Jour : 16 mars 2016

TIẾNG RAO HÀNG RONG Ở VIỆT NAM/Tiếng rao hàng Việt Nam thời Pháp thuộc cũng đi vào lịch sử của đất nước ta.

TIẾNG RAO HÀNG RONG Ở VIỆT NAM

Ở những nước giàu có như Mỹ, Pháp v.v.. và ngay cả ở những khu phố sang trọng của Sài Gòn như Tú Xương, Phùng Khắc Khoan, Lê Ngô Cát và khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng quận 7, và cả ở miền quê nghèo …. có lẽ không bao giờ người dân được thấy những người bán hàng rong bằng quang gánh hay xe đẩy, xe đạp, xe máy và chẳng bao giờ nghe thấy những tiếng rao hàng của họ đã đi vào lòng người. Đội quân bán dạo này có mặt ở khắp hẻm hóc, ngõ ngách phố phường, ở Sài Gòn cũng như Hà Nội. Lâu dần thành quen, khi không có những tiếng rao ấy, người ta có cảm giác trống vắng kỳ lạ.
Tôi có người bà con sống bên Pháp từ nhỏ. Vốn là người thích ăn vặt, một lần về Sài Gòn, bả ấy rất thích thú khi gặp người bán hàng rong đi bán trong một khu phố. Thèm ăn thứ gì là có người đem đến tận nhà để bán. Món ăn thì ngon, giá cả lại vô cùng rẻ, một điều mà bên Pháp không hề có được vì muốn ăn thì phải đi xa.
Bây giờ tôi điểm lại các mặt hàng bán rong và các dịch vụ di động mà tôi biết được từ khi tôi còn nhỏ và sống qua nhiều nơi ở Sài Gòn. Mỗi mặt hàng ăn hoặc dịch vụ lại có kiểu rao hàng riêng.
1.     Lâu đời nhất có lẽ là dịch vụ NHUỘM quần áo. Người thợ nhuộm gánh 2 bên 2 cái thùng với nồi nước nóng nghi ngút. Trong thùng có chứa than củi và bột hoá chất để nhuộm, đủ màu sắc, nhưng nhiều nhất vẫn là các màu tối như đen, nâu, xám vì những người có nhu cầu nhuộm quần áo thường là dân lao động nghèo. Ông thợ nhuộm vừa đi vừa lắc cái “TRỐNG BỎI”, một vật dụng mà thế hệ trẻ ngày nay không hình dung ra được. Trống bỏi có đường kính khoảng hơn một gang bàn tay. Chung quanh thân trống làm bằng gỗ, hình tròn, có cán (chuôi) để cầm. Hai mặt trống làm bằng da trâu. Ở cạnh thân trống có sợi dây gắn vào. Đầu dây là một cục gì nhỏ và hơi nặng, chẳng hạn một cục gỗ. Ông thợ nhuộm cầm cái chuôi (cán) lắc lắc, cục gỗ ở đầu dây đập vào 2 mặt trống phát ra tiếng kêu “bung …. bung”. Thế là mọi người dù đang ở trong nhà cũng biết có ông thợ nhuộm đi qua. Ngày nay nghề nhuộm quần áo cũ đã mất hẳn.
2.     Ngồi trong nhà, mỗi khi nghe tiếng CHUÔNG lắc keng …. keng ta biết ngay là có ông bán KEM (hồi đó gọi là cà rem).
3.     Buổi tối trong các con hẻm, khi nghe tiếng cùa 2 THANH TRE gõ vào nhau kêu cốc .. cốc, ta biết ngay có anh bán MÌ GÕ (tức là bán hũ tiếu hay mì). Ai muốn ăn cứ dặn anh ta thì một lúc sau một tô mì nóng hổi được bưng đến tận nhà. Ăn xong một lúc thì cũng anh “mì gõ” này đến nhà lấy lại tô bát thìa muỗng và tính tiền. Ai ngại vệ sinh an toàn thực phẩm thì đem tô bát của nhà mình cho anh ta múc mì vào.
4.     Nếu có nghe tiếng KÉO nhắp nhắp kêu thật to thì đó là ông bán ĐU ĐỦ NẠO BÒ KHO. Món này chỉ có ở trong Nam. Đây là món đu đủ xanh được nạo nhỏ ra thành sợi ăn với những miếng thịt bò được phơi khô và kèm tương ớt làm gia vị. Có nơi tiếng nhắp kéo còn là “xi-nhồ” hay “xi-nhan” (signal) của ông bán KẸO KÉO nữa.
5.     Hễ nghe tiếng một CHÙM SẮT lắc phát ra tiếng kêu xoang … xoảng thì đích thị là ông sửa KHOÁ. Ai có ổ khoá bị mất chìa thì đưa cho ông làm chìa khoá tại chỗ trong vòng 15 phút là có ngay. Nghề này nay cũng không còn nữa.
6.     Nói chung, mỗi nghề bán dạo có một dụng cụ phát ra “tín hiệu” (signal) để sao cho ai nghe cũng hiểu là mặt hàng gì. Nó như một thứ qui ước ai nghe cũng phải hiểu để thay cho tiếng rao rất tốn hơi sức. Tôi chỉ còn nhớ được có bấy nhiêu. Ai nhớ thêm kiểu ra hàng nào nữa xin vui lòng cho biết để tôi bổ sung.
7.     Lại có những nghề bán dạo không tìm được dụng cụ gì để thay được cho tiếng rao. Lúc đó người ta đành phải rao bằng miệng. Nhưng cũng để tiết kiệm hơi sức, người bán hàng rong cũng chỉ rao rất ngắn gọn như một tín hiệu chứ không cần đủ lời. Chẳng hạn như:
8.     Bà bán ĐẬU HŨ (miền Bắc gọi là tào phớ) thay vì kêu “Ai ăn đậu hũ không?” thì bà bán hàng chỉ hô “HỦ ĐÂY”.
9.     Ngày trước, khi chưa có cây cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền Giang, mọi người phải qua phà Mỹ Thuận. Ở đây có cả một đội quân bán MÍA GHIM. Tức là những miếng mía đã được róc vỏ, cắt ra từng miếng, ghim vào một cây que bằng tre, bán từng chùm, có ngâm nước đá để ăn cho mát. Thay vì rao “mía ghim đây” thì các bà các cô bán hàng chỉ hô gọn lỏn “GHIM ĐÂY”.
10.            Bước qua thiên niên kỷ mới, cách rao hàng rong hiện đại hơn. Người ta không rao bằng miệng, cũng không dùng các dụng cụ thô sơ cổ điển như nói ở trên nữa mà dùng loa phóng thanh. Thời đại “điện tử” mà. Thứ nhất phải kể đến ông bán KEO DIỆT CHUỘT. Kiểu rao điện tử này được du nhập vào Sài Gòn từ miền Bắc. Người miền Bắc thường khéo nói. Khi nói thì có đầu có đuôi, văn chương bay bướm. Vì vậy cái bài rao “thuốc diệt chuột” cũng rất bài bản. “Viện Công Nghệ Hoá Màu vừa cho ra đời một sản phẩm …. là keo diệt chuột….”. Tôi không nhớ hết nhưng nhận thấy lời rao bao gồm đầy đủ xuất xứ, thành phần, tính năng, công dụng … cứ như là một bài báo cáo khoa học. Muốn nghe cho hết “bài rao” này cũng mất 5-10 phút. Nhưng mà ông bán keo diệt chuột này có chịu đứng một chỗ để mình nghe hết đâu. Ông đi thoáng qua một phút thôi nhưng nghe cái giọng eo éo được phát ra từ loa lâu ngày bị biến dạng thì chẳng cần nghe hết nội dung ai cũng hiểu là sản phẩm “keo diệt chuột”. Có điều buồn cười là cái sản phẩm keo diệt chuột này tôi đã được nghe rao từ 20 năm nay rồi mà lúc nào cũng tưởng như mới bởi vì lúc nào lời rao cũng bắt đầu bằng câu ““Viện Công Nghệ Hoá Màu vừa cho ra đời ……”.
11.            Dịch vụ “CÂN SỨC KHOẺ” cũng có nguồn gốc từ miền Bắc. Người cung cấp dịch vụ này đẩy một cái cân khá lớn gồm một cái cột cân cao hơn đầu người. Trên cột có một bảng số điện tử, gắn với một cái bàn cân vừa đủ để đặt 2 bàn chân lên, và bên dưới có bánh xe để đẩy nó đi khắp nơi. Dụng cụ này không chỉ có cân trọng lượng cơ thể mà còn đo chiều cao. Máy được “lập trình” tính toán “chiều cao và cân nặng” rồi đưa ra nhận xét cho khách hàng biết là mình mập hay ốm. Xe được đẩy tới đâu là ta nghe giọng nữ miền Bắc được phát ra từ một chiếc loa nhỏ “Xin kính chào quí khách …. Xin kính chào quí khách“. Khi ai đó leo lên máy, trước hết loa phát ra giọng nói thông báo số cân nặng của mình. Loa nói rõ và ngắt từng chữ “Bảy … mươi … nhăm … ki … lô … gờ … ram” (75 kg). Sau đó thông báo chiều cao “Một .. trăm … sáu …. mươi …. nhăm … xen .. ti … mét” (165 cm). Chờ vài giây sau máy phân tích và đưa ra lời nhận xét “Quí … khách … hơi … béo, …đề … nghị …. ăn … kiêng”. Để kết thúc “máy” còn lịch sự nhắc đi nhắc lại “Xin … cảm … ơn … quí …khách….Xin … cảm … ơn … quí …khách…” liên hồi.
Những tiếng rao ấy đã trở thành một thứ âm thanh thân thương đối với tôi. Nó rất ư là “Việt Nam”. Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã có bài thơ “Quê hương” nổi tiếng với câu “Quê hương là chùm khế ngọt. Cho con trèo hái mỗi ngày”. Câu này là hình ảnh gần gũi nhất chỉ đối với những đứa trẻ hay người lớn ở miền quê. Còn tôi sống ở thành thị từ thuở nhỏ nên “chùm khế ngọt” không nằm sâu trong ký ức mà chính là những tiếng chuông leng keng của cà rem, tiếng gõ lóc cóc của mì gõ, tiếng rao “hủ đây” hay “ghim đây” hoặc tiếng loa “keo diệt chuột”, “cân sức khoẻ” mà tôi được nghe hàng ngày. Có những lần đi nước ngoài dài ngày, khi nhớ đến những âm thanh ấy tôi nhớ nhà kinh khủng. Khi trở lại thành phố mà tôi đã và đang sống, nghe những tiếng rao bình dân thân thương ấy, tôi thấy lòng mình ấm lại. Quí vị sống hẳn ở nước ngoài có bao giờ nghĩ vậy không?
PVT

wwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwww

Tiếng rao hàng Việt Nam thời Pháp thuộc cũng đi vào lịch sử của đất nước ta.

 

Những tiếng rao không chỉ chứa đựng giai điệu ngọt ngào, trong nó còn có cả hương thơm, mùi vị, màu sắc, có tính kích thích tất cả các giác quan của chúng ta.

Tiếng rao của những người bán hàng rong khiến cho phố phường tại các đô thị của Việt Nam trở nên rất sinh động. Điều này khiến cho những người nước ngoài cảm thấy thú vị. Tuy vậy, rào cản ngôn ngữ thường khiến cho họ không hiểu gì cả.


> Để “giải mã” những âm thanh đặc biệt kể trên, vào năm 1929, tác giả Pháp F. Fénis đã xuất bản một cuốn sách mỏng có tiêu đề “Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội” (Les marchands ambulants et les crisde la rue à Hanoi). Cuốn sách gồm 40 trang đã mô tả khá đầy đủ về các loại hình hàng rong và tiếng rao tương ứng ở Hà Nội thông qua hình ảnh và khuôn nhạc minh hoạ.

Những hình vẽ minh hoạ trong ấn bản này do các học viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, trong đó có Tô Ngọc Vân – người sau này trở thành hoạ sĩ nổi tiếng của Việt Nam – thực hiện. 
>
 
> Dưới đây là bản scan của một cuốn “Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội” đang được lưu giữ tại một thư viện của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Paris.

Bìa cuốn “Les marchands ambulants et les cris de la rue à Hanoi”.

Lời nói đầu của tác giả F. Fénis.

Phần lớn các tiếng rao ở Hà Nội là dành cho các loại bánh làm từ gạo. Bên cạnh đó cũng có các món ăn dạng sợi như bún, phở, các loại hoa quả, đồ uống v..v. Cũng có một số tiếng rao không liên quan đến việc ăn uống như tiếng rao của các hàng thu mua chậu, bát sứ vỡ, giẻ rách sắt vụn…

 “Ai dâu chín của nhà ra mua”.

 “Bánh giò bánh dày”.

 “Se cấu se cấu” (kem vani).

 “Ai bánh chưng bánh cốm ra mua”.

Gánh hàng tào phớ.

 Gánh hàng tào phớ.

 “Chum chậu bát sứ vỡ hàn không”.

 “Ai giẻ rách sắt vụn bán không nào”.

 Những người bán hàng rong tụ tập ở khu vực bờ hồ Hoàn Kiếm.

“Ai bánh Tây ra mua”.

“Nước vối nóng ăn thuốc không”.

 “Ai mua ngô rang hạt dẻ ra mua”.

 “Ai bánh cuốn ra mua”.

 “Ai cháo đậu xanh ra mua”. ‘Ai cháo đậu xanh chè đậu đen ra mua”.

 “Le bánh cuốn”.

“Ai mua bánh vừng không”.

 “Bánh giò bánh giày”.

 Chè hạt sen.

“Ai mía ra mua”

 Ai bánh Tây ra mua.

“Ai có chai cốc vỡ bán không”.

“Ai kẹo vừng kẹo lạc kẹo bột trạm ô mai ra mua”.

Lời giới thiệu về các món ăn ở trên.

“Ai lạc rang ra mua”.

“Ai nem sốt mua”. “Ai nem mua đi”.

 “Trung Bắc, Thực Nghiệp, Khai Hoá” (tên của 3 tờ báo thời thuộc địa).