Jour : 7 mars 2016

PHẠM VĂN VĨNH 2. Diễn tả cây đàn

2. Diễn tả cây đàn

Trục đàn : Mỗi sợi dây đàn có một trục đàn . Trục đàn dùng để chỉnh dây đàn . Muốn chỉnh dây đàn thì phải vặn trục đàn . Vặn trục đàn theo chiều kim đồng hồ khi cần xuống thấp . Vặn ngược chiều kim đồng hồ khi cần lên cao .

Khoá lên dây đàn : Dùng khoá để vặn trục đàn . Khi nào vặn mà trục cứng quá thì tay mặt vặn theo chiều kim đồng hồ, tay trái nhấc trục đàn lên để kéo ra khỏi thân đàn . Sau đó có thể lau chùi trục đàn rồi gắn trở lại .

Nếu trục đàn quá cứng không thể vặn nổi, trong trường hợp này, bạn nên bôi sáp (nến, đèn cầy, xà bông Marseille) vào lỗ gắn trục đàn rồi xoay trục đàn khoảng 10 vòng . Sau đó lấy khăn lau sạch lỗ đàn và gắn dây trở lại .

Nếu trục đàn quá trơn, trục đàn chạy theo dây đàn, bạn lấy phấn viết bảng hay bột nhựa thông (loại gắn trên cây đàn Nhị hay đờn Cò) xát vào trục đàn và cũng xoay xoay trục đàn khoảng 10 vòng . Sau đó gắn dây trở lại .

Con Nhạn : Con nhạn có nhiệm vụ chuyển âm từ dây xuống mặt đàn để tạo ra âm thanh . Vì thế con nhạn lúc nào cũng phải đứng vững trên mặt đàn . Con nhạn đàn không dính chặt vào mặt đàn để có thể xê dịch được . Khi cần chỉnh dây chút xíu, ta không cần phải vặn trục đàn mà chỉ cần xê dịch con nhạn một chút xíu . Xê dịch con nhạn về phía tay mặt sẽ làm dây đàn cao hơn, dịch qua bên tay trái sẽ làm dây đàn xuống thấp hơn .

Cầu đàn : Dây đàn được bắc ngang qua cầu đàn . Khẩy đàn ở gần cầu đàn .

Các nhạc sĩ truyền thống miền Nam Việt Nam chỉ dùng hai ngón là ngón cái và ngón trỏ . Các nhạc sĩ miền Bắc và miền Trung thường dùng ba ngón là ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa . Khi gẩy ngón cái thì gẩy từ phía mình ngồi rồi gẩy ra xa . Khi gẩy bằng ngón trỏ hay ngón giữa thì để ngón trên dây rồi kéo về phía mình . Gẩy đàn là để móng đàn lên dây rồi bật dây chứ không dùng sức mạnh của ngón tay để đập vào dây .

Trước khi tra móng vào tay, nên thấm ướt đầu ngón tay để móng dính chặt vô tay mà không rơi ra trong lúc mình đang đàn .

Khi gẩy xong một cung đàn thì ngón tay rơi vào dây kế tiếp và dừng tay ở vị trí đó, không cần phải xê dịch ngón tay đi chỗ khác .

Dây đàn : Dây đàn Tranh ngày nay bằng kim loại . Ở Việt Nam có các loại dây 40, 35, 30, 25 và 20 . Ở Pháp có thể hỏi mua dây ở các tiệm bán phụ tùng cho đàn Piano . Dây hỏi mua là dây đàn Clavecin . Ở Anh Quốc hay ở Mỹ, đàn Clavecin được gọi là đàn Harpsichord .

Đàn Tranh 17 dây bán ở các tiệm đàn Việt Nam thường được gắn bằng 1 dây 30, 4 dây 25, còn lại là dây 20 .

Đàn Tranh 17 dây Nguyễn Vĩnh Bảo gắn dây số 1 bằng dây Sol của đàn Ghi ta , các dây còn lại đi từ dây to đến nhỏ 30, 25, 20 .

Ở Pháp chúng tôi mua được các dây 35, 33, 30, 27, 25, 23, 20 nên trên cây đàn Tranh chúng tôi đặt dây như sau :

Dây 1 : dây Sol của đàn ghi ta,
Dây 2 : 35
Dây 3 : 33
Dây 4 : 30
Dây 5 : 27
Dây 6 : 25
Dây 7 : 23
Dây 8 : 23
Dây 9 đến Dây 17 : 20

Paris 8 tháng 7, 2009
PHẠM VĂN VĨNH

https://dantranhpvv.wordpress.com/about/

 

PHẠM VĂN VĨNH : TƯ THẾ NGỒI ĐÀN

1. Tư thế ngồi đàn

Đàn Tranh hình thang . Cây đàn có thể để :

– trên giá đàn,
– trên mặt bàn,
– để phần đàn có chiều rộng hơn lên trên đùi, phần còn lại nhỏ hơn để trên một cái ghế thứ hai phía bên tay trái nếu người đàn ngồi trên ghế . Nếu người đàn ngôì trên mặt đất thì để phần đàn còn lại trên mặt đất .

Nói chung, phải đặt cây đàn theo các quy tắc sau đây:

– Phía đàn có chiều rộng hơn nằm bên phía tay mặt của người đàn,
– Cây đàn nằm ở vị trí vững chắc, làm sao mà trong lúc đàn không cần phải lấy tay đỡ cây đàn,
– cây đàn nằm ngang hoạc phía bên tay mặt cao hơn một chút,
– cây đàn không được để cao quá, khi để tay lên mặt đàn, khuỷu tay phải ở vị trí cao hơn bàn tay . Nếu khuỷu tay thấp hơn bàn tay, ngón tay không đủ sức để nhấn dây đàn, không đàn nhanh được và dễ bị mỏi tay .
– cây đàn cũng không được để thấp quá, khi để tay lên mặt đàn, khuỷu tay phải ở vị trí cong cong . Nếu khuỷu tay thẳng ra thì khi đàn, bạn sẽ không với tới các dây ở ngoài tầm tay mình .

Các hình chụp sau đây hướng dẫn cách để cây đàn :

NS Nguyễn Vĩnh Bảo NS Nguyễn Vĩnh Bảo GSTS Trần văn Khê
GSTS Trần văn Khê, NS Nguyễn Vĩnh Bảo GSTS Trần Quang Hải

Các hình chụp sau đây cho thấy vị trí của cây đàn quá cao :

Paris, 8 tháng 7, 2009
Phạm văn Vĩnh

https://dantranhpvv.wordpress.com/about/

PHẠM VĂN VĨNH : Đàn Tranh Việt Nam

Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến đàn Tranh 17 dây, là loại đàn thông dụng nhất hiện nay . Dây thấp nhất là dây mang số 1 rồi từ từ đi lên cao, dây cuối cùng mang số 17 .

Ngày xưa cây đàn Tranh chỉ có 16 dây . Từ năm 1950, Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo cải tiến cây đàn Tranh thành 17, 19, 21 dây . Đôi khi ta có thể thấy đàn Tranh 22 dây . Các dây thêm vào là các dây trầm . Ở trình độ hiện tại, chúng ta chưa xử dụng dây trầm mà chỉ xử dụng 16 dây căn bản, bắt đầu từ dây số 2 và kết thúc bằng dây số 17 .

Có nhiều hệ thống dây đàn Tranh . Chúng ta sẽ lên dây theo hệ thống dây như sau :

– 5 dây mang số 2,3,4,5,6 tạo thành bát độ (octave) thấp nhất,
– 5 dây mang số 7,8,9,10,11 tạo thành bát độ trung bình,
– 5 dây mang số 12,13,14,15,16 tạo thành bát độ cao
– dây số 17 là cung đầu tiên của bát độ kế tiếp .

Tên gọi của 5 dây :

– Bát độ thấp nhất : Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, (có nhạc sĩ viết các cung này với dấu huyền),
– Bát độ trung bình : Liêu, Xự, Xang, Xê, Cống,(có nhạc sĩ viết các cung này không dấu),
– Bát độ cao : Liu, Ú, Xang, Xê, Cống, (có nhạc sĩ viết các cung này với dấu sắc),
– Dây 17 : Liu

Cung Hò, Liêu, Liu chỉ là một cung nhưng ở các bát độ khác nhau . Cung Xư hay U cũng vậy .

Ngày nay, các cung trên cũng được các nhạc sĩ đặt tên theo hệ thống solfège như trong Tân nhạc .

Các nhạc sĩ Miền Nam Việt Nam gọi tên các cung trên là Sol, La, Do, Re, Mi

Các nhạc sĩ Miền Bắc Việt Nam gọi các cung trên là Do, Re, Fa, Sol, La .

Gọi tên như thế nào cũng được, miễn là khoảng cách giữa các cung phải được tôn trọng :

– Cung Hò và cung Xư cách nhau 1 cung,
– Cung Xư và cung Xang cách nhau 1 cung rưỡi,
– Cung Xang và cung Xê cách nhau 1 cung,
– Cung Xê và cung Công cách nhau 1 cung .

Lấy thí dụ ta gọi cung Hò là cung Rê, thì 5 cung sẽ được gọi là Rê, Mi, Sol, La, Si

Tuy các cung trên được đăt tên bằng các cung theo Solfège trong Tân nhạc, nhưng điều đó không có nghĩa là phải lên dây theo đúng cao độ của các cung Tân nhạc . Nói một các chính xác, các cung nhạc trong nhạc truyền thống Việt Nam không có cao độ nhất định, người đàn muốn để cao độ nào cũng được, miễn là các cung theo sau phải có khoảng cách như đã viết ở trên . Tuy nhiên, khi hoà đàn với nhau, các nhạc sĩ Miền Nam Việt Nam dùng cao độ của cung Rê trong Tân nhạc cho cung Hò .

Để thống nhất, chúng ta sẽ áp dụng cách gọi tên như sau :

– Bát độ thấp nhất : Hò, Xự, Xang, Xê, Cống hay là Sol, La, Do, Re, Mi
– Bát độ trung bình : Liêu, Xự, Xang, Xê, Cống hay là Sol, La, Do, Re, Mi
– Bát độ cao : Liu, Ú, Xang, Xê, Cống hay là Sol, La, Do, Re, Mi
– Dây 17 : Liu hay Sol

Chúng ta sẽ lên các dây Hò, Liêu, Liu theo cao độ của cung Rê trong Tân nhạc .

Khi viết bản nhạc, nếu viết theo Tân nhạc, chúng ta sẽ xử dụng các cung Sol, La, Do, Re, Mi .

Nếu viết bản nhạc theo Hò, Xự, Xang, Xê Cống, chúng ta sẽ viết như sau:

NB. Cách viết theo mẫu tự L U S X C là do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo sáng chế ra từ năm 1955 . Ở bậc thấp, các chữ L U S X C mang dấu nặng, không dấu ở bậc trung , có dấu chấm phía trên khi ở bậc cao .

Thực ra thì nhạc Việt Nam có 7 cung, trên đây chúng ta đã đề cập đến 5 cung . Hai cung còn lại là cung Xư hay U (còn gọi là Y) và cung Công (còn gọi là Phạn) . Cung Xư (U, Y) cao hơn cung Xự(Ú) khoảng nửa cung, cung Công (Phạn) cao hơn cung Cống khoảng nửa cung . 7 cung Hò, Xự, Xư, Sang, Xê, Cống, Công được tạm dịch là Sol, La, Si, Do, Re, Mi, Fa .

Để tóm tắt:

Các bạn nên làm một cái băng bằng giấy ghi tên các cung nhạc để gắn trên mặt đàn, bên cạnh cầu đàn như trong hình dưới đây:

Nếu có thể, nên may một cái băng tròn bằng vải, có thể mở ra hay gắn vào dễ dàng bằng hai miếng băng Velcro . Trên băng vải dán băng giấy viết tên các cung đàn . Việc xử dụng băng vải với băng Velcro rất hữu ích trong tương lai khi chúng ta học tới cách chuyển cung Hò (Transposition) . Tên các cung nhạc nên viết ở vị trí nào mà khi ngồi đàn có thể nhìn thấy dễ dàng . Sau này khi các Bạn đã quen với các dây đàn, các Bạn sẽ không cần xử dụng tới băng ghi cung nhạc này nữa .

Paris, 9 tháng 7, 2009

Phạm văn Vĩnh

https://dantranhpvv.wordpress.com/bai-4-day-dan-tranh/

 

 

 

 

Nhạc cụ dân tộc: Đôi nét về đàn Tranh

Nhạc cụ dân tộc: Đôi nét về đàn Tranh

TriThứcSống.com – Đàn Tranh còn gọi là Ðàn thập lục, là nhạc khí dây gảy 16 dây phổ biến trong dân tộc Việt. Theo sách Lê Quí Ðôn Ðàn Tranh có từ đời Trần vào khoảng thế kỷ XII-XIII.

  • 1

    Xếp loại:

    Đàn Tranh là nhạc khí dây gảy loại không có dọc (cần đàn). Ðàn Tranh rất phổ biến tại Việt Nam đồng thời một số nước khác ở Châu Á cũng có. Ðàn Tranh được nhập vào Việt Nam và trở thành đàn Việt Nam, nhiều tác giả cho rằng Ðàn Tranh Việt Nam là từ cây (Zheng) (Trung Quốc) nhập vào

  • 2

    Hình thức cấu tạo:

    Thùng đàn: hình hộp dài, chiều dài khoảng 110cm, đầu đàn hẹp khoảng 13cm, cuối đàn rộng khoảng 20cm.

    Mặt đàn: vồng lên tượng trưng cho vòm trời làm bằng gỗ nhẹ (gỗ tung, thông hay ngô đồng).

    Thành đàn: làm bắng gỗ trắc, mun hoặc cẩm lai.

    Ðáy đàn: dưới đáy đàn ở đầu rộng, phía tay phải người đánh đàn có một lỗ thoát âm hình bán nguyệt để lắp dây, ở giữa đàn có 1 lỗ hình chữ nhật để cầm đàn khi di chuyển và ở đầu hẹp có một lỗ tròn nhỏ để treo đàn.

    Cầu đàn: ở đầu rộng, một cầu đàn bằng gỗ, hơi nhô lên và uốn cong theo mặt đàn có 16 lỗ nhỏ xếp hàng ngang có nạm hoặc cẩn kim loại để xỏ dây.

    Ngựa đàn: trên mặt đàn có 16 nhạn đàn, các con nhạn (chevalet) để đỡ dây đàn và có thể di chuyển được để điều chỉnh độ cao thấp của dây trong lúc đang đàn, các con nhạn đều có thể làm bằng nhựa, xương, ngà, đồng thau, gỗ trắc hoặc cẩm lai, hiện nay làm bằng nhựa là phổ biến.

    Trục đàn: ở đầu hẹp đàn Tranh có 16 trục đàn để lên dây, trục đàn đặt trên mặt đàn còn để giữ một đầu dây xếp hàng chéo do độ ngắn dài của dây, tạo âm thanh cao thấp, trục đàn có thể làm bằng nhựa, đồng thau, gỗ trắc hoặc cẩm lai.

    Dây đàn: dây đàn bằng đồng thau, thép hoặc inox với các cỡ dây khác nhau như 20mm, 25mm, 30mm, đến 50mm.

    Móng đàn: Ðàn Tranh đàn bằng móng gảy thường được làm bằng đồi mồi, Inox.

  • 3

    Màu âm:

    Đàn Tranh có âm cao, màu âm vui tươi, trong sáng, Tầm âm Ðàn Tranh tùy số lượng dây gồm 3 quãng 8 từ Ðô lên Ðô3 (C đến C3 ).

    Khoảng âm dưới: âm thanh không được trong trẻo, thường dùng để đánh đệm.

    Khoảng âm giữa: âm thanh trong sáng, giàu sức diễn tả, vui tươi.

    Khoảng âm cao: âm thanh hơi gắt, thường dùng để đánh ngón Á.

    Mời các bạn láng nghe video giới thiệu về đàn Tranh nhé!

Theo kenh14.vn

– See more at: http://trithucsong.com/van-hoa/nhac-cu-dan-toc-doi-net-ve-dan-tranh-c3902.html#sthash.3pyBNmkz.dpuf