Jour : 13 mars 2017

Professor Nguyen Vinh Bao, Officier des Arts et des Lettres en 2008

Professor Nguyen Vinh Bao, Officier des Arts et des Lettres
Một tin vui cho nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, cho tất cả học trò của Bác Vĩnh Bảo, cho truyền thống Đàn Tài Tử, cho tất cả công trình của Bác từ 70 năm qua cống hiến trọn cuộc đời cho âm nhạc cổ truyền dân tộc Việt Nam , cho việc quãng bá nhạc Việt trên đất Pháp qua một số dĩa hát được xuất bản tại Pháp (OCORA) và Âu châu (coll.Unesco Musical Sources, Hà Lan, coll.Unesco Musical Atlas, Ý đại lợi), cho việc sáng tạo những cây đàn tranh mới lạ.

Theo lá thư của tòa đại sứ Pháp ở Hànội gởi cho Bác vào ngày 22 tháng 4 vừa qua , Bộ văn hóa Pháp đã chấp nhận tặng huy chương « Nghệ Thuật và Văn Chương » (médaille des Arts et des Lettres, cấp bực Officier) cho bác Nguyễn Vĩnh Bảo để tuyên dương công trạng của Bác làm rạng danh nhạc Việt khắp nơi trên thế giới và những cộng tác của Bác với xứ Pháp từ nhiều năm qua .

Để tìm hiểu về huy chương này, tôi xin tóm lược bằng tiếng Việt cho các bạn ở diễn đàn này biết qua về huy chương này .

Ở Pháp có tất cả là ba loại huy chương quan trọng :

Cao nhất là huy chương « médaille de la Légion d’Honneur » (Bắc đẩu bội tinh) dành cho những người đóng góp lớn cho xứ Pháp và làm rạng danh xứ Pháp trên thế giới (Charlot, Yehudi Menuhin, tôi được may mắn có huy chương này)

Cao thứ nhì là huy chương « ordre national du Mérite » dành cho các nhà bác học, giáo sư có nhiều năm giảng dạy ở các trường đại học Pháp, hay cơ quan nghiên cứu của Pháp

Huy chương thứ ba là « médaille des Arts et des Lettres » dành cho những người phụng sự nghệ thuật và văn chương (nhạc sĩ, nghệ sĩ, thi sĩ, họa sĩ, văn sĩ, vv…. của xứ Pháp và thế giới)

Huy chương «Nghệ thuật và Văn Chương»
(Médaille des Arts et des Lettres / Medal of Arts and Letters)

Huy chương «Nghệ thuật và Văn chương» là phần thưởng danh dự của Pháp do Bộ Văn Hóa quản lý, để tuyên dương «những người nổi danh trong địa hạt nghệ thuật hay văn chương và đã đóng góp rất nhiều vào việc làm rạng danh nghệ thuật và văn chương tại Pháp hay trên thế giới .

Lịch sử huy chương

Huy chương «nghệ thuật và văn chương» được tạo ra vào ngày 2 tháng 5, 1957 (theo điều luật số 57-549 ngày 2 tháng 5, 1957 công bố việc thành lập huy chương này

Huy chương này có ba cấp bực :
1. Chevalier (Hiệp sĩ ) thấp nhất
2. Officier , cấp cao hơn
3. Commandeur , cấp cao nhất
Theo điều luật ngày 5 tháng 5, 1997, mỗi năm bộ văn hóa Pháp chọn 450 «cấp bực chevaliers», 150 «cấp bực officiers», và 50 «cấp bực commandeurs »
Danh sách những người được chọn được đăng vào tờ nội san chính thức của bộ văn hóa Pháp .

Huy hiệu

Người nhận được danh hiệu «chevalier» sẽ mang một miếng vải nhỏ màu xanh cây đậm (5,5mm)có 5 lằn trắng.

Image

Người nhận danh hiệu «officier» sẽ mang một bông hồng.
Image

Người nhận danh hiệu «commandeur» sẽ mang một cà vạt đặc biệt của huy hiệu
Image

Sẽ có một buổi lễ được tổ chức tại tòa đại sứ hay tòa lãnh sự Pháp (nếu ở ngoài xứ Pháp) và do một đại diện xứ Pháp đọc bản tuyên dương và gắn mề đai (có thể là ông đại sứ, ông lãnh sự hay một cán bộ cao cấp của chính phủ Pháp)

Ở Việt Nam đã có một số người nhận được huy chương này : GSTS Trần Văn Khê, nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo, nhà văn Dương Thu Hương, và một vài người khác trong lĩnh vực nghệ thuật mà tôi không nhớ tên .

Lần này nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo được trao tặng huy chương « Nghệ thuật và Văn Chương » .
Tôi rất vui mừng và hãnh diện có một người Thầy được thế giới tôn vinh một cách xứng đáng .
Hy vọng các nhạc sinh của Bác và các thân hữu gần xa ở Việt Nam sẽ có mặt để chung vui với Bác .
Bác nên liên lạc ngay với tòa đại sứ Pháp ở Hanoi để định ngày gắn huy chương và chọn địa điểm . Thường thường phải làm buổi lễ trong vòng hai tháng sau khi có quyết nghị tôn vinh.

Vietnamese Institute for Musicology : presentation, Hà nội, in English

Monday, 03/13/2017

Folk music of Mông minority

Audio sample

1. Mùa ô si lụ chè gầu đầu
Courtship singing
Performer by: Vàng Y Chơ – Red Mông minority
6. Singing about love
Performed by: Sùng A Màng – Black Mông minority
2. Hà pu chi lo (Failing in asking for a girl’s hand from her parents)
Performed by: Khà A Sở – White Mông minority
7. Solo Tèm Bơ Lại (Flowered Mông flute)
Performed by: Vương Vǎn Hồng – Flowered Mông minority
3. Mồ ua chang (Sadness of a bride when marrying)
Performed by: Sùng Y Múa – Black Mông minority
8. Solo Sú chàng (jew’s harp)
Performed by: Vàng Y Sáng – Red Mông minority
4. Hải pay lù
Courtship singing
Performed by : Chu Vǎn Thắng – Lã Thị Phương – Flowered Mông minority
9. Solo Black Mông flute
Performed by: Sùng A Màng – Black Mông minority
5. Chí mùa nị mùa chí (Orphan)
Performed by: Sùng A Màng – Flowered Mông minority
 

(CD)

Giới thiệu trang nhà Viện âm nhạc , Hà nội, Việt nam, tiếng Việt

http://vienamnhac.org/trang-chu

Lịch sử hình thành

 
Viện Âm nhạc thu thanh ghi hình âm nhạc đồng bào dân tộc thiểu số Êđê

Tiền thân đầu tiên của Viện Âm nhạc là Ban Âm nhạc nằm trong Vụ Vǎn học nghệ thuật được thành lập nǎm 1950. Trải qua nhiều lần thay đổi cơ cấu tổ chức trực thuộc các đơn vị khác nhau như Ban Nghiên cứu Nhạc Vũ, Vụ Nghệ thuật, Vụ Âm nhạc và Múa, Viện Nghệ thuật, cho đến nǎm 1976, Viện Âm nhạc mới chính thức được tách riêng độc lập với tên gọi Viện Nghiên cứu Âm nhạc Việt Nam. Hiện nay, Viện Âm nhạc là đơn vị trực thuộc Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam nằm trong Bộ Vǎn hóa  – Thể thao & Du Lịch.

Từ một Viện Nghiên cứu Âm nhạc chỉ với hơn 20 cán bộ nǎm 1976, số lượng nhân sự của Viện Âm nhạc đã ngày càng được bổ sung phát triển cùng với sự mở rộng nhiều hướng hoạt động đa dạng. Tổng số nhân viên của Viện tính đến nay đã lên tới gần 70 người thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau làm việc tại 9 phòng: phòng Sưu tầm – nghiên cứu, phòng Thông tin  – xuất bản, phòng Trưng bày nhạc cụ truyền thống  Việt Nam, phòng Hệ thống và văn bản hoá tư liệu,  phòng Máy công nghệ, phòng Thu thanh, phòng Tư liệu – Thư viện, phòng Hành chính, phòng Quản trị.

 
Phòng Máy công nghệ

Chức nǎng nhiệm vụ chính của Viện Âm nhạc là cơ quan chuyên môn thực hiện việc sưu tầm, lưu trữ, nghiên cứu, truyền bá nền âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nước và quốc tế. Với vai trò trung tâm trong công tác sưu tầm vốn âm nhạc truyền thống của 54 dân tộc trong cả nước, Viện Âm nhạc đã tổ chức rất nhiều cuộc điền dã, sưu tầm âm nhạc dân gian trên khắp các bản làng từ vùng núi phía Bắc, xuống châu thổ Bắc Bộ, qua dải đất ven biển miền Trung, lên Tây Nguyên vào tới miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Kết quả là đã thu thanh và ghi hình được hơn 18.026 bài hát dân ca, 7.918 bài dân nhạc với sự góp mặt của hơn 2.000 nghệ nhân. Toàn bộ hệ thống tư liệu quí giá này hiện đang được lưu giữ, bảo quản bằng các phương tiện công nghệ tiên tiến, hiện đại tại Viện Âm nhạc.

Bên cạnh công việc sưu tầm, lưu trữ các tư liệu âm nhạc dân gian và truyền thống Việt Nam, Viện Âm nhạc đã và đang tiến hành nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp Bộ và cấp cơ sở. Phần lớn các công trình đã được xuất bản thành sách. Nhiều công trình mang tính nghiên cứu chuyên sâu hay tổng kết đánh giá được đông đảo giới âm nhạc và xã hội quan tâm.

Hàng nǎm, Viện Âm nhạc còn ra ba số Thông báo khoa học bằng hai thứ tiếng Việt và Anh, mỗi số dày 150 trang khổ 19cmx27cm, để thông báo các kết quả nghiên cứu khoa học về âm nhạc của các tác giả trong và ngoài Viện.

Song song với các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, xuất bản, Viện Âm nhạc còn thực hiện những hoạt động khoa học mang ý nghĩa xã hội như tổ chức các Hội thảo khoa học, Câu lạc bộ Tác giả- tác phẩm nhằm giới thiệu, truyền bá các thành tựu nghiên cứu và sáng tác âm nhạc.

 
Phòng Trưng bày nhạc cụ truyền thống Việt Nam

Nǎm 1999, Viện Âm nhạc đã khai trương “Phòng trưng bày nhạc cụ truyền thốngViệt Nam”là nơi hiện đang lưu giữ hơn 150 nhạc cụ thuộc đủ bốn họ: màng rung, tự thân vang, hơi, dây với nhiều chi, nhánh nhạc cụ khác nhau của các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, trong đó có cả những hiện vật nhạc cụ từ thời cổ xưa như đàn đá, trống đồng, các nhạc cụ tre nứa…Mỗi nhạc cụ đều có vǎn bản giới thiệu, mô tả chi tiết và được minh họa qua các tiết mục biểu diễn của các nghệ nhân trên bǎng đĩa. Đến với “Phòng trưng bày nhạc cụ truyền thống Việt Nam”, người xem còn được thưởng thức chương trình biểu diễn trực tiếp các bài bản âm nhạc truyền thống nguyên gốc do các nghệ sĩ trong phòng thể hiện đúng theo phong cách truyền thống. Từ ngày khai trương, Viện Âm nhạc đã đón tiếp hàng ngàn lượt khách tham quan và đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho người xem.

Thực hiện Nghị quyết TW 5, Viện Âm nhạc cũng tích cực triển khai công tác truyền bá âm nhạc dân gian truyền thống trong đời sống xã hội với việc cho ra đời nhiều chương trình nghệ thuật dân gian truyền thống các dân tộc trên các sản phẩm công nghệ CD, VIDEO, VCD, DVD giúp người yêu nhạc có cơ hội biết thêm nhiều hơn về nền âm nhạc đa sắc màu của Việt Nam.

Hoà cùng xu hướng mở rộng kết nối thông tin toàn cầu hóa, cuối nǎm 2001, Viện Âm nhạc đã mở một Website riêng (http://www.vnmusicology-inst.vnn.vn) đưa Viện Âm nhạc và nền vǎn hóa âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Viện Âm nhạc đã thông tin lên mạng internet mọi hoạt động, những thành tựu sưu tầm, nghiên cứu và các sản phẩm công nghệ về âm nhạc truyền thống Việt Nam của Viện đồng thời với nhiều tin hoạt động âm nhạc trong nước khác. Cũng thông qua mạng, Viện đã đáp ứng được nhiều yêu cầu đa dạng tìm hiểu về âm nhạc Việt Nam của các bạn nước ngoài.

 
Lễ khai trương Ngân hàng dữ liệu Âm nhạc dân gian và nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam

Nǎm 2004 vừa qua, trên cơ sở kho tư liệu của mình, Viện Âm nhạc đã chính thức khai trương Ngân hàng dữ liệu Âm nhạc dân gian và nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam trên một hệ thống công nghệ ồng bộ, hiện đại, giúp những người quan tâm đến âm nhạc Việt Nam có thể truy cập, tìm kiếm thông tin về mọi khía cạnh liên quan đến Âm nhạc dân gian và nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất, từ tư liệu vǎn bản cho đến tư liệu âm thanh, hình ảnh. Đây là hệ thống Ngân hàng dữ liệu về âm nhạc và nghệ thuật truyền thống đầu tiên có ở Việt Nam. Hiện Viện Âm nhạc vẫn đang tiếp tục bổ sung và hoàn thiện hệ thống dữ liệu cho Ngân hàng. Hy vọng trong một thời gian gần đây, Viện Âm nhạc sẽ có điều kiện lập một đường truyền dẫn đưa toàn bộ hệ thống dữ liệu của Ngân hàng lên mạng internet để có thể thực hiện công việc truyền bá âm nhạc Việt Nam ra thế giới một cách hiệu quả hơn.

xin chào

Bên cạnh những hoạt động đối nội, mảng hoạt động đối ngoại của Viện Âm nhạc cũng diễn ra sôi nổi với việc kết hợp thực hiện các dự án về đề tài khoa học âm nhạc với các đối tác nước ngoài, cộng tác và hỗ trợ nhiều nhà nghiên cứu quốc tế trong các công trình nghiên cứu khoa học, tham gia các Hội thảo quốc tế về âm nhạc, đưa các đoàn nghệ thuật dân gian Việt Nam đi biểu diễn ở nước ngoài… Viện Âm nhạc luôn sẵn sàng hợp tác với bạn bè các nước trong khu vực và trên thế giới thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học cũng như các dự án về âm nhạc dân gian.

 
Trụ sở mới của Viện Âm nhạc

Đầu năm 2007, Viện Âm nhạc chính thức chuyển trụ sở từ 32 Nguyễn Thái Học tới địa điểm mới tại Khu CC2- Khu đô thị mới Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội. Đây là một mốc son quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của Viện Âm nhạc. Lần đầu tiên những người làm công tác nghiên cứu có thể thao tác công việc của mình tại một trụ sở hiện đại với đầy đủ phòng thu thanh, ghi hình, biểu diễn, trưng bày truyền bá âm nhạc dân gian, thư viện, khai thác Ngân hàng dữ liệu âm nhạc truyền thống Việt Nam v.v..

Với một cơ sở vật chất hiện đại, đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt huyết, Viện Âm nhạc luôn là địa chỉ đáng tin cậy không chỉ của giới nghiên cứu âm nhạc mà còn là điểm đến của bè bạn trong và ngoài nước, những người quan tâm tới âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là âm nhạc truyền thống Việt Nam.

VIỆN ÂM NHẠC VIỆT NAM
Khu CC2 – Mễ Trì – Đô Thị mới Mỹ Đình  Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 3.7854880-3. 7875341
Fax: 84-4-3.7854881

Email: Vim@vienamnhac.vn
Website: Vienamnhac.vn; Vienamnhac.org

LÊ HẢI ĐĂNG : Bàn về ETHNOMUSICOLOGY


1. Chuyển dịch thuật ngữ

Đứng ở góc độ khởi phát, Ethnomusicology hình thành trên cơ sở kết hợp, giao diện giữa (ít nhất) hai ngành Âm nhạc học và Dân tộc học nhằm tạo ra một liên ngành mới. Sự kết hợp này xuất phát từ thực tiễn tác nghiệm trên phạm vi rộng lớn của đời sống âm nhạc không giới hạn về thời gian, cũng như không gian văn hóa. Về mặt thuật ngữ, Ethnomusicology đã được chuyển dịch thành khá nhiều cụm từ khác nhau, như: “Âm nhạc học dân tộc”; “Dân tộc nhạc học”; “Âm nhạc dân tộc học”… Qua đó cho thấy sự lúng túng, thiếu tính nhất quán, đồng thuận và chưa thể đi đến thống nhất cách chuyển dịch thuật ngữ trên.

Thực tế, việc chuyển dịch thuật ngữ giản dị hơn nhiều so với cách đặt tên cho một ngành khoa học mới. Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng tiếng Việt vốn không sản sinh trên cơ tầng của tư duy Duy lý. Nên, trong quá trình tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài khó tránh khỏi nhiều cách chuyển nghĩa khác nhau. Không chỉ giới hạn trên phương diện chuyển dịch thuật ngữ, mà ngay cả trong cách thức tư duy, lối ứng xử trong giao tiếp, chúng ta thường gặp nhiều tình huống thiếu tính nhất quán. Bởi vậy, ngoài cách hiểu dưới góc độ Ngôn ngữ ra, chúng ta nên tham chiếu bối cảnh văn hóa của sự lựa chọn.

Trước khi thuật ngữ “Âm nhạc học dân tộc”; “Dân tộc nhạc học”; “Âm nhạc dân tộc học”… được sử dụng ở lĩnh vực âm nhạc, các ngành khoa học khác như Văn hóa học, Xã hội học, Nhân học (Nhân loại học)… đã có những bước khởi động khá sớm trong cách thức chuyển ngữ. Nhằm hướng tới mục tiêu có khả năng “hòa mạng” với các ngành khoa học khác trong phạm vi ngành Âm nhạc học, chúng ta buộc phải suy xét cách chuyển ngữ đã được áp dụng ở những chuyên ngành này như một biện pháp tham chiếu.

Bên cạnh đó, xuất phát từ nhiều ý kiến bất đồng xoay quanh “Âm nhạc học dân tộc”, “Nhạc học dân tộc”, “Âm nhạc dân tộc học” hay “Dân tộc học âm nhạc”, ở đây cần bóc tách hai cụm từ “Âm nhạc” và “Dân tộc” nhằm làm sáng tỏ nội dung liên quan tới khái niệm “Dân tộc”. Vì, nội dung này rất đáng được quan tâm.

Trong nhiều giáo trình Nhập môn Dân tộc học, từ Ethnos đa số được dịch là Tộc người. Ở nước ta, khái niệm “Dân tộc” đồng nghĩa với từ “Nation” có nội hàm không đồng nhất. Theo “Từ điển tiếng Việt”, Nxb Khoa học Xã hội, Trung tâm Từ điển học Hà Nội, Việt Nam xuất bản năm 1994, ở mục “Dân tộc” trang 239 giải thích có bốn nội dung liên quan: “1.Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách. 2. Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc. 3. Dân tộc thiểu số. 4. Cộng đồng người ổn định làm hình thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và đấu tranh chung.”

Như vậy, “Dân tộc” vốn là một khái niệm đa nghĩa. Thứ nhất, Dân tộc nhằm chỉ một cộng đồng người, như dân tộc Kinh, dân tộc Chăm… tương ứng với thuật ngữ Ethnos. Thứ hai, Dân tộc được hiểu là quốc gia với một thể chế chính trị thống nhất, có lãnh thổ, có ngôn ngữ chung, tương ứng với thuật ngữ Nation. Trong khi Ethnos chủ yếu nhằm chỉ Tộc người. Phương pháp Dân tộc học coi tộc người như một nội dung quan trọng, không giới hạn trên nguyên tắc “có chung lãnh thổ”, như cộng đồng người Việt ở Hải ngoại, người Do Thái, Digan… Ngoài ra, trôi nổi trên bề mặt xã hội còn có khái niệm “Dân tộc” hiểu là truyền thống, như “Trang phục dân tộc”, “Khoa âm nhạc dân tộc”…

Bên cạnh đó, khái niệm Dân tộc chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi bầu không khí chính trị, xã hội. Qua mỗi thời kỳ, nó lại được khoác lên nhiều ý nghĩa, vai trò khác nhau, như vào thời kỳ chiến tranh, “phong trào giải phóng dân tộc” được hiểu là cuộc cách mạng đánh đuổi giặc ngoại xâm nhằm đem lại sự toàn vẹn lãnh thổ. Dân tộc lúc này được hiểu ở khía cạnh bờ cõi, cương vực, lãnh thổ quốc gia. Cuối thế kỷ XX, cùng với làn sóng Toàn cầu hóa, xu thế nhất thể hóa về mặt văn hóa đặt ra cho các quốc gia đứng trước nguy cơ đồng hóa về văn hóa, Liên hợp quốc kêu gọi các nước đứng lên bảo vệ truyền thống văn hóa của mình. Từ đó, khái niệm Bản sắc văn hóa dân tộc dấy lên như một ngọn cờ chi phối quan điểm văn hóa nhiều quốc gia và nội hàm từ “Dân tộc” nhằm chỉ khái niệm bản sắc văn hóa truyền thống.

Với tính chất bất ổn về mặt nội hàm, trên thực tế thường phải dùng thêm bổ ngữ đi kèm với danh từ Dân tộc để làm rõ khái niệm, như dân tộc thiểu số, dân tộc Tày… và ngay trong từng cách gọi này, các đại lượng cũng không đồng đẳng nhau, như dân tộc Tày và dân tộc Việt Nam chẳng hạn. Dân tộc Tày chỉ một tộc người cụ thể, còn dân tộc Việt Nam lại bao gồm cả 54 thành phần dân tộc cùng sống trên một vùng lãnh thổ. Mặt khác, nước ta là một quốc gia đa dân tộc, vì thế dân tộc thường được hiểu theo nghĩa tổ hợp các tộc người cùng chung sống trên đất nước, có chung đường biên giới, lãnh thổ, chính trị. Khi tìm hiểu văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử… một tộc người cụ thể, vấn đề có thể vượt ra khỏi đường biên giới quốc gia để vươn tới đặc trưng văn hóa không bị chia cắt bởi không gian địa lý. Đó là lý do khiến cho nhiều học giả đã chuyển hướng nghiên cứu từ cách tiếp cận bình diện sang lĩnh vực, nhằm xóa đi đường biên chia cắt không hợp lý theo phạm vi nghiên cứu. Xuất phát từ trở ngại chia cắt đường biên không hợp lý giữa văn hóa và chính trị, nhiều quốc gia trên thế giới đã xảy ra tình trạng phải định dạng lại bản sắc. Ngoài ra, với tính chất di trú, phát tán của nhiều hiện tượng văn hóa, nên người nghiên cứu cần đến sự hỗ trợ của hệ lý thuyết khác mới có thể tiếp cận được bản chất vấn đề. Trở lại khái niệm Dân tộc trong thuật ngữ Ethnomusicology, rõ ràng, Enthos dùng để chỉ tộc người, chứ không phải Dân tộc, như khái niệm được dùng phổ biến. Vì, tính chất co dãn này, theo tôi, nên dịch Ethnomusicology là Âm nhạc học tộc người thay cho Âm nhạc học dân tộc nhằm tránh nhiều cách hiểu khác nhau, cũng như làm giới hạn khả năng thâm nhập trên nhiều vùng văn hóa của một ngành khoa học.

2. Vị trí và vai trò của Ethnomusicology

Sở dĩ bất kỳ ngành khoa học nào cũng có xu hướng tích hợp, tiếp thu thêm phương pháp mới là vì những khiếm khuyết tự thân. Ngành âm nhạc cũng không nằm trong trường hợp ngoại lệ. Âm nhạc là một chuyên ngành hẹp, không thể quán xuyến hết toàn bộ đời sống rộng lớn vốn vượt ra ngoài phạm vi của mình, vì thế buộc phải tiếp thu, dung nạp thêm phương pháp của nhiều ngành khác, trong đó có Dân tộc học.

Đứng ở góc độ từ vựng, chúng ta dễ dàng phân biệt giữa Dân tộc học âm nhạc và Âm nhạc học dân tộc, nhưng trong hoạt động thực tiễn, sau khi sử dụng phương pháp, bằng cách tìm ra những đặc trưng riêng mới có thể phân biệt được nhằm tránh tình trạng đưa ra kết quả không phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, cũng như phương pháp tư duy. Dân tộc học xét với tư cách một bộ môn khoa học dùng vào mục đích nghiên cứu âm nhạc, rõ ràng, việc chuyển đổi công năng, từ vị trí tiền tố sang hậu tố, tuy không đúng về trật tự Ngữ nghĩa học, nhưng lại hoàn toàn tương ứng với sự lựa chọn của nhiều ngành khác đã có tiền lệ và lịch sử, như Xã hội học văn hóa, Nhân học du lịch, Mỹ học âm nhạc, Văn hóa học âm nhạc, Nhân học sinh thái… Tương tự như vậy, ngành nghiên cứu âm nhạc dựa trên phương pháp của ngành Dân tộc học nên đặt tên là Dân tộc học âm nhạc. Chúng ta không thể “chấp” vào hình thức của từ Musicologi để chuyển ngữ khi đứng ở góc độ chuyển ngữ, chủ đích của việc tiếp thu Dân tộc học nằm ở phương pháp, chứ không phải đối tượng. Đối tượng hướng tới ở đây vẫn không nằm ngoài lĩnh vực âm nhạc, chỉ có thay đổi, bổ sung thêm phương pháp mới.

Như trên đã nói, âm nhạc thuộc chuyên ngành hẹp, khó thể dùng phương pháp để nghiên cứu nhiều dạng thức văn hóa vượt ra ngoài phạm vi tiếp cận. Cần coi Ethnomusicology như một phân ngành của Âm nhạc học, chứ không phải một lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt, cũng tương tự như các môn Triết học âm nhạc, Mỹ học âm nhạc, Hình thái học âm nhạc, Phê bình học âm nhạc, Nhân (loại) học âm nhạc, Tâm lý học âm nhạc, Xã hội học âm nhạc, Địa lý học âm nhạc, Trị liệu học âm nhạc, Sử học âm nhạc… Không nên ưu tiên chuyển ngữ từ Âm nhạc học (xuất phát từ nội hàm Musicology) mà quên phương pháp nghiên cứu chủ yếu (ở trường hợp này) lại thuộc ngành Dân tộc học, ví dụ ngành Xã hội học văn hóa tiếp cận đối tượng nhờ sử dụng phương của ngành Xã hội học, ngành Nhân học kinh tế tiếp cận đối tượng trên cở sở phương pháp của ngành Nhân học (chứ không phải Kinh tế học)… Theo đó, Dân tộc học âm nhạc hiểu là việc sử dụng phương pháp Dân tộc học để nghiên cứu về âm nhạc. Nếu sử dụng phương pháp, đặc biệt là tư duy phương pháp của ngành Âm nhạc học để nghiên cứu âm nhạc dân tộc, thì có thể dịch là Âm nhạc học dân tộc, Âm nhạc học tộc người hoặc Nhạc học dân tộc. Việc dùng từ Dân tộc nhạc học để chuyển ngữ theo trật tự tiếng Anh, tiếng Hán vô hình trung làm đảo lộn cấu trúc tiếng Việt. Vì, ở tiếng Việt, bổ ngữ luôn nằm trước danh từ, như sông dài, biển rộng, chứ không thể là dài sông, rộng biển… Ngoài ra, việc coi hay nhấn mạnh Ethnomusicology là một phân ngành của Âm nhạc học giúp chúng ta không ngần ngại “từ chối” việc “tranh chấp” tiền tố hay hậu tố như đã trình bày.

Trong hoạt động nghiên cứu, chúng ta có thể dùng một phương pháp nhằm giải quyết nhiều vấn đề, ngược lại có thể giải quyết một vấn đề bằng nhiều phương pháp. Xuất phát từ thực tiễn càng ngày càng có khuynh hướng xuất hiện những ngành mới trên cơ sở kết hợp nhiều ngành (từ hai trở lên), có thể là liên ngành, xuyên ngành hay đa ngành… Dù sao việc xác định mục tiêu, tư duy tiếp cận cho việc lựa chọn giải pháp nghiên cứu vẫn phải đặt vào trọng tâm. Phương pháp chỉ là công cụ, con đường, phương tiện, còn tư duy phương pháp mới là mục đích. Với suy nghĩ như vậy, việc sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu của ngành Âm nhạc, hướng tới mục tiêu tìm hiểu những vấn đề liên quan tới lĩnh vực âm nhạc thì việc chuyển ngữ là Âm nhạc học Dân tộc có thể chấp nhận được. Còn sử dụng phương pháp (chủ yếu), đặc biệt là phương pháp luận (tư duy về phương pháp) của ngành Dân tộc học với mục tiêu tìm hiểu về giá trị, thuộc tính, đặc điểm văn hóa, giá trị biểu trưng, hành vi… thuộc phạm vi tộc người thì nên lấy tên Dân tộc học âm nhạc, hiểu là nghiên cứu âm nhạc trong văn hóa thông qua cách thức tiếp cận bằng phương pháp của ngành Dân tộc học. Trong trường hợp nghiên cứu theo phương pháp này mà hướng tới kết quả của ngành khác cần cân nhắc cách thức lựa chọn phương pháp nghiên cứu (ở đây giới hạn trong phạm vi định danh). Rất nhiều trường hợp đã xảy ra độ lệch pha, không tương thích giữa mục đích và phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu âm nhạc dưới góc độ Dân tộc học sẽ đem đến những kiến giải trong phạm vi âm nhạc theo hướng làm sáng tỏ thuộc tính văn hóa, chứ không tìm hiểu những kiến thức thuộc phạm vi chuyên ngành hẹp.

3. Ethno hay Apro

Cho dù Ethnomusicology khá non trẻ trong nhiều cơ sở đào tạo âm nhạc, không có nghĩa mới mẻ trong lĩnh vực nghiên cứu. Nước ta có Viện Dân tộc học trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam chuyên sử dụng phương pháp nghiên cứu Dân tộc học vào việc tiếp cận những vấn đề thuộc tộc người, văn hóa nông thôn. Nếu xuất phát từ mục đích tiếp nhận thêm một ngành nghiên cứu có tính tác nghiệp cao để xây dựng một chuyên ngành tương ứng có thể thay thế bằng cách hợp tác nghiên cứu, kế thừa thành quả và liên thông nguồn nhân lực ở những cơ sở tinh thông về phương pháp.

Mặt khác, vấn đề đặt ra ở đây: có nên thiết lập chuyên ngành Ethnomusicology với tư cách là một ngành học? Rõ ràng, ngành Dân tộc học có sở trường nghiên cứu về vùng văn hóa nông thôn, tộc người (thiểu số), song, đặt trong bối cảnh xã hội diễn ra nhiều thay đổi nhanh chóng như hiện nay, tình trạng giao diện giữa đô thị hóa nông thôn và nông thôn hóa đô thị thì Dân tộc học lại tỏ ra không đắc dụng khi triển khai nghiên cứu mảng đề tài có tính chất giao diện, đa diện về mức độ biến đổi văn hóa. Chưa kể, việc xây dựng một ngành học buộc phải suy xét vấn đề đầu ra cho nguồn nhân lực. Những sinh viên được đào tạo về chuyên ngành này sau khi tốt nghiệp phải được cung cấp nhiều sự lựa chọn cho tương lai, chứ không thể hướng tới một mục tiêu duy nhất. Sự lựa chọn giải pháp thay thế ở đây nên là ngành Nhân (loại) học âm nhạc.

Như chúng ta biết, bên cạnh ngành Dân tộc học có thể đi sâu tìm hiểu các cộng đồng, tộc người, xã hội nông thôn, còn có ngành Xã hội học chuyên nghiên cứu về xã hội đô thị, cư dân hiện đại… Ngành Nhân học tích hợp cả hai ngành Dân tộc học và Xã hội học vào phương pháp tư duy. Đây là một chuyên ngành đắc dụng trong khả năng thâm nhập nhiều địa bàn nghiên cứu khác nhau. Việc thiết lập chuyên môn cũng như chuyên ngành đào tạo dựa trên cơ sở của ngành Nhân học âm nhạc có thể coi như một lựa chọn mang nhiều tính ưu việt (ít nhất so với Dân tộc học). Trong sự chuyển biến chậm chạp của nhiều Học viện âm nhạc trên thế giới, chúng ta có thể hiểu được lý do tại sao bộ môn Ethnomusicology vẫn đóng vai trò quan trọng. Song, tại nhiều cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những bước chuyển đổi phương pháp nghiên cứu từ Dân tộc học, Xã hội học sang Nhân học từ khá sớm.

Nhiều năm qua, phương pháp nghiên cứu Nhân học chiếm vị trí chủ đạo trong nhiều dự án nghiên cứu về văn hóa. Nó có khả năng thỏa mãn một cách khá rộng nhiều sự lựa chọn cùng mục tiêu nghiên cứu. Như trên đã đề cập, Dân tộc học tập trung nghiên cứu di sản văn hóa thuộc về quá khứ, xã hội nông thôn, những cộng đồng kém phát triển, văn hóa truyền khẩu… còn Nhân học nghiên cứu cả quá khứ và hiện tại, văn hóa nông thôn, cũng như vùng thị tứ (đang trong quá trình chuyển biến về nhiều mặt), xã hội đô thị, di sản truyền khẩu hay văn tự… Vì, những tiện ích dụng của nó, cộng với tư duy phương pháp bao dung phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa, thiết nghĩ những nhà hoạch địch chiến lược đào tạo nên tham khảo biện pháp thay thế Dân tộc học bằng Nhân học. Đứng trước hiện trạng đất nước, chúng ta không chỉ hướng mục tiêu nghiên cứu tới xã hội nông thôn hay đô thị, tộc người thiểu số hay đa số, văn hóa truyền khẩu hay văn tự, mà còn tập trung làm rõ những vấn đề giao diện giữa chúng. Trong trường hợp đó, ngành Nhân học âm nhạc cho phép người nghiên cứu có khả năng tiếp cận một cách sâu rộng đối tượng từ phương pháp tư duy đến hệ thao tác, quan trọng hơn, ngành học này cũng giúp cho sinh viên có khả năng tác nghiệp trên nhiều điều kiện khác nhau, vấn đề sống còn của một ngành học xét ở phạm vi tác động xã hội.

NGUYỄN XUÂN DIỆN / Ca trù – Phía sau đàn phách, sách nghiên cứu 2017

Ca trù – Phía sau đàn phách


Giới thiệu sách Nghiên cứu văn hóa. Số trang: 232 trang; Khổ: 15,5 x 23,5cm
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện

Giá bìa: 68.000 đồng
Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành trên toàn quốc vào tháng 1 năm 2017.

Ca trù – Phía sau đàn phách đem đến cái nhìn tương đối toàn diện về bộ môn nghệ thuật đặc sắc Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Có thể nói, khó có loại thể văn nghệ nào vừa sang trọng quý tộc vừa gần gũi dân dã như ca trù, với hành trình lịch sử đi từ truyền thuyết tiên nhạc đến các nghi lễ đền phủ, vào tận cung đình rồi trở ra với dân gian. Trong hành trình đó, với không ít thăng trầm, ca trù đã dung nạp đầy đủ sự linh thiêng của tín ngưỡng dân gian, sự nghiêm nhặt và trang trọng chốn cung đình, chất phóng khoáng nơi dân dã. Tính “hàn lâm” và chất nghệ sĩ thể hiện rõ trong âm luật, thể cách ca trù; cùng với những điểm rất riêng trong biểu diễn gắn liền với kép hát đào nương, sinh hoạt giáo phường ả đào… được trình bày ngắn gọn và khoa học, giúp độc giả tiếp cận dễ dàng và mạch lạc.

Một phần rất hấp dẫn của cuốn sách, là những câu chuyện phía sau đàn phách, được kể bởi các nhà văn, nhà văn hóa nổi tiếng từ xưa đến nay, mà hầu hết trong số đó chính là những “con nghiện” nhà tơ và là lực lượng sáng tác lớn của ca trù. Quả như tác giả biên sách này đã viết: “Ca trù làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách với lối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhân như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà… Và cùng với đó là mối quan hệ giữa văn nhân với ả đào – mối quan hệ quan trọng nhất của lối thưởng thức ca trù, bởi quá trình tham gia sinh hoạt ca trù là quá trình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình.” Cùng với chuyện văn nhân tài tử, cả một không khí sinh hoạt văn nghệ thời tiền chiến được tái hiện, với những địa danh nức tiếng gắn với các giáo phường ả đào như Xóm Khâm Thiên, Thái Hà, Ngã Tư Sở, Gia Lâm…

Khôi phục và lan tỏa văn hóa truyền thống đang là một yêu cầu bức thiết được đặt ra trong xã hội hiện đại. Những nét văn hóa độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc cần phải được trân trọng gìn giữ, tôn tạo và truyền đến thế hệ sau. Ca trù – phía sau đàn phách đem đến thông điệp ý nghĩa đó cho độc giả, từ sự dày công nghiên cứu, gắn bó và tâm huyết với văn hóa nước nhà của tác giả Nguyễn Xuân Diện.

Nhà xuất bản Phụ nữ trân trọng giới thiệu đến bạn đọc, như một món quà đầu xuân.

Tác giả
TIẾN SĨ NGUYỄN XUÂN DIỆN

Sinh năm 1970 tại Đường Lâm, Sơn Tây, HN. Hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam). Lĩnh vực nghiên cứu: Nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng, văn hóa làng xã, văn học Hán Nôm.

Các công trình đã xuất bản:
– Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù. Nxb. KHXH, H. 2000.
– Thơ Hát nói xưa và nay. Soạn chung với Hoài Yên. Nxb Văn hóa Dân tộc, H, 2013.
– Đặc khảo Ca trù Việt Nam. Viết chung. Viện Âm nhạc. H. 2006
– Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù- khảo sát nguồn tư liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Nxb. Thế giới, H. 2007, tái bản năm 2010.

Tham gia hồ sơ “Hát Ca trù người Việt” để đệ trình UNESCO vinh danh Ca trù là “Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp”. Thuyết trình về Ca trù tại nhiều nơi trong và ngoài nước từ năm 2005 đến nay.

Bìa 4
Ca trù Phía sau đàn phách

– Là bề dày lịch sử và chiều sâu nghệ thuật một bộ môn đặc sắc của Việt Nam, từ truyền thuyết tiên nhạc đến các nghi lễ ở cửa đình, đi tới cung đình rồi lại trở ra với dân gian.

– Là thân phận những đào nương dâng cả thanh sắc tuổi xuân cho một nghệ thuật chuyên nghiệp.

– Là mối duyên văn tự và tơ trúc giữa văn nhân và ả đào ghi dấu không phai mờ trong lịch sử văn chương dân tộc.

– Là những biến thiên của lịch sử mà ca trù gửi vào trong câu hát thế cuộc bể dâu.

(Theo hoinhacsi.vn)

http://vienamnhac.org/tin-tuc-su-kien/tin-chung/ca-tru-%E2%80%93-phia-sau-%C4%91an-phach