Jour : 10 décembre 2016

Nghệ nhân cuối cùng hát xẩm tàu điện

Cập nhật lúc: 07:21 08/01/2013

(Kiến Thức) – Năm nay bước vào độ tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng hằng ngày ông Gia vẫn kéo nhị, hát xẩm dạy cho thế hệ trẻ. Ông là nghệ nhân hát xẩm tàu điện cuối cùng ở Hà Nội.

Tôi đã đi tìm những người hát xẩm trên các chuyến tàu điện của Hà Nội năm xưa. Tìm mãi, hỏi mãi cuối cùng mới gặp được ông Nguyễn Văn Gia (thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội).

Duyên hát xẩm

Ông Gia là em út trong gia đình có 3 chị em. Ngày nhỏ ông có năng khiếu âm nhạc. Lớn lên ông vừa học phổ thông, vừa học âm nhạc. Với ước mơ sau này sẽ trở thành một nghệ sĩ cải lương, ông Gia theo học lớp cải lương trong trường điện ảnh. Nhưng rồi một trận ốm thập tử nhất sinh đã khiến cuộc đời ông rẽ sang hướng khác.
“Năm 17 tuổi, khi đó tôi vừa học lớp 10, vừa học năng khiếu về âm nhạc. Lúc đầu tôi bị ốm đọc sách mắt cứ mờ dần, nghĩ rằng chỉ bị đau mắt hột, mua thuốc nhỏ mắt sẽ sáng trở lại. Nhưng mắt tôi cứ mờ dần, mờ dần. Việc học hành khó khăn, tôi nói với bố mẹ là cho đi khám. Bác sĩ ở Bệnh viện Mắt T.Ư chẩn đoán mắt tôi bị viêm màng bồ đào. Đây là căn bệnh hiếm gặp, y học ngày đó không thể chữa được. Các bác sĩ bảo nếu muốn chữa phải sang nước ngoài. Gia đình tôi nghèo, chạy ăn từng bữa, lấy tiền đâu mà sang bên đó. Mọi người đành ngậm ngùi để tôi chìm vào bóng tối”, ông Gia buồn rầu kể lại.
Lúc đó ông tuyệt vọng hơn bao giờ hết và đã nghĩ đến cái chết để giải thoát. Song ông Gia tự dặn lòng mình phải sống để làm việc có ý nghĩa. Vốn có khiếu về âm nhạc, được học về hát cải lương nên ông đã nhanh chóng tìm được công việc phù hợp với mình.
“Vào một buổi chiều năm 1960, tôi đi ra bờ hồ Hoàn Kiếm chơi, thấy cụ “trùm xẩm” Nguyễn Văn Nguyên hát xẩm rất hay. Tôi ngồi mê mẩn nghe cụ hát đến tối mịt. Thấy tôi thích món hát xẩm, cụ Nguyên bảo hát thử một bài hát bất kỳ. Nghe xong thấy giọng hát của tôi ấm áp, cụ đã cho theo và học hát xẩm. Vừa học của cụ, tôi vừa sáng tác thêm những điệu mới cho phù hợp với chất giọng của mình. Và chỉ thời gian ngắn tôi đã có có thể đi hát riêng”, ông Gia cho biết.
Ở tuổi thất thập cổ lai hy, ông Gia vẫn say sưa với xẩm.
Mười năm hát xẩm tàu điện

Ông Gia tâm sự: “Ngày đó hát xẩm tàu điện chủ yếu cho công chức, công nhân, người buôn bán nghe. Tôi đi hát lang thang trên tàu điện, chợ ở Hà Nội hàng chục năm trời. Đi hát xẩm ngày đó chỉ hơn ăn xin một chút là mình bỏ sức lực ra hát, người nghe thấy hay thì cho vài hào. Đi hát cả buổi có hôm chỉ được bát phở. Ai cho thì lấy, chúng tôi không chìa tay xin tiền như ăn xin. Tuy nhiên, cũng bị khinh ghét, coi thường”.
Ông Gia cho hay, được một thời gian thì số lượng người đi hát xẩm rong ở Hà Nội lên tới hàng trăm. Chính quyền cấm tụ tập đông người. Vì thế, việc kiếm sống trở nên khó khăn. Ông lại chuyển đi hát ở các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào Cai.
“Hát ở tỉnh lẻ vừa dễ kiếm sống, vừa không bị đuổi. Thời đó tiền có mệnh giá cao nhất là 10 đồng, đi hát kiếm được 1 đồng là quý lắm. Mỗi chuyến đi như vậy cũng phải mất tuần lễ, số tiền kiếm được khoảng 10 đồng. Tôi về mua gạo cho cả nhà ăn chỉ được một tuần”, ông Gia cho biết.
Vợ chồng ông Gia hạnh phúc bên nhau.
“Có tiền không mà vào đây”

Có lần ông Gia lên tàu vào tận trong TP Vinh, tỉnh Nghệ An để hát xẩm. Đi hát nhiều tỉnh, nhưng ông chưa thấy nơi đâu quý người hát xẩm như trong đó. Ông Gia kể: “Lúc đầu thấy tôi hát ở bến tàu, bến xe có người cho rằng đó là đài hát chứ không phải tôi hát. Sau đó nhiều người tập trung xung quanh, họ yêu cầu tôi hát một điệu xẩm nói về chiến tranh. Thấy giọng hát của tôi ấm ấp, ngọt ngào có người ghi âm lại cho người thân nghe. Hôm đó tôi được mọi người thưởng cho số tiền kha khá”.
Tuy nhiên, điều ông Gia buồn nhất trong thời gian đi hát rong là mỗi khi đi vào hàng ăn, quán trọ bị người ta khinh ghét. “Tôi đi hát nhiều nơi, điều tôi thấy buồn nhất là người ta luôn có sự kỳ thị đối với người khiếm thị. Khi chúng tôi vào quán ăn uống, nghỉ ngơi chủ quán hỏi ngay là có tiền không, khi nhìn thấy tiền mới niềm nở. Có lần tôi quên không mang theo giấy tờ, người ta xua đuổi không cho vào ngủ. Đêm đó tôi phải ngủ ngoài trời. Suốt bao nhiêu năm đi hát, tôi chưa xin của ai bất cứ cái gì. Nhưng người ta cư xử thật bất công với chúng tôi”, ông Gia tâm sự.
Đó cũng chỉ là một chút kỷ niệm buồn lắng đọng trong lòng ông Gia. Ông Gia bảo, cuộc đời đi hát xẩm có nhiều cái vui hơn là buồn. Nhiều tỉnh lẻ rất thích nghe hát xẩm. Có người mê hát xẩm bỏ công việc cả ngày đi theo giúp đỡ, ông cần gì thì giúp nấy, thậm chí lúc về còn biếu tiền cho ông.
Ông Gia nói rằng, cuộc đời ông có biêu bao nhiêu vui buồn ông đều đưa vào những điệu xẩm. Xẩm mang lại cho ông niềm tin yêu cuộc sống và cả những hạnh phúc lớn lao. Tôi bất ngờ khi ông nói rằng, người phụ nữ ngồi bên cạnh là vợ ông. Ông bảo đó cũng nhờ hát xẩm mà có.
“Năm 1980 những lúc không đi tỉnh xa hát, tôi hay ngồi hát ở chợ Ngọc Hà, Hà Nội. Còn cô ấy (người vợ bây giờ) buôn bán hàng xáo. Tôi hay hát gần bên gian hàng của cô ấy, qua những lần nói chuyện dần dần cô ấy hiểu được hoàn cảnh của tôi. Chúng tôi đến với nhau như một lẽ tự nhiên. Khi gia đình cô ấy biết chúng tôi yêu nhau đã phản đối rất quyết liệt, tìm mọi cách chia lìa hai đứa. Nhưng sức mạnh của tình yêu đã tạo động lực để cho chúng tôi đến với nhau”, ông Gia kể.
Hạnh phúc của vợ chồng ông Gia thật ngọt ngào, 2 người con của gia đình đều khỏe mạnh, học giỏi. Gia đình ông nghèo, nhưng ông vẫn quyết tâm cho các con ăn học đến nơi đến chốn. Ông Gia tâm sự: “Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều những bất hạnh, nhưng cuối đời tôi được quây quần bên vợ con thế này là vui lắm rồi”.

“Ông Gia được vinh danh là nghệ nhân hát xẩm của Hà Nội, kỷ niệm chương vì hạnh phúc người mù. Ông Gia là pho sử sống về hát xẩm tàu điện trước đây ở Hà Nội. Ông đã sáng tạo ra nhiều điệu xẩm hay, đặc sắc. Hiện nay chúng tôi vẫn mời ông Gia đến dạy cho các sinh viên theo học bộ môn hát xẩm.
Nhạc sĩ Thao Giang (Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Âm nhạc Nghệ thuật Việt Nam)

PHAN DƯƠNG : Đời nghệ nhân hát xẩm trên tàu điện

Thứ năm, 26/9/2013 | 00:01 GMT+7

Bị mù từ khi còn trai trẻ, ông Gia kiếm sống bằng cách đi hát trên những chuyến tàu điện leng keng khắp Hà thành. Cuộc đời nghệ sĩ của ông trải qua nhiều cay đắng, tủi nhục, có những lúc bị coi thường như ăn xin.

Ở ẩn nhiều năm nay, ông Nguyễn Lưu Gia, 67 tuổi, sống ở Từ Liêm, Hà Nội, vẫn có người tới thăm. Họ đến vì muốn học những bài hát cổ, tìm về thời kỳ huy hoàng của xẩm hay đơn giản chỉ muốn nghe lại những giai điệu buồn hiu hắt một thời. Trong làn khói mù mịt của hơi thuốc lào, người nghệ nhân già thở dài, cuộc đời hát xẩm cũng hẩm hiu như số phận của ông từ khi bị cướp đi đôi mắt.

Ông Gia lớn lên trong một gia đình có bố làm thuốc đông y ở làng Phú Đô (Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội). Từ nhỏ, ông là một đứa trẻ khỏe mạnh, học giỏi, hết lớp 10/10 thì đột nhiên bị một cơn sốt. Sau trận sốt đó, mắt ông mờ dần, dù có bố là thầy thuốc nhưng cũng không giúp được gì. Vào bệnh viện, bác sĩ chẩn đoán ông bị viêm màng bồ đào – một căn bệnh về mắt không thể nào chữa dược.

« Đang là một chàng trai khỏe mạnh thì tự nhiên không nhìn được nữa, tôi mất phương hướng, đi toàn đâm đầu vào tường, nhiều lúc chỉ muốn tìm cái chết. Nhưng rồi tôi dặn lòng vươn lên, tìm đến học chữ nổi, sau đó thi vào khoa Cải lương trường Sân khấu Nghệ thuật », ông cho biết.

Ra trường, người khuyết tật như ông không được xét biên chế trong các cơ quan nhà nước. Ông làm hợp đồng, lương không đủ sống. « Ngày đó, tôi được 45 đồng mỗi tháng, đóng cơm tập thể mất 18 đồng. Sức tôi đang trai tráng phải ăn hai suất mới đủ. Mỗi sáng, tôi phải mua thêm 2 bánh mì, để dành nửa cái cho buổi trưa », giọng ông mơ màng hồi tưởng.

Một buổi tối, ông Gia đi qua hồ Hoàn Kiếm thì « chết lặng » khi nghe thấy tiếng ca của cụ trùm Nguyên – một người hát xẩm nổi tiếng thời bấy giờ. Hâm mộ cụ, chàng trai thường qua đó nghe mỗi đêm, dần dần hát phụ cụ Nguyên vài điệu cải lương. Khi hai bên đã thân thiết, ông trở thành học trò của cụ Nguyên.

« Lúc đó tôi nghĩ mình đã phận mù rồi, có đi hát xẩm kiếm tiền thì cũng chẳng sao. Ngày ngày, vợ cụ Nguyên dắt hai thầy trò tôi đi hát ở tàu điện, tàu hỏa. Khoảng 3 năm thì tôi nắm được hết các điệu hát của cụ. Theo cụ thêm một năm nữa thì thầy bảo tôi có thể đứng ra hát riêng được rồi », người nghệ nhân cuối cùng ở Hà Nội hát xẩm đường tàu, nhớ lại.

anh3-2242-1380083211.jpg
Nghệ nhân Nguyễn Lưu Gia – người hát xẩm đường tàu cuối cùng ở Hà Nội. Ảnh: Phan Dương.

« Sáng trăng sáng cả phương trời. Một gian nhà nhỏ đi về, về có nhau. Vì tằm em phải chạy dâu. Vì chàng, em phải qua cầu đắng cay. Chồng em thi đỗ khoa này, bỏ công kinh sử từ ngày lấy nhau… ». Ca từ của điệu Xẩm tàu điện kết hợp với tiếng nhị nỉ non, réo rắt, trong phút chốc khung cảnh của cái thời Hà Nội xưa vọng lại – nơi có tiếng nỉ non của những người mù hát xẩm bên tàu điện leng keng, tàu hỏa rầm rầm.

Ông Gia bộc bạch, tiếng tàu điện, tàu hỏa giục giã ông ghê lắm. Dù đang ở đâu, làm gì ông cũng hướng về phía đó và lại đi. Sau khi nắm hết các « bí kíp » của thầy, chàng trai tuổi 30 cứ một mình một đàn, một gậy, một chiếc túi nhỏ lò dò lên các toa tàu. Ông hát từ toa này sang toa khác, từ chuyến tàu này sang chuyến tàu khác. Mỗi chuyến đi như vậy không biết bao nhiêu ngày bởi qua những miền đất, gặp được những điều lưu luyến ông ở lại nhiều hơn.

« Miền Bắc tôi đã đặt chân tới Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng, miền Nam vào đến sông Tiền, sông Hậu, Hà Tiên. Ở đâu có đường tàu, ở đó tôi có mặt », lão nghệ nhân nói. Có thời ông ở Huế vài tháng. Cái mưa lâm râm tháng 7, tháng 8 đất cố đô nao lòng, buồn bã làm ông thấy tiếng hát của mình cũng quyến luyến hơn. Có thời điểm ông vào Nam, quen biết nhiều đồng môn hát xẩm, trao đổi với nhau những điệu hát mới. Ông học thêm nhiều điệu cải lương, điệu hò, các bài hát tiền chiến. Người hát biết được nhiều bài sẽ giữ được lòng người nghe hơn.

anh2-8387-1380083211.jpg
Ở tuổi 67, sức khỏe ông Gia đã giảm sút nhiều. Ảnh: Phan Dương.

Phần lớn thời gian còn lại, ông Gia gắn bó với những chuyến tàu điện ở Hà Nội. Ngày đó, tàu điện là phương tiện đi lại gần gũi của người dân thị thành bên cạnh xe tay kéo, xích lô, xe đạp. Ông Gia thường từ Bờ Hồ đi ra cửa ô. Ông cũng có thêm những bạn xẩm khác quê Ninh Bình, Nam Đinh, Hải Dương…

Lúc hành nghề, ông thuộc hơn 2/3 các điệu xẩm. Đến đâu ông thường hát những điệu phù hợp với khung cảnh đó như điệu Xẩm chợ, Huê Tình, Xẩm xoan, Ba bậc, Thập ân… Riêng ở tàu điện khu vực Đồng Xuân, phố cổ thì dù hát điệu gì ông cũng không thể thiếu bài mở màn Xẩm tàu điện. Bên cạnh đó, ông còn thuộc thêm mấy chục điệu vọng cổ, cải lương thỉnh thoảng góp vui cho thị hiếu từng người.

Trong ký ức của người nghệ nhân già, nghề hát xẩm tủi nhục chẳng khác gì ăn xin, mượn tiếng hát để xin tiền. « Tôi đi đến đâu cũng bị xua đuổi. Vào quán cơm, người ta hỏi có tiền không mới cho vào. Đến nhà trọ cũng vậy. Ngày đó, hát xẩm thịnh hành nhưng chúng tôi thì bị khinh rẻ không khác người ăn xin », giọng ông chùng xuống.

Đi hát quanh năm nhưng ông không đủ ăn, nhiều khi hát cả ngày không đủ tiền mua bát phở phải nhịn đói. Lao lực thời trẻ khiến nay ở 67 tuổi, sức khỏe ông đã giảm nhiều. Ông tâm sự, cuộc đời mình chỉ có chút may mắn vì lấy được vợ trẻ. « Tôi đi hát ở chợ Ngọc Hà rồi quen bà ấy. Ngày đó, bà ấy bán gà vịt, thường xuyên ra nghe tôi hát. Hai bên hay trò chuyện, rồi nên duyên », ông nhớ lại.

Khi hai người lấy nhau cũng là lúc ông từ giã thời hát ở tàu điện, mở một gánh hát ở quê phục vụ những đám hiếu. Ông cũng tham gia hội người mù của xã, huyện và thường xuyên biểu diễn phục vụ bà con thôn xóm. Đến nay, vợ chồng ông có 5 người con, hầu hết đều thành đạt.

Gần đây, Trung tâm Văn hóa âm nhạc nghệ thuật Việt Nam đã cất công đi tìm những người từng hát xẩm trên tàu điện, khôi phục lại loại hình văn hóa dân gian một thời. Ông Gia được phong nghệ nhân, xem như một « pho sử sống về Xẩm tàu điện ».

Nghe nghệ nhân Nguyễn Lưu Gia vừa đàn vừa hát một bài xẩm:

Phan Dương

http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/to-am/doi-nghe-nhan-hat-xam-tren-tau-dien-2884924.html

PETER PHÓ : MỘT CUỘC HẦU ĐỒNG.

MỘT CUỘC HẦU ĐỒNG.

Nhân “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào hồi 21h15 (giờ Việt Nam) ngày 1. 12. 2016, Soi xin post lại một bài viết của tác giả Peter Phó.


Vũ Thanh Nghị, “Cô Bơ Chèo Thuyền” . Sơn dầu

Mụ gặp tôi ở quán cà phê, gọi ” Em Peter ” ngọt sớt, nhưng khi biết tuổi thật của tôi hơn mụ đến 10 cái xuân thu thì mụ giật mình đánh thót.

Mụ, người đàn bà phố cổ, cũng may được trên cho ăn lộc thánh nên giàu có sung túc.

Mụ nói, mụ căn cao số nặng nên đã là thanh đồng từ vài năm trước, trong lúc bất động sản Hà Nội đang trên đà cao trào. Có lẽ mụ là một thanh đồng khác biệt với đa số thanh đồng khác, bởi mụ giàu sụ, lại buôn to bán nhớn, mụ cần có quan hệ, cần ngoại giao. Nên lâu lâu, hứng lên mụ lại mở một giá hầu, một là để trả nợ tứ phủ, hai là nhân cơ hội trong lúc mụ hầu, mụ đưa phong bì cám ơn các đối tượng cho tiện. Theo ý mụ: Lúc hầu mình chẳng biết cái đếch gì hết, các thần các thánh, các cô các cậu nhập vào mình, hành vi lúc đó cứ diễn ra tự nhiên, tỉnh lại không biết điều gì đã xảy ra.

Hôm ấy, tôi được may mắn đi theo đoàn hầu của mụ lên đến tận đền Bắc Lệ (Hữu Lũng- Lạng Sơn) để xem mụ hầu và trả nợ tứ phủ. Trong đoàn, có các doanh nhân Hà Thành, có các phu nhân của một vài vị quan chức có máu mặt, cùng một đoàn tháp tùng hoành tráng, toàn xe BMW và Mercedes, trong đó một con Rolls-Royce do thằng Hùng đệ tử mụ lái chở riêng mụ và thầy Vượng Râu chuyên phụ trách tán đàn, hát văn phối nhạc cho lễ hầu của mụ.


Vũ Thanh Nghị, “Chúa Thác Bờ”, sơn dầu

Mụ đem theo một xe tải vàng mã, ngựa giấy, hình nhân các kiểu, hoa thơm cỏ ngọt đầy ăm ắp, từng mâm, từng mâm đầy ụ.

Điều khác người, mụ còn đem theo vô số đồ trang sức bằng vàng, kim cương, ngọc ngà thứ thiệt để làm hành trang trong khi hầu các cô các cậu. Một tay giúp việc lực lưỡng giữ một cái hộp nhiều ngăn như một chiếc tủ nhỏ, mỗi ngăn là một bộ trang sức. Khi mở ra, sáng chóe, làm người xung quanh hoa cả mắt, còn tôi thì sững sờ như đang trong cuộc tham gia một hội chợ trang sức tầm cỡ của các đại gia vùng Dubai.

Bàn thờ được trang hoàng lộng lẫy, đèn nến sáng trưng, đồ lễ sắp xếp ngồn ngộn, ngựa giấy, hình nhân, vàng mã xếp từng tầng từng lớp đầy ắp, rực rỡ, uy nghi. Mụ son phấn lòe loẹt, quần áo tỏa mùi thơm ngào ngạt của nước hoa Chanel N°5. Khi đã sẵn sàng, mụ yên vị nhắm mắt khoan thai ngồi khoanh chân giữa chiếu. Xung quanh mụ, bốn chàng trai bốn góc, nghe nói là tứ trụ triều đình, bốn tay này sẽ hướng dẫn và hỗ trợ, hầu hạ mụ trong suốt cả buổi hầu. Một chàng trẻ trung, đẹp trai trắng trẻo, đeo một bông hoa tai bên tai trái, khuôn mặt khôi ngô dễ thương, nhưng nói năng ỏn ẻn kiểu đồng tính. Một chàng đen lũi, khuôn mặt chỉ nhìn thấy hai con mắt sáng như mắt mèo. Một chàng to nhớn, vai u thịt bắp, săm trổ đầy cả hai cánh tay, trông như một tên xã hội đen bên Nhật. Còn một chàng thư sinh, gầy dong dỏng, dáng đi nhẹ như sóc, nói năng thủ thỉ như mèo hen.

Bốn phụ tá mỗi người một việc, người gấp sẵn trang phục, người soạn lại đồ trang sức, người phe phẩy cái quạt cho chủ nhân và người kia đang thoa son trát phấn lên mặt bà chúa.
Ngồi bên ngoài vòng, hai bên cung văn , nhạc công tấu nhạc cùng ban phụ họa hát theo. Tiếng hát văn lanh lảnh của vị thầy hát văn “number 1″ ở Hà Thành là Mr. Vượng Râu đã cất lên, nó vút cao và bay lượn trong khoảng không gian hẹp của vòm đền, lờn vờn trên thân vài con trăn tinh đang quận tròn trên đỉnh ban thờ rồi bay ra ngoài đến với cõi hư vô.


Vũ Thanh Nghị, “Cô Bơ”, sơn dầu

Tiếng đàn, tiếng sáo rập rờn, khi xa khi gần, khi xuống thấp, khi vút cao. Thật là:

Chốn cung tiên mây lồng ánh nguyệt; Cảnh bầu trời gió quyện hương bay
Cửu trùng tọa chín tầng mây; Thiên Tiên Đệ Nhất ngự rày trung cung

Sau khi đã chuẩn bị xong, bắt đầu bước vào màn hầu đặc sắc của một thanh đồng giàu sụ đất Hà Thành

Mụ cung kính quỳ gối thỉnh Tam Tòa Quốc Mẫu, sau đấy lần lượt mụ hầu các giá: Ngũ quan – từ đệ nhất đến đệ ngũ, quan lớn tuần tranh, mười một giá chầu, từ chầu bà đệ nhất đến chầu bà Bắc Lệ, phủ quan hoàng. Mụ kiên nhẫn múa may dặn bảo các đệ tử, dân thường đang xúm quanh xem hầu. Mỗi một giá là một lần thay đồ, thay trang sức, nhiều lúc thấy mụ hơi xót xa cau mày bởi sự thu xếp cẩu thả đồ trang sức của tay phụ việc to đầu to xác nhưng ngu như lợn.


Vũ Thanh Nghị, “Chầu Bà”, sơn dầu

Kiên nhẫn mãi, mới đến giá hầu ông Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười. Đến giá ông Hoàng Bảy, mụ áo giáp chỉnh tề, uy phong lẫm liệt, mụ dương oai diễu võ, hét lớn: Ta về đây, dạy bảo cho các con các cháu, các ngươi phải nghe lời Hoàng…

Tiếng nhạc vi vu trong trẻo cùng lời văn nghe đậm sắc dân gian:

Hoàng nhắn ai lên đất Bảo Hà
Nếm mùi phong nguyệt í i ì i
Đó là tiên cảnh thần tiên
Xáng ô xáng ô lưu phàm
Ố tiên thần tiên trên Bảo Hà…


Vũ Thanh Nghị, “Ông Hoàng Bảy”

Ông (mụ) múa gươm, dậm chân, chỉa mũi kiếm ra đống hình nhân để khai quang cho lũ súc sinh và hình nhân, sau đó ông (mụ) ngồi xuống nhấm trà Ô long, uống rượu,nghe cung văn hát hầu:

Cỏ cùng cây đua chen hoa lá í i ì i
Ố ngần lần ngần hoa đào năm ngoái
Mười phần còn kém ông xa
Xáng ô xáng ô lưu phàm
Ố xang còn kém xa ông mười phần…

Ông (mụ) thanh thản vuốt râu khen ngợi, cầm một xấp bạc lẻ, ông (mụ) tung hê cho đệ tử chúng sinh, mọi người ồ lên tranh nhau nhặt những đồng tiền lã tã rơi…

Rồi, đây mới là màn đặc sắc, mụ giở trong cái túi Hermes một tập phong bì gói sẵn, đề tên sẵn, phân phát cho mọi người. Đầu tiên, mụ đưa cho các phu nhân cao cấp trước, rồi bạn bè, đệ tử. Có một chi tiết rất đáng tiếc cho mụ, mụ đưa nhầm phong bì của người này cho người khác, mụ lại bật ra tiếng người trần thay cho giọng ông Hoàng Bảy: “Ối, chị đưa lại cho em, đây mới là của chị , xin lỗi…” Tôi nghe mà hoảng hồn cho mụ, sao lại diễn nhầm một cách tệ hại. Đưa hết phong bì, mụ lại nghiễm nhiên trở thành Ông Bảy, phe phẩy quạt, lim dim đôi mắt…


Vũ Thanh Nghị, “Ông Hoàng Bảy”

Sang hầu Ông Hoàng, vì mụ có dặn tôi trước, nên tôi cũng diễn theo, lom khom cầm cái đĩa để 10 tờ 500 ngàn lê gối đến gần mụ: “Con lạy ông ạ, con xin ông ban cho con nhiều tiền nhiều bạc, làm ăn phát đạt…” Nói đến đây, thấy mụ nhìn tôi cười huyền bí, tôi chột dạ: “Mịa cái mụ này, chơi mình hay sao?”. Nhưng mụ định lại thần: “Họ Phó kia, ta ban cho ngươi phúc lộc mãn đường, buôn may bán đắt, lộc lá đầy mình…”. Tôi gật đầu lia lịa: “Dạ, con xin ông, dạ con lạy ông ạ”.

Sau đấy đến các giá của cô Bơ, cô Chín, cô Bé rồi cô Đôi Thượng Ngàn:

Ngọc điện chốn kim môn, cô ra vào ngọc điện chốn kim môn
Danh thơm ngoài cõi tiếng đồn trong í i cung.
Xinh thay một thú cô Đôi ngàn
Bầu trời cảnh phật í i ì í i phong quang bốn mùa
Trên bát ngát trăm hoa đua nở
Dưới cảnh bầy cầm thú đua chơi i ì í a ới a à ới a a…


Vũ Thanh Nghị, “Cô Chín”

Giá này trông mụ đẹp rạng ngời, mụ mặc áo dân tộc, vấn tóc choàng khăn trông đẹp khác thường, quả là:

Gió đông phong hây hây xạ nức; Bộ tiên nàng chầu chực hôm mai
Dập dìu nơi chốn trang đài; Chính cung Mẫu ngự trong ngoài sửa sang

Mụ múa rất dẻo, trên tay cắm hai ngọn nến, bước đi nhịp nhàng khoan thai, mắt mụ đưa đẩy nhìn tôi trông rất đa tình…


Vũ Thanh Nghị, “Cô Bé”

Sau khi chứng kiến đến giá cuối cùng thì trời đã về khuya…

Xe loan thánh giá hồi cung…

Bọn người lại kéo nhau lên xe thẳng về Hà Thành… Mụ lại trở về mụ, con mẹ buôn giàu sụ đất kinh thành. Mụ cho thầy Vượng đi xe khác, kéo tôi và con Thu phụ tá ngồi cùng xe. Lên xe, mụ lim dim đôi mắt nghỉ ngơi, bỗng mụ nghĩ đến một chuyện “vặt”, mụ liền quay sang nói với con Thu: “Mai bảo thằng Tuy gửi trả tao 15 tỉ, quá hạn đến một tuần rồi đấy! Mẹ, thấy mình dễ, cứ lợi dụng…”

Tôi nghe choáng luôn, những bóng cây bên đường hun hút lướt qua, tôi thấy mình nhỏ bé như bị tống trôi theo suối mơ…

*

Nguồn: Từ Fb của Peter Phó

Lyhong Tuan 18:42 Ngày 04 tháng 12 năm 2016

Sau những Di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO vinh danh như Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hát Xoan, Đờn ca tài tử Nam bộ, Không gian văn hóa cồng chiêng, Ví giặm Nghệ Tĩnh, Hội Gióng…, nay đến Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của Tín ngưỡng thờ Mẫu (còn gọi là Đạo Mẫu).

Tín ngưỡng thờ Mẫu (Tam phủ, Tứ phủ) trong dân gian Việt Nam đã có từ thời xa xưa do ảnh hưởng Mẫu hệ, bắt nguồn từ tục thờ nữ thần. Ngày xưa những hiện tượng thời tiết trong thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp đã được thần thánh hóa trong hóa thân của nữ thần (Pháp vân, Pháp vũ, Pháp lôi, Pháp điện – Tứ pháp). Kết hợp với Đạo giáo du nhập từ Trung Hoa, tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là mô hình hóa vũ trụ quan của người Việt, là một không gian thể hiện thứ bậc của của các nữ thần cai quản:

– Thánh mẫu Thượng Thiên: cai quản trời, chủ tể của mây, mưa, sấm chớp (trng phục màu đỏ).

– Thánh mẫu Thoải (Thủy): cai quản thủy phủ (trang phục màu trắng).

– Thánh mẫu Thượng Ngàn: cai quản rừng núi (trng phục màu lam).

Ba vị Thánh mẫu trên là hệ thống Tam phủ hay còn gọi là Tam tòa Thánh mẫu. Sau này người Việt sáng tạo thêm Thánh mẫu Địa phủ (Tứ phủ) (trang phục màu vàng).

Dưới bốn Thánh mẫu kể trên còn có những quan thừa hành, các thánh bà, ông hoàng, các cô, cậu, quan Ngũ hổ, cuối cùng là ông Lốt (rắn).

Không gian thờ Mẫu là các đền, phủ, miếu, điện…

Ở nước ta, tín ngưỡng thờ Mẫu không thể thiếu nghi thức lên đồng, còn được gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng… Đây là một nghi thức trong tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc. Lên đồng, là hình thức giao tiếp với thần linh thông qua các ông đồng, bà đồng. Khi thần linh nhập vào đồng, lúc đó các ông đồng, bà đồng là các vị thần linh, có thể chữa lành bệnh, ban phúc, trừ tà ma, cứu khổ, ban lộc cho các con nhang đệ tử.

Trong một buổi hầu đồng, khi một vị thánh nhập vào đồng (thánh giáng) là bắt đầu một « giá đồng », có tất cả 36 giá đồng tương ứng với 36 vị thánh (thực tế có đến 72 giá đồng). Mỗi giá đồng sẽ có một bộ trang phục riêng của thánh, đi kèm theo là khăn hầu, cờ quạt, đồ hầu… Khi thánh xuất (thánh thăng), trong bài hát của cung văn là « thánh giá hồi cung », là hết một giá đồng.

Người đứng giá đồng gọi chung là thanh đồng, thanh đồng là nam giới được gọi là Cậu, Quan, Ông… nữ giới được gọi là Cô, Bà…

Trong hầu đồng, không thể thiếu « hát văn » (chầu văn) do các « cung văn » đảm nhiệm. Sau khi thánh giáng, thanh đồng đã xong màn múa của thánh, nhiệm vụ của cung văn là vừa đàn, vừa hát, hoặc ngâm các bài thơ cổ kể về sự tích, lai lịch của thánh đang giáng. Cung văn hát, ngâm thơ hay thánh thường biểu thị sự hài lòng bằng cách thưởng tiền, lộc cho cung văn.

Hầu đồng rất tốn kém, bởi người hầu đồng phải sắm sửa quần áo, các vật dụng đi kèm theo một giá đồng, ngoài ra còn phải biện lễ vật đi kèm, ban phát lộc cho chúng sanh…

Trên đây là một vài nét cơ bản về hầu đồng (Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ), vừa được UNESCO công nhận là « Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ».

Ghi chép để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về loại hình tín ngưỡng dân gian này, ở đây không nhằm mục đích tuyên dương hay phê phán.

Tham khảo:

– Lên đồng – hành trình của Thần linh và Thân phận, Ngô Đức Thịnh, NXB Trẻ-2007.

– Nghi lễ thờ Mẫu, Thuận Phước, NXB Thời Đại-2011.

– Hát Chầu văn, Bùi Đình Thảo – Nguyễn Quang Hải, NXB Hội Nhà Văn-2012.

– Tôn giáo trong văn hóa Việt Nam, PGS. TS Nguyễn Hồng Dương, NXB Văn hóa-Thông Tin-2013.

http://www.photphet.info/2016/12/mot-cuoc-hau-ong.html#.WEfzyR1T_qY.facebook