Mois : novembre 2016

KHÁNH HUYỀN : “Sự vĩ đại không tự nhiên sinh ra mà phải được ươm trồng”

QĐND Online – Chiều 25-11, tại Hà Nội, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp trong xu thế hội nhập và phát triển”. 17 tham luận của các đại biểu gửi tham dự hội thảo đã đánh giá những thành tựu và những mặt còn hạn chế trong cả 3 lĩnh vực: Đào tạo, biểu diễn, nghiên cứu khoa học của Việt Nam và một số nước đồng thời đưa ra những giải pháp để phát triển trong thời gian tới.

Vai trò của người thầy

GS. TS Trần Thu Hà, nguyên Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho rằng: Muốn hội nhập trước tiên chúng ta phải có sự học tập, nghiên cứu, tìm hiểu nghiêm túc, đầy đủ mang tính khoa học về tình hình, tốc độ cũng như xu thế mới và trình độ chất lượng phát triển trong đào tạo âm nhạc trên thế giới hiện nay.

 Hội thảo khoa học quốc tế “Đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp trong xu thế hội nhập và phát triển”.

Đề cao vai trò của người thầy trong đào tạo âm nhạc, GS. TS Trần Thu Hà cho rằng: Lịch sử và thực tế trên thế giới cũng như ở nước ta cũng đã chứng minh trong lĩnh vực âm nhạc cổ điển chuyên nghiệp dù có năng khiếu bẩm sinh xuất sắc đến mấy thì đều không thể tự học và trở thành những tài năng đỉnh cao được. Thành thích của họ không chỉ gắn liền với một nền học vấn mà còn luôn gắn với tên tuổi của những người thầy trực tiếp của mình. Có thể nói, trong vấn đề đào tạo tài năng năng biểu diễn âm nhạc đỉnh cao, theo GS.TS Trần Thu Hà thì yếu tố người thầy chiếm tới 50% sự thành công. Những năm qua, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã nỗ lực để phát triển đội ngũ những giáo sư được đào tạo cơ bản ở trong và ngoài nước. Họ đã cống hiến cho sự nghiệp đào tạo âm nhạc của đất nước nhiều năm qua.Trăn trở về vấn đề đào tạo âm nhạc hiện nay, GS.TS Ngô Văn Thành cho rằng: Trong suốt 30 năm qua, đào tạo tài năng âm nhạc được coi như nhiệm vụ chiến lược trong sự nghiệp đào tạo cán bộ văn hóa-nghệ thuật cho đất nước. Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã có những thành tựu đáng ghi nhận. Nhiều tài năng xuất sắc trưởng thành từ đây đã có những đóng góp hiệu quả cho xã hội, tạo nên động lực phát triển cho nền nghệ thuật Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển. Tuy nhiên hiện nay, vai trò đào tạo tài năng âm nhạc đỉnh cao ít được Nhà nước, các cấp, ngành quan tâm. “Sự vĩ đại không tự nhiên sinh ra mà được ươm trồng”, việc đào tạo tài năng âm nhạc trong giai đoạn mới phụ thuộc những yếu tố quyết định, đó là cơ chế, chính sách của Nhà nước, quy trình, chương trình, phương pháp đào tạo và môi trường thuận lợi cho sự phát triển những hạt nhân mang những tố chất tài năng âm nhạc.

Tiến sĩ Bountheng Souksavatd (Lào) cho rằng: Mô hình đào tạo của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam hiện nay đã được trải nghiệm 60 năm thực tiễn và đạt được bước tiến hiệu quả. Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và các Học viện âm nhạc khác trong khu vực và trên thế giới đã đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Lào. Tuy nhiên, so với một số lĩnh vực khác, công tác đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp ở Lào chậm tiến vì thiếu vắng nguồn nhân lực trầm trọng. Cả nước chỉ có một vài người tốt nghiệp đại học âm nhạc chính quy, chuyên nghiệp ở các Học viện âm nhạc nước ngoài. Trong khi đó, các nghệ sĩ dân gian, lão thành đa số đã cao tuổi, thầy cô giáo giảng dạy theo lối kinh điển thì thiếu cả về chất lượng và số lượng.

Tiến sĩ Bountheng Souksavatd (Lào).

Vấn đề hội nhập quốc tế trong đào tạo âm nhạc rất cần thiết cho mỗi quốc gia nên việc liên kết giảng dạy để tìm ra những tài năng âm nhạc, sau đó giảng dạy, đào tạo là cần thiết nhưng để làm được việc này cần có sự vào cuộc của các cấp, ngành để âm nhạc là sợi dây xóa bỏ rào cản ngôn ngữ, kết nối các quốc gia trên thế giới.Âm nhạc Việt Nam không phải là bản sao văn hóa

Đó là nhận xét của ông Chen Ziming, Chủ tịch Hội Âm nhạc thế giới, Hội nhạc sĩ Trung Quốc, Giáo sư Học viện Âm nhạc Trung ương về âm nhạc Việt Nam. Mặc dù không có mặt tham dự Hội thảo nhưng đại diện của Trung Quốc đã có bài tham luận đánh giá về nền âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là các loại hình âm nhạc dân tộc. Trong đó, khẳng định âm nhạc Việt Nam không phải là bản sao văn hóa mà có những sáng tạo riêng. Điển hình là ca trù đã được đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại; dân ca quan họ đã được phổ biến rộng rãi và kế thừa từ hàng trăm năm nay; múa rối nước cũng là môn nghệ thuật chinh phục được nhiều khán giả trong và ngoài nước. Ngoài ra, còn một số nhạc cụ dân tộc được nhiều người nghe yêu thích như đàn Klongput, T’rưng…Hơn nữa, Việt Nam còn có một nhạc sĩ nổi tiếng thế giới là Giáo sư Trần Văn Khê. Mặc dù ông đã qua đời nhưng di sản âm nhạc của Giáo sư để lại đã truyền cảm hứng sáng tác cho nhiều nhạc sĩ, nhà khoa học trên thế giới trong đó có Chủ tịch Hội Âm nhạc thế giới Chen Ziming.

Nói về mối liên kết giữa âm nhạc Việt Nam và Tây Ban Nha, Tùy viên văn hóa, Đại quán Tây Ban Nha tại Việt Nam Mencia Manso de Zuniga cho rằng: Giữa Tây Ban Nha và Việt Nam có những điểm tương đồng về âm nhạc, đó là nghệ sĩ nhạc Flamenco với Nhã nhạc, Manuel de Falla với Nguyễn Văn Quý, Nhạc viện Tây Ban Nha với Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Tây Ban Nha và Việt Nam có bước phát triển âm nhạc một cách tự nhiên rất khác nhau, sự hiểu biết về giai điệu, các nhạc cụ, tác phẩm còn xa nhau bởi sự khác biệt giữa truyền thống châu Âu và châu Á. Tuy nhiên, âm nhạc hai nước có một điểm chung là các loại nhạc cụ dây và bộ gõ trong âm nhạc được nhiều người yêu thích. Đáng chú ý là cuộc giao lưu giữa các nghệ sĩ guitar của Tây Ban Nha và Việt Nam. Sự hợp tác trong âm nhạc sẽ kết nối mọi người từ các nền văn hóa hoàn toàn khác biệt đến với nhau.

Vấn đề hội nhập quốc tế đã và đang tạo điều kiện để các tài năng âm nhạc vươn cao, bay xa hơn đồng thời chúng ta có cơ hội tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại và quảng bá, giới thiệu âm nhạc truyền thống của Việt Nam với thế giới. Để làm được điều này thì việc “ươm trồng” và nuôi dưỡng các mầm non âm nhạc phải được đầu tư đúng hướng, đào tạo bài bản thì mới có những nghệ sĩ tài năng.

Bài, ảnh: KHÁNH HUYỀN 

http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/doi-song-van-hoa/su-vi-dai-khong-tu-nhien-sinh-ra-ma-phai-duoc-uom-trong-493517

Đàn bầu đậm nét tinh hoa văn hóa Việt Nam

20 Tháng Mười Một 2016 – 9:14:00

(VOV5) – Trên thế giới có rất nhiều loại đàn một dây nhưng đàn một dây mang tên đàn bầu rất khác biệt, đậm chất Việt Nam. Đàn bầu với âm thanh trong trẻo, quyến rũ phù hợp với tình cảm, tâm hồn, ngôn ngữ của người Việt Nam. Không chỉ là nhạc cụ truyền thống, với quá trình phát triển cho thấy: cây đàn này thực sự là một “nhân chứng” đặc biệt  trong dòng chảy lịch sử và văn hóa Việt Nam.

dan bau dam net tinh hoa van hoa viet nam hinh 0
Hai mẫu đàn bầu Việt Nam


Nghe âm thanh bài viết tại đây:

Đàn bầu hay còn gọi là Độc Huyền Cầm là một nhạc cụ thuần Việt nhất và cũng được coi là một trong số những cây đàn độc đáo của thế giới, nhưng cấu tạo lại rất đơn giản. Những vật liệu làm ra cây đàn Bầu là các loại cây tre, bương, vầu, vỏ quả Bầu…những vật liệu dễ kiếm gần gũi trong đời sống người Việt. Trước kia, thân đàn Bầu được làm bằng một đoạn ống tre, ống bương, ống vầu thì nay được làm bằng hộp gỗ hình chữ nhật dài khoảng trên dưới 1 mét. Một đầu to có bát âm làm từ vỏ quả bầu khô với cần đàn nối với dây đàn, đầu bên kia nhỏ hơn có dây đàn gắn với cần chỉnh dây. Bầu đàn làm bằng đầu cuống quả bầu hoặc gỗ tiện giống quả Bầu. Cần đàn làm bằng sừng tre dẻo dài khoảng 50-70 cm, sau này thay bằng sừng trâu. Dây đàn làm bằng dây móc xe lại hoặc dây mây, dần thay bằng dây tơ, sau này thay bằng dây sắt. Khi chơi đàn người chơi gảy bằng ngón tay, móng hay que gảy, phát ra âm thanh do va chạm trực tiếp, 1 lần, tạo ra »âm thực », kết hợp với việc rung cần đàn tạo ra nhiều âm thanh có các cao độ khác nhau với âm sắc trong trẻo, quyến rũ. Đây cũng là nét độc đáo của loại nhạc cụ tiêu biểu Việt Nam được thế giới ghi nhận. Nghệ sĩ đàn bầu Kim Thành cho rằng: « Nét nổi bật của Đàn bầu là tạo ra tiếng đàn là sóng bồi âm. Đàn bầu có hai phần chính: phần cầm que tạo ra tiếng đàn và dùng cần đàn để nhấn cao độ lên và xuống. Cây đàn Bầu độc đáo về cách sử dụng là như thế. Thường các cây đàn khác bật bằng dây buông, như đàn ghi ta có phím để thay đổi âm vực khác nhau, nhưng cây đàn bầu thì cái chặn dây lại bằng tay thay cho phím đàn ».
dan bau dam net tinh hoa van hoa viet nam hinh 1
Biểu diễn đàn bầu
Do cấu tạo, hình dáng độc đáo, tạo nên nét ngân rung, tiếng Đàn bầu qua cần rung biến ảo, phù hợp với tình cảm, ngôn ngữ của người Việt. Nó ngân lên các cung bậc sâu thẳm của tâm hồn. Với đặc tính độc đáo như thế, trải qua quá trình lịch sử, đàn bầu tham gia vào các thể nghệ thuật dân gian của Việt nam như: hát xẩm, hát chèo, cải lương, đờn ca tài tử Nam Bộ, tham gia ban  nhạc Ngũ tuyệt ở cung đình Huế.
Đàn bầu chính là sự sáng tạo, một phát kiến của  người Việt. Theo nghiên cứu của Phó giáo sư, Tiến sỹ Đặng Hoành Loan, nguyên Viện Phó Viện Âm nhạc Việt Nam, đàn bầu xuất hiện tại Việt Nam từ rất sớm. Đàn bầu là cây đàn một dây và không giống bất cứ cây đàn một dây nào trên thế giới. PGS-TS Đặng Hoành Loan cho rằng:  « Đàn bầu Việt Nam cũng giống như dân ca Việt Nam, nó ra đời từ khi người Việt nam biết mình là người Việt Nam. Có ba việc cần làm hiện nay, đó là nhanh chóng tổ chức hội thảo toàn quốc hoặc hội thảo quốc tế  để tìm tiếng nói của cộng đồng quốc tế và trong nước  khẳng định đàn bầu là của Việt Nam và sau việc đó phải xây dựng đệ trình hồ sơ quốc gia về cây đàn bầu và việc nữa là cần lập cuốn từ điển âm nhạc truyền thống Việt Nam, làm cơ sở văn bản nghệ thuật đàn bầu Việt Nam ».

dan bau dam net tinh hoa van hoa viet nam hinh 2
Một mẫu đàn bầu được trang trí rồng
Cây đàn bầu luôn xuất hiện trong đời sống sinh hoạt của người Việt, trên sân khấu nghệ thuật truyền thống và đương đại. Trong số các chương trình biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam phục vụ du khách quốc tế, cũng như các đoàn đi biểu diễn ở nước ngoài luôn có tiết mục đàn bầu. Từ việc chỉ chơi những bản nhạc dân gian thì ngày nay, đàn Bầu cũng thể hiện được những bản nhạc Pop, World music..Nhiều khán thính giả nước ngoài vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi nghe giai điệu của đàn bầu, cây đàn một dây của Việt nam có thể chơi các bản nhạc cổ điển trên thế giới.
Nếu để chọn ra một cây đàn đại diện cho nhạc cụ Việt Nam, có khả năng giới thiệu, quảng bá về đất nước, con người Việt Nam thì chắc chắn đó là cây đàn bầu

HÀ TÙNG LONG : Sớm xác lập “chủ quyền” cho đàn Bầu Việt Nam

Thứ tư – 16/11/2016 02:39
(Dân trí) – Trong số các đàn một dây trên thế giới, đàn Bầu của Việt Nam được đánh giá là rất đặc sắc, độc đáo… bởi lẽ đàn Bầu là đàn duy nhất phát ra âm thanh là âm bồi; chỉ có một dây, không có phím bấm nhưng có thể chơi được tất cả các cao độ…

Đàn Bầu Việt Nam là rất đặc sắc, độc đáo…

PGS. TS. NGƯT Nguyễn Bình Định – Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam chia sẻ rằng, trên thế giới có hơn 10 loại đàn một dây, phân bố nhiều nhất là ở châu Á rồi đến châu Phi và một số nước ở miền Nam châu Âu. Các loại đàn một dây thuộc chi dây gảy có các loại như: đàn Kingri, đàn Ektar, đàn Tuntune, đàn Gopicand của Ấn Độ; đàn Bầu của Việt Nam; đàn Tushuenkin (Độc huyền cầm) của Trung Quốc; đàn Ichigenkin (Nhất huyền cầm) của Nhật Bản; đàn Xađiu (còn đọc là Xa-đi-ơ) của Căm pu chia; 3 loại đàn Cung ở Trung Phi, Đông Phi, Nam Phi; đàn một dây ở Indonesia, ở Madagasca… Đàn một dây thuộc chi dây kéo có các loại như: Đàn Rababa ở các nước A rập; đàn Orutu ở Kenya, Uganda; đàn Gusle (có 3 loại) ở Serbi, Croatia, Montenegro…

Trong số các đàn một dây trên thế giới, đàn Bầu của Việt Nam được đánh giá là rất đặc sắc, độc đáo… bởi lẽ đàn Bầu là đàn duy nhất phát ra âm thanh là âm bồi... Ảnh: TL.
Trong số các đàn một dây trên thế giới, đàn Bầu của Việt Nam được đánh giá là rất đặc sắc, độc đáo… bởi lẽ đàn Bầu là đàn duy nhất phát ra âm thanh là âm bồi… Ảnh: TL.

Trong số các đàn một dây trên thế giới, đàn Bầu của Việt Nam được đánh giá là rất đặc sắc, độc đáo… bởi lẽ đàn Bầu là đàn duy nhất phát ra âm thanh là âm bồi; chỉ có một dây, không có phím bấm nhưng có thể chơi được tất cả các cao độ (kể cả các âm có cao độ tuyệt đối và các âm có cao độ tương đối với các mức độ non già tùy ý); có khả năng trình diễn tất cả các kỹ thuật rung, nhấn, đặc biệt là các dạng luyến láy, tô điểm âm khác nhau nên rất phù hợp với kiểu giai điệu âm nhạc có nhiều âm hoa mỹ, luyến láy của Việt Nam.

Do sử dụng kỹ thuật uốn vòi đàn (có người gọi là cần đàn), tạo ra sự căng chùng khác nhau của dây đàn nên đàn Bầu là nhạc cụ duy nhất trên thế giới làm được việc với một lần kích âm có thể cho một âm cơ bản và các âm khác có cao độ cao hơn hoặc thấp hơn âm cơ bản ấy tới một quãng 5 (các nhạc cụ khác không thể làm ra được các âm có cao độ thấp hơn âm cơ bản với một lần kích âm vì không có kỹ thuật làm chùng dây đàn).

Đồng quan điểm, GS Trần Quang Hải cũng cho rằng, Trung Quốc có Độc huyền cầm, Nhật Bản có Ichigenkin (nhất huyền cầm), Ấn Độ có Gopi Yantra, Cao Miên có Sadiou… Tất cả những cây đàn một dây đó không có cây nào sử dụng bồi âm như đàn Bầu của Việt Nam.

Theo GS Trần Quang Hải, cây đàn bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam từ rất xa xưa và gắn liền với đời sống của người dân. Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam có các bài bản cho đàn Bầu dựa trên các bài dân ca quan họ, lý, hát ru, dân ca cải biên, chèo, tuồng, múa rối nước, ca Huế, đờn ca tài tử Nam bộ…. Ngoài ra, đàn Bầu còn dùng để đệm cho ngâm thơ, hoặc độc tấu, song tấu, tứ tấu, ngũ tuyệt, dàn nhạc giao hưởng dân tộc. Các nhạc sĩ Việt Nam đã sáng tác những bản cho đàn bầu như: Vì miền Nam (Huy Thục), Niềm Tin Tất Thắng (Khắc Chí), Hồi tưởng (Xuân Thi), Đối thoại (Đỗ Hồng Quân), Dòng kênh trong (Hoàng Đạm), Buổi sáng sông Hương, Cung đàn đất nước (Xuân Khải), Gửi Thu Bồn, Quê mẹ (Khắc Chí), Gửi Huế mến yêu (Đình Long), Gửi đến Ngự Bình (Quốc Lộc), Thoáng quê ( Thanh Tâm), Câu hát mẹ ru (Phú Quang)…

Đàn Bầu Việt Nam có từ bao giờ?

GS Trần Quang Hải cho biết, tìm hiểu trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết có một số sách sử quan trọng có đề cập đến đàn Bầu. Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa, Đại Nam thực lục tiền biên, Tân Đường thư, Cựu Đường Thư… cây Đàn Bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau đó được người Kinh Việt Nam mang sang Quảng Tây Trung Quốc.

Trong “Đại Nam thực lục tiền biên” (bộ sử của nhà Nguyễn) ghi cây đàn Bầu đã được sáng tạo từ năm 1770, trải qua gần 250 năm, đặc biệt là từ năm 1956 (ngày thành lập Học Viện âm nhạc quốc gia Hà Nội), đàn Bầu được phát triển nhanh chóng với những khóa dạy đàn bầu ở Học viện, những nghệ nhân trình diễn trong và ngoài nước, cải tiến đàn bầu từ hình dáng tới kỹ thuật, sáng tác bài bản mới, tạo một chỗ đứng cao cấp cho nhạc cụ này (được coi là “hoàng tử” nhạc cụ Việt Nam).

Theo GS Trần Quang Hải, cây Đàn Bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ - Việt Nam. Ảnh: TL.
Theo GS Trần Quang Hải, cây Đàn Bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ – Việt Nam. Ảnh: TL.

Cây đàn Bầu cũng từng được các nghệ sĩ mù ở Hà Nội dùng phụ đệm hát xẩm ở các chợ trời từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó đàn này còn được gọi là “đàn xẩm”. Đàn Bầu được đưa vào dàn nhạc cung đình Huế từ cuối thế kỷ 19 và xuất hiện trong dàn nhạc tài tử Nam bộ từ năm 1930…

Theo nhà nghiên cứu Hoàng Yến, năm 1892, đàn Bầu mới được những người hát xẩm phía Bắc đưa vào xứ Huế để ca khúc đệm đàn cho một số bộ phận vương quan tiến bộ yêu thích thanh âm trong trẻo, nỉ non đó. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Vua Thành Thái – một trong ba vị vua yêu nước thời Pháp thuộc, ông yêu tiếng đàn Bầu như hơi thở quê hương xứ An Nam, lúc đó đàn Bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu.

Đàn bầu có mặt trong dàn đờn tài tử nam bộ từ năm 1930 do những người miền Trung vào miền Nam khai khẩn đất hoang vào cuối thế kỷ XIX. Đàn Bầu được gọi là “đờn một dây” hay “đờn độc huyền”.

PGS Nguyễn Bình Định lại cho rằng, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có đủ cứ liệu để xác định một cách chính xác đàn Bầu có từ bao giờ. Có người thì cho rằng, đàn Bầu ra đời ở khoảng thế kỷ IX- X, có người còn đưa ra con số cụ thể là đàn Bầu được chế tạo vào năm 1770… Tuy chưa có giả thuyết nào được khẳng định là chính xác nhưng chúng ta có thể nói đàn Bầu là nhạc cụ bản địa của người Việt, đã có từ lâu đời, ít nhất cũng phải có trước thế kỷ XIX.

Sớm xác lập « chủ quyền » cho đàn Bầu

Theo GS Trần Quang Hải, vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ Việt Nam sang Trung Quốc từ khoảng 500 năm trước và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người.

Trong dàn nhạc dân tộc, đàn Bầu được gọi là hoàng tử của các loại đàn. Ảnh: TL.
Trong dàn nhạc dân tộc, đàn Bầu được gọi là « hoàng tử » của các loại đàn. Ảnh: TL.

Trung Quốc đã gửi nhạc công sang Việt Nam học đàn Bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên mạng thông tin đàn Bầu rất được người dân tộc Kinh (ở Trung Quốc) yêu thích.

Nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn Bầu chia sẻ: “Tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của Trung Quốc một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn Bầu trong dàn nhạc dân tộc Trung Quốc. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.

Nhạc sĩ Đỗ Lộc cho biết: “Năm 1967, Đoàn múa hát Quân giải phóng miền Nam Việt Nam sang Bắc Kinh biểu diễn. Tiết mục biểu diễn đàn Bầu của nhạc sĩ Đức Nhuận thật sự xuất sắc vì đàn Bầu là của Việt Nam mà Trung Quốc không có nên họ ngỏ lời xin học, Việt Nam đồng ý. Nghệ sĩ Điền Xương của Trung Quốc đi theo đoàn Việt Nam suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.

Nghệ sĩ đàn bầu Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sử phát triển cây đàn bầu Việt Nam tại Học viện Quảng Tây (Trung Quốc), nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn Bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên. Trưởng khoa đàn Bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: “Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn Bầu Việt Nam. Học viện chúng tôi có khoa đàn Bầu là vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh Trung Quốc đang học tại Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam về đàn Bầu. Có cô gái Trung Quốc tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn bầu”.

Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn Bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.

“Một chuyện khác là bản ARIRANG của Hàn Quốc đã bị Trung quốc dự định trình UNESCO để được tuyên dương là di sản văn hóa phi vật thể của Trung quốc vì họ có người Triều Tiên là sắc tộc sống ở Trung quốc. Nhưng ban nghiên cứu xứ Hàn Quốc đã phản ứng kịp thời và tổ chức hội thảo tại Seoul và tôi được mời tham dự hồ sơ này vào năm 2012. Và bản ARIRANG được UNESCO nhìn nhận là của Hàn Quốc vào năm 2014. Đối với việc muốn lấy đàn Bầu là nhạc cụ của Trung Quốc với lý do là Trung Quốc có một bộ lạc người Kinh sống ở xứ họ. Nhưng việc chuẩn bị để tước lấy đàn Bầu đã được nghĩ đến từ lâu? Họ mới gửi nhạc công sang Viêt Nam học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên wikipedia để tuyên bố là đàn Bầu là nhạc cụ Trung quốc chứ không phải Việt Nam.

Nếu các ban nghiên cứu của Việt Nam không phản ứng (Viện Âm nhạc và những nhà nghiên cứu Việt Nam không có phản ứng thì không sớm thì muộn nhạc cụ đàn Bầu sẽ thuộc quyền “sở hữu” của Trung Quốc đứng về mặt pháp lý”, GS Trần Quang Hải nói.

Hà Tùng Long

http://dantri.com.vn/van-hoa/som-xac-lap-chu-quyen-cho-dan-bau-viet-nam-20161115160610486.htm

http://it.evnspc.vn/diem-bao/som-xac-lap-chu-quyen-cho-dan-bau-viet-nam-902.html

Tag :đàn bầu, xác lập, chủ quyền, nghiên cứu, nhạc cụ, dàn nhạc dân tộc, Việt Nam

Nguồn tin: Báo điện tử Dân Trí

NGỌC AN : Đàn bầu là của người Việt Nam

10:07 AM – 14/10/2016 Thanh Niên
Các vị khách nước ngoài tìm hiểu cách đánh đàn bầu /// Ảnh: N.A
Trong cuộc tọa đàm Cây đàn bầu VN diễn ra tại Hà Nội chiều qua 13.10, các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc khẳng định: ‘Đàn bầu là của người VN, duy nhất có tại VN’.
Giữa tháng 8.2016, Báo Thanh Niên đăng bài Cần sớm khẳng định “chủ quyền” với đàn bầu, trong đó nêu ý kiến cảnh báo của GS-TS Trần Quang Hải về việc VN có thể bị “mất quyền sở hữu” cây đàn bầu nếu không sớm có động thái phù hợp khi Trung Quốc đang lưu tâm đến cây đàn này.
Trong khuôn khổ Liên hoan Âm nhạc mới Á – Âu do Hội Nhạc sĩ VN tổ chức với sự tham gia của hơn 200 nghệ sĩ đến từ 30 quốc gia trên thế giới, buổi tọa đàm Cây đàn bầu VN đã được tổ chức không chỉ giới thiệu những giá trị độc đáo mà còn khẳng định về nguồn gốc xuất xứ của loại nhạc cụ này.
Từ dân gian đến chính sử
Đàn bầu là của người Việt Nam - ảnh 1
Đàn bầu là một cây đàn đặc sắc của VN, có từ lâu đời và vốn sinh ra để phục vụ đời sống tinh thần dân tộc. Khi nhắc tới cây đàn bầu là nhắc tới một cây đàn có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống tinh thần của người dân VN
Đàn bầu là của người Việt Nam - ảnh 2
Tôn Tiến
Giảng viên đại học ở Quảng Tây (Trung Quốc)
Trong buổi tọa đàm, NSND Nguyễn Tiến đã chia sẻ nhiều khảo dị trong dân gian về cây đàn bầu.
“Có một khảo dị kể rằng cây đàn bầu gắn liền với sự tích quả bầu. Một người đàn bà mang thai 3 năm và đẻ ra một quả bầu. Người chồng mới đặt quả bầu lên gác bếp. Trong lúc anh lấy que để khều lửa vô tình chọc vào quả bầu. Từ trong quả bầu xuất hiện đứa trẻ da vàng, rồi da trắng, da đỏ, da đen. Câu chuyện đó để nói về sự đoàn kết của các dân tộc bất kể màu da trên thế giới này”, câu chuyện của NSND Nguyễn Tiến khiến các vị khách quốc tế mỉm cười thích thú.
Nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Quang Long cho biết truyền thuyết dân gian có lưu truyền câu chuyện về ông tổ nghề hát xẩm Trần Quốc Đĩnh cùng với sự xuất hiện của cây đàn bầu.
Chuyện kể rằng, vua Trần Thánh Tông có hai người con trai là Trần Quốc Đĩnh và Trần Quốc Toán. Vì muốn tranh giành quyền lực, Trần Quốc Toán đã dụ em trai vào rừng sâu và dùng chiếc gương có độc chiếu vào mắt. Đôi mắt của Trần Quốc Đĩnh không còn nhìn thấy gì nữa, còn người anh độc ác đã bỏ em lại nơi rừng thiêng nước độc.
Ông Bụt thương tình bèn dạy cho Trần Quốc Đĩnh cách làm cây đàn vang lên những âm thanh da diết. Người đi rừng nghe thấy tiếng đàn đã tìm được và đưa ông về. Khi trở về cung, ông đã dạy đàn cho những người khiếm thị, người nghèo để họ làm kế sinh nhai kiếm sống. Nghề hát xẩm cũng ra đời từ đó. Trên thực tế, cây đàn bầu gắn liền với hát xẩm, loại hình diễn xướng dân gian độc đáo phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 tại khu vực châu thổ sông Hồng.
Sách Đại Nam thực lục tiền biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, ghi chép các sự kiện lịch sử của chúa Nguyễn Đàng Trong, từ đời chúa Nguyễn Hoàng (trị vì từ 1558 – 1613) đến hết đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (trị vì 1765 – 1777) cũng có ghi chép về đàn bầu.
Cây đàn độc đáo
Trước ý kiến cho rằng cách đây khoảng 500 năm, một bộ phận cộng đồng dân tộc Kinh (ở VN) đã di cư sang Quảng Tây (Trung Quốc) mang theo cây đàn bầu và loại nhạc cụ này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ VN, cho hay: “Tôi đã tìm hiểu và biết được loại nhạc cụ của họ gần giống như đàn bầu nhưng không phải là đàn bầu”.
NSND Hoàng Anh Tú biểu diễn hát xẩm và đàn bầu
NSND Hoàng Anh Tú biểu diễn hát xẩm và đàn bầu
Ông Quân phân tích, loại nhạc cụ ở Quảng Tây có hình dáng gần giống với đàn bầu VN, nhưng cấu tạo, chế tác lại khác nhau. Ngoài ra, cây đàn đó không có đời sống trong cộng đồng.
NSND Thanh Tâm nhớ lại, ngay từ năm 1956 khi Học viện Âm nhạc quốc gia VN (khi đó là Nhạc viện Hà Nội) được thành lập, đã có khoa đàn bầu.
Từ những năm 1960, nhiều đoàn nghệ sĩ VN đã sang Trung Quốc và nhiều quốc gia trên thế giới để biểu diễn đàn bầu. Như trong khoảng thời gian 1960 – 1970, các nghệ sĩ đàn bầu VN đã biểu diễn tại Thượng Hải, Bắc Kinh, Thâm Quyến (Trung Quốc). “Chúng tôi đã tặng cho họ những cây đàn bầu làm kỷ niệm”, NSND Nguyễn Tiến, người có mặt trong những chuyến lưu diễn đó, nhớ lại.
Ông không quên được chuyến lưu diễn tại Bắc Kinh vào năm 1973. “Lúc đó do sơ ý tôi đã làm bầu đàn bị vỡ. Tôi liền nhờ những người bạn Trung Quốc làm lại giúp tôi. Họ chưa từng làm bầu đàn như vậy bao giờ nên phải đến đo kích thước, vẽ lại hình dáng rất cẩn thận rồi mới làm được”, ông kể và cho biết thêm trong cuộc trò chuyện về đàn bầu tại học viện ở Quảng Châu (Trung Quốc), những người tham dự hôm đó đã rất khâm phục sự sáng tạo của người VN với cây đàn bầu.
“Nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Senegal cũng có những cây đàn một dây. Trên thế giới có nhiều đàn một dây, nhưng đàn một dây mang tên đàn bầu chỉ có ở VN. Đàn bầu là loại đàn duy nhất có âm thanh trong trẻo, quyến rũ, mềm mại giống tiếng người nói. Đây là loại đàn không đánh bằng âm thực mà đánh bằng âm bồi”, NSND Nguyễn Tiến nhìn nhận.
Chính sự độc đáo của cây đàn này mà nhiều người nước ngoài đã tìm học. Tôn Tiến, một giảng viên đại học ở Quảng Tây (Trung Quốc), đã tìm tới NSND Thanh Tâm theo học đàn bầu. Năm 2015, Tôn Tiến đã bảo vệ luận văn đề tài Nghệ thuật đàn bầu trong giai đoạn mới tại VN tại Học viện Âm nhạc quốc gia VN. Tôn Tiến đã viết trong luận văn: “Đàn bầu là một cây đàn đặc sắc của VN, có từ lâu đời và vốn sinh ra để phục vụ đời sống tinh thần dân tộc. Khi nhắc tới cây đàn bầu là nhắc tới một cây đàn có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống tinh thần của người dân VN”.
“Thế giới có sự giao lưu giữa các nền văn hóa, nhiều loại đàn như đàn nhị từ Trung Quốc đã du nhập vào VN. Nhưng nếu nói về nguồn gốc xuất xứ của cây đàn bầu thì phải khẳng định đó là của VN”, nhà nghiên cứu âm nhạc Quang Long nhìn nhận.

Ngọc An

http://thanhnien.vn/van-hoa/dan-bau-la-cua-nguoi-viet-nam-754831.html

 

Bạn đọc phản hồi (5 nhận xét)

TRẦN QUANG DINH

– 15/10/2016

*  » Lắng tai nghe tiếng đàn bầu thánh thót trong đêm thâu. Tiếng đàn bầu của ta, cung thanh là tiếng MẸ , cung trầm là giong CHA ngân nga em vẫn hát . Tích tịch tình tình tang… » Ca khúc Tiếng đàn bầu ( thơ Lữ Giang – nhạc Nguyễn Đình Phúc ) đã nói lên xuất xứ , vị trí , vai trò..của đàn bầu trong xem tiếp

nguyễn thi

Bình Định – 15/10/2016

Nên tôn vinh cây đàn bầu là Quốc cầm của VN.

thao nguyen

TP Hồ Chí Minh – 15/10/2016

Đồng ý với Nguyên Thi. Chúng ta có Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc hoa, nay thêm Quốc Cầm thì hay quá..

Vo Thanh Tung

– 16/10/2016

1-Giới thiệu sơ lược: Ðàn Bầu (còn gọi là đàn Ðộc huyền) là loại đàn một dây của dân tộc Việt và một số dân tộc khác như Mường (Tàn Máng), dân tộc Chăm (Rabap Katoh), theo sách Ðại Nam Thực Lực Tiền Biên, trang 236, quyển 11 của Nhà xuất bản Sử học- Hà Nội 1962 Ðàn Bầu được chế tạo năm 1770. 2-Xếp loại: Ðàn xem tiếp

Vo Thanh Tung

– 16/10/2016

Tiếng Ðàn Bầu rất đẹp vì âm thanh phát ra toàn là âm bồi, tiếng đàn mềm mại, ngọt ngào, lắng sâu vào tình cảm của con người. Tầm âm: Ðàn Bầu rộng 5 quãng tám từ La-2 đến Sol3 (a-2 đến g3). Sử dụng âm bồi nên màu âm của Ðàn Bầu ngọt ngào, quyến rũ. Âm lượng của Ðàn Bầu nhỏ để phục vụ được nhiều người người ta đã khuyếch đại âm thanh bằng cách điện tử hóa và đã đạt được thành công là âm thanh Ðàn Bầu vang to mà vẫn giữ được màu âm độc đáo.(Trích Nhạc khí dân tộc Việt của tác giả Võ Thanh Tùng). thu gọn

TRAN QUANG HAI & ALESSIO SURIAN (professor of psychotherapy in Padova, Italy) paid a visit to Prof. Gilbert ROUGET , Paris, November 27th 2016

dsc00683-copy

Prof. GILBERT ROUGET & TRAN QUANG HAI

dsc00681-copy

dsc00673-copy

Prof. GILBERT ROUGET

dsc00702-copy

ALESSIO SURIAN , Prof. GILBERT ROUGET, TRAN QUANG HAI

dsc00677-copy

Prof. GILBERT ROUGET , ALESSIO SURIAN

dsc00665-copy

Prof. GILBERT ROUGET

dsc00684-copy

Prof. GILBERT ROUGET, TRAN QUANG HAI

TRAN QUANG HAI & ALESSIO SURIAN (professor of psychotherapy in Padova, Italy) paid a visit to Prof. Gilbert ROUGET (100 years and 4 months old, born on 9 july 1916) at his apartment in Paris, November 27th 2016
Trần Quang Hải & Alession Surian (giáo sư môn tâm lý điều trị học tỉnh Padova, Ý) tới thăm GS TS Gilbert Rouget (100 tuổi và 4 tháng , sinh ngày 9 tháng 7, 1916) tại tư gia , Paris ngày 27 tháng 11, 2016

Tôn vinh đàn bầu trong Festival Âm nhạc mới Á – Âu 2016

07:41 – Thứ năm, 06/10/2016

Điểm mới của Festival Âm nhạc mới Á – Âu 2016 là đưa nhạc cụ dân tộc Việt Nam vào trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là đàn bầu.

hai-phuong.jpg
Đàn bầu Việt Nam sẽ được tôn vinh trong  Âm nhạc mới Á – Âu 2016

Festival Âm nhạc mới Á – Âu 2016 sẽ được tổ chức cùng Hội nghị Hiệp hội các nhà soạn nhạc châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 34, diễn ra từ ngày 12 đến 18/11/2016 tại Hà Nội và Vĩnh Phúc. Với chủ đề Âm nhạc – Hội tụ và lan tỏa, Festival bao gồm chuỗi chương trình hòa nhạc, từ Giao hưởng, Thính phòng, Nhạc kịch, Vũ kịch, Hợp xướng đến ca khúc nhạc đại chúng. Tiêu chí của Festival là giới thiệu những tác phẩm mới sáng tác trong những năm gần đây của các nhạc sĩ tiêu biểu cho các trường phái âm nhạc đương đại trên thế giới.

Tham dự Festival có khoảng trên 200 nhạc sĩ, nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc công… đến từ 30 quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước Anh, Canada, Đức, Nga, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, New Zealand… Trong khuôn khổ Festival sẽ diễn ra 11 buổi hòa nhạc chính với hơn 100 tiết mục và nhiều sự kiện bên lề.

Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam sẽ tham gia biểu diễn trong Festival như NSND Nguyễn Thiếu Hoa (chỉ huy), NSND Nguyễn Thế Dân (đàn nhị), NSƯT Bùi Công Duy (Violon), ca sĩ Đào Tố Loan (Soprano)…

Festival Âm nhạc mới Á – Âu lần thứ nhất được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 10/2014, với sự tham gia của hơn 200 nhạc sĩ, nghệ sĩ đến từ 32 quốc gia. Sự kiện này được đánh giá là thành công rực rỡ, khẳng định vị thế vững chắc của nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam.

do-hong-quan-1.JPG
 Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân trong buổi họp báo giới thiệu Festival Âm nhạc mới Á-Âu 2016

Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam cho biết trong buổi họp báo vào ngày 5/10: Điểm mới của Festival lần thứ 2 là đưa được nhạc cụ dân tộc Việt Nam vào nhiều tác phẩm, đặc biệt là đàn bầu. Trong đó, đáng chú ý có 2 tác phẩm của nhạc sĩ nước ngoài viết riêng cho đàn bầu Việt Nam với tên gọi Cụ rùa Du hành trên trăng lưỡi liềm.

Ngoài ra, trong khuôn khổ Festival cũng sẽ có một cuộc hội thảo với chủ đề Cây đàn bầu Việt Nam. Theo nhạc sĩ Nguyễn Thị Minh Châu, Phó Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, đây là hoạt động rất cần thiết, vì Việt Nam được gọi là “đất nước của đàn bầu” nhưng hoạt động quảng bá đàn bầu của chúng ta lại quá ít.

Đặc biệt, ngoài Lễ khai mạc, toàn bộ các buổi hòa nhạc trong Festival Âm nhạc mới Á – Âu đều được mở cửa miễn phí cho công chúng.

Huy Anh

Lắng nghe tiếng đàn Bầu để hiểu hơn về văn hóa Việt

21/10/2016 17:29

Lắng nghe tiếng đàn Bầu để hiểu hơn về văn hóa Việt

QĐND Online – “Lắng tai nghe, đàn Bầu/Thánh thót trong đêm thâu/Tiếng đàn Bầu của ta/Cung thanh là tiếng mẹ/Cung trầm là giọng cha…”, đã có biết bao lời ca đẹp nói về cây đàn Bầu và trong số các nhạc cụ dân tộc ở nước ta, đàn Bầu là nhạc cụ thu hút được sự chú ý, quan tâm nhiều nhất của các nhạc sĩ sáng tác và những người nghiên cứu âm nhạc.

Để đánh giá lại toàn bộ những vấn đề về đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam, ngày 21-10, Viện Âm nhạc (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức Hội thảo “Đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam”.

Đàn Bầu – nhạc cụ bản địa của người Việt

PGS,TS, NGƯT Nguyễn Bình Định (Viện trưởng Viện Âm nhạc), cho đến nay, vẫn chưa có đủ cứ liệu để xác định một cách chính xác đàn Bầu có từ bao giờ. Người thì cho rằng, đàn Bầu ra đời ở khoảng thế kỷ IX- X, có người còn đưa ra con số cụ thể là đàn Bầu được chế tạo vào năm 1770…Tuy chưa có giả thuyết nào được khẳng định là chính xác, nhưng có thể nói, đàn Bầu là nhạc cụ bản địa của người Việt, đã có từ lâu đời, ít nhất cũng phải có trước thế kỷ XIX.

Trải qua những bước thăng trầm, chuyển hóa trong suốt quá trình lịch sử, đàn Bầu từ thuở ban đầu chỉ đơn giản là làm từ một ống bương (hoặc vầu, hoặc mai), ngựa đàn là mảnh sành, mảnh sứ hoặc miếng gỗ cứng, vòi đàn là một que tre dài, dây đàn làm bằng dây móc, dây gai, dây tơ, bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm hoặc vỏ gáo dừa khô…cho đến khi thân đàn làm bằng gỗ, vòi đàn làm bằng sừng, bầu đàn làm bằng gỗ tiện theo hình quả bầu nậm, dây đàn làm bằng hợp kim …và từ chỗ âm lượng nhỏ do thân đàn nhỏ, quả bầu nậm nhỏ, các nghệ nhân hát Xẩm đã nghĩ ra cách để lên mặt đàn ở phía dưới đuôi đàn một thùng sắt tây hoặc một cái chậu đồng tỳ vào dây đàn để tần số rung của dây đàn truyền trực tiếp vào vỏ thùng, do đó âm lượng được phóng to hơn…Cuối những năm 1950, các nghệ sĩ đàn Bầu: Mạnh Thắng (Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị); Nguyễn Tiếu (Đoàn Ca nhạc Dân tộc Việt Nam) đã tìm cách sử dụng bô-bin chạy bằng pin lắp vào đàn Bầu để âm thanh được phóng to hơn nữa và truyền trực tiếp ra loa, đồng thời tiếng đàn còn có thể ngân được độ dài gấp nhiều lần trước đây; từ đó đàn Bầu có thể tham gia hòa tấu với nhiều nhạc cụ khác cùng một lúc và có thể trình diễn trên sân khấu lớn cho nhiều người cùng nghe.

Đại tá, nhạc sĩ, NSND Nguyễn Tiến khẳng định: Đàn Bầu là của Việt Nam, sinh ra từ Việt Nam, phát triển từ Việt Nam. Mặc dù chúng ta chưa tìm được nguồn gốc sự ra đời của đàn Bầu nhưng qua sự phát triển của cây đàn Bầu cho tới ngày nay thì chúng ta càng khẳng định rằng, từ trong lao động sản xuất, bằng những vật liệu vô cùng giản đơn của người Việt Nam (người dân tộc Kinh) đã sáng tạo ra cây đàn Bầu.

Hội thảo “Đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam”.

Tiếng đàn Bầu trong trẻo, trữ tìnhCây đàn Bầu Việt Nam không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người Việt cũng như trên sân khấu nghệ thuật truyền thống và đương đại. Nhiều người nước ngoài khi ca ngợi Việt Nam đã dùng đến những cụm từ “đất nước đàn Bầu”, hoặc “quê hương đàn Bầu”. Thật tự hào khi loại nhạc cụ truyền thống này đã chiếm được trái tim của người nghe trong và ngoài nước. Đàn Bầu tạo được chỗ đứng trong lòng người nghe bởi dự độc đáo không phải ở 1 dây mà ở cách diễn tấu của nó. Để hiểu được tính độc đáo của cây đàn bầu ta phải hiểu cách diễn tấu cả tay phải và tay trái của cây đàn bầu.

Theo NSND Nguyễn Tiến, tính độc đáo của cây đàn Bầu Việt Nam còn thể hiện ở tiếng đàn Bầu rất trong trẻo, trữ tình, mộc mạc mà kiêu xa, duyên dáng mà không cầu kỳ, giản đơn mà cuốn hút người nghe như một ma lực tự nhiên. Tiếng đàn Bầu Việt Nam phù hợp với tâm hồn, tình cảm và ngôn ngữ của người Việt. Âm thanh đàn Bầu vang lên là âm bồi, tay trái bẻ cần đàn có thể tạo ra muôn vàn kiểu luyến láy mềm mại khác nhau kết hợp với các kỹ thuật cơ bản của đàn Bầu như: Rung, vỗ, lắc, hất, giật, luyến…thì hiệu quả của tiếng đàn Bầu vô cùng phong phú.

NSƯT Bùi Lệ Chi khẳng định, đàn Bầu là một trong những nhạc cụ vô cùng độc đáo của dân tộc Việt Nam. Với cấu tạo đơn giản nhưng hình dáng đẹp, cùng kỹ thuật gảy bồi âm cũng như âm sắc quyến rũ, đàn Bầu đã trở thành một trong những cây đàn đặc sắc đại diện cho tâm hồn, bản sắc văn hoá Việt Nam.

Là một giảng viên, nghệ sĩ đang trực tiếp giảng dạy đàn Bầu, NSƯT Bùi Lệ Chi có những trăn trở lo lắng trước xu thế giao lưu, hội nhập về âm nhạc hiện nay. Nhiều dòng nhạc du nhập vào Việt Nam được giới trẻ yêu thích và lãng quên dần dòng nhạc truyền thống khiến chúng ta phải nhìn lại những vấn đề liên quan đến ngành nghề của mình như vấn đề đào tạo, biểu diễn…sao cho phù hợp với thời đại mới.

Nghệ sĩ Nhà hát Chèo Hải Dương biểu diễn tiết mục độc tấu đàn Bầu. Ảnh: TTXVN

NSƯT Bùi Lệ Chi cho rằng, phải coi công tác đào tạo là nền tảng. Đào tạo chính là cơ sở để phát triển nghệ thuật biểu diễn. Đồng hành cùng với sự thành công trong đào tạo và biểu diễn giai đoạn mới chắc chắn phải có sự đóng góp của các sáng tác mới. Đào tạo tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật nhất thiết phải được bắt đầu khi tuổi còn nhỏ. Ngoài ra, thời lượng dành cho việc học chuyên ngành phải được tăng cường. Hơn nữa, phải khuyến khích các nhạc sĩ, nghệ sĩ, giảng viên tham gia sáng tác cho đàn Bầu. Có như vậy, sự nghiệp đào tạo và biểu diễn loại nhạc cụ này mới phát triển lâu bền.Đàn Bầu đã trở thành “máu thịt” của người Việt Nam. Vì giá trị to lớn của cây đàn mà nhiều nhạc sĩ đã có những sáng tác hay dành riêng cho loại nhạc cụ này. Trong số đó, không thể không nói tới các tác phẩm “Vì miền Nam” của Huy Thục; “Cung đàn đất nước”, “Buổi sáng sông Hương” của NGND Xuân Khải; “Dòng kênh trong” của nhạc sĩ Hoàng Đạm; “Vũ khúc Tây Nguyên” của NSƯT Đức Nhuận; “Niềm tin tất thắng” của  Khắc Chí; “Xúy Vân” của  Ngô Quốc Tính…

Cây đàn Bầu bình dị nhưng chứa đựng những thanh âm đắm say lòng người, chinh phục biết bao trái tim người nghe. Một nhà thơ người Pháp sau khi được nghe tiếng đàn Bầu đã xúc động viết: “Cây đàn Bầu thật giống/Như con người Việt Nam/Giản dị mà thanh cao/Đơn sơ mà phong phú”.

Để bảo tồn, phát huy giá trị của đàn Bầu, các cơ quan chức năng cần phải có cách thức, phương án để phát triển loại nhạc cụ này để tiếng đàn Bầu hòa nhập với dòng chảy đời sống âm nhạc đương đại.

Bài, ảnh: KHÁNH HUYỀN

TRAN QUANG HAI sings « Artii Sayir » , a Tuvin melody next to menhir and dolmen in Brittany, France

TRAN QUANG HAI sings « Artii Sayir » , a Tuvin melody next to menhir and dolmen in Brittany, France

Mise en ligne le 27 août 2009

Tran Quang Hai sings « Artii Sayir », a famous Tuvin melody in front of menhirs and dolmens, at Museum of Prehistory, in Brittany, France

Filmed by Bach Yen, Saturday 22 August 2009