Mois : juillet 2016

TRẦN VĂN KHÊ : ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

ÂM VÀ DƯƠNG TRONG ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

bat quai

Khi nói đến âm dương, chúng tôi không nghĩ đến thuyết âm dương trong Kinh dịch của Trung Hoa mà muốn đề cập về tư tưởng triết lý của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, thể hiện ngay trên chiếc trống đồng do tổ tiên chúng ta chế tạo vào thế kỷ thứ 6, thứ 7 trước Công nguyên. Các nhà nghiên cứu đã nhận ra trên mặt chiếc trống đồng có những hình ảnh mô tả sinh hoạt của người dân sống vào thời kỳ xa xưa ấy, đồng thời có chạm khắc hình các con thú, đặc biệt là hươu và cá. Con hươu tượng trưng cho núi, cá tượng trưng cho nước, vốn là hai yếu tố vô cùng quan trọng đối với người Việt.

tvk am duong 2

Chúng ta vẫn dùng hai chữ giang sơn để chỉ đất nước, điều này cho thấy núi với nước tuy hai mà một. Liên hệ đến lịch sử của dân tộc, chúng ta thấy có huyền thoại con Rồng cháu Tiên, tượng trưng cho hai yếu tố nước và núi. Hoặc truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh đề cập đến việc người xưa bảo vệ đất nước chống thiên tai, trong đó núi và nước giúp chúng ta xác định rõ tư duy và quan niệm sống của dân tộc cho rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau. Lưỡng phân mà lưỡng hợp: đó chính là một trong những tư tưởng triết lý của Việt Nam – như cố giáo sư Trần Quốc Vượng thường nói.

tvk 3tvk 4.jpg

Quan điểm âm dương bàng bạc trong mọi sinh hoạt của đời sống người Việt, từ cách ăn uống hàng ngày cho đến cách chữa bịnh trong y học. Ở đây chỉ xin nêu ra một số nhận xét trong lãnh vực âm nhạc để làm sáng tỏ tư tưởng lưỡng phân, lưỡng hợp đó.

Đi từ cụ thể đến trừu tượng, chúng ta thử xem trong nhạc khí, trong bài bản và trong cách biểu diễn, quan điểm âm dương được thể hiện như thế nào trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Nhạc khí

tvk 5

Trước hết, hãy xem qua bộ môn Ca trù. Một nhóm Ca trù thường có ba người, người ngồi giữa là đào nương vừa hát vừa nhịp phách. Phách là một thanh tre hay một miếng gỗ được gõ bằng hai cái dùi, một dùi tròn có chuôi nhọn và một dùi chẻ làm hai, tượng trưng cho dương và âm. Tiếng chuyên môn trong giới Ca trù thường gọi hai dùi này là phách cái và phách con. Quan điểm cái với con cho thấy nữ với nam là hai giới khác nhau mà bổ sung cho nhau. Gõ phách là một nghệ thuật rất cao, âm thanh phát ra một tiếng trong một tiếng đục, một tiếng cao một tiếng thấp, một tiếng mạnh một tiếng nhẹ, cũng chính là tiếng dương và tiếng âm. Trên thế giới, chưa có loại dùi nào tuy một đôi mà lại khác biệt nhau từ hình thức cũng như trong cách gõ như thế.

tvk 6

Phách ca trù – tiếng phách độc nhứt vô nhị trên thế giới

Một bộ môn khác là Nhạc lễ, với dàn ngũ âm (năm nhạc sĩ sử dụng năm nhạc khí khác nhau) trong đó có hai trống nhạc đóng vai trò rất quan trọng. Cặp trống này được gọi là trống đực và trống cái tức đã bao hàm ý tưởng dương và âm.

tvk 7.jpg

Dàn nhạc lễ Gò Vấp

Màu âm của tiếng trống trong Nhạc lễ được sử dụng vô cùng tinh vi. Chẳng hạn như tang, thờn, tùng, thùng khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tong, táng, tỏng khi đánh vào vành da, đây là cách đánh sáng và tiếng trống đó gọi là tiếng dương.

tvk 8

Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trạng giận dữ, hốt hoảng. Tịch là một dùi chặn, một dùi đánh vào giữa mặt da, khi nhân vật biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức. Đây là cách đánh tối và tiếng trống này là tiếng âm. Thông thường trong biểu diễn luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần tiếng trống âm hay dương mà thôi.

Bài bản

Trong xã hội nông thôn ngày xưa, thanh niên thiếu nữ lớn lên khi bắt đầu tham gia việc nhà nông ngoài ruộng đồng thường trao đổi những câu hò khi đang lao động hay trong lúc nghỉ ngơi. Đây là sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong dân gian hình thành một gia sản văn học vô cùng phong phú.
Ngay trong cách sáng tạo câu hò đã thể hiện rõ quan điểm âm dương, thông thường luôn có một vế trống và một vế mái, có khi gọi là câu xô và câu kể. (Do đó mà khi ta nghe nói câu hò mái hai, mái ba, có nghĩa là một câu có một câu trống và hai hoặc ba câu mái – hoặc hai hay ba đoạn kể – chứ chữ mái ở đây không có nghĩa là mái chèo). Nội dung nhiều câu hò cũng chứa đựng sự gặp gỡ âm dương, chẳng hạn như:

Nhớ nàng như bút nhớ nghiên
Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông

Hình dáng của bút và nghiên ở đây tượng trưng cho nam và nữ, như thế trong câu đó đã phảng phất dương và âm, cũng như thuyền là dương mà sông là âm.

Trong các bài bản Nam xuân, Nam ai của Ca nhạc tài tử thì có những lớp gọi là lớp trống hay lớp mái cũng hàm ý nhắc đến quan điểm âm dương.

Từ quan điểm âm dương nảy sanh ra những bài bản dài ngắn khác nhau như lưu thủy trường và lưu thủy đoản, những bản trước và sau mang tên ngũ đối thượng, ngũ đối hạ (thượng và hạ đồng nghĩa với trên và dưới), hoặc một bản mau, một bản chậm như phú lục và phú lục chậm.

Cách biểu diễn

Trong truyền thống Ca trù, người ca phải là đào nương, ả đào, người đờn phải là nam gọi là kép, rất hiếm khi có phụ nữ đờn đáy cho đào nương ca.

tvk 9

Trong loại hát Đối ca nam nữ thì – như tên đã gọi – người hát hai bên phải là khác phái. Trong khi đối ý, nếu bài hát xướng là Lên non hay Lên rừng thì bài hát họa phải là Xuống sông hay Xuống bể và quan điểm lên, xuống cũng từ âm, dương mà ra.

Trong truyền thống Quan họ, liền anh luôn luôn cầm cây dù còn liền chị thì tay cầm chiếc nón quai thao, một vật nhọn một vật tròn cũng là thể hiện quan điểm âm dương.

TVK 10

Trong loại múa dân gian, khi cầu cho được mùa – theo chuyên gia Lâm Tô Lộc – phía nam phải cầm cây tre nhọn còn bên nữ thì cầm mo cau. Cả hai vật này đều mang hình dáng ẩn dụ tượng trưng cho nam và nữ.

Trong Ca nhạc tài tử, khi hòa đờn thì luôn luôn lựa tiếng thổ (trầm và đục) để hòa với tiếng kim (cao và trong) cũng từ quan điểm âm dương mà ra.

Tóm lại, nếu nhìn những sự kiện trong âm nhạc với đôi mắt và tâm hồn thấm nhuần triết lý âm dương trong cuộc sống của dân tộc Việt Nam nói riêng và của châu Á nói chung, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị hơn là chỉ đơn thuần nghe âm thanh bằng đôi tai và nhìn sự vật bằng đôi mắt.

GSTS TRẦN VĂN KHÊ

 

TRAN QUANG HAI will participate in the 12th International Voice Symposium celebrating the 20 Year Anniversary of the Austrian Voice Institute, in Salzburg, AUSTRIA, August 26-28th 2016

TRAN QUANG HAI will participate in the 12th International Voice Symposium celebrating the 20 Year Anniversary of the Austrian Voice Institute, in Salzburg, AUSTRIA, August 26-28th 2016

TRẦN QUANG HẢI tham dự hội nghị quốc tế « Óc và Giọng » , kỷ niệm 20 năm của Viện áo quốc về Giọng tại thành phố Salzburg, Áo quốc, từ 26 tới 28 tháng 8, 2016

http://www.voicesymposium.com/

20 year Anniversary
AUSTRIAN VOICE INSTITUTE
Second Announcement
12th International Voice Symposium
Salzburg 2016
BRAIN & VOICE

Keynotes – Panels – Workshops – Free Papers

26 – 28th August 2016

Konferenzzentrum Heffterhof Salzburg

Maria-Cebotari Strasse 1-7

5020 Salzburg , AUSTRIA

Congress language : English

Info/Registration/Call for papers: www.voicesymposium.com

Photo de Tran Quang Hai.
Photo de Tran Quang Hai.
Photo de Tran Quang Hai.

GS. TS Trần Quang Hải biểu diễn và thuyết trình về đề tài Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) tại Học viện Âm nhạc Huế.

GS. TS Trần Quang Hải biểu diễn và thuyết trình về đề tài Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) tại Học viện Âm nhạc Huế. – 10/01/2011 09h58

tran-quang-hai-vtv9-17-01-2015-vietnam

Sáng 30/12/2010 tại HVÂNHuế với lối nói chuyện dí dỏm- hài hước và phong thái giản dị, GS. TS Trần Quang Hải đã chia sẻ những nghiên cứu của ông về Dân tộc nhạc học xoay quanh 3 công trình: Hát đồng song thanh, gõ muỗng đàn môi. Trong 3 công trình ấy « Hát đồng song thanh » là công trình mà ông dày công nghiên cứu nhiều nhất. Đây là một quá trình nghiên cứu, từ vị trí phát âm và các kỹ thuật hát của mỗi dân tộc  trên thế giới, cho đến các lối hát đồng song thanh của các nước Tây Á và kiểu thức cầu kinh của các vị Lạt Ma- Tây Tạng, trên cơ sở đó; ông phát triển và sáng tạo lối hát  » Đồng song thanh » theo kiểu của riêng ông, mà hiện nay không những để biểu diễn âm nhạc mà còn ứng dụng vào lĩnh vực Y khoa; đặc biệt là cách điệu trị học cho các căng bệnh đứt dây thanh quản và khuyết tật về phát âm.

tqh-spoons

 

 

Song song với thuyết trình, ông còn thể hiện tài nghệ quái kiệt như « Gõ muỗng », « Đàn môi »,  « Hát song thanh ». Chỉ với 3 chiếc muỗng ông đã xử lý tài tình, điêu luyện và bài bản nhiều kỹ thuật, cùng gõ muỗng kết hợp với cộng thanh ở vòm miệng, ông đã cho người nghe thưởng thức nhiều tiết tấu lạ cùng âm thanh đa dạng. Cũng như đàn Môi, ông đưa người nghe từ nhạc techno sang nhạc hiphop xen lẫn trong sự bất ngờ, thú vị- làm cho không khí cả hội trường sôi động hẳn lên và không ngớt tràng pháo tay thán phục…!   giáo sư tâm sự «  đàn môi ở Việt Nam là loại đàn được xếp vào hàng phong phú bật nhất trên thế giới, nhờ có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống trên dải đất nay, nhưng người Việt biết biểu diễn một cách bài bản, điêu luyện thì lại rất hiếm. Do vậy, ông thiết tha muốn tìm học trò để truyền nghề, nhưng hiện giờ vẫn chưa có duyên tìm thấy học trò « . Cuối buổi, trước sự chứng kiến đông đảo giảng viên và sinh viên của Học viện, ông đã biểu diễn một trích đoạn trong Giao hưởng số 9 của Beethoven với lối hát song thanh, thể hiện kỹ thuật dài hơi và khỏe, khiến cho tất cả mọi người đều thích thú, cảm phục tài nghệ của giáo sư.

 

 

tran-quang-hai-overtone-teacher1

Với nhiều câu chuyện hấp dẫn về nghiên cứu Dân tộc nhạc học, cùng lối trình diễn độc đáo, thu hút; GS Trần Quang Hải để lại nhiều ấn tượng khó quên trong lòng giảng viên và sinh viên HVÂNHuế. Thật đáng kính trọng khi nói đến sự cống hiến cao quý của ông cùng với người cha kính mến là GS Trần Văn Khê đã xem âm nhạc dân tộc như hơi thở của đời sống, cho nên cất công nghiên cứu gìn giữ và phát triển, đồng thời giới thiệu quốc hồn, quốc túy của đất Việt đến với thế giới.

K.H

http://www.hocvienamnhachue.vn/?c=tintuc&f=detail&id=132&m=0

TRẦN QUANG HẢI : Âm nhạc có thể chữa bịnh được không ?

Âm nhạc có thể chữa bệnh được không?
05/12/2006
vlcsnap-2016-07-18-16h05m20s255

Trong lĩnh vực âm nhạc có hai bộ môn dùng âm nhạc để trị bệnh là: Âm nhạc điều trị học (musicothérapie) và tâm lý điều trị học (psychothérapie) Cả hai bô môn này được phát triển từ vài mươi năm nay tại Pháp. Có thể học tại Paris và Montpellier tại trường đại học từ cử nhân tới tiến sĩ.

Lúc trước (cách đây 30 năm, vào khoảng thập niên 70), âm nhạc cổ điển tây phương (nhạc Mozart, Haydn, Bach, loại nhạc cổ điển êm dịu) dùng để trị bệnh an thần tại các nhà thương dưỡng trí viện (hôpital psychiatrique) Nhưng từ khi nhạc cổ truyền thế giới (musiques traditionnelles du monde) được phát triển ở Tây phương, và bộ môn dân tộc nhạc học (ethnomusicologie) được chính thức giảng dạy ở cấp bực đại học, thì nhạc cổ truyền thế giới được đưa thể nghiệm vào môn âm nhạc điều trị học.
1. Trị bệnh cá nhân: Có nghĩa là bệnh nhân được trị riêng biệt. Muốn khám bệnh để biết phản ứng bệnh nhân, thì cho nghe một số loại nhạc (10 thí dụ đủ loại nhạc: Cổ điển tây phương, cổ truyền thế giới, nhac pop, rock, techno, jazz) để xem phản ứng của bệnh nhân. Ðể bệnh nhân trong một phòng sơn màu xanh, rồi đỏ, vàng, trắng, đen, nói chung là đủ các loại màu để xem bệnh nhân phản ứng ra sao khi bên ngoài có màu sắc khác nhau dù là nghe một loại nhạc ở thời điểm khác nhau (mỗi ngày nghe một lần ở một phòng màu khác nhau). Sau 10 ngày, thì mới cho một “toa thuốc” chỉ gồm có nhạc mà thôi. Thí dụ: 5 phút nhạc Mozart buổi sáng, 4 phút nhạc jazz New Orleans sau khi ăn cơm, 5 phút nhạc techno lúc 4 giờ chiều, 5 phút đàn tranh Việt Nam độc tấu nhạc vui nhẹ theo điệu Bắc. Ðó là trường hợp cá nhân.2. Trị bệnh tập thể: có nghĩa là một nhóm người bị bệnh thần kinh hoặc có thái độ thụ động (attitude passive) hay có thái đọ kích động (attitude active). Nếu người thụ động thì cho nhạc giựt gân bắt họ phải nhảy múa theo điệu nhạc hoặc múa máy tùy hứng chung với nhau. Nếu người kích động thì phải cho nghe nhạc thiệt giựt gân để cho họ nhảy múa điên cuồng theo điệu nhạc. Sau 15 phút nhảy múa thì họ sẽ mệt phờ người thì họ sẽ không cón sức lực để gây hấn, hung hăng. Sau đó cho họ nghe một loại nhạc thật êm dịu. tập thể: có nghĩa là một nhóm người bị bệnh thần kinh hoặc có thái độ thụ động (attitude passive) hay có thái đọ kích động (attitude active). Nếu người thụ động thì cho nhạc giựt gân bắt họ phải nhảy múa theo điệu nhạc hoặc múa máy tùy hứng chung với nhau. Nếu người kích động thì phải cho nghe nhạc thiệt giựt gân để cho họ nhảy múa điên cuồng theo điệu nhạc. Sau 15 phút nhảy múa thì họ sẽ mệt phờ người thì họ sẽ không cón sức lực để gây hấn, hung hăng. Sau đó cho họ nghe một loại nhạc thật êm dịu.3. Có khi dạy họ thiền với một điệu đọc kinh Tây tạng hòa chung với cách thở nhẹ để tìm lại sự quân bình trong tâm hồn.trị bệnh thần kinh nhẹ.

Phương pháp trị bệnh tâm thần đã được giới Tây phương ứng dụng trong cách tham thiền và dùng nhạc êm dịu (gọi là nhạc bay bổng – musique planante; nhạc thiền – musique méditative; nhạc xả hơi – musique relaxante). Ðối với tôi, những người theo phương pháp này là những người bị bệnh tâm thần thụ động, chỉ thích nghe nhạc để tìm lại sự bình thản trong tâm hồn. Họ không có bệnh nhưng có một vài vấn đề không giải quyết được nên tìm một nguồn an ủi qua âm nhạc nhẹ thanh thoát. tâm thần đã được giới Tây phương ứng dụng trong cách tham thiền và dùng nhạc êm dịu (gọi là nhạc bay bổng – musique planante; nhạc thiền – musique méditative; nhạc xả hơi – musique relaxante). Ðối với tôi, những người theo phương pháp này là những người bị bệnh tâm thần thụ động, chỉ thích nghe nhạc để tìm lại sự bình thản trong tâm hồn. Họ không có bệnh nhưng có một vài vấn đề không giải quyết được nên tìm một nguồn an ủi qua âm nhạc nhẹ thanh thoát.trị bệnh tâm thần (khủng hoảng tinh thần, tánh nhút nhát, bệnh cà lăm, không dám phát biểu trước công chúng vì bị khớp, v.v…)
Hát đồng song thanh đã giúp cho người học hát có thêm nghị lực, không còn sợ sệt, lấy lại niềm tin, và làm giảm bớt bệnh cà lăm. Rất nhiều kịch sĩ học với tôi để cho giọng được mạnh hơn, một số nhà chính trị gia học hát đồng song thanh để tạo cho giọng nói của mình có bề dày (giọng nói mạnh hơn, nhiều bồi âm để thu hút và chinh phục cử tri), những người hát sai không còn phải bị mặc cảm vì hát đồng song thanh không dựa vào cao độ cố định giúp cho họ lấy lại tự tin, v.v…trị bệnh mà để giúp cho mấy người lên đồng nghe nhạc để gọi các ông hoàng bà chúa nhập vào xác bà bóng để nhảy múa, hay tiên đoán tương lai, trị bệnh người đau yếu.

TRAN QUANG HAI : court aperçu de la musique traditionnelle du Vietnam

Court aperçu de la musique traditionnelle du Vietnam.

La musique vietnamienne a une histoire qui remonte à l’époque ancienne. Cet art joue un rôle important dans la vie des Vietnamiens; chaque fête ou célébration est animée par un instrument différent.

La musique sert à exprimer les sentiments les plus profonds. Les rythmes et les refrains servent à motiver au travail et dans les luttes quotidiennes en plus de contribuer à l’éducation des enfants selon la tradition et le sentiment national. La musique aide à communiquer avec la vie spirituelle et à atteindre un idéal.

Les instruments les plus simples et primitifs ainsi que les plus sophistiqués ont été préservés et composent aujourd’hui un véritable trésor musical. Une variété de chansons et de musique font partie de la tradition culturelle vietnamienne. Il s’agit entre autres de berceuses et de chansons pour enfants ainsi que de chants pour les rituels et les festivals. Le patrimoine compte des charades, des mélodies, des poèmes et des déclarations amoureuses en chansons. Certains airs sont exécutés par des groupes et d’autres accompagnent les pièces de théâtre.

Les événements historiques ont grandement influencé la culture vietnamienne avec l’intégration de différents genres musicaux. Les mélodies appartenant au même genre musical varient beaucoup entre elles et entre groupes ethniques. Par exemple, les berceuses des Kinh diffèrent beaucoup de celles des Muong.

La musique traditionnelle a joué un rôle important dans la vie des Vietnamiens. De nos jours, elle occupe encore une place importante dans leur vie spirituelle. Certains genres font toujours partie de la vie culturelle des régions rurales. D’autres sont reproduites afin de répondre à la demande du public.

 

Biographie :

vlcsnap-2016-07-18-15h58m36s533

TRAN QUANG HAI

 

Né le 13 mai 1944, à Linh Dông Xa (Gia Dinh), Sud Viet Nam , Trân Quang Hai est à la fois musicien accompli, éminent ethnomusicologue, pédagogue, conférencier, compositeur, coureur de la planète sonore, membre du Centre National de la Recherche Scientifique, et le plus grand spécialiste du chant diphonique dans le monde.Tel est le protéiforme de Trân Quang Hai. Il a choisi de suivre son père sur les traces de la reconnaissance scientifique. De la musique et de l’étude, de l’Orient et de l’Occident, il a créé un mélange à sa manière toute personnelle, emprunte d’humour et de conscience profonde de ses responsabilités.

Ancien élève du Conservatoire de Musique de Saigon (1955-1961), il est diplômé du Centre d’Etudes de Musique Orientale de Paris en 1970.

De famille de musiciens traditionnels depuis cinq générations, il joue d’une quinzaine d’instruments de musique : cithare à 16 cordes (dàn tranh), vièle à 2 cordes (dàn co), cliquettes à sapèques (sinh tiên), guimbardes (dàn môi), cuillers (muông) pour le Vietnam ; vièle à 2 cordes (nan hu) pour la Chine ; tambour à 1 peau (zarb) pour l’Iran ; luth à 4 cordes principales et 3 cordes rythmiques (vina), luth d’accompagnement à 4 cordes (tampura) pour l’Inde ; violon, guitare, mandoline, banjo, flûte à bec, différentes guimbardes d’Europe et d’Asie.

Ses études sont approfondies et variées. Il faisait ses études à différentes universités : Institut de Musicologie, British Institute, Institut d’Ethnologie, Ecole du Louvre, Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, Laboratoire d’Acoustique Musicale.

Depuis 1968, il travaille comme chercheur du CNRS au Département d’ethnomusicologie du Musée de l’Homme. Entre 1968 et 1987, il travaillait au Département d’ethnomusicologie du Musée National des Arts et Traditions Populaires à Paris.

Pendant presque 45 ans de carrière de musicien professionnel (1962-2005), il a donné plus de 3.000 concerts et un millier de concerts scolaires dans le monde

Depuis 1971, il a fait 15 disques microsillons 33 tours et 8 CD sur la musique vietnamienne. Plusieurs de ses compositions ont été enregistrées et mentionnées dans le Who’s Who in Music (1998, 1999, 2000, 2001, 2002), dans le Who’s Who in the World (depuis 1981) et dans le Who’s Who en France (depuis 1997).

Trân Quang Hai est le premier musicien vietnamien à jouer dans plusieurs événements historiques : Bicentenaire d’Australie (1988), Bicentenaire de la Révolution Française (1989), 700 ans de Suisse (1991), 350 ans de Montréal, Canada (1992), 500 ans de la découverte d’Amérique par Christophe Colomb (1992), 600 ans de Seoul, Corée (1994), Jubilée du Roi de Thailande (1996).100 ans d’indépendance de la Norvège (2005)

Il est un des rares musiciens d’avoir participé à plusieurs Fêtes de la Musique (depuis la 1ère Fête de la Musique en 1982 , puis en 1984, 1985 à Paris , en 1991 à Saint Denis – Ile de la Réunion , en 2000 et 2001 à Paris, et la 21ème Fête de la Musique en 2002 à Beyrouth – Liban) Il est le seul musicien à interpréter plusieurs oeuvres musicales des compositeurs de musique contemporaine comme Nguyên Van Tuong, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard, et aussi de la musique de film écrite par Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, et Jean Claude Petit.

Ses recherches sur le chant diphonique depuis 1969 lui ont donné le titre du plus grand spécialiste de cette technique vocale si singulière avec plus de 8.000 stagiaires des 60 pays dans le monde, le Prix Spécial du chant diphonique Khoomei à Kyzyl (Tuva, 1995), la Médaille de Cristal du CNRS en 1996 et la Médaille du Chevalier de la Légion d’Honneur en 2002 .

Pour mieux connaître Tran Quang Hai, visitez son site : http://tranquanghai.com

vlcsnap-2016-07-18-15h54m05s572

Bach Yen bio (Français)

Bach Yên, Blanche Hirondelle, est née dans le delta du Mékong (Sud VietNam). Elle débute très jeune comme chanteuse de variétés internationales )Saigon, chantant indifféremment en six langues (Vietnamien, Français,Anglais, Espagnol, Italien, Hébreu). Devenue célèbre, elle gagne Paris en 1961 pour chanter « à la Piaf » mais la maison Polydor qui la prend sous contrat préfère qu’elle se lance dans le twist sentimental à la mode dans les années sixties.

Trois disques et plusieurs scopitones témoignent de ce premier séjour en Europe qui comporte par ailleurs une tournée en Belgique, Allemagne et Autriche.

En 1965, elle traverse l’Atlantique sur l’invitation d’Ed Sullivan pour paraître dans son TV Show (émission nationale la plus regardée (plus de 30 million spectateurs) aux Etats-Unis). L’Amérique la retiendra longtpemps car les deux semaines prévues se transforment en un engagement de douze ans.

Sa notoriété grandissante lui permet d’y faire d’autres émissions de TV avec Bob Hope, Bing Crosby, Joey Bishop, Mike Douglas, Pat Boone, etc… et de se produire dans 46 états des aux côtés de Jimmy Durante, Liberace et Frankie Avalon.  Etats-Unis, Canada, Mexique, Caracas (Venezuela), Bogotá (Colombia), l’Amérique du Sud, Panama, Curaçao.

Hollywood fait aussi appel à Bạch Yến pour chanter dans le film « Les Bérêts Verts » (The Green Berets) joué par John Wayne.

Les retrouvailles de Bạch Yến avec Paris en marquent un tournant décisif dans sa carrière. Elle y rencontre Trân Quang Hai, musicien et ethnomusicologue qui réussit à la convertir à la musique traditionnelle vietnamienne. C’est l’éclosion d’un autre talent ignoré.

En sa compagnie, elle a donné plus de 3.000 concerts sur les cinq continents.  Ensemble, ils ont fait 7 disques 33 tours dont l’un, édité en 1983, remporte le Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros, et maintenant, evidemment un CD.

Ambassadrice fervente et talentueuse de la musique vietnamienne, Bạch Yến compte parmi les plus grandes figures de la chanson aussi bien moderne que traditionnelle.

 

 

 

 

Programme

MUSIQUE ET CHANTS TRADITIONNELS DU VIETNAM

Avec  TRAN QUANG HAI & BACH YEN

Ce concert commenté sera présenté par Tran Quang Hai & Bach Yên. Des chants liés aux faits et gestes de tous les jours (berceuse, chants d’amour, chants de travail) s’intercalent avec des instruments de musique tels que cithare à 16 cordes dàn tranh, vièle à 2 cordes dàn co, cliquettes à sapèques, cuillers, guimbardes .

 

TRAN Quang Hai (France): Westernization and Modernization of the Gongs of the Highlanders of Central Vietnam: Are They Good for the Development of Their Music in the Globalization of World Music

gongs 1.jpg

Gong ensemble of the Highlands in Vietnam

Gong culture developed from cultures of ethnic brass (which represents a bronze drum was born 3000 years ago) is the art form associated with the cultural history of ethnic minorities living along the Truong Son in the Highlands. Previously, there were some books written by Western scholars about the gongs of Vietnam, but mainly on the aspect of cultural anthropology , rarely mentioning the musical aspect , except one important article written by Jacques Dournes among the Jarai music. In Vietnam, Prof. To Ngoc Thanh has written many important articles about the gongs of the Highlands. However, so far in the country is a synthesis of all the orchestra of gongs minorities. From there to get a comprehensive view about the gongs, we have noticed that the  Central Highlands gongs have a special value of the richness of a great variety of gongs and a bigger number of gongs than any other countries in South East Asia .But there are not a single Ph.D. dissertation on Gongs in Vietnam , while in Indonesia and the Philippines, we can find many researchers who have written theses, and important articles on gongs. After a long time almost sunk into oblivion, thanks to the recent attention of central government and localities, the contributions of older artists, younger artists have preserved a sense of capital equity, as well as researchers, a full profile in English of gongs of Vietnam have been published. In comparison with records of previous royal court music, the gong documents are not inferior in terms of material filled with images, sounds, new records …

bui trong hien.jpg

Bùi Trọng Hiền, a Vietnamese researcher

The important work elaborated in the Western scientific method by Bui Trong Hiên on Gongs of the Highlands has revealed the characteristics of gongs that we cannot find in other countries. His written document contributed largely to the report to obtain the nomination of the UNESCO world intangible cultural heritage in 2005.

Ethnic Highlands has two primary types of gong : công – gong made of bronze with a knob in the middle, and chiêng – flat with no knob
Gong instrument makes not only music for entertainment, but also for festivities or an important event.  Gong is considered as a sacred object, a means for people to interact with the deities. The music here is not merely a function of art but it aso  serves a special event in the society in everyday life.  Music is heard from the cradle to the grave. New child birth at the villagethe old man struck the oldest gong to the ears of the child to let him hear the first sound of the gong which was considered as part of the tribal community. When children grow up, each stage of life was associated follow gongs, from sowing to farming , from wedding to funeral, etc…

While other gong countries almost fixed in a system (such as Indonesia, including five kinds of musical instruments) ,the Central Highlands gongs are diverse. Gong orchestra can simply include 2 gongs or up to 9,12,and 15, depending the formation of the ensemble for specific events. During the festivities,  there are more important  gong ensembles with drums and cymbals.

gamelan

Javanese Gamelan (Indonesia)
If the gong orchestra in other countries, such as in Gamelan(Java), Gong Kebyar (Bali) or Kulingtan, (Mindanao, the Philippines), musicians always sit down in front of gongs. The Vietnamese Highanders hit gongs when moving around and the movement backward and forward of the body .
There are sophisticated techniques that a normal person hardly know how to perform.
The name of the gongs was also very rich, based upon the instrument emits sound. Most of the low gong sound emitted – which is basically sound – called « mother. » In the orchestra are from 9 gongs or higher,  there is  « father »gong next to  « Mother »gong, followed by a “child”gong, “grand child” gong .The order of gongs gives the first place to “mother”gong followed by the “father” gong . This justifies the matriarchy in the system of family of the Highlands.

gongs master.jpg

Gong master retuned a gong
Every tribe in the Central Highlands has a very specific sound adjustment, not the difference in pitch, but also in sound color. To create a delicate beauty of the sound color a gong musician must have a refined ear to adjust the pitch accurately .Unfortunately , the number of such musicians is very few left.

In short, not a country or region in South East Asia has the big number of gongs like in the Central Highlands of Vietnam. Only four provinces in Dac Lac, Pleiku, Kontum and Lam Dong provinces, with nearly 20 ethnic minorities, possessed more than 6,000 gong ensembles at the beginning of the 20th century. With the time, many gong ensembles were lost.

gongs 4.jpg

Gong ensemble modified by the youngsters

Other gong ensembles used by the youngsters  are re-tuned according to the Western scale in order to perform Western melodies.In addition, the old and precious gong ensembles with  high commercial value were sold to foreign tourists by the poor tribal families .

 

Nowadays, most new gongs are purchased in Cambodia and Thailand and are brought back to Vietnam and are adjusted according to the musical scale of each tribe. Presently, we can count 2,000 new and old gong ensembles in the Highlands, in a word only one third left in comparison with the 6,000 gong ensemble 100 years ago . It is a very alarming loss.

gongs 3.jpg

Gong performance on the stage

The presence of new imported gongs, the show performances on stage, in different festivities for tourism, the shows abroad at different music festivals, the transformation of new style of costumes that makes the recognition of each tribe impossible, the new music and dances, the gathering of many gongs in one set for new music, all these  are gradually destroying the authenticity of traditional gong music of the Highlands .

 

The UNESCO recognized the Central Highlander Gong Ensemble as a Masterpiece of the Oral and Intangible Heritage of the Humanity in November 15, 2005.

http://www.vietnam-beauty.com/vietnam-world-heritages/oral-and-intangible-cultural-heritage-of-humanity/10-oral-and-intangible-cultural-heritage-of-humanity/13-the-cultural-space-of-gong-in-the-central-highlands.html

According to the UNESCO, a “masterpiece” must not be allowed to change. Therefore, for the Westernized development and the modernization of the Gong Ensembles of the Central Highlands, it is very careful not to let the “innovation” as a metamorphic traditional art of the nation, but this Gong tradition should be preserved carefully in order to remain the authentic treasure of the humanity.