Jour : 21 octobre 2016

TRẦN QUANG HẢI :ĐÀN BẦU của VIỆT NAM hay TRUNG QUỐC ?

Trần Quang Hải , CREM (Research Center of Ethnomusicology), FRANCE

Đàn bầu (từ này chỉ được phổ biến rộng rãi từ khi thành lập nhạc viện Hà nội năm 1956 – nay trở thành học viện âm nhạc quốc gia) hay đờn độc huyền hay độc huyền cầm (獨絃琴) hay đờn một dây (phổ biến ở miền Nam Việt Nam) thuộc nhạc cụ Việt Nam có từ lâu đời . Dân tộc Mường cũng có cây đàn một dây  Tàn Máng và dân tộc Chăm có đàn một dây Rabap Katoh

Huyền thoại về cây đàn bầu

Có hai huyền thoại về đàn bầu :

  1. Cố nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát (1) có kể truyện Trương Viên rời gia đình theo tiếng gọi của đất nước đi đánh giặc . Vợ ở nhà phụng dưỡng mẹ chồng . Chờ lâu không thấy chồng trở về, hai mẹ con khăn gói lên đường tìm chồng . Dọc đường vợ bị hung thần móc mắt , trở thành đui mù . Một bà tiên cảm động trước sự hy sinh của con dâu (cắt thịt mình để cho mẹ chồng ăn ), mới tặng một cây đàn một dây có âm thanh như giọng người . Nhờ đó hai mẹ con đi tới thủ đô và tìm gặp người chồng .
  2. Một huyền thoại khác cũng được nhắc đến, đó là cuộc đời hát Xẩm của thái tử Trần Quốc Đĩnh. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên kể lại trong bài viết của nhà nghiên cứu Hoàng Kiều thì Đàn Bầu chính là báu vật mà Bụt ban cho thái tử Trần Quốc Đĩnh làm kế sinh nhai, làm nhạc cụ định an tinh thần trong hoàn cảnh bơ vơ, gia biến

Tài liệu từ sách vở

Tìm hiểu trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết có một số những sách sử quan trọng có đề cập đến Đàn Bầu. Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa, Đại Nam thực lục tiền biên, Tân Đường thư, Cựu Đường Thư… cây Đàn Bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ sau đó được người Kinh Việt Nam mang sang Quảng Tây Trung Quốc.

Theo Hoàng Yến (4) , năm 1892 Đàn Bầu mới được những người hát xẩm phía Bắc đưa vào xứ Huế để ca khúc đệm đàn cho một số bộ phận vương quan tiến bộ yêu thích thanh âm trong trẻo, nỉ non đó. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Vua Thành Thái – một trong ba vị vua yêu nước thời Pháp thuộc, ông yêu tiếng đàn Bầu như hơi thở quê hương xứ An Nam, lúc đó Đàn Bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu.

Đàn bầu có mặt trong dàn đờn tài tử nam bộ từ năm 1930 do những người miền Trung vào miền Nam khai khẩn đất hoang vào cuối thế kỷ 19. Đàn bầu được gọi là « đờn một dây » hay « đờn độc huyền »

Cố GS Trần Văn Khê (đã miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn bầu trong quyển luận án bảo vệ tại Paris năm 1958 (2), và trong quyển VIETNAM /traditions musicales ,do nhà sách Buchet/Chastel xuất bản tại Paris năm 1967 (3).

Tôi có viết bài miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn bầu trong quyển MUSIC OF THE WORLD (5) , do nhà xuất bản J.M.FUZEAU phát hành , Courlay, Pháp, vào năm 1994.

Gần đây nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh (trong nhóm Hoa Sim được thành lập ở Saigon từ thập niên 60) bảo vệ luận án tiến sĩ về Đàn Bầu thành công tại trường đại học Sorbonne Paris 4 cách đây 7 năm. Ngoài phần miêu tả nhạc cụ và dân tộc nhạc học, còn có phần viết về việc sử dụng đàn bầu trong cách chữa bịnh tâm thần (musicothérapie) (6) ;

Về phía Việt Nam , Học viện âm nhạc quốc gia có 3 luận đề cao học và một luận đề tiến sĩ về đàn bầu  (7):

NSND Nguyễn Thị Thanh Tâm bảo vệ luận án cao học năm 1999 với đề tài « một số vấn đề về giảng dạy và biểu diễn đàn bầu ở nhạc viện Hà Nội » .

Nguyễn Thị Mai Thủy bảo vệ luận án cao học năm 2007 về « giảng dạy đàn bầu bậc trung học dài hạn tại trường cao đẳng nghệ thuật Hà Nội »

Sun Jin (Tôn Tiến), người Trung quốc, bảo về luận án cao học năm 2009 về « Đàn bầu với việc giảng dạy tại trường đại học Quảng Tây, Trung quốc »

Sun Jin (Tôn Tiến », người Trung Quốc, bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2015 về « Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam. » (8)

Với sự kế thừa và phát triển đàn Bầu, Tôn Tiến muốn trên cơ sở của người trước đã làm và đề ra vài ý kiến mới, đó là những quan điểm “hoạt hóa”, “tiến hóa” và “tiêu chí hóa”. Trong đó, “hoạt hóa” có yêu cầu giữ gìn và đa dạng hóa các hoạt động nghệ thuật biểu diễn đàn Bầu. “Tiến hóa” có ý nghĩa đổi mới nội dung và hình thức để phát triển nghệ thuật đàn Bầu. “Tiêu chí hóa” mang nghĩa đại diện của khu vực, làm nổi bật vị trí của nghệ thuật đàn Bầu. Thêm một khía cạnh trong luận án là điều tra xã hội học về đàn bầu .

Những người đóng góp lớn cho sự phát triển đàn bầu

Theo Tôn Tiến, những nhân vật đại diện có đóng góp lớn cho sự phát triển đàn Bầu gồm có  (9):

NSND Vũ Tuấn Đức, Ông đã bổ sung phương pháp ký âm 5 dòng kẻ, thêm nhiều ký hiệu đặc biệt để cố gắng ghi lại những ngón nghề đặc thù của đàn Bầu.

Ông Phạm Phúc Minh, tác giả quyển « Cây đàn bầu : những âm thanh kỳ diệu », Hà nội, 1999, đã viết một cuốn sách căn bản đầy đủ về cây đàn bầu

NGND Xuân Khải, ông có một số tác phẩm nổi tiếng sáng tác cho đàn Bầu như “Buổi sáng sông Hương”, “Cung đàn đất nước”, “Hồi tưởng”…

NSƯT Mạnh Thắng, Năm 1957, ông Mạnh Thắng cùng cây đàn Bầu lần đầu tiên có mặt ở cuộc thi Quốc tế và đạt được huy chương vàng. Đến năm 1964, ông Mạnh Thắng đã bắt đầu mang đàn Bầu điện bước lên sân khấu chuyên nghiệp.

NSƯT Đức Nhuận, Ông là người đầu tiên sáng tạo ra và đưa các kỹ thuật cho đàn Bầu như: Kỹ thuật gẩy hai chiều, gẩy thực âm, tạo tiếng chuông,.

NS Hồ Khắc Chí, Trong 20 năm giảng dạy ông đã góp phần đào tạo nhiều học sinh, sinh viên ngành nhạc dân tộc. Ông sáng tác hoặc chuyển soạn hơn 35 bản nhạc không lời, được thu thanh tại đài phát thanh và truyền hình Việt Nam. Nhiều bản đàn trong số này hiện vẫn còn đang được sử dụng.

NSND Thanh Tâm, với hơn 40 năm giảng dạy, bà đã góp phần đào tạo nhiều học sinh, sinh viên ngành nhạc dân tộc hiện đang công tác tại các trường nghệ thuật, các đoàn ca múa nhạc trung ương và địa phương trong cả nước. Bà còn là người phụ nữ đầu tiên đem vinh quang về cho Việt Nam, cho ngành nhạc dân tộc nói chung và bộ môn đàn Bầu nói riêng bằng nhiều tấm Huy chương vàng của các cuộc thi, liên hoan quốc tế được tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới. Bà đã xuấn bản 8 giáo trình đàn Bầu.

Ở Việt Nam ngoài NSND Thanh Tâm là phụ nữ, hiện nay có vài nữ nhạc sĩ trẻ tiếp tối như NSUT Hải Phượng, Hoàng Cầm, Phạm thị Huyền Trang, Quách Phương Dung, Lệ Chi. Về phía nam nhạc sĩ , có Hoàng Anh Tú, nhạc sĩ khiếm thị  Thanh Tùng, Phúng Chí Thanh, Hồ Hoài Anh.

Ở hải ngoại có một số nữ nhạc sĩ  đàn bầu như Võ Vân Ánh (Hoa Kỳ), Hồ Thụy Trang (Pháp), Quỳnh Hạnh (Pháp). Nam nhạc sĩ có Khắc Chí (Canada), Phạm Đức Thành (Canada), Đặng Kim Hiền (Úc châu)  là những người có công phổ biến đàn bầu trong cộng đồng việt nam hải ngoại và những người yêu nhạc khắp năm châu

Cố họa sĩ Mai Thứ là người Việt Nam đầu tiên trình diễn đàn bầu ở Pháp và hải ngoại vào năm 1958. Tôi giới thiệu đàn bầu khắp thế giới qua những buổi trình diễn và lễ hội nhạc truyền thống quốc tế từ năm 1966.

Nhạc sĩ Chí Tâm (Hoa Kỳ) có thực hiện chương trình truyền hình TIẾNG TƠ ĐỒNG về nhạc cổ truyền Việt Nam với sự góp mặt của nữ nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh . Có hai chương trình về đàn bầu (2011, 24 phút) đặc biệt về đàn bầu trong cổ nhạc miền Nam. (10)

Ngoài ra tại TP HCM nhạc sĩ Huỳnh Khải cũng thực hiện 4 chương trình truyền hình về đàn bầu trong đờn ca tài tử nam bộ (CVTV 2007) (11)

Về phần cải tiến đàn bầu ngoài Mạnh Thắng và Đức Nhuận, còn có NSND Xuân Hoạch về đàn bầu cổ cho hát xẩm, Mai Đình Tới về cải tiến kỹ thuật đàn bầu trên toàn âm bảng đàn

ĐÀN BẦU là của Việt Nam hay của Trung Quốc ?

Nếu cho đàn bầu của Trung Quốc căn cứ vào tài liệu sách

Theo Tân Đường thư quyển 222, Liệt truyện 147: Nam Man hạ thì trong số các nhạc cụ do nước Phiếu (Phiếu, cổ Chu Ba dã, tự hào Đột La Chu, Đồ Bà quốc nhân viết Đồ Lí Chuyết. Tại Vĩnh Xương nam 2.000 lí, khứ kinh sư 14.000 lí. Đông lục Chân Lạp, tây tiếp Đông Thiên Trúc, tây nam Đọa Hòa La, nam chúc hải, bắc Nam Chiếu. Địa trường 3000 lí, quảng 5000 lí…]) dâng lên vua Đường (niên hiệu Trinh Nguyên (785-805) thời Đường Đức Tông) đã thấy xuất hiện độc huyền bào cầm (đàn bầu một dây).

Sách Nam Man hạ chép: « Dĩ bạch mộc vi chi, bất gia sức, tào hình trường như nhựt tự dạng, dụng trúc tác tào bính, xuyên dĩ không hồ, trương huyền vô chẩn, hửu thủ dĩ trúc, phiến bát huyền dĩ phát thanh, tả thủ nhấn trúc can nhi thành điệu. » Nghĩa là: « Lấy gỗ nhẹ mà làm, không trau chuốt chi, thùng đàn dài hình chữ nhật, đầu chót cắm cán tre, xâu nửa quả bầu khô, giăng dây không phiếm, tay phải lấy que trúc nảy lên tiếng, tay trái nấng cần tre mà thành điệu. »

Từ vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang Trung Quốc từ khoảng 500 năm trước, và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Trung Quốc đã gửi nhạc công sang VN học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên mạng thông tin đàn bầu rất được người dân tộc Kinh (ở Trung Quốc) yêu thích (cô Tôn Tiến hoàn thành luận án cao học (2009) và tiến sĩ (2015) với đề tài đàn bầu ở Học viện âm nhạc quốc gia Hà Nội)

Nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu, ông giật mình: “Thông tin từ GS Hải làm tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của Trung Quốc một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn bầu trong dàn nhạc dân tộc Trung Quốc. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.

Nhạc sĩ Đỗ Lộc cho biết: “Năm 1967, Đoàn múa hát Quân giải phóng miền Nam VN sang Bắc Kinh biểu diễn. Tiết mục biểu diễn đàn bầu của nhạc sĩ Đức Nhuận thật sự xuất sắc vì đàn bầu là của VN mà Trung Quốc không có nên họ ngỏ lời xin học, VN đồng ý. Nghệ sĩ Điền Xương của Trung Quốc đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.

Nghệ sĩ đàn bầu Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sử phát triển cây đàn bầu VN tại Học viện Quảng Tây (Trung Quốc), nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên và khâm phục. Trưởng khoa đàn bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa đàn bầu là vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh Trung Quốc đang học tại Học viện âm nhạc quốc gia VN về đàn bầu. Có cô gái Trung Quốc tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn bầu”. (12)

Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.

ĐÀN BẦU PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

Ngược lại Đàn bầu có mặt từ Bắc xuống Nam, được dạy tại 3 nhạc viện quốc gia Hà Nội, Huế, TP HCM với hàng trăm nhạc sinh .

Đàn bầu được cải tiến từ hình thù cây đàn, kỹ thuật thủ pháp tay trái , tay mặt, điện hóa để phát to âm thanh, sáng tạo nhiều cách gảy để có thể đàn các bài dân ca, tân nhạc, nhạc ngoại quốc, và nhạc đương đại(13)

*Về hình dáng cây đàn

Đàn thân tre thường dùng cho người hát xẩm

Đàn hộp gỗ là loại đàn cải tiến, có tính năng ưu việt hơn, thường do các nghệ sĩ chuyên nghiệp sử dụng. Đàn hộp gỗ có nhiều hình dáng, kích thước khác nhau, thường làm bằng loại gỗ nhẹ, xốp như gỗ ngô đồng… Loại đàn bằng gỗ vông được dùng phổ biến nhất.

*Que gảy đàn: thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm… Người ta hay làm bông hoặc tưa đầu nhọn một chút để làm mềm âm thanh khi gảy. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10 cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4,5 cm.

*Đàn bầu có âm vực rộng tới 3 quãng tám.

*Các tư thế diễn tấu thông thường nhất là đàn bầu đặt trên một cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có 2 chỗ chặn để khi kéo đẩy cần đàn, đàn không bị di chuyển theo. Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân mặt phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch. Ngày nay, các nghệ sĩ thường dùng tư thế đứng hoặc ngồi trên ghế để diễn tấu. Khi dó, đàn được đặt trên giá gỗ có các chốt định vị có độ cao tương ứng với vị trí ngồi của nghệ sĩ.

*Kỹ thuật bàn tay trái gồm ngón rung, ngón vỗ, ngón vuốt, ngón luyến, ngón tạo tiếng chuông

*Kỹ thuật bàn tay phải : với que gẩy ngắn 4cm, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê (teremono) trên 1 dây và đánh sử dụng bồi âm trên bồi âm.

Trong lịch sử nhạc cụ Việt Nam chưa có nhạc khí dân tộc nào của nước ta được thay đổi, cải biến nhiều như đàn bầu[cần dẫn nguồn].

*Cần đàn thay vì bằng tre thì nay bằng sừng để cho mềm dễ uốn hơn.

*Bầu đàn trước đây làm bằng vỏ bầu khô hoặc ống tre, gáo dừa, nay dùng sừng hoặc thông dụng nhất là tiện bằng gỗ để có thể bắt vít được.

*Que đàn từ chỗ dài khoảng 10 cm, nay thu ngắn ngắn khoảng 4 cm. Từ chỗ được vót bằng tre, giang; nay có thêm các chất liệu gỗ, dừa, sừng hoặc nhựa.

Theo nhạc sĩ Bùi Lẫm: vào thập kỷ 60, nghệ sĩ Mạnh Thắng là người sáng chế ra lối que gẩy ngắn, ông cũng là người đã cải tiến đưa phần khuếch đại âm thanh vào đàn bầu, và ông cũng là người đầu tiên đưa đàn bầu đi trình diễn quốc tế, mang giải thưởng cao quý cho Việt Nam. Sau đó, cũng với que gẩy ngắn này, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê (teremono) trên 1 dây và đánh sử dụng bồi âm trên bồi âm.

*Thân đàncác phụ kiện Loại đàn cũ cần có thân to, mặt mỏng để tăng độ âm vang. Khóa đàn bằng gỗ. Loại đàn hiệ đại sử dụng công nghệ khuếch đại âm thanh điên tử có kích thước nhỏ hơn, khóa đàn bằng kim loại. Điểm cái tiến táo bạo nhất mà không một nhạc khí nào dám làm là loại đàn bầu dùng công nghệ điện tử có thể tách đôi, gập lại, xếp gọn khi di chuyển. Khi trình tấu, người chơi đàn có thể lắp ráp lại nhanh chóng.

*Hộp chứa đàn Ngoài chức năng để cất giữ, bảo vẹn đàn khi di chuyển đàn, hộp này vừa có hể dùng làm giá đỡ đàn với hai chốt chặn ở hai đầu, tiện lợi cho việc căng dây hoặc chùng dây khi chơi các bản nhạc có âm chủ khác nhau.

*Điện tử hóa : Các loại đàn bầu hiện đại được điện tử hóa bằng cách lắp các mobil cảm ứng điện từ nối với máy tăng âm và loa để khuếch đại âm thanh, được sử dụng phổ biến trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam chuyên nghiệp. Tuy nhiên, nhiều khán thính giả nước ngoài sành nhạc vẫn thích nghe trình tấu trên đàn « mộc » (không có bộ khuếch âm điện tử). Họ cho rằng âm thanh mộc nghe trong trẻo và « thật » hơn âm thanh được khuếch đại bằng kỹ thuật điện tử.

*Các bài bản cho Đàn bầu dựa trên các bài dân ca quan họ, lý, hát ru, dân ca cải biên, chèo, tuồng, múa rối nước, ca huế, đờn ca tài tử nam bộ . Ngoài ra còn đệm cho ngâm thơ, hoặc độc tấu , song tấu , tứ tấu , ngũ tuyệt, dàn nhạc giao hưởng dân tộc. Các nhạc sĩ Việt Nam đã sáng tác những bản cho đàn bầu như « Vì miền Nam » (Huy Thục), « Niềm Tin Tất Thắng » (Khắc Chí), « Hồi tưởng » (Xuân Thi), « Đối thoại » (Đỗ Hồng Quân), « Dòng kênh trong » (Hoàng Đạm), « Buổi sáng sông Hương », « Cung đàn đất nước » (Xuân Khải), « Gửi Thu Bồn », « Quê mẹ » (Khắc Chí), « Gửi Huế mến yêu » (Đình Long), « Gửi đến Ngự Bình » (Quốc Lộc), « Thoáng quê » ( Thanh Tâm), « Câu hát mẹ ru » (Phú Quang) v.v…

Những nhạc cụ một dây ở các quốc gia khác :

Trung Quốc có ĐỘC HUYỀN CẦM (獨弦) , Nhật Bản có ICHIGENKIN ()(nhứt huyền cầm). Ấn độ có GOPI YANTRA, Cao Miên có SADIOU. Tất cả những cây đàn một dây đó không có cây nào sử dụng bồi âm như ĐÀN BẦU của Việt Nam.

Nhìn chung , cây đàn bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của Việt Nam từ rất xa xưa. Trong Đại Nam thực lục tiền biên (bộ sử của nhà Nguyễn) ghi cây đàn bầu đã được sáng tạo từ năm 1770, trải qua gần 250 năm , đặc biệt là từ năm 1956 (ngày thành lập Học Viện âm nhạc quốc gia Hà nội), đàn bầu được phát triển nhanh chóng với những khóa dạy đàn bầu ở học viện, những nghệ nhân trình diễn trong và ngoài nước, cải tiến đàn bầu từ hình dáng tới kỹ thuật, sáng tác bài bản mới, tạo một chỗ đứng cao cấp cho nhạc cụ này (được coi là « hoàng tử » nhạc cụ Việt Nam).

. Cây đàn bầu cũng từng được các nghệ sĩ mù ở Hà Nội dùng phụ đệm hát xẩm ở các chợ trời từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó đàn này còn được gọi là “đàn xẩm”. Đàn bầu được đưa vào dàn nhạc cung đình Huế từ cuối thế kỷ 19 và xuất hiện trong dàn nhạc tài tử Nam bộ từ năm 1930…

Việc Trung Quốc muốn « chiếm đoạt » nhạc cụ đàn bầu là của họ là việc họ thường làm với những truyền thống khác như « hát đồng song thanh Mông cổ khoomi » mà họ đã trình UNESCO cho là di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2009, làm cho xứ Mông cổ phản đối kịch liệt vì theo truyền thống Mông cổ , kỹ thuật này chỉ phát nguồn từ vùng Tây Bắc của xứ Mông cổ (Folk Republic of Mongolia) chứ không thể có ở Nội Mông như Trung Quốc tuyên bố. Năm 2010 xứ Mông cổ trình hồ sơ hát đồng song thanh khoomii cho UNESCO và được nhìn nhận là của xứ Mông cổ. Một chuyện khác là bản ARIRANG của Hàn Quốc đã bị Trung quốc dự định trình UNESCO để được tuyên dương là di sản văn hóa phi vật thể của Trung quốc vì họ có người Triều Tiên là sắc tộc sống ở Trung quốc . Nhưng ban nghiên cứu xứ Hàn Quốc đã phản ứng kịp thời và tổ chức hội thảo tại Seoul và tôi được mời tham dự hồ sơ này vào năm 2012. Và bản ARIRANG được UNESCO nhìn nhận là của Hàn Quốc vào năm 2014. Đối với việc muốn lấy đàn bầu là nhạc cụ của Trung quốc với lý do là Trung Quốc có một bộ lạc người Kinh sống ở xứ họ . Nhưng việc chuẩn bị để tước lấy đàn bầu đã được nghĩ đến từ lâu. Họ mới gởi nhạc công sang Viêt Nam học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên wikipedia để tuyên bố là đàn bầu là nhạc cụ Trung quốc chứ không phải vietnam . (12)
Nếu các ban nghiên cứu của Việt Nam không phản ứng (viện âm nhạc, và những nhà nghiên cứu việt nam không có phản ứng thì không sớm thì muộn nhạc cụ đàn bầu sẽ thuộc quyền « sở hữu » của Trung Quốc đứng về mặt pháp lý .
GS Trần Quang Hải

CREM (Centre de Recherche en Ethnomusicologie)

Université de Paris X – Nanterre, France

HÌNH ẢNH MỘT VÀI NGHỆ NHÂN ĐÓNG GÓP CHO SỰ PHÁT TRIỂN ĐÀN BẦU

mai-thu_1968

Họa sĩ MAI THỨ , PHÁP, 1958

thanh-tam-1_xpjq

NSND THANH TÂM, VIETNAM

Vanessa VÂN ÁNH , HOA KỲvan-anh-dan-bauxuan-hoach-va-dan-bau-co

NSND XUÂN HOẠCH , VIETNAM

pham-duc-thanh-dan-bau

PHẠM ĐỨC THÀNH , CANADA

khac-chi-hoang-bich-dan-bau

Khắc Chí và Hoàng Bích, CANADA

hai-phuong

NSUT HẢI PHƯỢNG, VIỆT NAM

Sách tham khảo

  • NGUYỄN XUÂN KHOÁT : « Le Đàn bầu » in Bulletin of the International Folk Music (IFMC) , vol.12, trang 31-33, London, 1960
  • TRẦN VĂN KHÊ : “ Le đàn độc huyền” in La Musique traditionnelle vietnamienne , Presses Universitaires de France (nhà xuất bản), Annales Du Musée Guimet, trang 133-139, Paris, 1962
  • TRẦN VĂN KHÊ : « Le đàn độc huyền » in Vietnam , les -traditions musicales, Buchet/Chastel (nhà xuất bản), trang 80-83, Paris, 1967
  • HOÀNG YẾN : « La Musique à Huế : Đàn Nguyệt et Đàn Tranh », in BAVH (Bulletin des Amis du Vieux Huế), trang 233-381,Huế, juillet-septembre 1919
  • TRAN QUANG HAI : The ĐÀN ĐỘC HUYỀN – monochord (from the book MUSIC OF THE WORLD, published by J.M.FUZEAU, Courlay, France, p.298-299, 1994
  • TR Ư ƠNG THI QU ỲNH H ẠNH : “Le đ àn bâu, monocorde vietnamie), Étude organologique et ethnomusicologique” (Đàn bầu : nghiên cứu nhạc cụ và dân tộc nhạc học). Thèse de doctorat en Ethnomusicologie, soutenue le 25 novembre 2009 à l’Université de Paris IV-Sorbonne (Maison de la Recherche), Directeur de thèse: François Picard, 1 volume (299 pages), 1 DVD, 1 CD
  • (9) SUN JIN : “Nghệ thuật đàn Bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam”, luận án tiến sĩ âm nhạc, bảo vệ tháng 8, 2015, Học Viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, 183 trang, Hà Nội, 2015 ( sách tham khảo tiếng Việt và Trung khá nhiều , tr.156-163)

http://www.vnam.edu.vn/NewsDetail.aspx?lang=&ItemID=891

  1. CHÍ TÂM : Chương trình TV Tiếng Tơ Đồng với Chí Tâm, “Nét độc đáo của đàn độc huyền” , Hoa Kỳ , 2011 https://www.youtube.com/watch?v=O9jt_pUOWbg
  2. HUỲNH KHẢI : Chương trình TV : Đàn Bầu tài tử 1: Tiếng độc huyền, TP HCM, 2007

https://www.youtube.com/watch?v=eeyXMaM71Os

  1. HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Cần sớm khẳng định ‘chủ quyền’ với đàn bầu, báo Thanh Niên, 13.08.2016

https://bachyencasiblog.wordpress.com/2016/08/07/tran-quang-hai-dan-bau-cua-viet-nam-hay-trung-quoc/

  • WIKIPEDIA : ĐÀN BẦU

https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%A0n_b%E1%BA%A7u

NHỮNG VIDEO CLIPS trên YOUTUBE về đàn bầu

Có rất nhiều videos về đàn bầu do những nghệ nhân tên tuổi của Việt Nam như NSND Thanh Tâm, NSND Xuân Hoạch, NSUT Hoàng Anh Tú, NSUT Hải Phượng, Trà My, Hoàng Cầm, Khắc Chí, Đức Thành, Vanessa Vân Ánh, vv…. Cũng như các nhạc phẩm dân ca, tân nhạc , nhạc cổ điển tây phương , nhạc đương đại với đàn bầu cổ và cải biên .

Muốn xem gõ vào địa chỉ sau đây :

https://www.youtube.com/results?search_query=%C4%91%C3%A0n+b%E1%BA%A7u+vi%E1%BB%87t+nam

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU : ĐÀN BẦU TRONG SÁNG TÁC MỚI

 

ĐÀN BẦU TRONG SÁNG TÁC MỚI

nguyen thi minh chau.jpg

Nguyễn Thị Minh Châu

 

Chỉ một câu làm như cảnh báo răn đe thôi mà ông bà ta đã khéo quảng bá cho sức quyến rũ của cây đàn đơn sơ dân dã: “Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu” (ca dao).

Chỉ một câu hát thôi mà thấy được cái cội nguồn thân thương của cây đàn có âm thanh rất gần với giọng người: “Cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha” (Nguyễn Đình Phúc).

Không chỉ một lần, sức biểu cảm của cây đàn mang hồn Việt ấy đã đi vào thi ca: “Tiếng ngân ngân tận cõi nào/ Dư âm rơi ngẩn ngơ vào tim ai” (Nguyễn Hải Phương),Một dây nũng nịu đủ lời/ Nửa bầu chứa cả đất trời âm thanh” (Văn Tiến Lê)… Và “Nửa bầu mà rót hoài không cạn” (Hoàng Trang).

Thế cũng đủ hiểu phần nào sức sống của cây đàn sinh ra trong dân gian (với tuổi đời chừng 300 năm), bình dị mộc mạc từ tên gọi đến hình thức và chất liệu cấu tạo. Cây đàn đã nhiều đời gắn với chiếu xẩm ven đường góc chợ (vì thế mà còn được gọi là đàn xẩm!), từng trải qua mọi thăng trầm lịch sử cùng nhiều thể loại âm nhạc cổ dân tộc (với nhạc thính phòng Huế từ thế kỷ XIX, với đờn ca tài tử Nam bộ từ đầu thế kỷ XX…). Và giờ đây vẫn góp một tiếng nói riêng, một âm sắc đặc trưng dân tộc Việt trong đại dương âm thanh vô tận của nhân loại.

Cũng như các nhạc cụ cổ truyền khác, từ nguyên tắc diễn tấu ngẫu hứng không văn bản, đàn bầu ngày nay đã đi vào những sáng tác có tác giả, có văn bản. Cây đàn ít dây nhất này xuất hiện trong nhạc mới còn nhiều hơn các nhạc cụ cổ truyền khác, nếu thống kê sắp hạng, chắc hẳn đàn bầu đứng đầu bảng. Sự hiện hữu của đàn bầu trong nhạc mới có bằng chứng “giấy trắng mực đen” hẳn hoi, đó chính là tổng phổ các tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc trong ngót 60 năm qua, tính từ cột mốc đầu tiên năm 1957 với Nông thôn đổi mới – Tô Vũ và Tạ Phước, Trên đường xa – Văn Thư.

Từ thập niên 60, dàn nhạc dân tộc bắt đầu được xây dựng theo biên chế tổ/bộ của dàn nhạc phương Tây. Trong tổng phổ, đàn bầu thường đứng riêng, không thuộc bộ hơi, hoặc kéo, hoặc gảy. Thuộc họ dây, chi gảy, nhưng cũng có lúc bầu được xếp cùng nhóm các nhạc cụ có thể tấu giai điệu độc lập như sáo, nhị, như trong tổng phổ Chung 1 niềm tin – Xuân Khải. Đôi khi dàn nhạc tăng biên chế cho đàn bầu: hai bầu cùng chung một bè đồng âm (unison) hoặc tách bè (divisi), như trong giao hưởng số 2 cho dàn nhạc dân tộc Không có gì quý hơn độc lập tự do  – Nguyễn Đình Phúc, Vùng cao – Nguyễn Sĩ Hiển và Trần Quý.

Vai trò của đàn bầu trong hòa tấu khá đa năng, từ chơi đồng âm đến diễn tấu độc lập, từ tạo nền hòa thanh đến chơi giai điệu chính.

Về đồng âm, bầu đúp bè không chỉ với các nhạc cụ cổ truyền mà còn tham gia pha trộn âm sắc Đông – Tây trong sự “đồng thanh tương ứng” với nhạc cụ phương Tây, những “vị khách mời” của dàn nhạc dân tộc “hỗn hợp”, như oboe và orgue trong chương III (Tiếng ru trong đêm) tổ khúc bốn chương  Tây Nguyên – Trần Quý, với orgue và clarinette trong Hội xuân – Doãn Tiến, với oboe trong Trên đồng ruộng quê hương – Trần Luận.

Về tấu bè độc lập, bầu có vai trò không nhỏ trong một số tác phẩm viết cho nhạc cụ khác solo, ở đó bầu đi giai điệu phụ họa hoặc đối đáp xen kẽ với nhạc cụ solo, có chỗ đối thoại gần như hai nhạc cụ bình đẳng song tấu trên nền đệm của dàn nhạc. Có thể thấy điều này trong một số tác phẩm: Dân Mường đi theo Đảng – Nguyễn Đình Phúc viết cho sáo trúc độc tấu cùng dàn nhạc dân tộc, Khúc tâm tình quê hương – Xuân Tứ với đoạn gian tấu đối thoại giữa bầu với sáo (chương II), concertino Biển – Phương Bảo và Trần Quý viết cho đàn tranh và dàn nhạc dân tộc.

Quan trọng nhất là vai trò độc tấu cùng dàn nhạc. Vị trí solist của bầu trên nền đệm của dàn nhạc dân tộc được các nhạc sĩ sáng tác khẳng định từ những năm 60 với Dòng kênh trong – Hoàng Đạm (1963), Vì miền Nam – Huy Thục (1964), chương III Mẹ và con của Ông Gióng – Nguyễn Xuân Khoát (1965)… Đàn bầu được tôn vinh trong hàng loạt tác phẩm của các tác giả vốn là nghệ sĩ chơi đàn dân tộc: Buổi sáng sông HươngCung đàn đất nước – Xuân Khải, Vũ khúc Tây Nguyên – Đức Nhuận, Khúc nhạc đồng quê Sắc hoa bốn mùa – Hồng Thái, Gửi Thu BồnNhớ về quê mẹ – Khắc Chí, Thoáng quê – Thanh Tâm… Đàn bầu Việt Nam còn độc tấu với dàn nhạc dân tộc Trung Quốc trong Sắc xuân – Đỗ Hồng Quân.

Bên cạnh việc “giao hưởng hóa” dàn nhạc dân tộc còn có quá trình “dân tộc hóa” dàn nhạc giao hưởng, tuy diễn ra muộn hơn nhưng ngày càng thu hút nhiều tác giả hơn. Trong phong trào “về nguồn” này, đàn bầu có mặt trong sáng tác giao hưởng nhiều đến mức khó mà thống kê đầy đủ ra đây và danh sách này sẽ còn tiếp tục nối dài trong tương lai: Bão lửa Thăng Long (Lê Khiêm), giao hưởng thơ Quê hương – Nguyễn Xinh, ouverture Chào mừng – Trọng Bằng, Ba Đình mùa thu ấy – Ngô Quốc Tính, Thành phố Hồ Chí Minh – Chu Minh và Trần Quý, concertino Biển quê hương – Trần Quý, Thăng Long 990 – Thế Bảo, ballade Huyền tích Trường Sơn – Ngô Quốc Tính, kịch múa Trương Chi – Nguyễn Thiên Đạo, oratorio Hoa Lư – Thăng Long, Bài ca dời đô  – Doãn Nho, Thăng Long ngàn năm hội ngộ – Nguyễn Thiếu Hoa, Đối thoại – Đỗ Hồng Quân, Đất mẹ  – Trần Mạnh Hùng…

Vốn âm vực rộng, tính năng linh hoạt, không bị đóng khung cố định vào phím đàn, đàn bầu ngày nay càng được mở rộng hơn âm lượng, âm sắc và khả năng diễn tấu. Giới nghệ sĩ đàn dân tộc cho rằng đàn bầu được cải tiến nhiều hơn các đàn cổ truyền khác. Hoàn toàn không hàm ý chê cây đàn cổ của tổ tiên lạc hậu, mà từ “cải tiến” ở đây chỉ mang ý nghĩa tạo thêm tính năng mới cho cây đàn phù hợp hơn với môi trường đương đại. Bên cạnh cây đàn bầu mộc còn có đàn bầu điện. Bên cạnh những ngón đàn cổ truyền đặc trưng như gảy bồi âm, luyến, láy, vuốt, vỗ, chạm, rung, giật…, đàn bầu còn có thêm những kỹ thuật diễn tấu mới như gảy hoặc vê hai chiều, gảy âm thực, chặn dây, tạo tiếng chuông, tạo bồi âm trên bồi âm (bồi âm kép), tạo hiệu quả hợp âm trên một nốt nhạc…

Trong sự phối hợp với dàn nhạc giao hưởng, âm sắc đàn bầu càng được phát huy với các hiệu quả âm thanh khác nhau. Những năm cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, đàn bầu xuất hiện nhiều hơn trong các cuộc thể nghiệm ngôn ngữ âm nhạc mới. Chẳng hạn, Hội mùa – Phúc Linh có cấu trúc phát triển trên nguyên tắc lòng bản: tác giả đưa ra motif hạt nhân cho các nhạc công có quyền lựa chọn và tạo ra cấu trúc mới với độ dài bao lâu tùy ý.

Đàn bầu đóng vai trò không nhỏ trong những tác phẩm chất chứa khát vọng trở về cội nguồn dân tộc của nhà soạn nhạc thuộc trường phái Tiên phong (Avant – garde) Nguyễn Thiên Đạo. Cũng với nguyên tắc nhiều bè phát triển độc lập theo chiều ngang đặc trưng của Á Đông, giao hưởng Hồn đất Việt – Nguyễn Thiên Đạo có một “màn” diễn tấu vừa quen vừa lạ: quen – vì âm sắc nhạc cụ cổ truyền với chất liệu hoàn toàn là nhạc cổ, lạ – vì sự kết hợp các tuyến giai điệu độc lập tạo ra những chồng âm ngẫu nhiên, bất định và không ngừng biến đổi. Trong khúc diễn tấu đa tầng ấy, đàn bầu chơi Hành vân song song với đường nét giai điệu ngâm thơ của sáo và tiêu, chầu văn của nguyệt, Trường tương tư của tỳ bà, Tứ đại cảnh của đàn tranh [thí dụ 1].

partition dan bau nguyen thien dao.jpg

 

 

Đàn bầu ngày nay vượt khỏi biên giới quốc gia không chỉ thông qua các tác phẩm của người Việt. Điều thú vị là trong chương trình biểu diễn của Festival Âm nhạc mới Á – Âu lần thứ 2 tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10-2016 có hai tác phẩm của các nhạc sĩ ngoại quốc viết cho cây đàn dân tộc cổ truyền Việt Nam: Cụ Rùa – Robert Casteels (Singapore) cho đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng, tứ tấu Du hành tới trăng lưỡi liềm (The ride to the crescent moon) – Natalya Vagner (Australia) cho flute, oboe, violon và bầu.

Ngôn ngữ âm nhạc thời đại luôn mở rộng cánh cửa cho khát vọng kiếm tìm hiệu quả âm thanh mới cho bầu nói riêng và nhạc cụ truyền thống nói chung. Sức sáng tạo là vô biên, để rồi thời gian sẽ sàng lọc ra những giá trị trường tồn. Bởi vậy, song song với nỗ lực bảo tồn – phát huy tính năng nhạc cụ cổ, chúng ta không hạn chế những thử nghiệm mới trên vốn cổ, bởi thử nghiệm càng phong phú và bất ngờ, càng chứng tỏ tiềm năng và sức bền của cây đàn cổ trong thế giới đương đại.

Tổng phổ sáng tác cho bầu trong sáu thập niên qua là dữ liệu văn bản làm giàu thêm cho lịch sử hình thành và phát triển vài trăm năm của đàn bầu – cây đàn nói tiếng Việt với ngữ điệu đặc thù sáu dấu giọng, cây đàn hát điệu Việt với các bậc non và già, nhấn và rung đặc trưng tâm hồn Việt.

05-10-2016

ĐẶNG HOÀNH LOAN : TẢN MẠN CHUYỆN ĐÀN BẦU

TẢN MẠN CHUYỆN ĐÀN BẦU

danh-hoanh-loan

Đặng Hoành Loan

 

Những năm đầu thế kỉ XXI, khi đang còn công tác tại Viện Âm nhạc,  tôi có xây dựng hai đề tài nghiên cứu khoa học. Đề tài thứ nhất nghiên cứu « Lý thuyết âm nhạc cổ truyền Việt Nam ». Đề tài thứ hai nghiên cứu, xuất bản sách « Nhạc cụ các dân tộc Việt Nam ». Hai đề tài đều được đánh giá chưa cấp thiết và không được duyệt. Tuy nhiên khi lao vào viết đề cương đề tài, tôi đã có dịp sưu tầm và hệ thống các tài liệu. Nhờ vậy tôi mới có được chút kiến thức ít ỏi để gửi đến hội thảo hôm nay một số tư liệu tản mạn của tôi về đàn bầu.

 

Tháng 10 năm 1978, tôi được nhạc sỹ Zoãn Mẫn Trưởng phòng Sưu tầm tư liệu Viện Nghiên cứu âm nhạc lúc bấy giờ, giao cho nhiệm vụ đi tìm nghệ nhân xẩm đàn bầu, đưa về Viện thu thanh lấy tư liệu, đồng thời  chuẩn bị để nghệ nhân tham gia « Nhạc hội đàn Bầu lần thứ nhất » sẽ tổ chức tại Hà Nội vào các ngày 30 và 31 tháng 12.

 

Để tìm được nghệ nhân đàn bầu xẩm, tôi đến gặp bác Nguyên nghệ nhân chơi đàn hồ xẩm nổi tiếng trong giới hát xẩm Hà thành để tìm hiểu về các nghệ nhân xẩm chơi đàn bầu. Sau đôi ba câu chuyện giao đãi bác cười và nói với tôi: Xẩm đúng xẩm đàn bầu hiện nay chỉ còn có ông Thân Đức Chinh ở Bắc Giang, ông này tài ba lắm, nhưng phải vất vả mới tìm được. Tôi có gặp ông ấy đôi ba lần ở hội Lim vào những năm sáu bảy mươi. Còn xẩm trẻ hiện nay nó chơi linh tinh chẳng có bài có bản gì đâu.

 

Nghe theo lời chỉ dẫn của bác Nguyên, tôi lên đường đi tìm Thân Đức Chinh. Tôi đến Sở Văn Hóa Hà Bắc trình bày công việc, ngõ hầu nhận được sự giúp đỡ của Sở. Sở đã cho tôi tờ giấy giới thiệu để tiện giao dịch với các xã và cho biết, gặp được ông này khó lắm, ông ấy đi hát hết làng này sang làng khác ấy mà.

 

Tôi nghĩ, có đi đâu thì ông ấy cũng phải về nhà. Nghĩ vây, tôi làm vậy. Tôi tìm đến nhà ông, nhưng người nhà nói, ông ở với bà hai ở thôn bên. Tôi sang thôn bên, người hàng xóm của ông nói : vợ chồng ông ấy đi hát ở xã dưới, chiều anh xuống đấy may thì gặp được.

 

Nghe theo lời của ông hàng xóm, chiều hôm đó tôi tìm tới xã dưới, người dân chỉ cho tôi đường rẽ vào sân hợp tác. Gần tới sân, tôi đã nghe tiếng trống đế ròn tan gõ nhịp lưu không cho điệu Chèo. Tôi tắt máy, dựng xe tiến lại gần, ngồi xuống chỗ khán giả nghe hát. Xẩm Thân Đức Chinh ngồi trình diễn trên manh chiếu chẳng lành lặn gì; khán giả khoảng đôi ba chục  người vây quanh. Chương trình Hát Xẩm của ông có điệu Xẩm, có Chèo, có Cải Lương, có dân ca các miền, có cả khẩu thuật. Ông vừa đàn, vừa hát, vừa đánh trống, đánh bập beng. Xen giữa mỗi tiết mục là những câu chuyện bông lơn gây cười cho khán giả. Suốt từ lúc tôi tới không thấy ai bỏ về, họ ngồi tới khi ông gẩy đàn bầu dây buông câu « Chương trình của Đài chúng tôi tới đây là hết » khán giả mới lục tục đứng lên ra về trong tiếng cười vui vẻ. Tôi rất ngạc nhiên vì chẳng thấy ai cho ông tiền. Hỏi ra mới biết, Hợp tác xã đã có hẹn với ông, tiền Hợp tác xã sẽ chi.

 

Chỉ tiếc một điều, tôi đi điền dã lần ấy không máy ghi âm, không máy ảnh, chả nói gì đến máy quay phim, tất cả chỉ cậy vào trí nhớ. Các thủ trưởng thời bấy giờ quan niệm cứ thu thanh được các bài nhạc là đủ rồi, là hoàn thiện rồi, ai lại đi thu những điều tra điền dã rườm ra ấy làm gì. Quan niệm sưu tầm âm nhạc dân gian một thời là thế.

 

Hôm đó tôi ngồi với Xẩm Thân Đức Chinh nơi sân hợp tác tới hơn 6 giờ chiều, lân la hỏi hết chuyện này sang chuyện khác chung quanh nghệ thuật đàn bầu xẩm.

 

Ông nói, thời xưa tôi nghe các cụ kể : Vào thời nhà Đinh, vua Đinh có hai Hoàng tử, thuở bé họ thương nhau lắm, cho đến khi lớn lên, Hoàng tử em lại được vua cha chọn làm người kế vị. Hoàng tử anh tức tối, bày mưu chọc mù mắt Hoàng tử em rồi đẩy ra ngoài cổng kinh thành không cho trở về. Hoàng tử em đi lang thang rồi lạc vào rừng. Chịu đói rét, khổ cực nhiều tháng ròng, nhưng không một lời trách móc người anh. Một ngày, Hoàng tử quỳ gối cầu trời phù hộ giúp chàng thoát khỏi cảnh khổ cực nơi rừng xanh. Lời cầu nguyện của chàng thấu đến Cửu trùng. Ngọc Hoàng thượng đế sai tiên nữ giáng trần mang tặng cho chàng cây đàn một dây. Nhận đàn từ tay tiên nữ, chàng chưa kịp nói lời cám ơn tiên nữ đã bay về trời. Chàng đặt đàn lên phiến đá rồi chạm tay vào dây đàn, kì lạ, đàn phát ra muôn vàn âm thanh kì diệu. Những âm thanh kì diệu ấy đưa chàng thoát khỏi chốn rừng xanh. Chàng trở về, ngồi bên cổng kinh thành gẩy đàn. Tiếng đàn vọng đến tai Hoàng tử anh. Hoàng tử anh sai lính ra dẫn chàng vào cung. Hoàng tử nói, ngươi hãy gẩy đàn cho ta nghe. Nhận ra tiếng người nói là anh mình, Hoàng tử em cất tiếng đàn kể lại chuyện xưa. Đàn vừa dừng tiếng, thì cũng là lúc Hoàng tử anh trút hơi thở cuối cùng. Chuyện đến tai vua cha, ông lệnh đưa Hoàng tử em lên kế vị. Hoàng tử em nghĩ phận mình là người mù lòa nên từ chối và ôm đàn rời khỏi kinh thành. Từ đấy chàng đi khắp xứ sở, đàn hát cho mọi người nghe. Nghề Hát Xẩm coi Hoàng tử là tổ nghề của mình [1].

 

Tôi hỏi vui : Thế đàn của Hoàng tử có giống đàn của ông không ? Thân Đức Chinh vừa cười vừa nói : Chuyện thế chứ ai mà biết giống hay không. Chỉ biết nó là đàn một dây thôi. Trước đây tôi tự chế đàn bằng ống vầu đấy. Vầu ống no to, vỏ mỏng, nên tiếng kêu to. Cách đây mấy tháng cũng có ông hỏi tôi : có phải đàn bầu làm bằng quả bầu dài không. Tôi bảo, vỏ bầu nó mỏng thế làm thế nào được, chỉ làm bằng ống vầu thôi. Có khi vầu nói thành bầu khi nào chẳng hay.

 

Tôi quan sát cây đàn của ông vừa chơi, thì đây là cây đàn bầu hộp, có chiểu dài bằng 5 gang tay tôi (khoảng trên 1m), mặt đàn phẳng, hai đầu đàn bít kín. Vòi đàn bằng tre, dày và cứng, dài hơn hai gang tay (cỡ 50 phân). Dây đàn bằng sắt tách từ dây phanh xe đạp. Khi mắc dây, độ chếch của dây so với mặt đàn gần 35 độ. Khi chơi ông lấy đầu gối chân phải tỳ giữ hộp đàn. Trước mặt sát với hộp đàn, ông đặt một cái đấu bằng sắt tây úp sấp (thay cho trống đế), một cái bập beng nằm ngửa. Đây là hai nhạc cụ gõ ông dùng chơi cùng với tiếng đàn vào những đoạn tiền tấu, gian tấu và hậu tấu. Que gẩy đàn của ông dài chừng hơn 30 phân, to bằng chiếc đũa, một đầu thuôn nhọn. Que gẩy đàn dùng để gẩy đàn, làm búa gõ đàn và đánh nhạc cụ gõ.

 

Quan sát khi biểu diễn, tôi thấy ông có 3 cách chơi đàn bầu :

 

– Cách thứ nhất chơi dây buông, không đánh bồi âm. Âm thanh phát ra là âm thanh thật, có ba cao độ chắp bùng binh giống với tiếng trống cơm để đệm tiết tấu cho hát trống quân, cò lả. Ông cũng dùng cách chơi này để bắt chước giọng nói con người . Âm thanh nghe lạ tai.

 

– Cách thứ hai ông dùng một que chống, đặt vào các khoảng cách khác nhau của dây đàn để nối âm thanh dây đàn xuống mặt đàn, tao ra 2 âm có cao độ khác nhau ở hai phía đầu dây. Cách này xem gần giống với cách làm trống đất trong hát Trống quân. Khi chơi, ông dùng que gẩy đàn gõ vào hai bên dây, tạo ra các âm hình tiết tấu và cả giai điệu. Tiếng nghe lanh canh như tiếng đàn 36 dây.

 

– Cách thứ ba ông chơi đàn bằng cách đánh vào điểm có các bồi âm. Cách này cho tiếng đàn đẹp, chơi được các bài bản có giai điệu nhiều cao độ, phức tạp.

 

Ba cách chơi đàn của ông dường như chỉ tập trung vào đệm cho hát xướng, chứ không chơi theo lối nhạc không lời. Đây là cách làm rất phù hợp để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thật âm nhạc có lời của bà con nông dân – một thói quen của người dân Việt từ xa xưa cho tới ngày nay.

 

Chuyện của tôi với Thân Đức Chính cứ « dây cà ra dây muống », tôi lan sang chuyện hát Trống quân. Ông nói : Tôi bị mù từ nhỏ, chẳng nhìn thấy cái trống để hát Trống quân nó ra thế nào, mà những đám hát Trống quân tôi cũng không mấy khi gặp.

 

Câu chuyện giữa tôi và Thân đức Chinh chấm dứt khi mặt trời đã gác đỉnh non đoài. Tôi chỉ kịp nhắc lại để ông nhớ ngày tôi sẽ lên đón ông về Viện Nghiên cứu Âm nhạc thu thanh và dự Nhạc hội đàn bầu. Ông cầm đàn gẩy dây buông câu nói : « chia tay nhé ». Tôi cúi xuống xiết chặt tay ông, rồi dắt xe, nổ máy phi về Hà Nội.

 

Từ bấy đến nay đã hơn 30 năm và cũng hơn 30 năm từ « Nhạc hội đàn bầu lần thứ nhất »  chưa bao giờ có « Nhạc hội đàn bầu lần thứ hai » để được gặp lại ông.

 

Trong « kho » kiến thức của tôi hôm nay, ông vẫn là người duy nhất có ba cách chơi đàn Bầu, đó là cách chơi dây buông, cách chơi chống dây và cách chơi bồi âm. Ông là đúng là dấu gạch nối giữa cổ và kim, là căn cứ sống động để chúng ta có thể nghiên cứu về sự phát triển của đàn bầu Việt Nam trong tiến trình lịch sử.

 

Năm 2009, khi Nhà xuất bản Âm nhạc mời tôi cộng tác xây dựng đề cương bộ sách 1000 năm Âm nhạc Thăng Long – Hà Nội, khi đi thu thập tư liệu tôi đã bắt gặp bức ảnh có chú thích  « Một gánh hát rong ở Hà Nội là hình ảnh sinh hoạt văn hóa của người Việt xưa » trong cuốn sách ảnh có tựa đề Hà Nội Xưa [2]. Cũng lần ấy tôi lại bắt gặp bức ảnh người chơi đàn bầu, phía dưới có chú thích « TONKIN. – Musicens aveugles » (Hà Nội. – Hai người nhạc sỹ mù). Xem kĩ lại hai bức ảnh chụp nhạc sỹ mù chơi đàn bầu ở Hà Nội những năm đầu thế kỉ XX, chúng tôi nhận thấy hộp đàn của họ bằng gỗ, cần đàn to dài ước chừng trên 60 phân (từ đất lên qua mặt), dây đàn chếch với mặt đàn khoảng 45 độ, que gẩy đàn dài ước chừng gần 30 phần. Với lối cấu trúc này, đàn bầu Xẩm những năm đầu thế kỉ XX có rất nhiều khả năng chơi dây buông là chính. Bởi nếu chơi bồi âm thì tiếng sẽ rất nhỏ. Nguyên do vì dây đàn cách quá xa mặt đàn và vòi đàn rất cứng, không thể uyển chuyển như vòi đàn của xẩm Thân Đức Chinh cuối thế kỉ XX đã có phần ngắn hơn, nhỏ hơn và mỏng hơn.

 

DanBau.jpg

                       

                  Tonkin. – Musiciens aveugles (Hà Nội – Hai người nhạc sỹ mù)

 

Đối chiếu cách ngồi chơi đàn, cấu trúc cây đàn, của các nhạc sỹ Xẩm trong ảnh với cách ngồi và lối chơi dây buông của xẩm Thân Đức Chinh, chúng ta có thể nhận thấy : đàn bầu xẩm những năm đầu thế kỉ XX vẫn giữ lối chơi dây buông để đánh các âm hình tiết tấu đệm cho Hát Xẩm. Cách chơi dây buông gợi ra sự  liên tưởng tới trống đất và cách đánh trống đất trong tục hát Trống quân được tổ chức ở các làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ vào mùa Trung thu.

 

Cách chơi đàn bầu dây buông là lối chơi đàn bầu ra đời trước nhất, có khởi đầu từ câu chuyện tổ nghề Xẩm chơi đàn một dây thời nhà Đinh (968-980)[3]. Rất có thể lối chơi này kéo dài suốt 802 năm cho tới năm 1770 thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777) mới có thêm cách chơi bồi âm. Cách chơi bồi âm ra đời làm thay đổi chất lượng và phong cách nghệ thuật đàn bầu, đưa đàn bầu xâm nhập vào một số hình thức sinh hoạt âm nhạc trong cung đình. Sự xâm nhập này đã được các nhà làm sử thời Nguyễn để mắt đến và chép đàn bầu ra đời năm 1770 vào bộ sử Đại Nam Thực Lục. Bộ sử còn chép người sáng tạo ra đàn Nam cầm (đàn bầu) [4]  là Tôn Thất Dục. Nguyên Văn: « Dục hiếu học, giỏi thơ, càng tinh về thuật số và âm nhạc, tục truyền đàn Nam cầm là do Dục chế ra » [5]. Hơn một trăm năm sau, đàn bầu (Nam cầm) đã tham gia sâu rộng vào nghệ thuật ca hát thính phòng Huế. Có lẽ điều đó đã làm cho các học giả như Hoàng Yến và G. Cordier cùng cho rằng đàn Bầu được đưa vào Huế năm 1892 đến năm 1896. Nhưng thực ra nó đã có mặt ở Huế từ những năm 1770 với sự góp sức của Tôn Thất Dục và các nghệ nhân xẩm đàn bầu Hà thành.

 

Tìm hiểu đàn một dây thế giới, tôi tra từ điển La-Rút-xờ (Le petit Larousse illustré – 2001). Từ điển gọi đàn một dây là Monocorde và giải thích: Mô-nô-coóc là nhạc cụ có một dây duy nhất (Monocorde : Se dit d’un instrument de musique à une seul corde). Nếu theo giải thích này thì đàn một dây có ở rất nhiều nước trên thế giới như : Ấn Độ có đàn một dây Gopi-Yantra, Tuntina (không phím) ; Nhật Bản có đàn Ichigenkin (có phím), Campuchia có đàn Xadiu Campuchia (không phím) , Trung Quốc có đàn một dây Tushuenkin (Độc huyền cầm, có phím) ; người Bongo ở Trung Phi có đàn Arc-en-terre gọi là Thổ cung cầm (không phím) [6]. Ở Việt Nam ngoài đàn bầu một dây còn có đàn Chhay Điêu của người Khmer Nam Bộ (không phím) , đàn Kơni của người Gia rai (có phím), đàn Rabap Katoh của người Chăm (có phím) cũng là những cây đàn một dây.

 

Lối chơi đàn một dây mà chúng tôi được tiếp cận như đàn một dây ở Thái Lan, ở Việt Nam thì những cây đàn một dây đều chơi dây buông, dây bấm, không chơi bồi âm. Từ đấy suy ra thì chơi dây buông trên đàn bầu của Thân Đức Chính, là cách chơi đàn một dây cổ nhất của người Việt Nam còn tồn tại đến cuối thế kỉ XX. Lối chơi này đến nay không còn ai chơi được.

 

Trung Quốc là nước có nền văn hóa âm nhạc từ rất sớm đương nhiên họ phải có đàn một dây. Chứng cứ, Maurice Courant viết trong Lịch sử âm nhạc Trung Quốc và Triều Tiên xuất bản tại Paris năm 1913 thì « Dưới triều Tống (968-1293) và nhà Nguyên (1314-1369), trong dàn nhạc cung đình, người ta còn thấy loại đàn Độc huyền cầm » [7].

 

Độc huyền cầm là cách gọi của Trung Quốc để chỉ cây đàn một dây của họ. Những người có tí chữ nghĩa Hán Nôm ở Việt Nam gọi gán cho đàn bầu Việt Nam cái tên « Độc huyền cầm » của Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu có gọi là « Độc huyền cầm » thì cũng phải hiểu đây là « Độc huyền cầm » chơi theo cách đánh vào các điểm có bồi âm được sáng tạo vào những năm 1770 triều Nguyễn thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777) [8], chứ không phải đánh dây bấm như cây đàn « Độc huyền cầm » của Trung Quốc viết trong sách của Maurice Courant .

 

Cách đánh vào các điểm có bồi âm trên một dây đàn, cách sáng tạo ra vòi đàn mềm để dễ kéo căng dây nhằm mục đích tạo ra các cao độ khác nhau trên một âm, dễ luyến láy các âm ; cách làm ngắn que gảy đàn là sáng tạo lớn của người Việt Nam trên cây đàn bầu. Làm cho đàn Bầu từ chức năng đệm hát sang chức năng nhạc cụ hòa tấu, độc tấu.

 

Cùng với những sáng tạo về cách chơi đàn, các nhạc sỹ chơi đàn bầu Việt Nam còn cải tiến hình dáng và kết cấu đàn Bầu. Hiện nay đàn bầu có hai loại: Đàn bầu điện tử và đàn bầu hộp. Đàn bầu hộp, thành đàn được làm bằng gỗ dầy, cần đàn làm bằng sừng có « núm bầu » bằng gỗ, khóa đàn bằng kim loại, mặt đàn làm bằng gỗ mỏng hơi cong lên, dây đàn mắc chênh với mặt đàn khoảng trên dưới 10 độ. Đàn bầu điện tử có hình dáng tương tự như đàn bầu hộp nhưng mặt đàn làm bằng gỗ dày để chống rung, phía cuối đàn có lắp hệ thống điện tử nối với máy tăng âm. Xét về mặt mỹ thuật, đàn Bầu cải tiến có dáng đẹp, âm thanh vang, sáng, đặt trên một giá đàn thiết kế công phu, chắc chắn, giúp cho người biểu diễn ở trạng thái thoải mái nhất, không phải ngồi bệt dưới đất như Xẩm Thân Đức Chinh và những nghệ sỹ Xẩm tiền bối của ông. Sáng tạo này đã làm cho đàn bầu Việt Nam thoát khỏi sự nghèo nàn về cung bậc, âm sắc và trở thành cây đàn một dây muôn điệu, hiện đại mà vẫn bảo lưu được tính cổ xưa.

 

Gần một trăm năm qua, kể từ khi nghệ sỹ đàn bầu Mạnh Thắng biểu diễn đàn bầu trên sân khấu cố đô Yangon (Myanmar) , đến các cuộc lưu diễn khắp thế giới của các đoàn ca múa nhạc ở Việt Nam, các nhạc sỹ đàn bầu Việt Nam đã làm cho đàn bầu trở thành cây đàn được thế giới biết đến và yêu thích. Nhiều nhạc sỹ chơi đàn dân tộc Trung Quốc thích học đàn bầu Việt Nam. Năm 1966 khi đi biểu diễn tại Trung Quốc, nghệ sỹ đàn bầu Đức Nhuận đã  dạy cho một nghệ sỹ trung quốc học đàn bầu Việt Nam trong suốt 45 ngày . Năm 1969, khi đi lưu diễn tại Trung Quốc, các nghệ sỹ Trung Quốc lại theo học đàn bầu của nghệ sỹ đàn bầu  Đoàn Anh Tuấn. Trong số đó có một nam diễn viên của Đoàn Ca nhạc dân tộc Thượng Hải đã theo học trong hai tháng. Khi về nước, Đoàn Anh Tuấn còn tặng cho cậu học trò này một cây đàn bầu Việt Nam và một cuốn tài liệu « Hướng dẫn tự học đàn bầu » do anh biên soạn  [9].

 

Đến nay dường như có ai đó đang có ý định đánh tráo nơi xuất xứ và nguồn gốc đàn bầu. GS. Trần Quang Hải ở Paris gửi cho chúng tôi bài viết « Đàn bầu của Việt Nam hay của Trung Quốc » qua  trang mạng. Bài viết có câu: « Đối với việc muốn lấy đàn bầu là nhạc cụ của Trung quốc với lý do là Trung Quốc có một bộ lạc người Kinh sống ở xứ họ » [10]. Theo chúng tôi, rất có thể bộ lạc người Kinh sống ở Trung Quốc còn bảo lưu được cây đàn một dây của họ và cũng rất có thể cây đàn một dây của bộ lạc này mới được Trung Quốc « phát hiện » gần đây theo một dụng ý nhất định. Còn trước đấy các bộ sử nhạc Trung Quốc không thấy viết về đàn bầu. Còn đàn một dây mà Maurice Courant viết trong Lịch sử âm nhạc Trung Quốc và Triều Tiên xuất bản tại Paris năm 1913 là cây đàn « Độc huyền cầm » (Tushuenkin) .

dan-bau-trung-quoc

« Độc huyền cầm » (Tushuenkin)  được mô tả như sau « Phía dưới bầu đàn bằng phẳng như mặt đất, mặt đàn cong cong như vòm trời, đầu đàn rộng và vuông góc, đuôi đàn thon thon và tròn như hình trứng ngỗng, hai bên thân đàn có hai chỗ lõm vào là bụng đàn và cổ đàn, ngựa đàn gọi là « núi tiên », hai chỗ ở dưới thân đàn được coi như ao rồng và tổ phượng hoàng » [11] Đây là cây đàn một dây, có phím bấm gắn trên mặt đàn.

 

Theo mô tả, thì cây đàn Tushuenkin  có hình dáng khác với cây đàn bầu Xẩm và đàn bầu cách tân [12] của Việt Nam. Cách đánh đàn chắc chắn cũng khác chứ không thể là cách đánh  bồi âm như đàn bầu Việt Nam được vì nó có phím bấm, không có vòi đàn để tạo cao độ khác nhau trên một dây đàn. Vậy, không biết vô tình hay hữu ý mà đàn bầu cách tân của Việt Nam lại có trong cuốn « Từ điển Âm nhạc Trung Quốc » [13] và lại được coi là đàn một dây  của một bộ lạc người Kinh sống ở xứ Trung Hoa với tên gọi là Đàn mạc ý ai và được mô tả gần gũi với đàn bầu xẩm và đàn bầu cách tân của Việt Nam. Xin dẫn ra đây đoạn mổ tả về đàn một dây Đàn mạc ý ai do nhà nghiên cứu Hán Nôm Đinh Văn Minh dịch trong cuốn Từ điển Âm nhạc Trung Quốc : « Độc huyền cầm (đàn một dây) là nhạc khí gẩy của dân tộc Kinh [14]. Tiếng kinh gọi đàn này là « Đàn mạc ý ai » [15]. Thân đàn bằng ống tre chẻ dọc làm đôi, lấy một nửa, dài khoảng 1 mét ; cũng có cây đàn làm bằng hộp gỗ dài hình khối chữ nhật. Đầu đàn phía tay trái, gắn cần đàn chất liệu tre hoặc sừng. Giữa cần đàn, buộc sơi dây thiếc nối với đầu bên phải thân đàn. Ở giữa cần đàn, tại nơi tiếp xúc với dây đàn, gắn hộp khuếch âm (cộng hưởng) bằng gỗ hình chiếc mũ cói. Khi diễn tấu cầm mẩu tre, gẩy vào những điểm phiếm âm [16] tương ứng trên dây đàn, tay trái tiếp xúc cần đàn, lắc sang phải hoặc trái, làm thay đổi độ căng chùng của dây đàn, tạo ra nhiều âm sắc khắc nhau và có thể làm đẹp thêm cho các làn điệu. Âm sắc loại đàn này du dương, trong trẻo, dịu dàng, giàu chất ca xướng.

 

Âm vực của đàn là : d1 – c3. Sau khi kéo đẩy dây đàn, âm vực có thể đạt tới c1-g3. Những năm gần đây, cây đàn này được cải tiến, người ta gắn thêm một miếng ván gỗ hình thang lên mặt đàn, có thể diễn tấu thực âm, vừa đàn được cả phiếm âm. Thêm nữa người ta còn dùng kĩ thuật khuếch đại âm thanh, càng làm phong phú thêm kĩ xảo diễn tấu và khả năng biểu hiện của loại nhạc khí này » [17]

dan-mac-y-a-dang-hoanh-loan

Xem cây đàn Đàn mạc ý ai trên đây, được in trong từ điển Âm nhạc Trung Quốc, do Nxb Âm nhạc nhân dân, ấn hành năm 1985 ở Bắc Kinh, chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì đàn bầu Việt Nam đã được biến thành   Đàn mạc ý ai của Trung Quốc ít nhất từ năm ra đời của cuốn từ điển này. Ngẫm ra, khi Trung Quốc đã tự cho mình có Đàn mạc ý ai thì cớ gì vào những năm 60 thế kỉ XX các nghệ sỹ của họ lại phải theo học đàn bầu Việt Nam của nghệ sỹ đàn bầu Đức Nhuận và nghệ sỹ đàn bầu Đoàn Anh Tuấn (?!)

 

Trong lịch sử, việc dân tộc này, quốc gia này tiếp thu nhạc cụ của quốc gia khác là chuyện thường xảy ra. Giống như, các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp thu các nhạc cụ Nhã nhạc của các triều đại Phong kiến Trung Hoa là chuyện đã xảy ra. Nhiều năm trở lại đây, Việt Nam lại tiếp thu mẫu mã cây đàn nhị cải tiến của Trung Quốc, tiếp thu cách bấm dây trên đầu ngón tay khi chơi đàn nhị của Trung Quốc là chuyện bình thường của giao lưu và tiếp thu văn hóa. Chỉ có điều cần chân thật và minh bạch về nguồn gốc xuất xứ, tôn trọng sự thật lịch sử, tôn trọng chủ quyền văn hóa của các quốc gia, không « mập mờ đánh lận con đen ».

 

Từ câu chuyện tổ nghề mà Thân Đức Chinh kể cho tôi nghe, đến cách chơi đàn bầu dây buông và bồi âm của ông ; từ sự ra đời của đàn bầu được chép trong Đại Nam Thực Lục, đến những bức ảnh chụp Xẩm đàn bầu ở Hà Nội của các nhiếp ảnh gia nước ngoài chụp vào những năm 1900 ; từ ý kiến của Hoàng Yến đến ý kiến của G. Cordier, của G. Knosp là những cắn cứ xác thực để khẳng định đàn bầu là của Việt Nam do những người khiếm thị Việt Nam sáng tạo ra. Nó đã và sẽ tiếp tục được các thế hệ những người làm nhạc Việt Nam thời nay thay nhau sáng tạo, làm cho đàn bầu ngày càng hoàn thiện và  trở thành một nhạc cụ giàu sức biểu hiện.

 

ĐHL

 

[1] Xem thêm các câu chuyện tổ nghề in trong sách  » Cây đàn bầu những âm thanh kì diệu » của tác giả Phạm Phúc Minh, do Viện Âm nhạc – Nxb Âm nhạc ấn hành, Hà Nội – 1999, trang 13-16.

 

[2] Hà Nội Xưa, Tạp chí Xưa và Nay- Nxb Văn hóa Sài Gòn ấn hành 2009, tr.52

 

 

[3] Phán đoán dựa trên câu chuyện tổ nghề do Thân Đức Chinh kể

[4] Nam cầm : đàn bầu (chú thích trong bộ sử Đại Nam Thực Lục)

[5] Đại Nam Thực Lục, Quốc sử quán triều Nguyễn, (Tiền biên – Quyển XI), Nxb Giáo dục, (nộp lưu chiểu 2007), tr. 174

[6] Trích  theo sách Cây đàn Bầu những âm thanh kì diệu của Phạm Phúc Minh, Viện Âm nhạc – Nxb Âm nhạc ấn hành năm 1999

 

[7] Phạm Phúc Minh, Sđd, tr. 33

 [8] Đại Nam Thực Lục, Quốc sử quán triều Nguyễn, (Tiền biên – Quyển XI), Nxb Giáo dục, (nộp lưu chiểu 2007), tr. 174

[9] Phạm Phúc Minh, Sđd, tr.34.

[10] Trần Quang Hải, Đàn Bầu của Việt Nam hay của Trung Quốc, https://tranquanghai130544.wordpress.com/2016/08/07/tran-quang-hai-dan-bau-viet nam-hay-cua-trung-quoc/

[11] Phạm Phúc Minh, Sđd, tr.22.

[12] Tôi tạm dùng từ cách tân vì chưa tìm được từ thích hợp.

[13] Từ điển Âm nhạc Trung Quốc, chủ biên Mưu Thiên Thụy – Cát Liên Kháng – Quách Nại An, Nxb Âm nhạc nhân dân, năm 1985 ở Băc Kinh

[14] Dân tộc Kinh : dân tộc thiểu số, sống rải rác ở vùng Quảng Tây (chú thích của Đinh Văn Minh)

[15] Đan mạc ý ai : âm đọc Bắc Kinh là Dàn mò yi ai.

[16] Phiếm âm : bồi âm (sons harmonique)

[17] Từ điển Âm nhạc Trung Quốc, Sđd, tr. 89

PGS TS NGƯT NGUYỄN BÌNH ĐỊNH: Đàn bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam

Đề dẫn hội thảo khoa học, ngày 21.10.2016, Viện âm nhạc & Học Viện âm nhạc quốc gia việt nam :

“ ĐÀN BẦU VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ

TRONG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM”

nguyen binh dinh.jpg

                                                           PGS. TS. NGƯT Nguyễn Bình Định

                                                                (Viện trưởng Viện Âm nhạc)

 

Trên thế giới có hơn mười loại đàn 1 dây, phân bố nhiều nhất là ở châu Á rồi đến châu Phi và một số nước ở miền Nam châu Âu. Các loại đàn 1 dây thuộc chi dây gảy có các loại như: Đàn Kingri, đàn Ektar, đàn Tuntune, đàn Gopicand của Ấn Độ; đàn Bầu của Việt Nam; đàn Tushuenkin (Độc huyền cầm) của Trung Quốc; đàn Ichigenkin (Nhất huyền cầm) của Nhật Bản; đàn Xađiu (còn đọc là Xa-đi-ơ) của Căm pu chia; 3 loại đàn Cung ở Trung Phi, Đông Phi, Nam Phi; đàn 1 dây ở Indonesia, ở Madagasca.v.v. Đàn 1 dây thuộc chi dây kéo có các loại như: Đàn Rababa ở các nước A rập; đàn Orutu ở Kenya, Uganda; đàn Gusle (có 3 loại) ở Serbi, Croatia, Montenegro.v.v. Trong số các đàn 1 dây trên thế giới, đàn Bầu của Việt Nam được đánh giá là rất đặc sắc, độc đáo; bởi lẽ, đàn Bầu là đàn duy nhất phát ra âm thanh là âm bồi; chỉ có 1 dây, không có phím bấm nhưng có thể chơi được tất cả các cao độ (kể cả các âm có cao độ tuyệt đối và các âm có cao độ tương đối với các mức độ non già tùy ý); có khả năng trình diễn tất cả các kỹ thuật rung, nhấn, đặc biệt là các dạng luyến láy, tô điểm âm khác nhau nên rất phù hợp với kiểu giai điệu âm nhạc có nhiều âm hoa mỹ, luyến láy của Việt Nam. Do sử dụng kỹ thuật uốn vòi đàn (có người gọi là cần đàn), tạo ra sự căng chùng khác nhau của dây đàn, nên đàn Bầu là nhạc cụ duy nhất trên thế giới làm được việc với 1 lần kích âm có thể cho 1 âm cơ bản và các âm khác có cao độ cao hơn hoặc thấp hơn âm cơ bản ấy tới một quãng 5 (các nhạc cụ khác không thể làm ra được các âm có cao độ thấp hơn âm cơ bản với 1 lần kích âm vì không có kỹ thuật làm chùng dây đàn).

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có đủ cứ liệu để xác định một cách chính xác đàn Bầu có từ bao giờ. Có người thì cho rằng, đàn Bầu ra đời ở khoảng thế kỷ IX- X1, có người còn đưa ra con số cụ thể là đàn Bầu được chế tạo vào năm 17702…Tuy chưa có giả thuyết nào được khẳng định là chính xác, nhưng chúng ta cũng có thể nói, đàn Bầu là nhạc cụ bản địa của người Việt, đã có từ lâu đời, ít nhất cũng phải có trước thế kỷ XIX.  Trải qua những bước thăng trầm, chuyển

 

 

1 Theo Phạm Phúc Minh, Cây đàn Bầu, những âm thanh kỳ diệu, Viện Âm nhạc, Nxb Âm nhạc, 1999, tr. 31.

2  Dẫn theo Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962, quyển XI.

hóa trong suốt quá trình lịch sử, đàn Bầu từ thuở ban đầu chỉ đơn giản là làm từ một ống bương (hoặc vầu, hoặc mai), ngựa đàn là mảnh sành, mảnh sứ hoặc miếng gỗ cứng, vòi đàn là một que tre dài, dây đàn làm bằng dây móc, dây gai, dây tơ, bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu nậm hoặc vỏ gáo dừa khô…cho đến khi thân đàn làm bằng gỗ, vòi đàn làm bằng sừng, bầu đàn làm bằng gỗ tiện theo hình quả bầu nậm, dây đàn làm bằng hợp kim …và từ chỗ âm lượng nhỏ do thân đàn nhỏ, quả bầu nậm nhỏ, các nghệ nhân hát Xẩm đã nghĩ ra cách để lên mặt đàn ở phía dưới đuôi đàn một thùng sắt tây hoặc một cái chậu đồng tỳ vào dây đàn để tần số rung của dây đàn truyền trực tiếp vào vỏ thùng, do đó âm lượng được phóng to hơn…rồi đến cuối những năm 1950 các nghệ sĩ đàn Bầu: Mạnh Thắng(Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị), Bá Sách (Đoàn Ca múa Trung ương), Nguyễn Tiếu (Đoàn Ca nhạc Dân tộc Việt Nam) đã tìm cách sử dụng bô bin chạy bằng pin lắp vào đàn Bầu để âm thanh được phóng to hơn nữa và truyền trực tiếp ra loa, đồng thời tiếng đàn còn có thể ngân được độ dài gấp nhiều lần trước đây; từ đó đàn Bầu có thể tham gia hòa tấu với nhiều nhạc cụ khác cùng một lúc và có thể trình diễn trên sân khấu lớn cho nhiều người cùng nghe.

Trong số các nhạc cụ dân tộc ở nước ta, đàn Bầu là nhạc cụ thu hút được sự chú ý, quan tâm nhiều nhất của các nhạc sĩ sáng tác và những người nghiên cứu, cải tiến nhạc cụ. Điều đó được minh chứng bằng số lượng tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc độc tấu và số lượng cũng như qui mô của các đề tài nghiên cứu, cải tiến nhạc cụ dân tộc thì bao giờ đàn Bầu cũng chiếm nhiều nhất. Trong các chương trình biểu diễn âm nhạc truyền thống Việt Nam phục vụ du khách quốc tế, khách ngoại giao hoặc phục vụ các sự kiện lớn ở trong nước cũng như chương trình của các nhóm, các đoàn đi biểu diễn ở nước ngoài luôn phải có tiết mục đàn Bầu.

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống Pháp và chống Mỹ,  lực lượng văn công quân đội cũng như dân chính đã có mặt trên khắp các nẻo đường chinh chiến, động viên bộ đội, dân công và nhân dân vùng hỏa tuyến. Khi đó, tiết mục đàn Bầu và tiết mục sáo trúc luôn là những tiết mục được ưa thích nhất. Có những đơn vị bộ đội trước giờ bước vào trận đánh ác liệt chỉ muốn được nghe đàn Bầu biểu diễn bài “Dòng kênh trong” (Sáng tác: Hoàng Đạm), bài “Vì Miền Nam” (Sáng tác: Huy Thục) và sáo trúc biểu diễn bài “Trên đường chiến thắng”(Sáng tác: Đinh Thìn). Trong những năm 1970, 1980 và đầu những năm 1990, tiết mục đàn Bầu cùng các nghệ sĩ ca múa nhạc của Việt Nam đã đi biểu diễn ở khắp các châu lục trên thế giới và nhiều người nước ngoài ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ…đã cho rằng, họ hiểu con người VN, đất nước VN qua tiếng đàn Bầu, có thể coi đàn Bầu là một đại diện, một biểu tượng của văn hóa Việt Nam.

Về phương diện chức năng nghệ thuật, đàn Bầu có thể dùng đệm cho hát và ngâm thơ, có thể độc tấu, hòa tấu cùng với các nhạc cụ dân tộc khác và cũng có thể tham gia độc tấu với phần đệm của các nhạc cụ phương Tây, tham gia hòa tấu với các nhạc cụ phương Tây, trong đó bao gồm cả việc biểu diễn âm nhạc Việt Nam và âm nhạc nước ngoài. Đàn Bầu đã tham gia vào nghệ thuật Hát Xẩm, tham gia vào dàn nhạc Chèo, dàn nhạc Cải lương, ban nhạc Đờn ca tài tử Nam bộ, ban nhạc Ngũ Tuyệt ở Huế. Đàn Bầu là một trong số ít nhạc cụ Việt Nam đã được người nước ngoài nghiên cứu đến từ đầu thế kỷ XX, trong đó có người Pháp, người Nhật, người Đức, người Ốt – xtrây- lia… Các nghệ sĩ biểu diễn đàn Bầu thành danh được công chúng yêu mến, được nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân như: Mạnh Thắng, Xuân Ba, Hồ Khắc Chí, Thanh Tâm, Đức Nhuận, Nguyễn Tiến, Đoàn Anh Tuấn, Hoàng Anh Tú, Bùi Lệ Chi.v.v. Thông qua hoạt động biểu diễn, giảng dạy đàn Bầu, họ đã có đóng tích cực cho sự nghiệp gìn giữ, phát huy giá trị của cây đàn Bầu nói  riêng và âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung.

Nếu để chọn ra một cây đàn đại diện cho nhạc cụ dân tộc Việt Nam, có khả năng giới thiệu, quảng bá về đất nước, con người Việt Nam thì chắc chắn chúng ta sẽ chọn đàn Bầu. Trong nhiều năm qua, đã có nhiều bài viết, luận văn, luận án, công trình nhiên cứu, đề tài cải tiến nhạc cụ về đàn Bầu. Tuy nhiên, để cho cây đàn Bầu được lưu truyền, phát triển lâu dài và bền vững thì cũng còn khá nhiều việc cần phải làm; trong đó có những việc làm cấp thiết như:

-Tổng kết, đánh giá lại một cách khoa học toàn bộ các vấn đề về: lịch sử, ý nghĩa xã hội, gía trị văn hóa, chức năng nghệ thuật, kỹ thuật trình diễn (cổ truyền và hiện đại, cả về ngón đàn và nghệ thuật thể hiện);

– Tiến hành qui chuẩn hóa, đưa ra tiêu chuẩn đo lường quốc gia cho đàn Bầu để tránh tình trạng tùy tiện, không thống nhất trong chế tác và sử dụng đàn Bầu, nhất là trong khuynh hướng chúng ta cần phải hội nhập khu vực và quốc tế để phát triển hiện nay.

Bên cạnh đó, trong tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp hiện nay, chiến lược bảo vệ bản sắc dân tộc, bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa, trong đó có âm nhạc đang đặt ra những nhiệm vụ cấp bách. Thông qua một số bài báo ở trong nước (Ví dụ: Bài báo “Cần sớm khẳng định chủ quyền với đàn Bầu” của Hà Đình Nguyên đăng trên báo Thanh niên, ngày 13/8/2016) và ở nước ngoài (Ví dụ: Các thông tin của GS. TS Trần Quang Hải (tại Pháp) cảnh báo về một số hoạt động của nước ngoài có dấu hiệu xâm hại quyền sở hữu đàn Bầu của Việt Nam. Để biết rõ thêm, có thể liên hệ với GS. TS Trần Quang Hải qua địa chỉ email: tranquanghai@gmail.com).

Tại hội thảo khoa học này, chúng tôi mong muốn các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân, nghệ sĩ, giảng viên đàn Bầu và những người có quan tâm đến âm nhạc truyền thống Việt Nam chúng ta hãy cùng nhau phân tích, tổng kết, đánh giá lại toàn bộ những vấn đề về đàn Bầu và vai trò của nó trong nền văn hóa Việt Nam. Mong rằng, trên tinh thần vì nền âm nhạc dân tộc, vì sự nghiệp bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cao đẹp của nước nhà, chúng ta hãy cùng nhau đóng góp cho hội thảo đạt được kết quả tốt đẹp.

Xin kính chúc toàn thể các vị đại biểu, khách quí mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.

Trân trọng cám ơn.