Jour : 24 mars 2016

Nhật Hoa Khanh : ĐI CHÙA HƯƠNG CỦA TRẦN VĂN KHÊ

Nhật Hoa Khanh : ĐI CHÙA HƯƠNG CỦA TRẦN VĂN KHÊ

Xin moi xem bai phong van   Úc châu ngày 1/3.

Trang Thơ Nhạc đầu tháng 1-3-2011

Nhạc:Đi Chùa Hương*

*Nhạc:Trần Văn Khê*

*Thơ: Nguyễn Nhược Pháp*

*Giọng hát:* *Ý Lan
ĐI CHÙA HƯƠNG CỦA TRẦN VĂN KHÊ*

2010-01-19 TVK 1

Trần Văn Khê

Nhật Hoa Khanh* phỏng vấn

(17/2/2011)
Suốt gần 60 năm nay, bài thơ Chùa Hương (tác giả Nguyễn Nhược Pháp) sau khi
được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc toàn bài, ngày càng nổi lên trên văn đàn
và trên sân khấu. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp được Trần Văn Khê
phổ nhạc toàn bài và lấy tên là Đi Chùa Hương.
Thưa GS nhạc sĩ, ông đã từng gặp nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lần nào chưa?

– Tôi chưa bao giờ gặp nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Nhược Pháp mà chỉ đọc những
bài thơ của ông trong cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân mà
thôi.

** Vì sao ông lại phổ nhạc toàn bộ bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp?
– Đó là năm 1946, khi đang lánh nạn ở Lộc Ninh, ban đầu tôi chưa hề có ý
định, nhưng vì rất thích nên tôi đã đọc bài thơ đó nhiều lần. Tôi thường hay
ngâm thơ nên ban đầu có ý ngâm bài thơ, nhưng vì là thể thơ ngũ ngôn, có rất
nhiều đoạn khó. Vì thế tôi thấy rằng làm như vậy không hấp dẫn bằng có nhiều
đoạn mình ngâm « theo kiểu mới ». Một hôm, khi chuyển qua ngâm thơ theo điệu
mới, một vài nét nhạc thoáng qua đầu, trong 10 ngày, tôi ghi lại những đoạn
tâm đắc, lúc đó mới nghĩ đến việc ký âm lại cho dễ nhớ và từ đó bắt đầu phổ
nhạc.

** Xin GS kể chi tiết một số đoạn xử lý với bài thơ độc đáo này?

– Tôi không phải là nhạc sĩ sáng tác, nhưng lúc đàn piano phụ họa theo tiếng
ngâm của mình, tôi bắt đầu bằng gam Pha trưởng, rồi nhiều đoạn chuyển sang
gam Rê thứ, chỉ có lúc cuối cùng, do tình cảm nhớ thương da diết nên tôi
chuyển sang ngâm theo phong cách Sa mạc, nhưng cũng dựa theo gam Rê thứ. Lúc
đó, tôi cũng định ghi nhạc để hát chơi cho các bạn nghe chớ không định phổ nhạc một bài thơ.
** Hành trình tiếp theo của cuộc đời bài hát, thưa GS?

– Người đầu tiên tôi đưa bài phổ nhạc là nhạc sĩ Lê Thương, bạn rất thích.
Khi tôi chuẩn bị sang Pháp thì Lê Thương gởi thư nói rằng nến không giới
thiệu với công chúng thì rất uổng. Lê Thương đã nhờ ca sĩ Mộc Lan học thuộc
lời và giới thiệu trong một buổi hoà nhạc có nhiều bạn bè của ông, lúc đó
tôi đang ở Pháp.

Sau đó, NXB Tinh Hoa, qua giới thiệu của Lê Thương, đã viết thư yêu cầu tôi
cho phép xuất bản bài Đi Chùa Hương. Lúc đó tôi đang bịnh, đang nhập viện  nên rất cần tiền. NXB bằng lòng trả tiền tác giả để in lần đầu khoảng 2000 bản và không lâu sau, báo tin đã bán hết và xin tái bản lần hai, đồng thời gửi đầy đủ tiền tác quyền sang Pháp cho tôi. Lúc đó, đồng VN bằng 17 franc cũ. Nhờ tiền tác quyền, tôi sống bình yên 4 tháng trời tại Paris!
Lê Thương còn cho biết, Mộc Lan cũng trình bày bài đó trên Đài phát thanh
Pháp á. Rồi bên nhà báo sang là Thái Thanh cũng hát. Nhưng tôi không nhận
được bản ghi âm nào. Sau này, tôi biết bên Mỹ cũng có vài ca sĩ giới thiệu
bài Đi Chùa Hương, trong đó có ý Lan – con gái Thái Thanh – đã thu được  nhiều kết quả. Khi về nước làm việc, tôi được Thanh Lan tặng một cuốn băng
video ghi lại bản nhạc Đi Chùa Hương rất đầy đủ. Trong các nghệ sĩ hát bài
này, có Hồng Vân là thuộc hết bản nhưng chỉ thường giới thiệu trích đoạn chứ
không hát cả bài.

** Những năm 50, 60 ở VN, những năm 90 ở hải ngoại, nhiều nữ danh ca đã thể
hiện Đi Chùa Hương với những giọng truyền cảm sâu sắc. GS thích nhất giọng
nào?

– Tiếc rằng tôi không được diễm phúc nghe tận tai tất cả các ca sĩ hát bài
này. Đến nay tôi chỉ còn nhớ giọng của ý Lan mà tôi được một người bạn bên
Mỹ cho nghe qua điện thoại. Giọng của Thanh Lan, tôi cũng còn nhớ rõ vì có
cuộn băng. Hồng Vân thì đã rất nhiều lần hát tặng tôi ở những buổi họp mà tôi có mặt…

* Nhạc sĩ Lê Thương, năm 199, tại TpHCM, đã nói với tôi: Chùa Hương là bai
thơ dài thấm đẫm hồn dân tộc trong thể thơ và nội dung, trong lời thơ. Nhạc
sĩ Trần Văn Khê đã phổ nhạc thành công bài thơ dài và độc đáo đó. GS suy
nghĩ thế nào về nhận định này?

– Bạn tôi vì quá ưu ái mà có lời khen tặng như vậy. Về mặt nhạc học, lẽ tất
nhiên là Lê Thương rất sành sỏi nên lời nhận xét đó không xa với thực tế.
Nhưng tôi vẫn không dám nhận tất cả những lời khen của bạn, vì tôi không
phải là nhạc sĩ sáng tác chuyên môn để có được những quan điểm sâu sắc về
cách phổ nhạc.

** GS có nhớ lần đầu tiên ra Hà Nội và lần đầu tiên thăm chùa Hương?

– Tôi đi chùa Hương lần đầu lúc đang học trường Y tại Hà Nội năm 1942. Về
sau được đọc bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp thì bao nhiêu cảnh đẹp
chùa Hương mà tôi đã được thấy, như hiện rõ trong câu thơ và nhờ đó mà bản
phổ nhạc được nhiều bạn yêu thích

Năm 1976, nhạc sĩ Đỗ Nhuận tổ chức cho tôi đi viếng chùa Hương cùng GS
Nguyễn Hoán và phu nhân, Võ Thị Tri Túc, và con trai của hai bạn là cháu
Cảnh. Tôi thật bồi hồi! Không gian cũ hiện lên, cùng với những cảm xúc vẫn
nguyên vẹn trong lòng, tất cả như còn tươi mới!

** Chân thành cảm ơn GS nhạc sĩ Trần Văn Khê

Những điều chưa biết về nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp Người đời nhớ đến tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp với bài thơ Chùa Hương nổi tiếng. Nhưng ít ai biết rằng người thi sĩ tài hoa ấy là con trai của nhà  báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và là một cây bút tài năng. Tiếc rằng cuộc đời đoản mệnh, ông vĩnh biệt cõi trần khi mới ở tuổi 24,để lại cho hậu thế một tập thơ mỏng manh duy nhất với nhan đề Ngày Xưa

Hôm qua đi chùa Hương

Hoa cỏ mờ hơi sương

Cùng thầy me em dậy

Em vấn đầu soi gương… »

Mỗi khi đọc lại những câu thơ này tôi lại nhớ tới một kỷ niệm ở Paris, vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Hôm đó, trong quầy bar ở tầng hầm ngôi
nhà rất sang trọng tại ngoại ô thủ đô Pháp của TS Việt kiều Nguyễn Văn Tuyên (nay đã thành quá cố), diễn ra một buổi ca nhạc thính phòng của các nghệ sĩ
Việt với những người bạn.

Có mặt hôm đó là cố Nhạc sĩ Lê Dung, Nhạc sĩ Quang Thọ, Pianist Hà Ngọc Thoa
từ Hà Nội tới; Nhạc sĩ Phạm Duy từ Mỹ sang; Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc
Trần Văn Khê cùng con trai và con dâu của ông là Nhạc sĩ Trần Quang Hải và
Ca sĩ Bạch Yến, những người Việt cư trú tại Paris…
Đấy là khi nhạc sĩ Trần Văn Khê vừa mới từ bệnh viện về sau một ca phẫu
thuật khá nặng nên trông sắc mặt ông còn xanh xao lắm. Ấy vậy mà trong tình
bằng hữu, nhạc sĩ Trần Văn Khê đã đứng dậy, gạt đi mọi nỗi mỏi mệt, hát lại
ca khúc do chính ông sáng tác từ hơn nửa thế kỷ trước, bài hát Chùa Hương
phổ thơ của Nguyễn Nhược Pháp. Vốn quen nghe ca khúc rất được phổ biến rộng
rãi do ca sĩ Trung Đức phổ nhạc và luôn cảm thấy cấn cá khi cô gái quê của
Nguyễn Nhược Pháp được cho « đi đôi guốc cao cao » để leo lên chùa Hương, tôi
vừa thích thú vừa kinh ngạc khi thấy thơ Nguyễn Nhược Pháp được nhạc sĩ Trần
Văn Khê chuyển thành ca khúc chuẩn mực và dân gian đến thế: thơ không bị tầm
thường đi bởi những câu chữ thêm vào, mà giai điệu bên trong của thơ được
phát huy tới mức tối đa. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã biểu diễn ca khúc này rất
tuyệt vời: khi hát tới những đoạn đò đi, ông đã làm động tác chèo đò thực
ngoạn mục, khó mà có thể hình dung được trước đó không lâu ông đã gần như
kiệt sức vì ca phẫu thuật. Dường như những câu thơ trẻ trung, nhí nhảnh mà
thấm thía của Nguyễn Nhược Pháp đã thổi vào ông thêm sinh khí…
Thực tiếc là ở Việt Nam hôm nay, ít người được nghe bài hát đó của nhạc sĩ
Trần Văn Khê! Và cũng thực tiếc là hôm nay ở Việt Nam, chúng ta cũng không
biết được gì nhiều về thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, một tài hoa yểu mệnh.

*Giỏ nhà ai, quai nhà nấy*

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914 ở Hà Nội. Chàng là con trai của một
trong những cây bút có lẽ là vạm vỡ vào loại hàng đầu nước ta trong thế kỷ
XX, nhà văn, nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), người có quê là
làng Phượng Dực, Thường Tín (nay là làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú
Xuyên, tỉnh Hà Tây). Ông Vĩnh là một nhân vật kỳ thú của làng viết nước ta,
còn chưa được hậu thế nhận thức đầy đủ. Con một người nông dân nghèo, sinh
ra vào thời nước mất nhà tan, chỉ bằng trí tự thiên phú và lao động đến kiệt
sức của mình, ông Vĩnh đã tạo dựng nên được một gia tài chữ nghĩa vô cùng đồ
sộ mà ngay cả những người đồng thời, dù không đã đồng quan điểm với ông,
cũng phải nể vì.

Ông Vĩnh từng dịch nhiều tác giả Pháp cổ điển sang Việt văn, trong đó có thơ
La Fontaine mà bài phổ cập nhất có lẽ là bài Con Ve và con Kiến… Ông dịch
Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp, rồi dịch cả những tác phẩm tiếng
Hán như Tiền Xích Bích, Hậu Xích Bích sang Pháp ngữ… Ông còn là một nhà
báo vào hàng gạo cội của những thập niên đầu thế kỷ XX, người góp công gây
dựng nên nền báo chí Việt Nam khi đó. Theo hồi ức của nhà thơ Nguyễn Vỹ, ông
Vĩnh « rất trung thực, không nịnh ai mà cũng không ưa ai nịnh mình, không tùy
thời, mà chỉ tùy mình… ».

Trong con mắt của nhiều người đương thời, ông Nguyễn Văn Vĩnh là tấm gương lao động nghề nghiệp đến quên mình. Nhà văn Vũ Bằng nhớ lại: « Ông Vĩnh làm việc như con trâu cày, không mấy khi muốn phiền người khác. Có một lần, tôi đã được mục kích một cảnh như sau: không biết giận gia đình gì đó, ông lên một căn gác nằm khèo, nhờ ông Tụng (bác sĩ, nhân viên đắc lực của Saigon

Công thương, chuyên lo chạy tiền vay cho ông Vĩnh – TG) mua cho một mẹt bún chả ăn trừ cơm, rồi viết luôn một bài xã thuyết cho Annam Nouveau, thảo một thư cho toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng « Têlêmác phiêu lưu ký » cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp « có  ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được », miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua… Cho mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa thấy có ai viết báo nhiều loại khác nhau một cách tài tình và nghĩa lý như ông Vĩnh. Ông viết tin, viết xã thuyết, làm thơ, khảo cứu, phóng sự (Volonté Indochinoise) và dịch tiểu thuyết thì quả không chê được…. ». Là một người lao động sáng tạo như thế, lại ở thời nước ta còn theo tập tục phong kiến, dĩ nhiên ông Vĩnh là người đào hoa. Ông có tới ba vợ. Người vợ thứ hai chỉ sinh được một người con là Nguyễn Nhược Pháp. Năm thi sĩ của chúng ta mới lên hai tuổi, mẹ chàng vì đau đớn bởi chồng muốn cưới vợ ba nên đã tự vẫn. Thế là Nguyễn Nhược Pháp phải mồ côi mẹ từ đó… Sống với một người cha tính tình có lẽ là phóng túng, cậu bé mồ côi mẹ Nguyễn Nhược Pháp mặc dù được chăm lo về vật chất nhưng chắc là trong thẳm sâu tâm hồn chàng luôn có một nỗi trống vắng nào đó. Chàng được cha cho ăn học đàng hoàng, đậu tú tài rồi vào Trường cao đẳng Luật khoa. Tuy nhiên, giống như cha, chàng không thích đi làm quan mà chỉ mê mải văn thơ báo chí. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết truyện ngắn và kịch… Khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống rất hồn nhiên và trong sáng: chàng không hề nghiện ả đào và thuốc phiện!
*Hóm hỉnh nhìn **đời** Ông Nguyễn Văn Vĩnh là một người cao lớn, bệ vệ, nhưng Nguyễn Nhược Pháp chỉ cao có 1,52m thôi, giống như những người bạn mà chàng hay giao lưu như Nguyễn Vỹ, Phạm Huy Thông… Thế nhân biết chàng như một người lúc nào cũng
hay mủm mỉm cười, cái miệng như móm. Chàng cũng là người hay nói, niềm nở, lịch thiệp với mọi người. Đặc biệt, ai cũng quý chàng vì khiếu khôi hài và giọng điệu « rủ rỉ như cô gái bẽn lẽn trên đường đi chùa Hương ». Người làm sao, thơ làm vậy, tập Ngày xưa xuất bản năm 1935 của chàng thể hiện rất rõ một phong cách Nguyễn Nhược Pháp vô tiền và khoáng hậu trong thơ Việt Nam. Đây là tập thơ chỉ có trên dưới chục bài, toàn viết về những gì « vang bóng » từ lâu lắm rồi nhưng đã làm nên một kỳ tích mà Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận xét trong cuốn Thi nhân Việt Nam: « Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp ». Bằng con mắt già trước tuổi của một người luôn giữ được cái nhìn non xanh vào cuộc sống, Nguyễn Nhược Pháp đã vẽ nên được diện mạo thời xưa đầy mơ mộng, hóm hỉnh và trìu mến… Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh mà chàng viết tặng người anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Giang là một thí dụ. Chàng đã kể lại tích cổ bằng những chi tiết thực lôi cuốn. Thí dụ như cách hành xử của Mỵ Châu khi chứng kiến cảnh Sơn Tinh và Thủy Tinh tỉ thí với nhau: Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu, Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhòa  (Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu, Nhưng thật dễ thương): « Ô! Vì ta! ». Khổ kết bài thơ cũng đầy tinh tế và vui tính: Thủy Tinh năm năm dưng nước bể Giục núi hò reo đòi Mỵ Nương. Trần gian đâu có người dai thế, Cũng bởi thần yêu nên khác thường. Điểm sáng nhất trong tập Ngày xưa có lẽ là bài Chùa Hương, thiên ký sự củ  một cô bé ngày xưa. Nhà thơ Nguyễn Vỹ kể lại: « Bài thơ Chùa Hương là bài khá nhất trong tập thơ Ngày xưa, có một lai lịch kỳ thú không ngờ. Chuyến đi Chùa Hương ấy, Nhược Pháp đi với tôi và hai cô gái nữa, đều là nữ sinh cả. Hai cô mang theo hai máy chụp hình, còn Nhược Pháp và tôi đều đi tay không. Trèo lên đến rừng mơ bỗng chúng tôi gặp một bà cụ vừa bước lên đèo, đường gồ  ghề lởm chởm, vừa niệm: « Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế âm Bồ tát… ». Cô gái quê có lẽ là con của cụ, cũng đang niệm câu ấy nhưng nửa chừng trông thấy chúng tôi là hai chàng trai nhìn cô trân trân thì cô bẽn lẽn làm thinh không niệm Phật nữa. Cô đang đọc: « Nam mô cứu khổ cứu nạn… » rồi cô im. Đôi má cô đỏ bừng, cô cúi mặt xuống. Hai đứa tôi hỏi cô: « Tại sao trông thấy chúng tôi, cô không niệm Phật nữa? Cô gái quê có vẻ đẹp ngây thơ bỗng tỏ vẻ bối rối muốn khóc ». Không ngờ hai cô bạn nữ sinh lên chụp được tấm hình hai đứa tôi đang hỏi chuyện cô gái quê, rồi có lẽ không bằng lòng chúng tôi nên hai cô lén đi trước, và đi lúc nào chúng tôi không hay biết, cũng chẳng nói năng gì với chúng tôi cả, bỏ chúng tôi ở lại với cô gái quê. Chúng tôi mê nói chuyện với cô này, một lúc sực nhớ lại hai cô bạn, chúng tôi vội vàng đi theo nhưng không kịp. Hai cô đã lên đến chùa Ngoài, rồi lên đến chùa Tiên Sơn, lẫn trong đám đông người, biến mất dạng. Đêm ngủ trong chùa Hương, sáng hôm sa  ra về, chúng tôi mới gặp lại hai cô bạn đồng hành. Tôi phải xin lỗi mãi, nhưng Nhược Pháp cứ tủm tỉm cười không nói. Về Hà Nội, hai hôm sau, Nhược Pháp đem đến tôi bài thơ Chùa Hương, mà trong bản chép ra đầu tiên Nhược Pháp đề là Cô gái Chùa Hương. Nhược Pháp lấy cuộc gặp gỡ lý thú của chúng tôi với có gái quê làm đề tài và tưởng tượng thêm ra, thành bài thơ đẹp, giọng ngây thơ, y như cô gái chùa Hương hôm ấy… Trong tuần ấy, anh góp các bài thơ của mình, thành một quyển. Anh đưa tôi và hỏi Có nên xuất bản không? Nên! Nhưng tiền đâu? – Nhược Pháp cười móm mém Xin ông cụ.

– Thôi, tôi mà đưa ông cụ xem cái của nợ này, thì chắc chắn là ông cụ sẽ vứt
nó vào sọt rác.

– Đưa bà cụ vậy.

-Ừ, phải đấy!

Một tháng sau, quyển thơ Ngày xưa ra đời. Sách in xong mà Nguyễn Nhược Pháp
vẫn rụt rè, chưa dám đưa cụ Nguyễn Văn Vĩnh xem, chỉ sợ cụ vứt vào sọt rác.
Nghe nói, sinh thời Nguyễn Nhược Pháp có yêu một thiếu nữ tên là Thanh nhưng
cuộc gặp gỡ tình cờ ấy cũng đã không mang lại được một cái gì hiện hữu cho
cuộc đời thật của chàng. Người thơ, yêu cũng như sương khói, chỉ có những
suy tư, cảm xúc được biến thành vần điệu là ở lại lâu dài với hậu thế mà
thôi. Nguyễn Nhược Pháp qua đời vào ngày 19/11/1938. Thi nhân đôi khi cũng
như danh tướng và mỹ nữ, « bất hứa nhân gian kiến bạc đầu ».
* HOÀNG NGUYÊNBS. NGUYỄN LÂN ĐÍNH *
*Thơ*
*Nguyễn Nhược Pháp*

*Tay Ngà*

*Đêm nay chờ giǎng mọc

Ngồi thẩn thơ trong vườn

Quanh lá hoa róc rách Như đua bắt làn hương

Ta ngồi bên tảng đá

Mơ lều chiếu ngày xưa

Mơ quan Nghè, quan Thám

Đi có cờ lọng đưa

Rồi bao nàng yểu điệu

Ngấp nghé bay trên lầu

Vừa leng keng tiếng ngựa

Lẹ gót tiên gieo cầu

Tay vơ cầu ngũ sắc

Má quan Nghè hây hây

Quân hầu reo chuyển đất

Tung cán lọng vừa quay

Trên lầu mấy thị nữ

Cùng nhau rúc rích cười:

« Thưa cô đừng thẹn nữa

Quan Nghè trông lên rồi »

Cúi đầu nàng tha thướt

Yêu kiều như mây qua

Mắt xanh nhìn man mát

Mỉm cười vê cành hoa

Ta còn đang luyến mộng

Yêu bóng người vẩn vơ

Tay ngà ai phủ trán?

Hiu hắt ánh trǎng mờ *