappers and a variety of drums. Knowledge, customs and techniques for singing, playing and dancing are traditionally transmitted orally by the guild leader. In recent years the singing has been taken up by clubs and other performing groups.
Country(ies): Viet Nam
© Vietnamese Institute for Musicology, Vietnam
Duration: 00:09:59 – Support: DVD (0053800013)

Practices related to the Việt beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms

Practices related to the Việt beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms

Ajoutée le 1 déc. 2016

UNESCO: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity – 2016
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: To meet spiritual needs, everyday wishes and gain help in achieving good health and success communities in Viet Nam worship the Mother Goddesses of Three Realms: heaven, water, and mountains and forests. This includes the Mother of the World Liễu Hạnh and other heroic spirits. The tradition involves daily worship, ceremonies, rituals and festivals. Transmitted by bearers such as temple priests, the activities provide a basis for social relations connecting the community and maintaining an aspect of its cultural heritage.
Country(ies): Viet Nam
© Viet Nam National Institute of Culture and Arts Studies, 2014
Duration: 00:10:02 – Support: DVD (0106400004)

VIETNAM : Inscribed in 2016 (11.COM) on the Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity, UNESCO

Inscribed in 2016 (11.COM) on the Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity

© Viet Nam National Institute of Culture and Arts Studies, 2014

To meet spiritual needs, everyday wishes and gain help in achieving good health and success communities in Viet Nam worship the Mother Goddesses of Three Realms: heaven, water, and mountains and forests. The Mother Goddesses include Liễu Hạnh (a nymph who descended to earth, lived as a human and became a Buddhist nun) referred to as the Mother of the World, and other spirits considered legendary heroes. The traditional practice involves daily worship and participation in ceremonies, rituals like the spirit possession ritual and festivals such as Phủ Dầy that take place at temples dedicated to the Mother Goddesses. These activities associated with the practice help to maintain part of the community’s history, cultural heritage and identity with some aspects incorporating traditional costumes, music and dance. Bearers and practitioners are members of the public, temple guardians, ritual priests, spirit mediums, assistants and musicians who transmit knowledge and skills orally to newcomers and family members. The practice of shared values and strong beliefs in the compassion and grace of the Mother Goddesses provides a basis for social relations connecting members of participating communities. The worshipping of the Mother Goddesses also contributes to the appreciation of women and their roles in society.

https://ich.unesco.org/en/RL/practices-related-to-the-viet-beliefs-in-the-mother-goddesses-of-three-realms-01064

THU TRANG : Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định

Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định

 

Nghệ thuật Bài Chòi là thú vui tao nhã của người dân miền Trung Việt Nam nhân dịp đầu xuân. Đây vừa là loại hình nghệ thuật diễn xướng mang tính sáng tạo ngẫu hứng, vừa là trò chơi dân gian vui nhộn, đầy trí tuệ, ra đời từ nhu cầu liên lạc với nhau giữa các chòi canh trên nương rẫy, ở vùng trung du, rồi lan rộng đến các vùng nông thôn và ra cả miền biển.

Bài Chòi là hình thức chơi bài nhưng không mang tính sát phạt, ăn thua như ở sòng bài, mà chỉ để giải trí bằng hình thức đối đáp vui xuân. Người ta đến chơi Bài Chòi cốt để nghe hô Bài Chòi, thưởng thức giọng hô, hát, tài ứng đối và lối diễn trò của “Hiệu” (người hô, hát chính).

Ở Bình Định, từ xưa tới nay, thịnh hành ba hình thức Bài Chòi, gồm: Bài Chòi “truyện” có phông màn, có rạp che chắn; Bài Chòi “lớp”/”chiếu” thể hiện ngay trên chiếu, đi khắp các làng mạc miền quê và hội chơi Bài Chòi thường được trình diễn mỗi dịp xuân về.

Hội chơi Bài Chòi thường diễn ra ở sân đình làng hoặc những khoảng đất rộng, bằng phẳng, gần các khu dân cư, gần chợ, thuận lợi cho mọi người đi dự hội. Để chơi Bài Chòi, người ta dựng 9 hoặc 11 chòi bằng tre, nứa, lợp tranh như những chòi canh giữ rẫy, xếp theo hình chữ U. Chòi ở đáy chữ U gọi là chòi Cái. Người dẫn dắt cuộc chơi là các anh/chị Hiệu, ngồi ở chòi Cái. Họ rút con bài trong ống bài, giơ lên rồi hát những câu hát đố tên con bài ấy, gọi là Hô Thai. Người chơi mua 3 con bài, ngồi trên các chòi để đợi. Nếu cả 3 con bài trùng với những con bài mà anh/chị Hiệu xuớng tên thì thắng cuộc, được lĩnh thưởng, kết thúc một lượt chơi và sau đó, lượt chơi mới lại bắt đầu.

Hội Bài Chòi Bình Định. Ảnh: Hồ sơ, tư liệu Cục Di sản văn hóa

Hội Bài Chòi Bình Định. Ảnh: Hồ sơ, tư liệu Cục Di sản văn hóa

Nhạc cụ đệm trong Bài Chòi thường gồm: đàn nhị, song loan, kèn bóp và trống chiến. “Hiệu” khi hô, hát phải theo nhịp trống, nhịp sanh, có tiếng đàn tiếng kèn đệm theo, làm cho điệu hò thêm réo rắt, hấp dẫn. Đây là người rành các điệu hát nam, hát khách, hát lý… thuộc nhiều thơ, ca dao, biết pha trò, đồng thời, ứng đối nhanh nhẹn. “Hiệu” vừa hô tên con bài được rút từ trong ống thẻ giữa sân hội, vừa biểu diễn những động tác, giọng điệu để góp vui, tăng phần hấp dẫn cho người chơi và người xem hội. Bên cạnh những câu hô đơn giản lấy trong ca dao tục ngữ, hò vè, người chơi còn thi nhau sáng tác các câu hát cho hội chơi Bài Chòi thêm phần phong phú và phù hợp với nhu cầu thưởng thức của người dân. Tích truyện Bài Chòi là những bài học về đạo đức, lòng nhân ái, tình yêu quê hương, đất nước và đoàn kết dân tộc. Nội dung bi hài của Bài Chòi phản ánh nhân tình thế thái và phê phán thói hư tật xấu, khiến người xem phải suy ngẫm hoặc vui cười sảng khoái.

Sinh hoạt Bài Chòi là môi trường thực hành và sáng tạo nghệ thuật, đồng thời giúp bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, phong cách trình diễn và các giá trị văn hóa vùng miền. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục… trong Bài Chòi Bình Định được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên, tạo sức hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt tinh thần thiết yếu và phổ biến khắp các huyện, thị của Bình Định. Rất nhiều tục ngữ, ca dao, bài vè… liên tục được biến tấu một cách linh hoạt, diễn tả sinh động mọi cảnh đời, từ tình yêu đôi lứa đến những khúc mắc nhân tình thế thái, tạo nên sự hấp dẫn và riêng biệt của Bài Chòi và cũng góp phần lưu giữ, phổ biến một phần của kho tàng văn học Việt Nam.

Bài Chòi hiện vẫn được duy trì và thực hành thường xuyên không chỉ ở Bình Định mà ở hầu khắp các tỉnh Nam Trung bộ. Tỉnh Bình Định hiện vẫn còn một số câu lạc bộ Bài Chòi cổ thường xuyên trình diễn do những nghệ nhân tâm huyết, yêu nghề tập hợp và truyền dạy cho thế hệ kế tiếp, hoạt động dưới sự bảo trợ của Trung tâm văn hóa tỉnh Bình Định. Các liên hoan, hội diễn Bài Chòi của tỉnh (Bình Định – từ 2010 đến nay), khu vực (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa – 2013, 2014) và liên tỉnh (2011, 2014 và 2015) được tổ chức với sự hỗ trợ của chính quyền, tổ chức xã hội và được cộng đồng nhiệt tình hưởng ứng.

Với những giá trị đặc sắc, Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thêó thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25/8/2014./.

Thu Trang (Theo hồ sơ Di sản văn hóa)

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU : Rủ nhau đến với Bài chòi

Rủ nhau đến với Bài chòi

Tác giả:
Nguyễn Thị Minh Châu

Rủ nhau đi đánh Bài chòi
Để cho con khóc đến lòi rún ra.

Đánh Bài chòi có gì vui mà người chơi say đến thế?
Chơi Bài chòi có gì thích khiến người xem ham đến vậy?
Xem Bài chòi có gì hay mà người xưa nắc nỏm đến cả trong câu ca dao?
Sức hấp dẫn ấy do đâu mà có và nay có còn lôi cuốn đến thế không?

Câu ca dao “Rủ nhau đi đánh Bài chòi” được nhắc tới trong bốn – năm tham luận không chỉ của tác giả Việt Nam mà cả ngoại quốc nữa. Và đây, họ đã “rủ nhau” đến thành phố biển Quy Nhơn trong những ngày đầy nắng gió đầu năm 2015 để tìm kiếm câu trả lời cho sức sống của thể loại diễn xướng dân gian này.

“Họ” ở đây là nhiều thành phần khác nhau: giới nghiên cứu âm nhạc cổ truyền trong nước và nước ngoài, các nhà sưu tầm đã nhiều năm lăn lộn với nghệ thuật dân dã này, những nghệ nhân “con nhà nòi” hát Bài chòi gia truyền đến mấy đời… Trong số đó cũng có người từng là nhạc công đoàn ca kịch Bài chòi, là tác giả những vở “Bài chòi mới” trên sân khấu chuyên nghiệp (mà dân trong nghề đã gán cho cái tên “Bài chòi quốc doanh”). Ngoài ra không thể thiếu vắng các nhà quản lý văn hóa nghệ thuật trung ương và các địa phương sở hữu Bài chòi, cũng như giới truyền thông với tinh thần quảng bá một sự kiện quốc gia mang ý nghĩa quốc tế.

Tìm hiểu sức hấp dẫn của Bài chòi, trước hết phải trở về với nguồn gốc của nó.

Ở đây cũng giống như ở nhiều thể loại nhạc dân gian khác, có những câu chuyện mà ta chỉ nghe kể lại từ đời trước sang đời sau mang đậm tính truyền thuyết hư cấu, chứ không được lưu bằng giấy trắng mực đen trong sử sách. Những tài liệu về Bài chòi xuất bản sớm nhất là vào đầu thế kỷ XX và của người Pháp, rồi được trích dẫn lại trong nhiều bài viết sau này của người Việt. Có điều là các chú thích nguồn không hoàn toàn thống nhất, ngay trong các văn bản Hội thảo này có chỗ chú dẫn Bài chòi được miêu tả trong một chương có tiêu đề Bài hát phổ thông của người An Nam (La chanson populaire de L’Annam) của tác giả Pháp gốc Ba Lan G.L.Bouvier trong cuốn La Rousse Musicale (Paris, 1928) 2; còn những chỗ khác lại được hiểu Bài chòi có mặt trong hai cuốn sách khác nhau: Hát Bài chòi (Voici quelques pièces Hat Bai Choi tirées du Phong trao Can Vương) của G.L.Bouvier (1902) và La Rousse Musicale với phần miêu tả của hai nhà nghiên cứu Pháp P.Huard và M.Durand (Paris, 1928) 3. Sự thiếu nhất quán dù nhỏ nhặt thôi cũng đưa ra một lời nhắc nhở những ai dẫn lại mấy thông tin đó cần kịp thời rà soát lại nguồn cho chuẩn xác.

Dựa vào các cứ liệu văn bản của Pháp nói trên , đa số tham luận khẳng định Bài chòi được hình thành và phát triển sau năm 1470 trong hành trình di dân mở cõi về phía Nam. Từ đây có một cái mốc: Bài chòi Bình Định ra đời vào giữa thế kỷ XV, cách đây chừng trên 5 thế kỳ. Còn Bài chòi Quảng Nam – Đà Nẵng, theo trí nhớ của các cụ nghệ nhân, xuất hiện gần 200 năm trước.

Cũng lại được biết sự hình thành và phát triển Bài chòi luôn gắn với tên tuổi danh nhân Đào Duy Từ (1571-1634), một quan viên gốc Thanh Hóa rời nhà Lê theo chúa Nguyễn vào Nam dựng nghiệp ở Bình Định. Tương truyền, ông là người đầu tiên nghĩ ra cách chơi Bài chòi. Ông cũng được coi là người đặt nền móng cho hát Bội. Có giả thiết cho rằng Bài chòi là người em sinh sau đẻ muộn của hát Bội và từ đây lại suy ra Bài chòi xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII chứ không thể sớm hơn.

Chốt lại, Bài chòi khởi nguồn lúc nào? Từ một vài giả thuyết khác nhau chưa thể đi đến một câu trả lời thống nhất và xác thực. Ngay cả “thuyết tương truyền” được nhiều người dẫn giải là ông tổ Đào Duy Từ dạy cho dân chơi Bài chòi cũng “chỉ là phỏng đoán, thiếu chứng cứ thuyết phục” 4. Vậy nên rất đúng mực và xác đáng nếu ghi nhận ý kiến đề xuất cho tổng kết Hội thảo này là: giữ nguyên “câu hỏi treo” về thời điểm ra đời của Bài chòi 5.

Nếu như dữ liệu thời gian “có từ bao giờ” chưa được xác minh rõ ràng và cụ thể, thì vấn đề không gian địa lý “khởi nguồn từ đâu” được xem xét qua những chi tiết cụ thể hơn. Ngay từ cái nghĩa nôm na của tên gọi đã có gì đó dễ liên hệ tới không gian khởi nguồn.

“Chòi” là nơi trông coi đồng ruộng, nương rẫy và tạm nghỉ sau ngày làm lụng vất vả. Để giải khuây, những người canh chòi bày ra trò “hát ống” (căng dây nối hai ống tre bịt một đầu bằng da ếch tựa như cái loa) để trò chuyện tâm tình giữa các chòi, hoặc tụ tập trong vài chòi cùng đối đáp hát xướng qua các câu ca dao, cùng tức hứng đặt hò, thả thơ, làm vè, đố vui… Do vậy mà Bài chòi được coi là sản phẩm “sinh ra trong quá trình lao động sản xuất và phát triển thông qua các loại hình âm nhạc trong dân gian của người dân”6 .

Còn từ “bài” hẳn có sự liên quan tới chơi bài, đánh bài, ván bài, bộ bài, con bài, quân bài, lá bài, thẻ bài, chia bài, chạy bài, hô bài (hô thai)… Đây là lúc mô hình giải trí ở các chòi canh rẫy được chuyển thành hội đánh bài chơi xuân vào dịp tết Nguyên đán (từ 30 tháng chạp cho đến rằm tháng giêng âm lịch). Hoàn toàn không giống những canh bạc đỏ đen sát phạt thắng thua ăn tiền, đánh Bài chòi là một cuộc diễn xướng dân gian hội hè, là hình thức thử vận hên xui, là trò chơi đố chữ có thưởng, xin lộc cầu may đầu năm.

Về thời gian tổ chức (dịp tết) và cách thức chơi (khách mua thẻ rồi ngồi hóng tên con bài được xướng lên và trống mõ khua vang khi có người trúng bài…) cho thấy khá nhiều điểm trùng hợp giữa hội Bài chòi với hội Tổ tôm điếm. Từ đó sinh ra giả thiết: mô hình trò chơi dân gian Tổ tôm điếm rất lâu đời của đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã theo chân người mở cõi di dần về phía Nam, để rồi sau đó “tạo thành các lối chơi Bài chòi có phong cách khác nhau ở chín tỉnh Trung bộ Việt Nam”7 .

Cái gốc Bắc còn được suy luận từ truyền thuyết về nhị vị thánh tổ Bài chòi là hai hoàng tử nhà Trần của đất Thăng Long, mà theo lời nghệ nhân thì trước khi đi hát Bài chòi nhất định phải thắp hương khấn bái hai vị nam thần này. Biết đâu “nhị vị thánh tổ này có mối liên hệ dây mơ rễ má nào đó với nhị vị thánh tổ của ngành Ả Đào ở Thăng Long cách nay hơn 1000 năm” ?8

Nhân nói đến tổ nghề, lại có nơi lưu truyền câu chuyện về tam vị thái tử đời Trần trốn khỏi cung đình đi theo gánh hát, rồi hai người em chết đói, còn người anh đi ăn mày. Gánh Bài chòi đã tôn ba vị khán giả chung tình đó làm tổ nghề và lập khánh thờ tự. Mối quan hệ nặng tình nặng nghĩa giữa người diễn với người xem càng chứng tỏ tính bình dân và tinh thần hòa nhập cộng đồng của các gánh Bài chòi. Trong cái đạo làm người “uống nước nhớ nguồn”, Bài chòi đã tôn vinh khán giả, đề cao “đối tượng phục vụ, đối tượng nuôi dưỡng sự sống và kích thích sáng tạo của người nghệ sĩ” 9.

Trở lại với bộ bài, nơi có thể mách bảo thêm những dấu vết bắt rễ xa hơn nữa về phương Bắc. Một số nét tương đồng giữa thẻ Bài chòi, bài Tới, bài Tổ tam được kê ra để thấy “hình vẽ trên những lá Bài chòi, bài Tới, bài Tam cúc có phỏng theo bộ bài Diệp tử mã điếu và bài Toàn đối xuất hiện thời Đường ở Trung Quốc” 10. Cũng như thế, hình họa quân bài của Bài chòi và bài Tới được cho là có “mối quan hệ rất rõ ràng và trực tiếp” với bài Đông Quan của Trung Quốc 11. Đây cũng được xem như một gợi mở cho việc tiếp tục khảo cứu sâu xa hơn về cội rễ của Bài chòi.

Bộ bài – cụ thể là bài Tới vốn có từ trước đó đã được sử dụng trong Bài chòi – trở thành một đầu mối để lần ra nơi xuất xứ Bài chòi. Từ nhiều cuộc dò tìm tới các cơ sở sản xuất bộ bài, từ quá trình đối chiếu bài Tới của Thừa Thiên – Huế với các bộ thẻ Bài chòi ở các tỉnh Trung bộ, một nhận định ban đầu được đưa ra: “Nơi phát tích của lối chơi Bài chòi phải là đất Thuận Hóa” 12.

Bộ bài cung cấp những điểm giống nhau của Bài chòi với các trò chơi bài dân gian khác, mặt khác nó lại khẳng định tính khác biệt trong lối chơi của riêng miền Trung. Với hình vẽ vừa cách điệu vừa tả thực, với tên gọi hầu hết bằng chữ Nôm hoặc ghép Nôm với Hán, bộ bài được coi là sản phẩm của sự tiếp thu có chọn lọc theo tinh thần độc lập của người Việt. Mỗi địa phương lại điều chỉnh hình vẽ hoặc tên gọi lá bài theo sở thích. Cứ như thế theo dòng chảy xuôi vào Đàng Trong, không chỉ bộ bài, mà cả môi trường diễn xướng, tiêu chí cuộc chơi, hình thức trình tấu, lời lẽ hô thai, cho đến nhạc hát và nhạc đàn đã được gom góp dần từ cái riêng mỗi địa phương thành nét đặc thù của trò chơi dân gian này. Cao trào dòng chảy ấy được khẳng định là đất Bình Định. Là “một trong những kiểu thức đặc trưng của văn hóa dân gian Bình Định” 13, Bài chòi từ cái nôi Bình Định lại lan tỏa tiếp vào phía Nam Trung bộ (Phú Yên, Khánh Hòa), đồng thời sức hấp dẫn của nó cũng dội ngược trở ra Bắc Trung bộ (Quảng Ngãi, Quảng Nam – Đà Nẵng…).

Lý giải cho sức sống của Bài chòi cũng chính là nhận diện giá trị của nghệ thuật dân gian này. Những yếu tố tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ trước hết phải kể đến tính cộng đồng, chất dân dã và sự giản đơn của luật chơi. Tính tập thể, sự kết nối giao lưu giữa những người dân quê bình dị là “cách thức tập hợp công chúng rất thông minh của trò chơi dân gian Bài chòi mà chúng ta cần tham khảo” 14:

Đây, một không gian mở, “không ẩn dụ sau cánh cửa của các nhà quyền quý, cao sang mà cho tất cả mọi người cùng tham gia” 15, một không khí hội hè hồ hởi vui nhộn, một thời điểm đón xuân ai ai cũng dễ mở lòng háo hức trông đợi điềm tốt lành.

Đây, một cơ hội lấy may bằng những thẻ bài mang tên gọi kỳ dị ngộ nghĩnh với đầu Hán đuôi Việt: nhất trò, nhì nghèo, tam quăng, tứ cẳng, ngũ trợt, lục chạng, thất vung, bát bồng… ; hoặc thuần Việt: chín gối, ba bụng, sáu ghe…

Và đây, những người xem người chơi bình dân, bình đẳng trong cuộc chơi, không phân biệt tuổi tác, không cần phải động não suy tính đường đi nước bước thế bài chi cho mệt. Người diễn cũng bình dân, không phải trang điểm hay đeo mặt nạ, khỏi phải trang phục cầu kỳ, không cần bài trí cảnh diễn, cũng chẳng tốn nhiều tiền của và thời gian đầu tư cho quá trình tu luyện tay nghề hay công sức tập dượt.

Anh (hoặc chị) Hiệu có thể chỉ là chàng (hoặc nàng) nông dân chân đất có cái duyên đối đáp mau lẹ và tài ứng biến xuất khẩu thành thơ theo phong cách dân gian. Nhân vật được coi là linh hồn cuộc chơi này đem đến cho dân quê những gì họ chờ đợi: những lớp hò đa nghĩa đa tình hoặc những lời thoại ngô nghê tức cười, những mẩu chuyện lịch sử hoặc thời sự, những khúc tiếu lâm và ngụ ngôn hóm hỉnh hoặc những tích ngang trái tình trường, những câu ca dao tục ngữ thành ngữ quen thuộc dễ nhớ của dòng văn học bình dân hoặc những câu đố tục giảng thanh hóm hỉnh tếu táo… Một cuộc chơi hồn nhiên với những lời hô thai nôm na, chân quê, dí dỏm, kiều như: “Tiếc công bỏ mẳn nuôi cu/ Cu ăn, cu lớn, cu gù, cu bay/ Cu say mũ cả, áo dài/ Cu chê nhà khó, phụ hoài duyên em”, và thế là ai may mắn có con “chín cu” trong tay chỉ việc chìa ra lĩnh thưởng!

Sự độc đáo chính là ở đây: nghệ thuật hô thai. Hội chơi thành hay bại đều do người hô thai. Cả cuộc chơi xoay quanh một tâm điểm – nói theo “giọng” thời nay: một tay vừa là người tổ chức sự kiện kiêm đạo diễn chương trình, vừa là MC, ca sĩ kiêm diễn viên. Anh chàng “nhiều trong một” này độc diễn tay năm miệng mười quả thực lắm chiêu: chạy bài, thách đố, dẫn chương trình, đối thoại, kể chuyện, diễn tấu, một lúc sắm mấy vai, bất kể nhân vật nam – nữ, già – trẻ, chính – tà, bi – hài, cổ – kim…

Đa nhân vật, một người diễn. Đổi vai đổi cảnh chỉ bằng lời thoại hoặc chuyển âm vực giọng hát chứ không cần thay bài trí sàn diễn và hoàn toàn không vận đến thủ thuật giả thanh như một vài loại hình diễn xướng cổ truyền ở châu Á. Đơn giản thế thôi, vậy thì sức hấp dẫn của nghệ thuật hô thai phải nằm trong nội dung lời ca, âm nhạc và phong cách trình tấu.

Với cách sử dụng hiệu quả ngữ điệu, một phương thức trong ngữ pháp tiếng Việt để “tạo ra tầng nghĩa mới, có thể đối lập nghĩa ban đầu của câu chữ” 16, Bài chòi không chỉ làm giàu thêm giá trị biểu cảm của ngôn từ, mà còn tăng tính kịch, tính hành động và tạo nét riêng cho lối độc diễn này.

Với lối ứng tác ứng tấu cả ở người hát và người đàn, đường nét cao độ của các mô hình giai điệu được lặp lại nhưng “không bao giờ giống nhau y chang, cũng như chúng ta không bao giờ lặp lại hai lần trên một dòng chảy”17  – người xem không thấy nhàm chán có lẽ lả nhờ tính độc đáo luôn gắn liền với sự linh hoạt và đa dạng trong diễn tấu.

Nói đến tính đa dạng phải kể đến ba hình thức diễn xướng nối tiếp nhau hình thành trong quá trình phát triển Bài chòi cổ, gồm: “1/Bài chòi hô thai, 2/Bài chòi câu, 3/Bài chòi lớp và Bài chòi truyện (kịch Bài chòi)”18 . Giữa các hình thức này có sự chuyển đổi dần về mọi mặt:

– về mục đích: từ hội chơi đánh bài chuyển sang hình thức thuần túy thưởng thức trò diễn;

– về môi trường diễn xướng: từ chòi cao hạ xuống thành chòi chệt, chòi đất, chòi ghế, chòi chiếu, rồi di chuyển thành chòi rong, chòi dạo.

– về lời ca: từ một – hai câu ngắn mở rộng thành khổ thơ và cuối cùng là cả một tích truyện dài;

– về giai điệu hát: từ chất liệu đơn giản của lối nói thơ, đọc vè và hát ru miền Trung đến các điệu Hò: hò khoan, hò mái nhì, hò giã gạo, hò đối đáp…, và phát triển (đôi khi có chuyển hệ) trên các làn điệu Xuân nữ (cổ), Xàng xê, Cổ bản, Hồ quảng;

– về người diễn xướng: từ lối độc diễn của một mình Hiệu chuyển dần sang màn diễn những lớp tuồng hai – ba người trở lên;

– về nhạc đàn: từ độc nhất đàn cò đỡ giọng với một sênh đập theo nhịp một, sau tùy nơi có thêm trống con, trống chiến, trống chầu, mõ, thanh la, kèn bóp, kèn bầu, đàn nguyệt, đàn hồ, đàn bầu, sáo trúc… với lối đệm phù hợp với các tâm trạng nhân vật khác nhau.

Những “tiểu dị” do đặc thù phương ngữ cũng như văn hóa bản địa đã làm cho Bài chòi ngày càng đa sắc hơn, đến mức nhiều nhà sưu tầm nghiên cứu đã chia thành các “vùng Bài chòi” khác nhau. Giá trị văn hóa của mỗi vùng đều như nhau. Song nếu bàn đến nghệ thuật âm nhạc thì mỗi phong cách khác nhau lại cho ra những giá trị khác nhau: Bài chòi Bắc Trung bộ giàu nhạc tính nhưng thiếu kịch tính, còn Bài chòi Nam Trung bộ rất kịch tính với lối hát giàu ngữ khí và được hỗ trợ thêm bởi những động tác múa của hát Bội. Lối trình diễn các câu hô thai giàu tính kịch này đã sinh ra nghệ thuật độc diễn Bài chòi, và nghệ thuật độc diễn “đã làm cho vùng Nam Trung Bộ trở thành trung tâm nghệ thuật Bài chòi, biến vùng Bài chòi Bắc Trung bộ trở thành vùng Bài chòi ngoại diên19 .

Tính đa dạng và sức thu hút của Bài chòi còn là kết quả của tinh thần giao thoa với các loại hình nghệ thuật cổ truyền khác, trong đó đáng chú ý nhất là Tuồng. Được định hình trong cái nôi hát Bội là đất Bình Định, Bài chòi mang nhiều sắc thái Tuồng trong âm nhạc cũng như trong hình thức diễn tấu. Yếu tố Tuồng “là một trong những tế bào chính yếu cấu thành, thậm chí là tố chất nằm ngay trong lòng tế bào của nghệ thuật Bài chòi từ buổi ban sơ của nó”20 .

Bên cạnh Tuồng còn có ảnh hưởng của Cải lương trong Bài chòi truyện “qua việc mượn những bài Nam ai, Vọng cổ, hát Nam, hát Khách” 21 để thể hiện trạng thái tình cảm nhân vật trong các lớp kịch.

Ở đây còn đề cập đến mối liên hệ giữa Bài chòi với nhạc cung đình Huế và nhạc Tài tử Nam bộ thông qua “lộ trình” của bài Cổ bản, khởi hành từ nhạc Huế cho tới điểm đến là nhạc Lễ Nam bộ, và trên con đường Nam tiến đó, Cổ bản đã kịp “là một phần trong bài bản âm nhạc Bài chòi” 22.

Ngoài những hình thức nghệ thuật cổ truyền nói trên, Bài chòi cũng không từ chối những âm điệu mới mẻ của cuộc sống đương đại, vì thế có thể nghe thấy ở đây “âm thanh của những bài dân ca, nhạc Lễ và thậm chí cả những bài nhạc trẻ mới” 23.

Từ đây nảy sinh không ít băn khoăn: sự pha tạp do quá cởi mở trong chuyển đổi môi trường có làm loại hình dân gian này biến chất không? Và ngược lại, rồi đây phải bảo tồn thế nào – cái gì cần loại bỏ, cái gì nên tiếp nhận để thể loại cổ này không quá xa cách với giới trẻ, để nó tiếp tục có cơ hội sống trong thời đại mới? Đây là bài toán khó không giới hạn trong chương trình lập Hồ sơ Bài chòi và cũng không chỉ là bài toán của riêng Bài chòi miền Trung Việt Nam.

Trong việc xem xét những điểm chung và nét riêng, các đại biểu nước ngoài còn so sánh Bài chòi với một số loại hình dân gian và nhạc cụ cổ truyền trên thế giới: ca kịch truyền thống Lăm lượng và đàn cổ Tung lung của Lào 24; Jindo Dasiraegi, và Pansori của Hàn Quốc 25; trình diễn sử thi Darangen và Hudhud của Philippines, hát thơ cổ Meddah và Âsiklik của Thổ Nhĩ Kỳ, trình diễn sân khâu cổ Kutiyattam của Ấn Độ … Với những gợi ý từ kinh nghiệm thực tế và những kiến thức khoa học tổng hợp từ nhiều quốc gia, chẳng có lý gì mà ta không đón nhận như món quà ý nghĩa để tham khảo và vận dụng những gì phù hợp vào việc bảo tồn Bài chòi.

Bên cạnh những cố gắng nhận diện Bài chòi từ nguồn gốc lịch sử đến giá trị nghệ thuật, còn một yêu cầu nữa được nhấn mạnh là làm rõ thực trạng và cơ hội trong tương lai của nó, trong đó có nhiều điều phụ thuộc vào vai trò quản lý của Nhà nước và hiệu quả trao truyền của địa phương sở hữu di sản.

Cho dù sau này Hồ sơ được vinh danh hay không thì Bài chòi vẫn là di sản quý giá của miền Trung, nó phải được trao truyền kịp thời và liên tục để không mất đi vĩnh viễn. Gần đây các địa phương đã phục dựng Bài chòi vào dịp lễ hội tết nhất, thậm chí đã tổ chức được hai cuộc liên hoan Bài chòi và đề xuất đưa Bài chòi vào chương trình phổ thông.

Với các tiêu chí khác nhau – nhằm vào chất lượng nội dung hoặc số lượng hình thức – mà việc trao truyền được lựa chọn từ hai cách: “Cách cổ truyền là từ thế hệ này đến thế hệ kia trong dòng họ và gia đình, cách đó sâu nhất và giữ được phong cách; cách thứ hai là trao truyền có tính đại chúng”27 . Cách sau dường như đang được chú ý hơn trong những năm gần đây. Có thể thấy không ít những nỗ lực phát triển đồng loạt với các biện pháp mang tính “chuyên nghiệp” để dạy lại cho cộng đồng và “nhân bản” Bài chòi theo kiểu toàn dân phải biết hát Bài chòi. Hiệu quả đến đâu còn rất nhiều điều phải xem lại.

Một điều hiển nhiên cần nhấn mạnh là mọi di sản phi vật thể không dừng lại trong thời gian, mà luôn hòa vào dòng chảy văn hóa và được nuôi dưỡng trong sự sáng tạo không ngừng của cộng đồng sở hữu di sản. Có những đổi thay được cộng đồng chấp nhận để rồi truyền lại cho con cháu. Có những đổi thay dù nhân danh “cái chuyên nghiệp mà mang tính thương mại và phục vụ du lịch thì sẽ không thành công”28 .

Quyết định cho sức sống của Bài chòi luôn là yếu tố con người – con người của bối cảnh hiện tại. Tương lai của di sản phụ thuộc vào cộng đồng, mà cộng đồng hôm nay đã thực sự thấu hiểu giá trị di sản và có ý thức bảo vệ giá trị đó chưa? Nghệ nhân còn lại chẳng được mấy người, chính sách đãi ngộ chưa có, “chỉ duy nhất một người được Hội Văn hóa dân gian Việt Nam phong tặng nghệ nhân dân gian”29 , số người tự nguyện học hỏi và say mê đeo đuổi nghệ thuật này cũng chẳng nhiều nhặn gì.

Còn nữa, làm tốt Hồ sơ để Bài chòi được UNESCO đưa vào danh sách di sản phi vật thể của nhân loại có phải là cái đích cuối cùng không? Nếu may mắn được xét duyệt, thì “hậu xét duyệt” sẽ ra sao hay lại dừng ở việc tuyên truyền khuếch trương danh hiệu thôi? Đã có thể lạc quan tin rằng sau đó Bài chòi không còn lâm vào tình cảnh mai một và không còn rơi nguy cơ thất truyền nữa?

Một đêm hội Bài chòi trong dịp Hội thảo được tổ chức ngay giữa trung tâm thành phố Quy Nhơn với đủ chòi cao cờ quạt kèn trống, với sự có mặt các quan khách đại biểu tứ phương, với sự trình diễn của các nghệ nhân “thứ thiệt”, trong đó có cụ đã ngót chín mươi tuổi. Tiếng hô thai, giọng hát của anh Hiệu chị Hiệu qua loa phóng thanh vang khắp quảng trường, tên các lá bài được xướng lên, người trúng thưởng cả ta lẫn Tây hỉ hả. Song người dân của đất Bài chòi vẫn bình thản đi lướt qua, dòng người dòng xe vẫn theo cuộc sống mưu sinh không ngừng trôi vào các ngả phố…

Đủ biết, còn hao công tốn lực lắm mới có thể khôi phục, gìn giữ di sản trong cộng đồng hôm nay và trao truyền lại cho thế hệ mai sau; còn vất vả nhọc nhằn lắm mới có thể khơi dậy lại cho Bài chòi cái mê đắm của một thời xa vắng:

Thà rằng ăn mắm mút dòi
Cũng nghe Bài chòi cho sướng cái tai.
(Ca dao)

27-3-2015

_______________________________________________

1. Về Hội thảo quốc tế Nghệ thuật Bài chòi dân gian Việt Nam và những hình thức nghệ thuật tương đồng trên thế giới do Viện Âm nhạc – Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam tổ chức tại Quy Nhơn vào 1-2015.
2. Nguyễn Bình Định: Đề dẫn Hội thảo.
3. Trần Hồng: Đặc trưng nghệ thuật Bài chòi ở Quảng Nam.
Trần Quang Hải: Nguồn gốc – hình thành – đặc trưng trong nhạc ngữ – tiết tấu thi ca trong Bài chòi miền Trung Việt Nam.
4. Đặng Hoành Loan: Bài chòi Trung bộ Việt Nam từ góc nhìn của người nghiên cứu điền dã.
5. Thụy Loan: Phát biểu miệng.
6. Lê Văn Hoa: Vài nét về nghệ thuật Bài chòi ở Khánh Hòa.
7. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
8. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
9. Nguyễn Tứ Hải: Nghề hát Bài chòi ở Khánh Hòa.
10. Mai Thìn: Góp phần tìm hiểu Bài chòi Bình Định.
11. Phương Nam: Đi tìm nguồn gốc di sản nghệ thuật Bài chòi.
12. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
13. Phương Nam: Bài đã dẫn.
14. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
15. Phương Nam: Bài đã dẫn.
16. Nguyễn Tứ Hải: Bài đã dẫn.
17. Yves Defrance: Bài chòi – một thể loại sân khấu âm nhạc độc đáo.
18. Nguyễn Minh Dũng: Vài chặng đường phát triển của âm nhạc. nhạc hát nhạc đàn trong nghệ thuật Bài chòi Bình Định.
19. Đặng Hoành Loan: Bài đã dẫn.
20. Thụy Loan: Cần nhận diện đúng thế nào là nghệ thuật Bài chòi dân gian.
21. Trần Quang Hài: Bài đã dẫn.
22. Gisa Jachnichen: Ghi chép về nhạc mục của Bài chòi. Bài Cổ bản trong bối cảnh lịch sử của nó.
23. Ebsjorn Watermark: Những âm thanh âm nhạc và những không gian âm thanh.
24. Bountheng Souksavatd: Một số suy nghĩ về Bài chòi.
25. Seong-Yong Park: Những di sản văn hóa phi vật thể Hàn Quốc tương tự như Bài chòi.
26. Yves Defrance: Bài đã dẫn.
27. Tô Ngọc Thanh: Phát biểu tổng kết Hội thảo.
28. Lê Minh Lý: Phát biểu miệng
29. Lê Văn Hoa: Vài nét về nghệ thuật Bài chòi ở Khánh Hòa