Jour : 28 novembre 2016

TRAN QUANG HAI & ALESSIO SURIAN (professor of psychotherapy in Padova, Italy) paid a visit to Prof. Gilbert ROUGET , Paris, November 27th 2016

dsc00683-copy

Prof. GILBERT ROUGET & TRAN QUANG HAI

dsc00681-copy

dsc00673-copy

Prof. GILBERT ROUGET

dsc00702-copy

ALESSIO SURIAN , Prof. GILBERT ROUGET, TRAN QUANG HAI

dsc00677-copy

Prof. GILBERT ROUGET , ALESSIO SURIAN

dsc00665-copy

Prof. GILBERT ROUGET

dsc00684-copy

Prof. GILBERT ROUGET, TRAN QUANG HAI

TRAN QUANG HAI & ALESSIO SURIAN (professor of psychotherapy in Padova, Italy) paid a visit to Prof. Gilbert ROUGET (100 years and 4 months old, born on 9 july 1916) at his apartment in Paris, November 27th 2016
Trần Quang Hải & Alession Surian (giáo sư môn tâm lý điều trị học tỉnh Padova, Ý) tới thăm GS TS Gilbert Rouget (100 tuổi và 4 tháng , sinh ngày 9 tháng 7, 1916) tại tư gia , Paris ngày 27 tháng 11, 2016

Tôn vinh đàn bầu trong Festival Âm nhạc mới Á – Âu 2016

07:41 – Thứ năm, 06/10/2016

Điểm mới của Festival Âm nhạc mới Á – Âu 2016 là đưa nhạc cụ dân tộc Việt Nam vào trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là đàn bầu.

hai-phuong.jpg
Đàn bầu Việt Nam sẽ được tôn vinh trong  Âm nhạc mới Á – Âu 2016

Festival Âm nhạc mới Á – Âu 2016 sẽ được tổ chức cùng Hội nghị Hiệp hội các nhà soạn nhạc châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 34, diễn ra từ ngày 12 đến 18/11/2016 tại Hà Nội và Vĩnh Phúc. Với chủ đề Âm nhạc – Hội tụ và lan tỏa, Festival bao gồm chuỗi chương trình hòa nhạc, từ Giao hưởng, Thính phòng, Nhạc kịch, Vũ kịch, Hợp xướng đến ca khúc nhạc đại chúng. Tiêu chí của Festival là giới thiệu những tác phẩm mới sáng tác trong những năm gần đây của các nhạc sĩ tiêu biểu cho các trường phái âm nhạc đương đại trên thế giới.

Tham dự Festival có khoảng trên 200 nhạc sĩ, nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc công… đến từ 30 quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước Anh, Canada, Đức, Nga, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, New Zealand… Trong khuôn khổ Festival sẽ diễn ra 11 buổi hòa nhạc chính với hơn 100 tiết mục và nhiều sự kiện bên lề.

Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam sẽ tham gia biểu diễn trong Festival như NSND Nguyễn Thiếu Hoa (chỉ huy), NSND Nguyễn Thế Dân (đàn nhị), NSƯT Bùi Công Duy (Violon), ca sĩ Đào Tố Loan (Soprano)…

Festival Âm nhạc mới Á – Âu lần thứ nhất được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 10/2014, với sự tham gia của hơn 200 nhạc sĩ, nghệ sĩ đến từ 32 quốc gia. Sự kiện này được đánh giá là thành công rực rỡ, khẳng định vị thế vững chắc của nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam.

do-hong-quan-1.JPG
 Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân trong buổi họp báo giới thiệu Festival Âm nhạc mới Á-Âu 2016

Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam cho biết trong buổi họp báo vào ngày 5/10: Điểm mới của Festival lần thứ 2 là đưa được nhạc cụ dân tộc Việt Nam vào nhiều tác phẩm, đặc biệt là đàn bầu. Trong đó, đáng chú ý có 2 tác phẩm của nhạc sĩ nước ngoài viết riêng cho đàn bầu Việt Nam với tên gọi Cụ rùa Du hành trên trăng lưỡi liềm.

Ngoài ra, trong khuôn khổ Festival cũng sẽ có một cuộc hội thảo với chủ đề Cây đàn bầu Việt Nam. Theo nhạc sĩ Nguyễn Thị Minh Châu, Phó Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, đây là hoạt động rất cần thiết, vì Việt Nam được gọi là “đất nước của đàn bầu” nhưng hoạt động quảng bá đàn bầu của chúng ta lại quá ít.

Đặc biệt, ngoài Lễ khai mạc, toàn bộ các buổi hòa nhạc trong Festival Âm nhạc mới Á – Âu đều được mở cửa miễn phí cho công chúng.

Huy Anh

Lắng nghe tiếng đàn Bầu để hiểu hơn về văn hóa Việt

21/10/2016 17:29

Lắng nghe tiếng đàn Bầu để hiểu hơn về văn hóa Việt

QĐND Online – “Lắng tai nghe, đàn Bầu/Thánh thót trong đêm thâu/Tiếng đàn Bầu của ta/Cung thanh là tiếng mẹ/Cung trầm là giọng cha…”, đã có biết bao lời ca đẹp nói về cây đàn Bầu và trong số các nhạc cụ dân tộc ở nước ta, đàn Bầu là nhạc cụ thu hút được sự chú ý, quan tâm nhiều nhất của các nhạc sĩ sáng tác và những người nghiên cứu âm nhạc.

Để đánh giá lại toàn bộ những vấn đề về đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam, ngày 21-10, Viện Âm nhạc (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức Hội thảo “Đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam”.

Đàn Bầu – nhạc cụ bản địa của người Việt

PGS,TS, NGƯT Nguyễn Bình Định (Viện trưởng Viện Âm nhạc), cho đến nay, vẫn chưa có đủ cứ liệu để xác định một cách chính xác đàn Bầu có từ bao giờ. Người thì cho rằng, đàn Bầu ra đời ở khoảng thế kỷ IX- X, có người còn đưa ra con số cụ thể là đàn Bầu được chế tạo vào năm 1770…Tuy chưa có giả thuyết nào được khẳng định là chính xác, nhưng có thể nói, đàn Bầu là nhạc cụ bản địa của người Việt, đã có từ lâu đời, ít nhất cũng phải có trước thế kỷ XIX.

Trải qua những bước thăng trầm, chuyển hóa trong suốt quá trình lịch sử, đàn Bầu từ thuở ban đầu chỉ đơn giản là làm từ một ống bương (hoặc vầu, hoặc mai), ngựa đàn là mảnh sành, mảnh sứ hoặc miếng gỗ cứng, vòi đàn là một que tre dài, dây đàn làm bằng dây móc, dây gai, dây tơ, bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm hoặc vỏ gáo dừa khô…cho đến khi thân đàn làm bằng gỗ, vòi đàn làm bằng sừng, bầu đàn làm bằng gỗ tiện theo hình quả bầu nậm, dây đàn làm bằng hợp kim …và từ chỗ âm lượng nhỏ do thân đàn nhỏ, quả bầu nậm nhỏ, các nghệ nhân hát Xẩm đã nghĩ ra cách để lên mặt đàn ở phía dưới đuôi đàn một thùng sắt tây hoặc một cái chậu đồng tỳ vào dây đàn để tần số rung của dây đàn truyền trực tiếp vào vỏ thùng, do đó âm lượng được phóng to hơn…Cuối những năm 1950, các nghệ sĩ đàn Bầu: Mạnh Thắng (Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị); Nguyễn Tiếu (Đoàn Ca nhạc Dân tộc Việt Nam) đã tìm cách sử dụng bô-bin chạy bằng pin lắp vào đàn Bầu để âm thanh được phóng to hơn nữa và truyền trực tiếp ra loa, đồng thời tiếng đàn còn có thể ngân được độ dài gấp nhiều lần trước đây; từ đó đàn Bầu có thể tham gia hòa tấu với nhiều nhạc cụ khác cùng một lúc và có thể trình diễn trên sân khấu lớn cho nhiều người cùng nghe.

Đại tá, nhạc sĩ, NSND Nguyễn Tiến khẳng định: Đàn Bầu là của Việt Nam, sinh ra từ Việt Nam, phát triển từ Việt Nam. Mặc dù chúng ta chưa tìm được nguồn gốc sự ra đời của đàn Bầu nhưng qua sự phát triển của cây đàn Bầu cho tới ngày nay thì chúng ta càng khẳng định rằng, từ trong lao động sản xuất, bằng những vật liệu vô cùng giản đơn của người Việt Nam (người dân tộc Kinh) đã sáng tạo ra cây đàn Bầu.

Hội thảo “Đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam”.

Tiếng đàn Bầu trong trẻo, trữ tìnhCây đàn Bầu Việt Nam không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người Việt cũng như trên sân khấu nghệ thuật truyền thống và đương đại. Nhiều người nước ngoài khi ca ngợi Việt Nam đã dùng đến những cụm từ “đất nước đàn Bầu”, hoặc “quê hương đàn Bầu”. Thật tự hào khi loại nhạc cụ truyền thống này đã chiếm được trái tim của người nghe trong và ngoài nước. Đàn Bầu tạo được chỗ đứng trong lòng người nghe bởi dự độc đáo không phải ở 1 dây mà ở cách diễn tấu của nó. Để hiểu được tính độc đáo của cây đàn bầu ta phải hiểu cách diễn tấu cả tay phải và tay trái của cây đàn bầu.

Theo NSND Nguyễn Tiến, tính độc đáo của cây đàn Bầu Việt Nam còn thể hiện ở tiếng đàn Bầu rất trong trẻo, trữ tình, mộc mạc mà kiêu xa, duyên dáng mà không cầu kỳ, giản đơn mà cuốn hút người nghe như một ma lực tự nhiên. Tiếng đàn Bầu Việt Nam phù hợp với tâm hồn, tình cảm và ngôn ngữ của người Việt. Âm thanh đàn Bầu vang lên là âm bồi, tay trái bẻ cần đàn có thể tạo ra muôn vàn kiểu luyến láy mềm mại khác nhau kết hợp với các kỹ thuật cơ bản của đàn Bầu như: Rung, vỗ, lắc, hất, giật, luyến…thì hiệu quả của tiếng đàn Bầu vô cùng phong phú.

NSƯT Bùi Lệ Chi khẳng định, đàn Bầu là một trong những nhạc cụ vô cùng độc đáo của dân tộc Việt Nam. Với cấu tạo đơn giản nhưng hình dáng đẹp, cùng kỹ thuật gảy bồi âm cũng như âm sắc quyến rũ, đàn Bầu đã trở thành một trong những cây đàn đặc sắc đại diện cho tâm hồn, bản sắc văn hoá Việt Nam.

Là một giảng viên, nghệ sĩ đang trực tiếp giảng dạy đàn Bầu, NSƯT Bùi Lệ Chi có những trăn trở lo lắng trước xu thế giao lưu, hội nhập về âm nhạc hiện nay. Nhiều dòng nhạc du nhập vào Việt Nam được giới trẻ yêu thích và lãng quên dần dòng nhạc truyền thống khiến chúng ta phải nhìn lại những vấn đề liên quan đến ngành nghề của mình như vấn đề đào tạo, biểu diễn…sao cho phù hợp với thời đại mới.

Nghệ sĩ Nhà hát Chèo Hải Dương biểu diễn tiết mục độc tấu đàn Bầu. Ảnh: TTXVN

NSƯT Bùi Lệ Chi cho rằng, phải coi công tác đào tạo là nền tảng. Đào tạo chính là cơ sở để phát triển nghệ thuật biểu diễn. Đồng hành cùng với sự thành công trong đào tạo và biểu diễn giai đoạn mới chắc chắn phải có sự đóng góp của các sáng tác mới. Đào tạo tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật nhất thiết phải được bắt đầu khi tuổi còn nhỏ. Ngoài ra, thời lượng dành cho việc học chuyên ngành phải được tăng cường. Hơn nữa, phải khuyến khích các nhạc sĩ, nghệ sĩ, giảng viên tham gia sáng tác cho đàn Bầu. Có như vậy, sự nghiệp đào tạo và biểu diễn loại nhạc cụ này mới phát triển lâu bền.Đàn Bầu đã trở thành “máu thịt” của người Việt Nam. Vì giá trị to lớn của cây đàn mà nhiều nhạc sĩ đã có những sáng tác hay dành riêng cho loại nhạc cụ này. Trong số đó, không thể không nói tới các tác phẩm “Vì miền Nam” của Huy Thục; “Cung đàn đất nước”, “Buổi sáng sông Hương” của NGND Xuân Khải; “Dòng kênh trong” của nhạc sĩ Hoàng Đạm; “Vũ khúc Tây Nguyên” của NSƯT Đức Nhuận; “Niềm tin tất thắng” của  Khắc Chí; “Xúy Vân” của  Ngô Quốc Tính…

Cây đàn Bầu bình dị nhưng chứa đựng những thanh âm đắm say lòng người, chinh phục biết bao trái tim người nghe. Một nhà thơ người Pháp sau khi được nghe tiếng đàn Bầu đã xúc động viết: “Cây đàn Bầu thật giống/Như con người Việt Nam/Giản dị mà thanh cao/Đơn sơ mà phong phú”.

Để bảo tồn, phát huy giá trị của đàn Bầu, các cơ quan chức năng cần phải có cách thức, phương án để phát triển loại nhạc cụ này để tiếng đàn Bầu hòa nhập với dòng chảy đời sống âm nhạc đương đại.

Bài, ảnh: KHÁNH HUYỀN