Mois : octobre 2016

Nha Nhac, Vietnamese Court Music

Nha Nhac, Vietnamese Court Music

Mise en ligne le 28 sept. 2009

UNESCO: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity – 2008
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Nha Nhac, meaning elegant music, refers to a broad range of musical and dance styles performed at the Vietnamese royal court from the fifteenth to the mid-twentieth century. Nha Nhac was generally featured at the opening and closing of ceremonies associated with anniversaries, religious holidays, coronations, funerals and official receptions. Among the numerous musical genres that developed in Vietnam, only Nha Nhac can claim a nationwide scope and strong links with the traditions of other East Asian countries. Nha Nhac performances formerly featured numerous singers, dancers and musicians dressed in sumptuous costumes. Large-scale orchestras included a prominent drum section and many other types of percussion instruments as well as a variety of wind and string instruments. All performers had to maintain a high level of concentration since they were expected to follow each step of the ritual meticulously.
Nha Nhac developed during the Le dynasty (1427-1788) and became highly institutionalized and codified under the Nguyen monarchs (1802-1945). As a symbol of the dynastys power and longevity, Nha Nhac became an essential part of the courts many ceremonies. However, the role of Nha Nhac was not limited to musical accompaniment for court rituals: it also provided a means of communicating with and paying tribute to the gods and kings as well as transmitting knowledge about nature and the universe.
The events that shook Vietnam in the twentieth century especially the fall of the monarchy and the decades of war seriously threatened the survival of Nha Nhac. Deprived of its court context, this musical tradition lost its original function. Nevertheless, the few surviving former court musicians continue to work to keep the tradition alive. Certain forms of Nha Nhac have been maintained in popular rituals and religious ceremonies and serve as a source of inspiration for contemporary Vietnamese music.
Country(ies): Viet Nam

TRẦN QUANG HẢI : Đàn bầu là của Việt Nam hay Trung Quốc?

Thứ Tư, 26/10/2016 07:45

(Thethaovanhoa.vn) – LTS: Vừa qua công luận và giới âm nhạc dân tộc nóng lên với việc Trung Quốc tuyên bố đàn bầu là nhạc cụ dân tộc của nước này. Để hiểu thêm về vấn đề này, Thể thao & Văn hóa (TTXVN) trân trọng giới thiệu đến độc giả trích đăng bài viết của chuyên gia âm nhạc GS -TS Trần Quang Hải.

Tìm hiểu trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết có một số sách sử quan trọng có đề cập đến đàn bầu. Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa, Đại Nam thực lục tiền biên, Tân Đường thư, Cựu Đường Thư… cây đàn bầu ra đời xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ sau đó được người Kinh Việt Nam mang sang Quảng Tây, Trung Quốc.

Theo Hoàng Yến, tác giả bài viết La Musique à Huế: Đàn Nguyệt et Đàn Tranh (Âm nhạc Huế: Đàn Nguyệt và Đàn Tranh) in trong Bulletin des Amis du Vieux Huế (Bản tin của bạn bè Huế cũ) năm 1919, năm 1892 đàn bầu mới được những người hát xẩm phía Bắc đưa vào xứ Huế để ca khúc đệm đàn cho một số bộ phận vương quan tiến bộ yêu thích thanh âm trong trẻo, nỉ non đó.


GS Trần Quang Hải

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Vua Thành Thái, một trong ba vị vua yêu nước thời Pháp thuộc, là người yêu tiếng đàn bầu như hơi thở quê hương xứ An Nam. Lúc đó đàn bầumới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh – tỳ – nhị – nguyệt và bầu.

Đàn bầu có mặt trong dàn đờn tài tử nam bộ từ năm 1930 do những người miền Trung vào miền Nam khai khẩn đất hoang vào cuối thế kỷ 19. Đàn bầu được gọi là “đờn một dây” hay “đờn độc huyền”.

Cố GS Trần Văn Khê (đã miêu tả “đàn độc huyền” – không dùng từ “đàn bầu” trong quyển luận án bảo vệ tại Paris năm 1958 (2), và trong quyển VIETNAM /traditions musicales (Việt Nam/âm nhạc truyền thống), do nhà sách Buchet/Chastel xuất bản tại Paris năm 1967.

Tôi có viết bài miêu tả đàn độc huyền – không dùng từ đàn bầu trong quyển MUSIC OF THE WORLD (Âm nhạc thế giới), do nhà xuất bản J.M.FUZEAU, Courlay, Pháp, phát hành vào năm 1994.

Gần đây nữ nhạc sĩ Quỳnh Hạnh (trong nhóm Hoa Sim được thành lập ở Sài Gòn từ thập niên 1960) bảo vệ luận án tiến sĩ về đàn bầuthành công tại trường đại học Sorbonne Paris 4 cách đây 7 năm. Ngoài phần miêu tả nhạc cụ và dân tộc nhạc học, còn có phần viết về việc sử dụng đàn bầu trong cách chữa bệnh tâm thần (musicothérapie).


Hình ảnh đàn bầu thân thuộc đối với mỗi người Việt Nam

Đàn bầu ở Trung Quốc là của người Kinh Việt Nam

Từ vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ Việt Nam sang Trung Quốc từ khoảng 500 năm trước, và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người.

Trung Quốc đã gửi nhạc công sang Việt Nam học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên mạng thông tin đàn bầu rất được người dân tộc Kinh (ở Trung Quốc) yêu thích. Trong đó có Sun Jin người làm luận án tiến sĩ với đề tài đàn bầu ở Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

Nhạc sĩ Đỗ Lộc cho biết: “Năm 1967, Đoàn múa hát Quân giải phóng miền Nam Việt Nam sang Bắc Kinh biểu diễn. Tiết mục biểu diễn đàn bầu của nhạc sĩ Đức Nhuận thật sự xuất sắc vì đàn bầu là của Việt Nam mà Trung Quốc không có nên họ ngỏ lời xin học. Việt Nam đồng ý. Nghệ sĩ Điền Xương của Trung Quốc đi theo đoàn Việt Nam suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu”.

Nghệ sĩ đàn bầu Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sử phát triển cây đàn bầu Việt Nam tại Học viện Quảng Tây (Trung Quốc), nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên và khâm phục.

Trưởng khoa đàn bầu cũng là người chỉ huy dàn nhạc của học viện là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn bầu Việt Nam. Học viện chúng tôi có khoa đàn bầu là vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh Trung Quốc đang học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam về đàn bầu. Cô gái Trung Quốc Sun Jin cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn bầu”.

Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc. Ngược lại đàn bầu có mặt ở Việt Nam từ Bắc xuống Nam, được dạy tại 3 nhạc viện quốc gia Hà Nội, Huế, TP.HCM với hàng trăm nhạc sinh.

Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam có 3 luận đề cao học và một luận đề tiến sĩ về đàn bầu:

NSND Nguyễn Thị Thanh Tâm bảo vệ luận án cao học năm 1999 với đề tài “một số vấn đề về giảng dạy và biểu diễn đàn bầu ở nhạc viện Hà Nội”.

Nguyễn Thị Mai Thủy bảo vệ luận án cao học năm 2007 về “giảng dạy đàn bầu bậc trung học dài hạn tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội”.

Sun Jin (Tôn Tiến), người Trung Quốc, bảo về luận án cao học năm 2009 về “Đàn bầu với việc giảng dạy tại trường đại học Quảng Tây, Trung quốc”

Sun Jin tiếp tục bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2015 về “Nghệ thuật đàn bầu trong giai đoạn mới tại Việt Nam”. (8)

Với sự kế thừa và phát triển đàn bầu, Sun Jin muốn trên cơ sở của người trước đã làm và đề ra vài ý kiến mới, đó là những quan điểm “hoạt hóa”, “tiến hóa” và “tiêu chí hóa”.

Trong đó, “hoạt hóa” có yêu cầu giữ gìn và đa dạng hóa các hoạt động nghệ thuật biểu diễn đàn bầu. “Tiến hóa” có ý nghĩa đổi mới nội dung và hình thức để phát triển nghệ thuậtđàn bầu. “Tiêu chí hóa” mang nghĩa đại diện của khu vực, làm nổi bật vị trí của nghệ thuật đàn bầu. Thêm một khía cạnh trong luận án là điều tra xã hội học về đàn bầu.

Trung Quốc từng “chiếm đoạt” di sản văn hóa nước khác

Trung Quốc có ĐỘC HUYỀN CẦM, Nhật Bản có ICHIGENKIN (nhứt huyền cầm). Ấn Độ có GOPI YANTRA, Cao Miên có SADIOU. Tất cả những cây đàn một dây đó không có cây nào sử dụng bồi âm như ĐÀN BẦU của Việt Nam.

Việc Trung Quốc muốn “chiếm đoạt” nhạc cụ đàn bầu là của họ là việc họ thường làm với những truyền thống khác như hát đồng song thanh Mông Cổ khoomi mà họ đã trình UNESCO cho là di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2009. Mông Cổ phản đối kịch liệt vì theo truyền thống Mông Cổ, kỹ thuật này chỉ phát nguồn từ vùng Tây Bắc của xứ Mông Cổ (Folk Republic of Mongolia) chứ không thể có ở Nội Mông như Trung Quốc tuyên bố. Năm 2010 xứ Mông Cổ trình hồ sơ hát đồng song thanh khoomi cho UNESCO và được nhìn nhận là của xứ Mông Cổ.

Một chuyện khác là bản ARIRANG của Hàn Quốc đã bị Trung Quốc dự định trình UNESCO để được tuyên dương là di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc vì họ có người Triều Tiên là sắc tộc sống ở Trung Quốc. Nhưng ban nghiên cứu xứ Hàn Quốc đã phản ứng kịp thời và tổ chức hội thảo tại Seoul và tôi được mời tham dự hồ sơ này vào năm 2012. Và bản ARIRANG được UNESCO nhìn nhận là của Hàn Quốc vào năm 2014.

GS Trần Quang Hải
Thể thao & Văn hóa

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/dan-bau-la-cua-viet-nam-hay-trung-quoc-n20161026064742929.htm

Arirang, lyrical folk song in the Republic of Korea, UNESCO ICH, 2012

TRA

Arirang, lyrical folk song in the Republic of Korea

Ajoutée le 3 déc. 2012

UNESCO: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity – 2012
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Arirang is a popular form of Korean folk song, the outcome of many collective contributions. Essentially a simple song, it consists of the refrain ‘Arirang, arirang, arariyo’ and two simple lines that differ from region to region. While dealing with diverse universal themes, the simple musical and literary composition invites improvisation, imitation and singing in unison. A great virtue is its respect for human creativity, freedom of expression and empathy. Everyone can create new lyrics, adding to the song’s regional, historical and genre variations, and cultural diversity. [87 words]
Country(ies): Republic of Korea
© 2012 by Cultural Heritage Administration of Korea
Duration: 00:10:59 – Support: DVD (0044500021)

 

TRAN QUANG HAI participated in this video (from 5:53 to 6:23)

GS TS TRẦN VĂN KHÊ đã được bổ sung vào quỹ tên đường của TP HCM, tin tức tháng 10, 2016

TRAN MINH TAM / CHIHIRO MASUI/ MARGOT ZHANG: 150 RECETTES DE NOUILLES D’ASIE,parution du livre le 3 novembre 2016 à Paris

Nouilles d’Asie Broché – 2 novembre 2016

Commandez ici


Livraison garantie le jour de la sortie?
Sélectionnez Livraison en 1 jour ouvré sur la page de confirmation de commande pour recevoir cet article le jour de sa sortie. En savoir plus.
Note: Cet article est éligible à la livraison en points de collecte. Détails
La bible des nouilles asiatiques concoctée par trois foodista asiatiques qui connaissent leurs recettes sur le bout des doigts ! 150 recettes pour apprendre à préparer des nouilles en soupe, en salade, frites ou sautées, – comme si vous les mangiez sur un marché de rue en Asie ! Des pas-à-pas détaillés pour apprendre la confection des nouilles ou la préparation des différents bouillons, des indications précieuses pour choisir les bons produits dans les épiceries asiatiques ou encore l’histoire de la tradition des nouilles en Asie, ce livre déborde de bons conseils pour tout apprendre sur les nouilles chinoises, japonaises et vietnamiennes. Une chose est sûre, la culture de la nouille asiatique n’aura plus de secrets pour vous !
IMG_1741.JPG
TRẦN MINH TÂM (VIETNAM) ,    CHIHIRO MASUI (JAPON),   MARGOT ZHANG (CHINE)

Livres scolaires, manuels scolaires

Trung Quốc nhận vơ đàn bầu là …độc huyền cầm ?

« Đàn bầu ai gảy nấy nghe. Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu »

 

Đàn bầu có tên chữ là độc huyền cầm, là nhạc cụ đàn một dây của người Việt, gảy bằng que hoặc miếng gảy.

 

Đàn có hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.Đàn thân tre: là đàn của những người hát Xẩm. Thân đàn làm bằng 1 đoạn tre hoặc bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm. Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương.

 

Cây đàn vốn được coi là nhạc cụ thuần Việt hiếm hoi đang có nguy cơ bị « nhận vơ »là nhạc cụ cổ truyền của…Trung Quốc. 

 

Theo NSND Thanh Tâm, nguyên nhân chính là do các thông tin gần đây cho biết một số học giả Trung Quốc cố gắng tìm kiếm chứng cứ để cho rằng cây đàn bầu có nguồn gốc từ Trung Quốc, của Trung Quốc”.

 

Cũng theo NSND Thanh Tâm tại Trung Quốc, nhất là ở vùng Quảng Tây, người  ta đã đưa đàn bầu vào dạy trong một số trường phổ thông, còn tại Trường ĐH Dân tộc tỉnh này còn có phân khoa đàn bầu.

 

Một tài liệu tại hội thảo cũng chỉ ra từ vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Trên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích: Hàng trăm người dân tộc kinh thiểu số cùng chơi đàn huyền cầm trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc.

 

Nhạc sĩ Đức Trí, người nhiều năm theo học đàn bầu, cho hay cách đây một năm ông đã tình cờ xem trên kênh truyền hình CCTV của Trung Quốc một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn bầu trong dàn nhạc dân tộc Trung Quốc. Theo ông, đây là điều chưa từng thấy trước đó.

 

Trong tham luận của mình, đại biểu Đặng Hoành Loan đưa ra nhiều dẫn chứng cho thấy đàn bầu của Việt Nam đang bị đánh tráo nơi xuất xứ và nguồn gốc. « Không hiểu vô tình hay hữu ý mà đàn bầu cách tân của Việt Nam lại có trong cuốn « Từ điển âm nhạc Trung Quốc », nhà nghiên cứu này băn khoăn.

 

PGS-TS-NSƯT Nguyễn Bình Định (Viện trưởng Viện Âm nhạc) trong bài phát biểu đề dẫn của mình cũng khẳng định: Đàn bầu là nhạc cụ bản địa của người Việt, đã có từ lâu đời, ít nhất cũng phải có trước thế kỷ 19.

 

NSND Nguyễn Tiến cũng cho hay cây đàn bầu Việt Nam đã được nhiều người trên thế giới đến tìm hiểu và ca ngợi như: Những âm thanh kỳ diệu hay dùng những từ để nói về Việt Nam như Đất nước đàn bầu hoặc Quê hương đàn bầu để thay cho hai tiếng Việt Nam.

http://vnhomnay.net/explore/link/trung-quoc-nhan-vo-dan-bau-la-doc-huyen-cam/fTCQTuaGSLQgHpkis

MAI ANH : « Ông xẩm » Xuân Hoạch – bậc kỳ tài trong cổ nhạc Việt Nam

08:35 24/03/2016 0 MAI ANH

ANTĐ Gọi là “ông xẩm” nhưng ngoài xẩm, NSND Xuân Hoạch còn có thể đàn hát cả ca trù, chầu văn hay hát trống quân. Càng biết về ông, càng thấy ở người nghệ sỹ này tài năng hiếm có của cổ nhạc Việt Nam.

ảnh 1NSND Xuân Hoạch trình diễn trong ngôi nhà lá

Một đời say vì đàn

Năm lần bảy lượt hẹn gặp NSND Xuân Hoạch, nhưng mỗi lần liên lạc, đều nghe giọng ông thở dài qua điện thoại: “Tôi bận lắm, để ra Tết nhé”! Qua Tết, tìm đến gặp, thấy ông đang ung dung ngồi đàn trong ngôi nhà mái lá ngan ngát hương bưởi. Hóa ra, thời gian vừa qua, vừa đi diễn, ông vừa cùng những người bạn dựng ngôi nhà này để có thêm địa điểm biểu diễn.

ảnh 2NSND Xuân Hoạch trong chương trình “Xẩm và đời”


Chẳng có sân khấu hay phông rèm gì, chỉ có vài cây đàn treo trên vách nứa, một bộ chõng và mấy cái ghế nhỏ để nghệ sỹ và khán giả, người chơi nhạc, người thưởng thức ngay tại đó. Nói như NSND Xuân Hoạch thì có không gian như thế này là “lý tưởng lắm rồi” vì giữa người nghệ sỹ với khán giả không còn “tấm bình phong nào”.

Là bậc kỳ tài trong làng cổ nhạc với khả năng chơi thành thạo 6 loại nhạc cụ, một trong số rất ít những nghệ sỹ Việt Nam được tổ chức “World Masters” (Những bậc thầy thế giới) công nhận là Nghệ nhân thế giới nhưng NSND Xuân Hoạch không cho những gì mình làm được là quá cao siêu hay đến mức khiến người khác phải trầm trồ mà chỉ là một chút năng khiếu may mắn được trời cho. Nghiệp cầm ca bắt đầu khi ông được người thầy đầu tiên tại trường Học viện Âm nhạc quốc gia là cố Nhà giáo nhân dân Đặng Xuân Khải nhận xét là “có tay cầm đàn”.

Thành thạo đàn nguyệt, ông lân la học “mót” kỹ thuật đàn đáy, đàn bầu, đàn nhị… của những người bạn đồng khóa. Chỉ trong thời gian ngắn, loại đàn nào ông cũng chơi điêu luyện mà không cần phải qua một khóa học nào. Đối với NSND Xuân Hoạch, chơi đàn gần giống như cơm ăn, nước uống hàng ngày vậy. Ngày nào cũng từ tinh mơ, người ta cũng thấy ông lụi cụi mang đàn ra tập, bởi “nếu không tập thì thấy bứt rứt khó chịu lắm”.

Có đợt, ông sốt cao, phải đưa vào  viện. Nhưng vì nhớ đàn quá lại gọi cho vợ mang đàn vào viện để gảy cho đỡ… quên. Hỏi tại sao lại như vậy, ông thủng thẳng: “Nếu một ngày tôi không đánh đàn thì vợ biết, 2 ngày thì hàng xóm biết, còn đến ngày thứ ba thì tôi biết”.

 “Ông xẩm” của nhân dân

Cách đây 10 năm, NSND Xuân Hoạch là một trong những người tham gia công cuộc chấn hưng hát xẩm tại Việt Nam. Hồi ấy, gần như không còn ai theo nghề hát xẩm, ngoài nghệ nhân Hà Thị Cầu. Trong nỗ lực cứu hát xẩm, NSND Xuân Hoạch tìm tòi tư liệu của các nghệ nhân cũ để làm sống lại bộ môn nghệ thuật này.

Những vần thơ “Mục hạ vô nhân” (Nguyễn Khuyến), “Trăng sáng vườn chè”, “Lỡ bước sang ngang” (Nguyễn Bính) hay chùm thơ Nguyễn Duy như “Cơm bụi ca”, “Xẩm ngọng”, “Tre xanh”, “Về làng”… được ông và những người đồng nghiệp cách tân bằng những điệu nhạc luyến láy… để gần hơn với đời sống đương đại. Chính sự hòa nhập giữa lời ca và những vần thơ mang đậm chất dân gian đã khiến cho cổ nhạc trở nên dễ tiếp nhận hơn với công chúng.

Chẳng những khán giả Việt mà ngay cả bạn bè quốc tế cũng tỏ ra thích thú với lời thơ hết sức “bình dân” như “Lò mò Cấm Chỉ Bắc Qua/Mà coi trai gái vặt quà như điên/Tiết canh Hàng Bút Hàng Phèn/Bún xuôi Tô Tịch phở lên Hàng Đồng…”.

Ít ai biết người nghệ sỹ kỳ tài của làng nhạc Việt Nam từng bỏ vốn đi thổi thủy tinh vì không sống được với nghề. Âu có lẽ cái nghiệp đã ngấm vào thân nên chỉ một thời gian sau, ông quay trở lại  với nghiệp cầm đàn. Đến bây giờ, nhiều người biết đến Xuân Hoạch với danh hiệu nghệ sỹ nhân dân, hay ưu ái gọi ông là “ông xẩm” của nhân dân thì ông cũng chỉ cười xòa: “Tôi chẳng nghĩ gì về chức danh ấy. Tôi đã từng hát trên đường, hát giữa chợ Đồng Xuân”.

Để đưa xẩm, đưa ca trù, đưa hát văn vào cuộc sống hôm nay, phải cần có những người như NSND Xuân Hoạch, lăn lộn, hết mình, tận tâm với nghề.