Jour : 6 décembre 2016

BÀN THỊ QUỲNH GIAO : LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY ĐƯỢC TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY ĐƯỢC TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI. BÀN THỊ QUỲNH GIAO
Thứ 2, ngày 5 tháng 12 năm 2016 – 14:43
 ban quynh giao.jpg

Bàn Thị Quỳnh Giao

1. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt trong xã hội đương đại

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian của người Việt, từ ngàn đời xưa, nó ăn sâu vào tiềm thức và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa riêng tộc người. Cho đến nay tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống tâm linh của người Việt.

Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt thì việc tôn thờ Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến trong đời sống văn hóa, nó được bắt nguồn từ lịch sử hình thành của tộc người, thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành của họ về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội. Theo ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm thì: “Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực tư duy là lối tư duy tổng hợp; và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần. Tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần. Và vì cái đích mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các Bà Mẹ, các Mẫu”.

2. Điều này được thể hiện rõ trong việc thờ cúng các vị thần nữ, các nữ anh hùng của dân tộc ở khắp mọi miền của Tổ quốc dải đất hình chữ S. Theo suốt chiều dài lịch sử, các anh hùng nữ của dân tộc như: Quốc mẫu U Cơ, Lê Chân, Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Triệu Ấu, thái hậu Dương Vân Nga, Bùi Thị Xuân… đều được người Việt tôn kính lên làm thánh Mẫu và được thờ trong các đền, các phủ… Tín ngưỡng thờ Mẫu đó trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay nó vẫn tồn tại, ăn sâu vào tâm thức, đời sống tâm linh của người Việt. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành nét đặc trưng cho bản sắc văn hóa của Việt Nam, tâm hồn Việt Nam.

tam-toa-thanh-mau

Vấn đề đặt ra là trong xã hội đương đại làm thế nào để gìn giữ, phát huy tín ngưỡng đó trở thành một nét văn hóa đẹp của tộc người, không để tín ngưỡng đó bị lạm dụng trở thành chiêu trò mê tín dị đoan. Trong hội thảo khoa học “Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã họi đương đại (Trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu)”, được tổ chức tại Nam Định GS.TS Trần Quang Hải đã có bài tham luận về vấn đề này. Chúng tôi xin được trích toàn văn ý kiến đó của GS.TS Trần Quang Hải trong phần 2 của bài viết để chúng ta có cách nhìn nhận đánh giá đúng để bảo vệ và phát huy được tín ngưỡng đó trong đời sống tâm linh của người Việt thời đương đại.

gs-tran-quang-hai-canh-bao-hoai-linh-xuan-hinh-ve-chau-van

GS TS TRẦN QUANG HẢI

3. Làm thế nào để bảo vệ và phát huy tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại?

Thờ Mẫu là một nhu cầu trong đời sống tâm linh của người Việt, mang lại cho họ sức mạnh, niềm tin. Hầu đồng là nghi lễ chính mang tính nghệ thuật sân khấu trong tín ngưỡng thờ Mẫu.

Mặc dù vậy, trong thời gian qua, đã có nhiều cách hiểu chưa đúng về nghi lễ hầu đồng, cũng như tín ngưỡng thờ Mẫu. Hầu đồng đang bị lợi dụng chủ yếu kiếm tiền là chính, làm biến dạng nghi lễ, sinh ra nhiều hủ tục, mê tín dị đoan…

Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia và Phó Chủ tịch Hội đồng Folklore châu Á, thứ nhất, tín ngưỡng thờ mẫu thể hiện quan điểm thế giới quan của người Việt, đồng nhất vũ trụ thiên nhiên với con người, mà đồng nhất với người mẹ. Hệ thống thần mẫu được phân ra nhiều thế giới và coi như mẫu là bà mẹ vũ trụ. Quan điểm này có quan điểm có lợi khi chúng ta đang phải giải quyết nhiều vấn đề với môi trường tự nhiên.

Thứ hai, đạo Mẫu không quan tâm đến thế giới con người sau khi chết và chú trọng chăm lo đời sống con người khi còn sống: Sức khỏe, chữa bệnh, có tiền tài, quan lộc, vui vẻ. Trên cơ sở phân tích như vậy thì, thờ mẫu rất hiện sinh.

Thứ ba, tín ngưỡng thờ Mẫu là thể hiện tình yêu nước đã được tâm linh hóa. Cho nên hàng trăm năm nay người Việt thờ mẫu là thờ các vị có công với nước, đó là sức mạnh rất lớn của dân tộc Việt Nam.

Thứ tư, tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện qua hàng loạt nghệ thuật: Nghệ thuật trưng bày, nghệ thuật biểu diễn. Chính vì thế, Bộ VHTT&DL đã đưa tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng vào danh mục 12 di sản văn hóa phi vật thể sẽ trình UNESCO.

thanh-mau-1

Đạo Mẫu là một loại hình sân khấu tổng hợp, kết hợp với âm nhạc để tạo ra trạng thái giúp con người có thể nhập hồn của thần linh.

Lên đồng là một nghi lễ của đạo mẫu, vì vậy lên đồng không tách rời đạo mẫu. Lên đồng là môi trường để con người có thể nhập vào thần linh.

Trên thực tế, Đạo mẫu đang bị một cái án là do một số người lợi dụng chủ yếu kiếm tiền là chính, làm biến dạng nghi lễ, sinh ra nhiều hủ tục, mê tín dị đoan, như đốt vàng mã quá nhiều. Bây giờ cần chấn chỉnh lại đạo mẫu, để trả lại cho nó giá trị đích thực, khắc phục những cái lợi dụng để đạo Mẫu thực sự là đạo bản địa của Việt Nam.

Hiện nay các đơn vị có nhiều hoạt động liên quan đến việc này. Cần có sự lãnh đạo của nhà nước, các cơ quan văn hóa, nhưng quan trọng nhất là cộng đồng.

Tổ chức Câu lạc bộ để bảo tồn đạo mẫu, trong đó có sự tham gia của các ông bà đồng, con nhang đệ tử, các nghiên cứu nhà văn hóa. Nếu cộng đồng có sự hiểu biết đầy đủ về đạo Mẫu thì sẽ góp phần đẩy lùi các tiêu cực đối với đạo mẫu. Nó sẽ giúp người dân có ý thức và hành vi ứng xử đúng mực với một tín ngưỡng dân gian có truyền thống lâu đời của người Việt; đồng thời phân biệt được giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu với những biến tướng mang tính chất mê tín dị đoan.

Theo tập tục văn hóa truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các đình, đền, miếu, phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

Các vị Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các đình, đền, miếu, phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, đền, miếu, phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước.

Nơi thờ tự đình, đền, miếu, phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

Tóm lại, tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng đẹp trong đời sống tâm linh người Việt song mỗi chúng ta hãy gìn giữ và thực hành nghi lễ ấy theo đúng bản chất vốn có của nó. Đừng biến tín ngưỡng đẹp đó của dân tộc thành những trò mê tín, dị đoan để trục lợi bản thân, có như vậy tín ngưỡng đó mới tồn tại được trong xã hội đương đại và nó sẽ trở thành nét văn hóa đẹp cho thế hệ mai sau.

 

B.Q.G

http://vanhocnghethuat.tuyenquang.gov.vn/DetailView/2537/10/LAM-THE-NAO-DE-BAO-VE-VA-PHAT-HUY-DUOC-TIN-NGUONG-THO-MAU-TRONG-XA-HOI-DUONG-DAI.-BAN-THI-QUYNH-GIAO.html

Nhạc sĩ DÂN HUYỀN : Thao Giang – Từ học trò đến thầy giáo

nhac si Thao Giang m.jpg

Thứ 2, 20:09, 19/11/2012

(VOV) – 9 năm làm học trò, 13 năm làm thầy giáo, nhạc sĩ Thao Giang đã để lại dấu ấn đẹp ở Học viện Âm nhạc.

Những năm 60,70 của thế kỷ trước chúng tôi đã cùng với Thao Giang thực hiện nhiều buổi thu thanh các tiết mục độc tấu và hòa tấu âm nhạc dân tộc tại 58 phố Quán Sứ để giới thiệu trên sóng phát thanh quốc gia. Năm 2000, nhạc sĩ Thao Giang đã cùng chúng tôi làm chung một “chương trình dân ca và nhạc cổ truyền” dự thi và đoạt giải của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Mỗi lần gặp nhau chúng tôi đều có dịp ôn lại những buổi thu thanh đầy kỷ niệm ấy. Nhớ nhất là chuyện sau khi Đài TNVN phát bài ”Kể chuyện ngày mùa” một thính giả gửi thư về đề nghị Đài cho biết địa chỉ của bác nghệ nhân Thao Giang! Chuyển lá thư cho Giang, anh chàng mới hơn 20 tuổi ấy đã được nâng lên thành bậc bác. Anh cười vui mà rằng: “Tiếng đàn của em làm gì đã được điêu luyện như nghệ nhân. Còn lâu mới đạt được”.

thao giang - tu hoc tro den thay giao hinh 1
Nhạc sĩ Thao Giang đang thả hồn mình vào từng giai điệu xẩm (Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam)

Năm 1958, cậu bé Thao Giang, quê ở Mỹ Hưng, Thanh Oai (Hà Tây cũ) lên 10 tuổi, vào học sơ cấp âm nhạc. Thao Giang cần cù chịu khó, vượt qua được những khó khăn và cả những lời chế giễu để quyết tâm sử dụng tốt cây đàn Nhị mà mình yêu thích. Nỗi mặc cảm tự ti không làm giảm lòng yêu Nhị cũng như sự phấn đấu học tập của anh. Các điểm thi chuyên môn đều từ khá đến tốt. Nhất là từ khi lên trung cấp, được học bác Vũ Tuấn Đức, năng khiếu của Thao Giang ngày càng phát triển, tư tưởng tự ti về nhạc cụ cũng bớt dần. Bác Đức tận tình chỉ bảo Thao Giang, chú ý rèn nhiều cho anh về kỹ thuật cơ bản, đồng thời động viên anh học thêm sáng tác – lý luận. Bác tâm sự với anh: “Phải biết tự hào về cây Nhị cha ông ta để lại, ai chế nhạo kệ họ!”

Năm 1965, trường nhạc sơ tán lên Bắc Giang. Sống với bà con nông dân, Thao Giang mới thấy rõ người dân yêu nhạc cụ cổ truyền biết chừng nào! Những buổi chiều ngồi trên thềm nhà tập Nhị, bà con xúm quanh đông đảo nghe anh tập hàng giờ, rất say sưa. Được nuôi dưỡng trong bầu không khí ấy, Thao Giang cảm thấy rõ hơn bao giờ hết mối quan hệ gắn bó giữa nghệ thuật với đời sống. Anh thấy cần sáng tác một cái gì đó phản ánh được sinh hoạt của nhân dân lao động để có thể diễn tấu bằng tiếng Nhị. Dù khả năng trình độ có hạn, Thao Giang bắt đầu công việc đó bằng một tác phẩm biến tấu bài “Mừng hội cướp bông” từ một làn điệu chèo quen thuộc. Sau thành công bước đầu ấy Thao Giang đã tin hơn và hào hứng viết thêm một số bài khác.

Năm 1967 thi tốt nghiệp trung cấp, Thao Giang biên soạn và biểu diễn bài “Lý chiều chiều” mạnh dạn tự soạn bè đệm, mặc dù lý thuyết về sáng tác lúc đó anh chưa vững. Anh đã đạt điểm cao nhất và được hội đồng chấm thi khen ngợi. Sau đó Thao Giang được giữ lại ở trường làm công tác giảng dạy.

Với nhiệm vụ đào tạo, nhưng Thao Giang vẫn rất mê biểu diễn và sáng tác. Một trong những bài được anh sáng tác và biểu diễn thành công nhất là bài “Kể chuyện ngày mùa”. Bài nhạc dựa trên âm điệu tiết tấu bài nhạc Chèo nổi tiếng “Con gà rừng”, nhưng anh đã khéo nâng cao phát triển và biến nó thành những âm thanh rộn ràng sinh động giàu màu sắc, phản ánh không khí tấp nập khẩn trương và tươi vui trong những ngày gặt hái từng bừng ở một làng quê.

Bài “Kể chuyện ngày mùa” đã cho thấy ngôn ngữ của Nhị quả là phong phú hâp dẫn. Thường mỗi lần đi biểu diễn phục vụ bộ đội và nông dân, Thao Giang phải biểu diễn lại theo yêu cầu của khán giả. Sau khi tiết mục này phát trên Đài TNVN, Thao Giang nhận được khá nhiều thư thính giả yêu cầu gửi cho họ bản nhạc đó để tập. Cùng với bài “Xe chỉ luồn kim”, nó đã được dư luận đánh giá là bài tiêu biểu cho trình độ Nhị hiện thời. Nhưng Thao Giang không chủ quan, luôn nhớ lời bác Đức, người thầy mà anh kính mến: “Phải dè chừng ảnh hưởng của phong cách chơi Violon, đừng để người nghe nhầm lẫn âm thanh giữa hai nhạc khí ấy!”.

 Anh gặp Tạ Bôn, Bích Ngọc, những nghệ sĩ Violon nổi tiếng, cả Bùi Gia Tường, nghệ sỹ chơi đàn Senlo để tham khảo ý kiến. Anh còn xin tiếp tục học một số nghệ nhân như các bác Đinh Lạn, Trần Kinh để cố nắm bắt được phong cách cổ truyền. Cứ thế Thao Giang quyết tâm vươn lên, đến năm 1979, anh được đặc cách tốt nghiệp Đại học.

Sau 5 năm thực tập trên đại học tại Cộng hòa Ấn Độ, trình độ Thao Giang được nâng lên trong giảng dạy và cả trong tiếng đàn điêu luyện của mình. Ngoài việc hoàn thành giáo trình cho lớp trung học 11 năm về đàn Nhị và đàn Hồ, anh còn cố gắng nâng cao phương pháp biến tấu và chú ý đến việc cải tiến nhạc cụ. Nắm vững phương châm dân tộc và hiện đại, ngay từ những năm đầu giảng dạy và biểu diễn, anh đã nhận thấy cây Nhị của ta bị hạn chế vì dây cước chỉ có thể đánh được âm vực ngắn (một quãng 8) âm thanh thường cao hơn âm chuẩn. Anh thử thay dây sắt nhưng vẫn không hơn được bao nhiêu. Sau khi tham khảo đàn Nhị của Triều Tiên, Trung Quốc, anh đề nghị mở rộng hộp cộng hưởng và quy định lại hệ thống lên dây cho thật chuẩn. Âm vực do đó đã được mở rộng hơn, nhưng Thao Giang vẫn chưa hài lòng về mặt da, anh đã đặt thêm một miếng đệm phía dưới da cho tiếng đàn khỏi sạn và tiếng đàn nghe tốt hơn hẳn.

 Nghe bản nhạc Kể chuyện ngày mùa của Nhạc sĩ Thao Giang

Những công trình cải tiến đàn Nhị của Thao Giang đã được báo cáo trước hội nghị sáng kiến, phát minh cấp nhà nước. Ngoài bài “Kể chuyện ngày mùa” viết cho đàn Nhị, anh còn có “Hương rừng” viết cho đàn Tam thập lục, “Ao cá Bác Hồ” viết cho đàn Tranh, “Du thuyền trên sông Hương” viết cho đàn Bầu, “Đường xa vui những tiếng đàn”viết cho đàn Tỳ bà…

9 năm làm học trò, 13 năm làm thầy giáo, nhạc sĩ Thao Giang đã để lại dấu ấn đẹp nơi mái trường Học viện Âm nhạc.

Vài năm gần đây, vào tối thứ bảy hàng tuần trên phố đi bộ Hàng Đào – Đồng Xuân, tiếng trống phách, tiếng nhị cùng với tiếng hát Xẩm lại rộn ràng giữa trung tâm Thủ đô; thu hút không ít người Hà Nội và khách nước ngoài đến thưởng thức. Người ta thấy nhạc sĩ Thao Giang trong vai nghệ nhân kéo Nhị, nhưng ít người biết rằng anh còn là Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển âm nhạc nghệ thuât của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Anh cùng với nhạc sĩ Minh Khang và các nghệ nhân, nghệ sĩ khác góp phần bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc cổ truyền của dân tộc trong thời đại mới. Cây Nhị đã đưa anh đến với đỉnh cao của nghệ thuật, với sự khâm phục của nhiều lớp học trò thân yêu như Thế Dân, Đình Nghi, Sĩ Toán, Văn Hà… Cây Nhị cũng đã cùng anh đi biểu diễn nhiều nước trên thế giới.

Những biên tập viên âm nhạc trẻ hiện nay ở Đài TNVN rất vui lại cùng với thầy giáo Thao Giang tiếp tục giới thiệu hát Xẩm với thính giả cả nước và bà con Việt Nam đang sống xa Tổ quốc./.

CTV Nhạc sĩ Dân Huyền/VOV online

HOÀNG THI : Tâm huyết của các nghệ sĩ ‘cứu’ và bảo tồn hát xẩm

Thứ sáu, 10/4/2015 | 14:53 GMT+7
nguoi-giu-hon-xam-ha-thanh01.jpg

Nhạc sĩ Thao Giang đi đầu trong sưu tầm, phục dựng nghệ thuật hát xẩm. Nhiều nghệ sĩ trong đó có những người trẻ tuổi góp phần nhân rộng và mang lại sức sống cho loại hình này.

Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Thao Giang ra đời năm 2005 với mục đích khôi phục, bảo tồn các loại hình âm nhạc dân gian, trong đó có hát xẩm. Đây được coi là cái nôi phục dựng, phát triển hát xẩm trong đời sống hiện nay. Nhạc sĩ Thao Giang cho biết, trước đó ông đã mất gần 20 năm nghiên cứu, sưu tầm bài xẩm từ các nghệ nhân dân gian khắp tỉnh thành thông qua phương pháp điền dã.

Thời đó, phương tiện ghi âm còn hạn chế. Việc ghi chép chủ yếu là bằng trí nhớ, học trực tiếp từ các cụ. Phương tiện đi lại cũng khó khăn. Tuy nhiên, bằng nỗ lực và niềm đam mê, nhạc sĩ Thao Giang đã ghi lại một phần lớn di sản âm nhạc dân tộc trước khi nhiều nghệ nhân hát xẩm qua đời.

Ha-Thi-Cau-6780-1428634134.jpg

Việc cứu xẩm diễn ra giữa bối cảnh chỉ rất ít các nghệ nhân dân gian còn sống. Cụ Hà Thị Cầu cũng đã qua đời năm 2013.

Nhà nghiên cứu khẳng định, xẩm là loại hình âm nhạc dân gian có tính chuyên nghiệp chứ không phải bản năng, thô sơ. Nghiên cứu về hát xẩm, hệ thống lại toàn bộ làn điệu, ông thấy rằng nó được quy định chặt chẽ ở bốn điểm: cấu trúc âm nhạc, văn học, nhạc khí và môi trường diễn xướng.

Xưa nay, nhiều người vẫn nghĩ, hát xẩm là chỉ những người đi hát ăn xin. Thực tế không phải vậy. « Người hát xẩm không chỉ lang thang. Ngoài xẩm chợ, xẩm tàu điện… còn có hát xẩm nhà tơ (hát xẩm thính phòng). Đối chiếu bốn điểm quy chuẩn, chúng tôi thấy trong xẩm thính phòng, cấu trúc âm nhạc không ồn ào, giai điệu nhẹ nhàng, tinh tế hơn, không xô bồ như ngoài chợ mà cũng không trữ tình như trên tàu điện. Về văn học, nó đề cập đến những câu chuyện có tích của Trung Hoa chứ không phải chuyện con tôm, con cá. Về nhạc khí, đàn bầu, đàn hồ được thay cho trống phách vì diễn trong nhà ». Nhạc sĩ Thao Giang cho rằng, việc giới thiệu xẩm phải giới thiệu toàn diện để thấy xẩm là loại hình nghệ thuật có thể sánh ngang với mọi thứ nghệ thuật mà mọi người đã và đang yêu thích.

Nghệ sĩ Quang Long của nhóm Xẩm Hà Thành cũng là một trong những người theo đuổi nghiên cứu nghệ thuật này. Ông cho rằng, xẩm khó tiếp cận với các thế hệ sau bởi chủ yếu được chuyển tải bằng hình thức truyền miệng, không như chèo, quan họ… sớm được đưa lên sân khấu biểu diễn chuyên nghiệp, được biểu diễn thường xuyên trong các dịp lễ hội. Vì thế, việc phục dựng thể loại này trong điều kiện các nghệ nhân đã ra đi gần hết, đưa lên sân khấu là một nỗ lực không hề nhỏ.

Nhạc sĩ Thao Giang, Quang Long, ca sĩ Thanh Ngoan, nghệ sĩ Văn Ty, Xuân Hoạch, Mai Tuyết Hoa, Khương Cường… là những người đi đầu trong việc bảo tồn, gìn giữ thể loại này. Ngoài việc « cứu » một phần di sản mà các nghệ nhân để lại, những người nghiên cứu về hát xẩm còn có trách nhiệm tìm ra quy luật, nguyên lý cổ xưa, rồi bổ sung, sáng tác làn điệu mới phù hợp với nội dung và nhịp sống hiện đại.

Nghệ sĩ không nghĩ tới việc kiếm tiền từ hát xẩm

Các nghệ sĩ theo học xẩm tại Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Thao Giang phần lớn thuộc thế hệ 8X, đều đã thành nghề, cùng thầy của họ đi diễn nhiều nơi. Ngoài các đêm diễn hàng tuần ở chợ Đồng Xuân và quanh phố cổ được thành phố Hà Nội hỗ trợ một khoản nhỏ, các buổi diễn trong nội thành của nhóm thu được từ 12 tới 16 triệu đồng một đêm. Số tiền này, theo nhạc sĩ Thao Giang, có thể giúp các học trò của ông trang trải việc học nâng cao kiến thức về hát xẩm.

Nhạc sĩ chia sẻ thêm, các nghệ sĩ trẻ hoàn toàn có thể đi diễn phòng trà kiếm tiền nhưng họ vẫn gắn liền với gánh hát của ông vì đam mê với xẩm và các loại hình âm nhạc dân tộc. « Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra những thế hệ nghệ sĩ không chỉ biết biểu diễn mà phải có trình độ lý giải, nghiên cứu, đúc kết, tìm ra quy luật, tiếp tục truyền dạy và sau này có thể sáng tác thêm các làn điệu mới… Các em sau này sẽ là chủ nhân của những di sản tinh thần này », Thao Giang nói.

xam-4679-1428634138.jpg

Các nghệ sĩ biểu diễn trong đêm « Xẩm và Đời » của nhóm xẩm Hà Thành.

Nhóm Xẩm Hà Thành với ba thành viên chính là Quang Long, Mai Tuyết Hoa, Khương Cương vốn cũng từ cái nôi do nhạc sĩ Thao Giang gây dựng, nhưng đã tách ra từ khoảng năm 2009 – 2010 để nhân rộng nghệ thuật hát xẩm đồng thời được hoạt động theo ý thích riêng. Nghệ sĩ Quang Long chia sẻ, để theo đuổi nghệ thuật hát xẩm, các nghệ sĩ đều phải bỏ tiền túi rất nhiều bên cạnh sự hỗ trợ của các đơn vị, bạn bè…

Theo Quang Long, nghệ thuật hát xẩm vốn không phải để kiếm tiền. Các nghệ nhân dân gian như cụ Hà Thị Cầu, Tô Quốc Phương… đều có cuộc sống vất vả. Họ hát vì niềm đam mê là chính. Các nghệ sĩ ngày nay, cũng không mong muốn kiếm tiền nhờ hát xẩm, mà chỉ mong nghệ thuật này sống lại trong đời sống và ngày càng khẳng định được giá trị của nó. Nghệ sĩ Quang Long cũng mong rằng việc bảo tồn xẩm không chỉ xuất phát từ đam mê, ý thích của các cá nhân, mà được đưa vào chiến lược phát triển văn hóa chung của nhà nước.

Hoàng Thi

http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/nhac/lang-nhac/tam-huyet-cua-cac-nghe-si-cuu-va-bao-ton-hat-xam-3175650.html