Mois : janvier 2017

Kecak – Bali

Kecak – Bali

Published on Jan 7, 2017

This sequence of « tourist » kecak sung and performed by the troupe « Krama Desa Adat Ubud Kaja » was filmed in Ubub in October 2005.

ACT 1: Rama, Sita and the Golden Deer
Rama, Sita and Laksamana enter the stage followed by a golden deer whose beauty attracts Sita. She asks her husband to catch it $ and Rama dutifully leaves asking Laksamana to protect Sita in his absence. Soon a cry for help is heard and Sita believing it to be that of her husband sending Laksamana to rescue him.

ACT 2: Sita and the giant ogre King Rahwana
The giant ogre King Rahwana appears, kidnaps Sita and takes her to his palace, Alengka.

ACT 3: Sita, Trijata and Hanuman
Sita bemoans her misfortune to Rahwana’s niece, Trijata, in the palace grounds. Hanuman, the white monkey appears and tells the distraught Sita that he is Rama’s envoy as he shows the Rama’s ring. Sita gives Hanuman her hairpin to take back to her husband with an angry message to rescue her.

ACT 4: Rama, Megananda (Indrajit) and Garuda
This is the battle scene in which Rama faces King Rahwana’s son, Megananda who aims at Rama with a magic arrow. The arrow turns into a dragon in flight who later trusses Rama up in rapes. In absolute desperation, Rama calls his ally the Garuda for help. The Garuda appears and fress Rama from the clutches of the dragon.

ACT 5: Rama, Sugriva and Megananda
The king of the monkeys, Sugriva appears and does battle with Megananda who is defeated, leaving Rama and his family to return home.

Thanh Hiệp : GS-TS Trần Quang Hải: Ðể âm nhạc dân tộc vang xa hơn

GS-TS Trần Quang Hải: Ðể âm nhạc dân tộc vang xa hơn

ND – Ai đã từng tiếp xúc với GS-TS Trần Quang Hải, sẽ thấy sự uyên bác, dí dỏm của anh rất giống người cha nổi tiếng: GS-TS Trần Văn Khê. Không bỏ qua những lợi thế có được từ điều kiện sống, học tập cộng với những nỗ lực bản thân, Trần Quang Hải đã trở thành tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt thứ hai trên đất Pháp, sau cha của mình.
Ôm gối cha xin làm đệ tử
Sau khi tốt nghiệp Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm, năm 1961 Trần Quang Hải (người đứng trong ảnh) sang Pháp học nhạc tại Trường đại học Sooc-bon. Lúc này, Trần Quang Hải vẫn mang theo giấc mộng được trở thành nghệ sĩ độc tấu violon nổi tiếng trên nước Pháp.
GS-TS Trần Văn Khê không cản ngăn ý hướng của con trai. Ông khéo léo sắp đặt một cuộc gặp gỡ giữa con mình với GS Yehudi Menuhin – một danh sư nổi tiếng về violon trên thế giới rồi ông kiên nhẫn chờ đợi. Trần Quang Hải kể lại trong niềm xúc động: « Sau khi tôi trổ tài trước thần tượng của mình trên cây đàn violon, GS Yehudi Menuhin đã cho tôi một lời khuyên. Ông nói rất thẳng thắn: « Người Pháp không cần thêm một nhạc công violon gốc Việt khi họ đã có hàng nghìn violonist tầm cỡ. Ðiều họ cần là một chuyên gia về âm nhạc dân tộc Việt Nam như GS Trần Văn Khê ». Lúc đó tôi thật sự bừng tỉnh, quay về bên gối cha, quỳ lạy để xin được thọ giáo dù có hơi muộn nhưng đó là hướng đi đúng của tôi ».
Mười năm học tập cha từ ngón đàn cho đến việc nghiên cứu, ghi chép, đúc kết kinh nghiệm, Trần Quang Hải đã thật sự rời bỏ cây đàn violon để học đàn tranh và trở thành người học trò xuất sắc, người trợ lý đáng tin cậy của cha tại Trung tâm Nhạc học Phương Ðông (Paris). Từ nền tảng này, Trần Quang Hải đã hoàn thành chương trình học về ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật và âm nhạc tại các trường đại học Louvre, Sorbonne (Paris), Cambridge (London) và còn học được những « bảo bối » từ nghệ thuật truyền khẩu, truyền ngón từ nhiều nghệ nhân đàn dân tộc Á, Âu.
Tìm một lối đi riêng
Tiếp thu nhanh những bài giảng, nhờ may mắn được tiếp cận với cha là một nhà sư phạm, một chuyên gia âm nhạc dân tộc học lớn, được nghe phân tích, hướng dẫn, dìu dắt không kể giờ giấc. Chỉ một thời gian sau, Trần Quang Hải được cha giới thiệu vào làm việc tại Viện Bảo tàng con người ở Paris.
Tại đây, anh đã may mắn tiếp cận với kho tàng băng đĩa âm nhạc dân gian để bù vào khoảng trống cho hoàn cảnh sống xa quê hương, xa môi trường sinh hoạt âm nhạc dân tộc trong nước. Không bỏ qua những lợi thế có được từ điều kiện sống, học tập cộng với những nỗ lực bản thân, Trần Quang Hải đã trở thành tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt thứ hai trên đất Pháp, sau cha của mình. Anh còn cố tìm lối đi riêng khi phát huy việc nghiên cứu âm nhạc các dân tộc. Trần Quang Hải từng bước thâm nhập, tìm tòi, nghiên cứu và sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của 54 dân tộc. Hiện nay, với vai trò nhà nghiên cứu, nghệ sĩ biểu diễn, nhạc sĩ sáng tác, người diễn thuyết, nhà sư phạm… GS-TS Trần Quang Hải đã từng bước tiếp nối cha mình giới thiệu âm nhạc Việt trên toàn thế giới.
Nhiều công trình của anh đã đạt hiệu quả ứng dụng cao trong ý nghĩa liên ngành giữa âm nhạc học với nhiều bộ môn khoa học khác như: âm thanh học, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học… GS-TS Trần Văn Khê có lần không khỏi băn khoăn khi biết con trai mình bất chấp hậu quả, quyết định cho các nhà nghiên cứu về y học rọi X-quang vào họng để tận mắt tìm hiểu cách vận hành « bộ máy » phát âm của con người mà theo họ, Trần Quang Hải có sợi dây thanh đới cũng như cổ họng đặc biệt so với người thường.
Trong gia tộc, nghệ sĩ Trần Văn Trạch – chú ruột của anh là người đã vang danh với tài dùng khẩu thuật sáng tạo tất cả những thanh âm từ động vật đến tiếng máy cơ động mà công chúng đã từng phong tặng nghệ danh « Quái kiệt Trần Văn Trạch ». Khi nhắc đến việc làm khiến cha mình lo ngại, Trần Quang Hải cho rằng đó là hành động « cảm tử để người sau tiến xa hơn », nhằm góp phần mang lại hiệu quả cho công trình nghiên cứu có một không hai của anh, đó là lối hát đồng song thanh (hát cùng lúc hai giọng).
« Vua muỗng », « vua đàn môi »
Với mong muốn truyền bá và làm mới nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian trong cuộc sống đương đại, Trần Quang Hải đã học từ những người bạn Nga cách biểu diễn gõ muỗng theo tiết tấu. Anh dùng hai thìa inox khuấy động cả không gian bằng nhiều tiết tấu sinh động. Anh gõ hai muỗng đến ba muỗng, rồi sau đó gõ trên cánh tay, đùi và những ngón tay uyển chuyển.
Tại Liên hoan dân nhạc tổ chức tại Anh năm 1967, anh đã được phong tặng danh hiệu « vua muỗng ». Ðiều làm công chúng trong và ngoài nước ngưỡng mộ hơn là Trần Quang Hải đã hòa tấu nhạc muỗng với các loại nhạc cụ dân tộc Việt như: tranh, sáo, bầu, kìm… Không chỉ là « vua muỗng », anh còn được biết đến với danh hiệu ông « vua đàn môi ». Ði nhiều nơi, tìm hiểu và nghiên cứu một cách tỉ mỉ, hiện nay Trần Quang Hải đã sưu tầm và chơi thành thạo hơn 30 loại đàn môi bằng đồng, thau, tre của người dân tộc thiểu số.
Hơn 30 năm tìm hiểu và trở thành chuyên gia lớn nhất về lối hát đồng song thanh, GS-TS Trần Quang Hải đã phổ biến kỹ thuật hát đặc biệt của người Mông Cổ ra khắp thế giới.
Anh nói: « Chủ trương của tôi là bảo tồn nền âm nhạc truyền thống dân tộc nhưng không bảo thủ, mà phải tích lũy thêm những tinh hoa mới, bồi đắp và phát huy cho nền âm nhạc dân tộc nước nhà. Ba tôi chính là ngọn đuốc sáng trong đời tôi. Tôi vẫn tiếp tục đi tới, vẫn trân trọng giữ gìn tất cả những điều cha tôi dạy dỗ. Hoài bão của tôi là muốn được trao lại những gì đã học cho thế hệ trẻ yêu thích âm nhạc dân tộc ».
Bài và ảnh: THANH HIỆP

GS TRẦN QUANG HẢI : Nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam

Nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam (20/01/2017)

VH- Sau bài viết của tôi về Đàn Bầu là của Việt Nam hay Trung Quốc? vào đầu tháng 8, cảnh báo việc có thểmất “chủ quyền” của đàn Bầu, tiếp theo là bài của Hà Đình Nguyên trên báo Thanh Niên Cần sớm khẳng định “chủ quyền” với đàn Bầu (cũng vào tháng 8.2016), Viện Âm nhạc thuộc Học viện Âm nhạc Quốc gia VN (gọi tắt là Học viện) tổ chức hai hội thảo quan trọng: “Tôn vinh đàn Bầu trong Festival âm nhạc mới Á – Âu 2016” tại Hà Nội từ 12 – 18.10.2016 và hội thảo “Đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa” vào ngày 21.10.2016.

 Hội thảo khoa học về đàn Bầu

Tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Bình Ðịnh, Viện trưởng Viện Âm nhạc phân tích: “Trong số các đàn một dây trên thế giới (Ichigenkin của Nhật, Tushuenkin của TQ, Sadieu của Cao Miên, Gopiyantra, Ektara của Ấn Độ), đàn Bầu VN được đánh giá là độc đáo bởi là loại đàn duy nhất phát ra âm bồi; chỉ có một dây, không có phím bấm nhưng có thể chơi được tất cả các độ cao; có khả năng trình diễn các kỹ thuật rung, nhấn, nhất là các dạng luyến láy, tô điểm âm khác nhau nên rất phù hợp với giai điệu âm nhạc của VN. Do sử dụng kỹ thuật uốn vòi đàn, tạo ra sự căng chùng khác nhau của dây đàn, nên đàn Bầu là nhạc cụ duy nhất trên thế giới với một lần kích âm có thểcho một âm cơ bản và các âm khác có độ cao hoặc thấp hơn hẳn âm cơ bản ấy”.

Giáo sư Trần Quang Hải là một trong những học giả lên tiếng về chủ quyền của cây đàn Bầu Việt Nam trong thời gian gần đây. Từ Pháp, giáo sư đã gửi cho chúng tôi tập tư liệu viết và sưu tập cá nhân về đàn Bầu lên tới 11 trang với rất nhiều thông tin của các học giả, chứng cứ lịch sử cũng như quan điểm của cá nhân giáo sư. Từ đây, chúng tôi rút gọn, chọn lọc và trích đăng trong khuôn khổ phù hợp với một bài báo. Tựa đề chính và các tựa đề phụ do Tòa soạn đặt.

Cùng với thời gian, đàn Bầu luôn được cải tiến, qua sự nghiên cứu, tìm tòi của nhiều nghệ sĩ. Thuở ban đầu, đàn chỉ đơn giản làm từ một ống bương hoặc vầu, mai; ngựa đàn là mảnh sành, sứ hoặc một miếng gỗcứng; vòi đàn là một que tre dài; dây đàn làm bằng dây móc, gai, tơ; bầu đàn bằng vỏ quả bầu nậm khô hoặc vỏ gáo dừa khô. Ðến nay, đã có những thay đổi với thân đàn làm bằng gỗ tiện theo hình quả bầu nậm; dây đàn bằng hợp kim… Việc áp dụng khoa học công nghệ giúp âm thanh được phóng to, tiếng đàn còn có thể ngân được độ dài gấp nhiều lần trước đây. Ðàn Bầu có thể biểu diễn trên sân khấu lớn, với tất cả các loại nhạc cụ của dàn nhạc dân tộc, bộ gõ, dàn nhạc điện tử, dàn nhạc giao hưởng. Ðiều này đã giúp các nhạc sĩ thuận lợi hơn trong việc sáng tác cho đàn Bầu.

Trở lại lịch sử, ngay từ năm 1956, đàn Bầu đã được đưa vào giảng dạy chính quy tại Trường Âm nhạc VN (nay làHọc viện). Nhiều học sinh nước ngoài cũng đến xin học đàn Bầu tại đây. Năm 1978, Nhạc hội đàn Bầu lần thứ nhất và Hội thảo đàn Bầu do Viện Âm nhạc VN tổ chức được đông đảo nghệ nhân, nghệ sĩ nhiều lứa tuổi tham gia.

Tháng 12.2014, Câu lạc bộ “Nghệ thuật đàn Bầu VN” ra đời, phối hợp Học viện tổ chức Nhạc hội đàn Bầu năm 2014 – 2015, quy tụ được nhiều nghệ sĩ chuyên nghiệp và không chuyên trong và ngoài nước tham dự. Là người phục chế cây đàn Bầu mộc đầu tiên từ năm 1990, mấy năm gần đây, NSND Xuân Hoạch đưa đàn Bầu trở lại biểu diễn tại chiếu xẩm Hà Thành ngay phố cổ, được khán giả Thủ đô và du khách hưởng ứng.

Cây đàn Bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của VN từ rất xa xưa và gắn liền với đời sống của người dân. Trong kho tàng âm nhạc VN có các bài bản cho đàn Bầu dựa trên các bài dân ca Quan họ, Lý, Hát ru, Chèo, Tuồng, Ca Huế, Đờn ca tài tử… Ngoài ra, đàn Bầu còn dùng để đệm cho ngâm thơ, hoặc độc tấu, song tấu, tứ tấu, dàn nhạc giao hưởng dân tộc… Các nhạc sĩ VN đã sáng tác những bản cho đàn Bầu như: Vì miền Nam (Huy Thục), Niềm tin tất thắng (Khắc Chí), Hồi tưởng (Xuân Thi), Đối thoại (Đỗ Hồng Quân), Dòng kênh trong (Hoàng Đạm), Buổi sáng sông Hương, Cung đàn đất nước (Xuân Khải), Gửi Thu Bồn, Quê mẹ (Khắc Chí), Gửi Huế mến yêu (Đình Long), Gửi đến Ngự Bình (Quốc Lộc), Thoáng quê (Thanh Tâm), Câu hát mẹ ru (Phú Quang)…

Đàn Bầu trong dàn nhạc giao hưởng Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Nghệ sĩ VN dạy đàn Bầu cho nghệ sĩ TQ

Qua sự tìm hiểu trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết có một số sách sử quan trọng có đề cập đến đàn Bầu. Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục tiền biên… cây đàn bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau đó được người Kinh VN mang sang Quảng Tây, TQ.

Dẫu thế, vài năm nay ở TQ đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn Bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở nước này. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang TQ từ khoảng 500 năm trước và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu chia sẻ: “Tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của TQ một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn Bầu trong dàn nhạc dân tộc TQ. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.

Tuy nhiên, cây đàn Bầu phổ biến tại TQ hiện nay là đàn Bầu VN. Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu (NNC) âm nhạc, đàn Bầu chỉ mới được TQ lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn Bầu ở các nhạc viện TQ. Họ đã gửi nhạc công sang VN học đàn Bầu; đồng thời, mời một số NNC sưu tầm tài liệu để viết về đàn Bầu và đưa lên mạng thông tin đàn Bầu rất được người dân tộc Kinh ở TQ yêu thích.

Theo NNC Đặng Hoành Loan [4], kể từ khi nghệ sĩ đàn Bầu Mạnh Thắng biểu diễn trên sân khấu cố đô Yangon (Myanmar), đến các cuộc lưu diễn khắp thế giới, các nghệ sĩ VN đã làm cho đàn Bầu trở thành cây đàn được thế giới biết đến và yêu thích. Bổ sung cho chi tiết 2 nghệ sĩ Đức Nhuận và Đoàn Anh Tuấn từng dạy đàn Bầu cho nghệ sĩ TQ, NSND Đỗ Lộc chia sẻ: “Nghệ sĩ Điền Xương của TQ đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.

Trong khi, NSND Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sửphát triển cây đàn Bầu VN tại Học viện Dân tộc Quảng Tây, nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn Bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên. Trưởng khoa đàn Bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của Học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn Bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa Đàn Bầu vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh TQ đang học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia VN về đàn Bầu. Có cô gái TQ tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn Bầu”.

Nghệ sĩ đàn Bầu Ảnh: Tr. Huấn

Đàn Bầu cùng hòa tấu với dàn nhạc trong chương trình nghệ thuật “Mùa đông xứ Huế” tại Nhà hát Lớn Hà Nội (tháng 12.2016) Ảnh: T.Huấn

Sở hữu nhiều tư liệu quan trọng

Đàn Bầu
Đàn Bầu ai gảy thì nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn Bầu
(Ca dao)
Đêm nằm ngoảnh mặt về Nam
nghe rơi thẳm một tiếng đàn trong khuya
Tiếng thơ ai mở lời kìa
đàn Bầu ai gảy tôi nghe đàn bầu
Võng chành như chiếc thuyền câu
đưa tôi trôi giữa nông sâu tiếng đàn
bồng bềnh mạn nhặt mạn khoan
thời gian có phím không gian có hình
Đàn xưa ai tính ai tình
một mình ai gảy một mình ai nghe
ai người con gái vùng quê
mê ai quá đỗi mà ghê tiếng đàn
Bây giờ cũng nhặt cũng khoan
ngang trời ta bắc cầu sang với mình
ai buông lửng một cái tình
để ngân nga đến rung rinh lòng người
Tôi mê người lắm người ơi
cái tai thì cạn cuộc đời thì sâu
lẩy lên đi hỡi đàn Bầu
những tâm tình ở đằng sau tâm tình

Nguyễn Duy
Trích từ Ghi chép Trường Sơn 1975 in trong tập Cát trắng, NXB Quân đội Nhân dân, 1995

Theo NNC Đặng Hoành Loan, cách chơi đàn Bầu dây buông là lối chơi ra đời trước nhất, có khởi đầu từ câu chuyện tổ nghề Xẩm chơi đàn một dây thời nhà Đinh (968-980) [4]. Cũng theo NNC, rất có thể lối chơi này kéo dài suốt 802 năm cho tới năm 1770 thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777) mới có thêm cách chơi bồi âm. Cách chơi bồi âm ra đời làm thay đổi chất lượng và phong cách nghệ thuật đàn Bầu, đưa cây đàn xâm nhập vào một số hình thức sinh hoạt âm nhạc trong cung đình. Sự kiện này được các nhà làm sử thời Nguyễn để mắt đến và chép trong bộ sử Đại Nam thực lục tiền biên.

Theo đó, người sáng tạo ra đàn Nam cầm (đàn Bầu) là Tôn Thất Dục. Nguyên văn: “Dục hiếu học, giỏi thơ, càng tinh về thuật số và âm nhạc, tục truyền đàn Nam cầm là do Dục chế ra”. Hơn một trăm năm sau, đàn Bầu đã tham gia sâu rộng vào nghệ thuật ca hát thính phòng Huế.

Có lẽ điều đó đã làm cho các học giảnhư Hoàng Yến và G. Cordier cùng cho rằng đàn Bầu được đưa vào Huế năm 1892 đến năm 1896. Theo NNC Hoàng Yến [6], năm 1892, đàn Bầu mới được những người hát xẩm phía Bắc đưa vào xứ Huế để đệm đàn cho một số bộ phận vương quan tiến bộ yêu thích thanh âm trong trẻo, nỉ non đó.

Cuối TK XIX đầu TK XX, Vua Thành Thái – một trong ba vị vua yêu nước thời Pháp thuộc, yêu tiếng đàn Bầu như hơi thở quê hương xứ An Nam, lúc đó đàn Bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu. Tiếp đó, đàn Bầu có mặt trong Đờn tài tử Nam bộ từ năm 1930 do những người miền Trung vào khai khẩn đất hoang vào cuối thế kỷ XIX. Đàn Bầu được gọi là “đờn một dây” hay “đờn độc huyền”.

Cây đàn này cũng được nhiều học giả người Việt quan tâm nghiên cứu trong hơn nửa thế kỷ qua. Cố GS. Trần Văn Khê đã miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn Bầu trong quyển luận án bảo vệ tại Paris năm 1958 [2], và trong quyển Vietnam/Traditions Musicales do nhà sách Buchet/Chastel xuất bản tại Paris năm 1967 [3]. Tôi có viết bài miêu tảđàn độc huyền – không dùng từ đàn Bầu trong quyển Music of the world [1] do Nxb J.M.Fuzeau phát hành, Courlay, Pháp, 1994.

Cách đây 7 năm, nữnhạc sĩ Quỳnh Hạnh (trong nhóm Hoa Sim được thành lập ở Saigon từ thập niên 60) bảo vệ luận án Tiến sĩ về đàn Bầ u thành công tại trường đại học Sorbonne Paris 4. Ngoài phần miêu tả nhạc cụ và dân tộc nhạc học, còn có phần viết về việc sử dụng đàn Bầu trong cách chữa bịnh (bệnh) tâm thần (musicothérapie) [2]. Ở trong nước, Học viện có 3 luận văn Cao học và 1 luận án Tiến sĩ về đàn Bầu được bảo vệ thành công [5]: NSND Nguyễn Thị Thanh Tâm bảo vệ luận án cao học năm 1999 với đề tài Một số vấn đề về giảng dạy và biểu diễn đàn bầu ở Nhạc viện Hà Nội.

Tiếp theo, Nguyễn Thị Mai Thủy bảo vệ luận văn Cao học năm 2007 về Giảng dạy đàn bầu bậc trung học dài hạn tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Sun Jin (Tôn Tiến), người TQ, bảo về luận văn Cao học năm 2009 về Đàn Bầu với việc giảng dạy tại trường đại học Quảng Tây, TQ. Cũng Sun Jin bảo vệ luận án Tiến sĩ năm 2015 về Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại VN [5]. Với sự kế thừa và phát triển đàn Bầu, Tôn Tiến muốn trên cơ sở của người trước đã làm và đề ra vài ý kiến mới, đó là những quan điểm “hoạt hóa”, “tiến hóa” và “tiêu chí hóa”. Trong đó, “hoạt hóa” có yêu cầu giữ gìn và đa dạng hóa các hoạt động nghệ thuật biểu diễn đàn Bầu. “Tiến hóa” có ý nghĩa đổi mới nội dung và hình thức để phát triển nghệ thuật đàn Bầu. “Tiêu chí hóa” mang nghĩa đại diện của khu vực, làm nổi bật vịtrí của nghệ thuật đàn Bầu.

Như vậy, theo tôi trong giai đoạn hiện tại, việc làm quan trọng nhất và khẩn thiết nhất là đưa đàn Bầu vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia để làm căn cứ quan trọng nhằm xác lập “chủ quyền” của nhạc cụ này hoàn toàn thuộc VN. Đó là tiền đề để tiến tới việc thiết lập hồ sơ pháp lý, để thế giới công nhận đàn Bầu của VN làdi sản của nhân loại.

Tham khảo:
1. Trần Quang Hải (1994): The đàn độc huyền – monochord (from the book MUSIC OF THE WORLD, published by J.M.FUZEAU, Courlay, France, p.298-299, 1994
2. Trương ThịQuỳnh Hạnh (2009), “Le đàn bầu, monocorde vietnamie), Étude organologique et ethnomusicologique” (Đàn bầu: nghiên cứu nhạc cụvà dân tộc nhạc học). Thèse de doctorat en Ethnomusicologie, soutenue le 25 novembre 2009 à l’Université de Paris IV-Sorbonne (Maison de la Recherche), Directeur de thèse: François Picard, 1 volume (299 pages), 1 DVD, 1 CD
3. Trần Văn Khê (1962), “Le đàn độc huyền” in La Musique traditionnelle vietnamienne , Presses Universitaires de France (nhà xuất bản), Annales Du Musée Guimet, trang 133-139, Paris.
4. Đặng Hoành Loan, 2016, “Tản mạn chuyện đàn bầu”, tham luận Hội thảo đàn Bầu vàvai tròcủa nótrong nền văn hóa Việt Nam, ngày 21.10 tại HàNội.
5. Tôn Tiến (Sun Jin) (2015), “Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ âm nhạc, bảo vệ tháng 8.2015, Học viện Âm nhạc quốc gia VN, 183 trang, Hà Nội.
6. Hoàng Yến (1919): “La Musique à Huế: Đàn Nguyệt et Đàn Tranh”, in BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Huế), trang 233-381, Huế.

GS Trần Quang Hải

(Pháp)

http://www.baovanhoa.vn/Vanhoaxuan2017/89109.vho

 TIN LIÊN QUAN:
CÁC TIN KHÁC:

PHẠM ANH DŨNG : QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)

Trần Văn Trạch & Việt Hùng https://youtu.be/_ItPZdtsNbU
Trần Văn Trạch – Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/kt-raWHjMU8
Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch https://youtu.be/V4X6TH7Etr0
Trần Văn Trạch – Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/iR157-oVKmY
Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / Trần Văn Trạch (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 – Pre 1975) : https://youtu.be/SsaR0YaNGIg
Trần Văn Trạch – Chiều Mưa Biên Giới – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/WQGGGMEOcu8
Mùa Thu Chết – Trần Văn Trạch (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk
Trần Văn Trạch – Không (Nguyễn Anh Chín) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w
Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong) – Trần Văn Trạch https://youtu.be/-oqlEXaD1h4
Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên) – Trần Văn Trạch https://youtu.be/CYZqRCSfsNY
Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Trần Văn Trạch – Hài hước https://youtu.be/HD5zURWzb8s
MC VIET THAO- QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH- VŨ TRƯỜNG RITZ- 1993 https://youtu.be/5uXar7gBJbQ
Subject: QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH (1924-1994)
 
Phạm Anh Dũng 
    Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn.
    Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.
    Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…
    Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.
    Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.
    Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn.
    Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.
    Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ.
    Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.
    Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy.
    Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch:
          Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
          Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
          Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
          Ê! Tôi xin mời lại đây…
      Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn:
          Từ đâu nạn đưa tới
          Gắn chi cái tê-lê-phôn
          Bởi tôi muốn làm tài khôn
          Khiến tôi muốn thành ra ma
          Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…
     Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước.
     Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.
     Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:
          Khi người ta yêu nhau
          Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu
          Thì không phải vì tiền đâu
          Nhưng mà chẳng được bao lâu…
    Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:
          Khi người ta yêu nhau
          Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu
          Thì không phải vì tiền đâu
         Nhưng mà chẳng còn bao lâu.
     Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.
      Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát:
           Kiến thiết quốc gia
          Giúp đồng bào ta
          Xây đắp muôn người
          Được nên cửa nhà
          Tô điểm giang san
          Qua bao lầm than
          Ta thề kiến thiết
          Trong giấc mộng vàng
          Triệu phú đến nơi
          Năm muời đồng thôi
          Mua lấy xe nhà
          Giàu sang mấy hồi
          Kiến thiết quốc gia
          Giúp đồng bào ta
          Ấy là thiên chức
          Của người Việt Nam
          Mua số mau lên
          Xổ số gần đến
         Mua số mau lên
         Xổ số… gần… đến…
     Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.
     Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).
      Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…
Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…
     Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.
     Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.
     Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.
     Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.
     Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…
Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.
     Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.
     Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:
     Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…
Tháng 9, năm 2000
Santa Maria, California, USA
Phạm Anh Dũng
 
 

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / Trần Văn Trạch (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 – Pre 1975)

Preview YouTube video Trần Văn Trạch – Chiều Mưa Biên Giới – Thu Âm Trước 1975

Preview YouTube video Mùa Thu Chết – Trần Văn Trạch (pre 75)

Whistle ensemble / Ensemble de sifflets – Êdê – Vietnam

Whistle ensemble / Ensemble de sifflets – Êdê – Vietnam

Published on Jan 3, 2017

The đing tŭt (đing = pipe) is a set of six end-mouth flutes played with the hocket technique. Each element consists of a simple tube of bamboo. The tubes are coarsely tuned by cutting them to the desired length and then refining their relative tuning by adding water. As the pipes are cut perpendicularly, with no artifice to facilitate the emission of the sound, the musicians place their thumb and index finger on each side of the mouth to better guide the air space on the bevel, to increase the air pressure and therefore the sound power.
The repertoire consists of imitations: noises of nature, activity and human environment, exteriorization of human feelings.
© Patrick Kersalé 2016

Le đing tŭt (đing = tuyau) est un ensemble de six flûtes à embouchure terminale jouées avec la technique du hoquet. Chaque élément est constitué d’un simple tube de bambou. On accorde grossièrement les tuyaux en les coupant à la longueur souhaitée puis on affine leur accordage relatif en ajoutant de l’eau. Comme les tuyaux sont coupés perpendiculairement, sans artifice permettant de faciliter l’émission du son, les musiciennes placent le pouce et l’index de chaque côté de l’embouchure afin de mieux guider la lame d’air sur le biseau, d’augmenter la pression d’air et par conséquent la puissance sonore.
Le répertoire est constitué d’imitations : bruits de la nature, activité et environnement humain, extériorisation de sentiments humains.
© Patrick Kersalé 2016

To know more / Pour en savoir plus:
http://lugdivine.com/cd-dvd-livres/no…

Bamboo organ / Orgue de bambou – Bahnar – Vietnam

Bamboo organ / Orgue de bambou – Bahnar – Vietnam

Published on Jan 3, 2017

The Bahnar in central Vietnam, like some other ethnic minorities, have the only instrument in the world to be played without physical contact. It’s named ding but. Traditionally used by women during village festivals, it has been running for a few decades in the church, under the impulse of Catholic missionaries.
Multiple bamboo pipes are arranged to allow hocket melodic playing. Each female musician plays a limited number of notes. Together, they interpreted melodies from the sung repertoire. These Christian women belong to the religious community of the Sisters of the Miraculous Medal of Kontum.
© Patrick Kersalé 2016

Les Bahnar du centre du Vietnam sont détenteurs, à l’instar de quelques autres minorités ethniques, du seul instrument au monde à être joué sans contact physique, le ding but. Traditionnellement utilisé par les femmes lors des fêtes villageoises, il officie depuis quelques décennies à l’église, sous l’impulsion des missionnaires catholiques.
Des tuyaux de bambous multiples sont disposés de façon à permettre un jeu mélodique en hoquet. Chaque intervenante joue un nombre limité de notes. Ensemble, elles interprètent des mélodies du répertoire chanté. Ces femmes chrétiennes appartiennent à la communauté religieuse des Sœurs de la Médaille Miraculeuse de Kontum.
© Patrick Kersalé 2016

To know more / Pour en savoir plus:
http://lugdivine.com/cd-dvd-livres/no…

Jew’s harp / Guimbarde – Hmong – Vietnam

Jew’s harp / Guimbarde – Hmong – Vietnam

Published on Jan 3, 2017

In northern Vietnam, Hmong girls (and boys) use a Jew’s harp (ncas, pronounced ncha) in their courtyard rituals. In this practice, it is the tones of the Hmong language that impose the melody. The rhythmic playing of the finger composes the initial of each word while the more or less large opening the oral cavity draws the vowels. Add to this the poetic and the metaphors of the text, one will then understand the subtlety of such a loving language. This Jew’s harp is made of fine brass. It is about ten centimeters long and one centimeter wide. When not in use, it is stored in a bamboo case.
Regarding the sequence, it is easy to understand that the woman who plays in front of our camera has passed the age of the love rituals accompanied by Jew’s harp and that the lovers do not call the media during their intimate dialogues!
© Patrick Kersalé 2016

Au nord du Vietnam, les jeunes filles (et garçons) hmong utilisent une guimbarde (ncas, prononcer ncha) dans leurs rituels de cour d’amour. Dans cette pratique, ce sont les tons de la langue qui imposent la mélodie. Le jeu rythmique du doigt compose l’initiale de chaque mot tandis que l’ouverture plus ou moins grande la cavité buccale dessine les voyelles. Ajoutons à cela la poétique et les métaphores du texte, on comprendra alors la subtilité d’un tel langage amoureux. Cette guimbarde est confectionnée dans une fine feuille de laiton. Elle mesure une dizaine de centimètres de long et un centimètre de large. Quand elle n’est pas utilisée, elle est rangée dans un étui de bambou.
À propos de la séquence, on comprendra aisément que la femme qui joue devant notre caméra a passé l’âge des rituels amoureux accompagnés de guimbarde et que les amants ne convoquent pas les médias lors de leurs dialogues intimes !
© Patrick Kersalé 2016

To know more / Pour en savoir plus:
http://lugdivine.com/cd-dvd-livres/no…

Signing / Chant – Dao Ɖỏ (Red Yao) – Vietnam

Signing / Chant – Dao Ɖỏ (Red Yao) – Vietnam

Published on Jan 3, 2017

The Red Dao (in Vietnamese Dao Ɖỏ) owe their name to the color of their turban. Generally, women wear trousers and a long tunic split at the front.
This singer, 20 years old, transcribed on a notebook this song that she produces in the intimate setting of her house on one level. The house lives to the rhythm of the conversations of the family and the neighborhood, the indispensable pedal-sewing machine and the strolling of the poultry.
At the time code 02’21, we can follow the lyrics of the song transcribed in Latin characters, like the contemporary Vietnamese language, accompanied by tonal accents. A vowel or a group of vowels with a sharp accent indicates a rising tone, a grave accent, a descending tone. The neutral tone is characterized by a vowel without an accent. The melody follows the same principle. As for the circumflex accent, it modifies the opening of the vowel and not the tone of the word.
© Patrick Kersalé 2016

Les Dao Rouges (en vietnamien Dao Ɖỏ) doivent leur appellation à la couleur de leur turban. Généralement, les femmes portent un pantalon et une longue tunique fendue sur le devant.
Cette chanteuse, âgée de 20 ans, a transcrit sur un cahier ce chant qu’elle produit dans le cadre intime de sa maison de plain-pied. La maison vit au rythme des conversations de la famille et du voisinage, de l’indispensable machine à coudre à pédale et de la déambulation de la volaille.
Au code temporel 02’21, on peut suivre les paroles du chant transcrites en caractères latins, à l’instar de la langue vietnamienne contemporaine, assortis des accents tonals. Une voyelle ou un groupe de voyelles avec un accent aigu indique un ton montant, un accent grave, un ton descendant ; le ton neutre est caractérisé par une voyelle sans accent. La mélodie suit ce même principe. Quant à l’accent circonflexe, il modifie l’ouverture de la voyelle et non la tonalité du mot.
© Patrick Kersalé 2016

To know more / Pour en savoir plus:
http://lugdivine.com/cd-dvd-livres/no…

Shock wave bamboo tube / Tube de bambou à onde de choc – Lawae – Vietnam

Shock wave bamboo tube / Tube de bambou à onde de choc – Lawae – Vietnam

Published on Jan 3, 2017

In southern Laos, women play a sound game that is simple in appearance. This is to create a shock wave in a bamboo pipe by hitting with both hands positioned in a spoon. While one sends pressurized air to the base of the tube, the other mouth and discharges rhythmically the upper part of the tube.
The introduction of the sequence shows how the rhythm, even if anecdotal, is present in the daily activities of women: rocking, shelling rice by pounding.
© Patrick Kersalé 2016

Au sud du Laos, les femmes s’adonnent à un jeu sonore qui n’est simple qu’en apparence. Il s’agit de créer une onde de choc dans un tuyau de bambou en frappant avec les deux mains positionnées en cuillère. Tandis que l’une envoie de l’air sous pression à la base du tube, l’autre bouche et débouche rythmiquement la partie supérieure du tube.
L’introduction de la séquence montre combien le rythme, même si cela est anecdotique, est présent dans les activités quotidiennes des femmes : bercement, décorticage du riz par pilonnage notamment.
© Patrick Kersalé 2016

To know more / Pour en savoir plus:
http://lugdivine.com/cd-dvd-livres/no…